Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Chiếu Kiến Ngũ Uẩn - Sao Biết Mình Tạo Nghiệp Hay Trả Nghiệp - Ta Là Ai - Sau Khi Chết Mình Đi Đâu

2026-03-03 00:55:54
TINH HOA NIKĀYA

CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN TA LÀ AI

SAO BIẾT MÌNH TẠO NGHIỆP HAY TRẢ NGHIỆP

SAU KHI CHẾT MÌNH ĐI ĐÂU

Thích Minh Thành

Chúng ta cần lên trang linhquyphapan.vn để nghe những bài về nhận diện ngũ uẩn để nắm rõ hơn phần này.

Định nghĩa ngũ uẩn 1:

Thân người là sắc.

Cảm giác là thọ.

Hình bóng là tưởng.

Suy nghĩ là hành.

Rõ biết là thức (rõ biết thọ; tưởng; hành).

Đây chính là chìa khóa mở cánh cửa thân tâm chúng ta, nếu không nắm vững được ngũ uẩn sẽ không nắm rõ được thân tâm, trong đó có gì mình không biết. Ví dụ chiều nay về ăn cơm bì, trong tâm có hình bóng dĩa cơm bì đó là tưởng, có cảm giác ngon lành, dễ chịu là thọ, có suy nghĩ về việc ăn cơm là hành, mình rõ biết có hình bóng của dĩa cơm, có cảm giác khoan khoái và có suy nghĩ về món ăn đó là thức. Chúng ta sử dụng ngũ uẩn rất thường xuyên, đó là ví dụ để mình thấy có sự ham thích. Bây giờ nhớ lại người nói nặng nhẹ mình, họ có hành động làm cho mình tức giận, khi nhớ lại thì hình bóng người đó hiện ra là tưởng, có cảm giác khó chịu là thọ, có suy nghĩ về người đó là hành, mình rõ biết cảm giác khó chịu, hình bóng và suy nghĩ về người đó là thức. Như vậy ngũ uẩn chính là thân tâm mình, đó là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức hằng ngày vậy mà mình không biết nên cứ cho sắc thân này là tôi, có cảm giác khởi lên nếu khoan khoái, thích thú, được ăn ngon thì "tôi đang sướng", mình nhận thọ là mình, trong tâm có hình bóng về người mình bực thì mình cho hình bóng đó là tôi, "tôi đang nghĩ", "tôi đang tưởng", nhận suy nghĩ này là tôi, suy nghĩ này là của tôi, khi thấy một cái gì đó mình cũng cho là "tôi đang thấy", "tôi biết như vậy đó", "quan điểm tôi như vậy đó", "nhận thức tôi như vậy đó", mình nhận thức là mình cho nên lúc nào mình cũng cho ngũ uẩn là mình và cái này là sự chấp ngã, như vậy là sầu, bi, khổ, ưu, não. Đây là nguồn gốc của tất cả khổ đau vì đây là ngũ uẩn nhưng đây là pháp vô thường, chịu sự biến hoại, tan nát, hoại diệt cho nên sắc này lúc tươi lúc héo, lúc nở lúc tàn, lúc tròn lúc méo nên chúng ta đau khổ. Chúng ta nhận sắc này là tôi, của tôi là chúng ta không chiếu kiến ngũ uẩn, chúng ta nghĩ cái nào cũng tôi, trong suy nghĩ của mình chẳng những cái thân này mà tất cả món đồ đều của tôi, chiếc xe của tôi, đôi dép của tôi, cái đãi của tôi, lát sau trở ra chiếc xe không còn nữa thì ngũ uẩn như thế nào? Chúng ta có hình bóng về chiếc xe, có cảm giác buồn lo, sợ, trong suy nghĩ hiện lên chiếc xe "mất xe rồi làm sao giờ?", mình rõ biết cảm giác, suy nghĩ, hình bóng là thức. Chiếc xe là sắc, tức là ngã sở, sắc của tôi, xe của tôi, cái áo của tôi, chỗ ngồi của tôi, căn phòng của tôi… cái gì cũng của tôi nên ai chạm vào là tôi sân, tôi phiền, tôi bực, tôi khổ cho nên cái gốc của khổ đau chính là chấp thủ vào năm uẩn và không biết năm uẩn là vô thường, chịu sự biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt chỉ trong tích tắc, có thể chỉ trong tích tắc thôi là chúng ta không còn ngồi đây nữa, hàng triệu người trên thế giới đã chết vì dịch bệnh. Tích tắc là trở thành cát bụi, tro tàn nhưng vì vô minh và tham ái nên chúng ta không thấy không biết gì cả.

"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi) 

Vô minh là không thấy ngũ uẩn, vì không thấy ngũ uẩn, vì không biết ngũ uẩn, vì cho rằng ngũ uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi cho nên sanh khởi ra tham ái, yêu thích, nắm giữ, đeo đuổi, ước mơ, hi vọng, trông chờ, đau khổ, sầu, bi, ưu, não. Chúng ta bị dính chặt trong ngũ uẩn không thoát ra được, trong mỗi suy nghĩ đều bị dính chặt vào ngũ uẩn, suy nghĩ nào cũng là tôi, là của tôi, cảm giác nào sanh khởi lên cũng cho là tôi, hình bóng nào trong tâm khởi lên cũng cho là tôi, nhận thức nào cũng cho là tôi mà mình không biết nó chỉ là ngũ uẩn, không phải là tôi, không phải của tôi. Do sự nhìn nhận sai lầm này là vô minh, do vô minh không sáng suốt, không thấy biết ngũ uẩn cho nên yêu thích, nắm giữ, chấp thủ, tham ái, ràng buộc, hệ lụy. Ví dụ có người đến lấy quyển sách của mình bảo là sách đó của họ thì lúc đó mình bực mình, khó chịu vì cái gì mình cũng cho nó là mình, nhưng trước khi thuộc về mình thì nó ở trong nhà sách, trước khi ở trong nhà sách thì nó ở đâu? Nó chỉ là đồ tạm bợ, là đất, nước, gió, lửa thôi nhưng vì tâm mê chấp thủ, nắm chặt nên càng nắm giữ thì lại càng sầu, bi, khổ, ưu, não. Đó là món đồ nhỏ như quyển sách thôi chứ còn người ta mà lườm, liếc, háy mình thì còn khổ hơn nữa, ăn không ngon ngủ không yên, ngồi thiền là hình bóng con mắt liếc háy đó cứ hiện ra vì sự chấp thủ vào sắc thân này rất nặng nề, rất kiên cố. Vô minh là không hiểu được ngũ uẩn, từ chỗ không hiểu, không thấy, không biết nên yêu thích, nắm giữ nhưng lại nắm giữ cái tàn hoại, hoại diệt nên mới đau khổ, hết thân này lại chụp vào thân kia, hết thân kia lại đến thân nọ, nếu có phước thì vô trúng tấm thân lành lặn được ngồi nghe pháp, còn vô phước thì vào trúng tấm thân đui, mù, què, chột, bệnh Down, bị chất độc màu da cam hoặc là cái thân mang lông đội sừng hoặc cái thân cô hồn, ngạ quỷ, súc sanh… tất cả những tấm thân này đều cho rằng nó là tôi, là của tôi, đó là do tâm mê của vô minh, tham ái, chấp thủ mà tái sanh, tái tạo, tương tục, tiếp nối trong vòng luân hồi. Cho đến khi nào mình thành tựu cái thấy biết về ngũ uẩn, gọi là chiếu kiến ngũ uẩn, mình thấy những cái này không phải là tôi, không phải của tôi thì lúc đó mình không ưa, không thích, không chấp thủ vào đó nữa thì mình giải thoát. Những bậc đã tu hành thành tựu, đắc đạo, đắc quả thì khi thân tan hoại các ngài không sầu, bi, khổ, ưu, não vì các ngài không nghĩ thân này là tôi, là của tôi, nó là pháp duyên sanh, là tứ đại cho nên nó có rã thì cứ rã và tâm các ngài vẫn bất động, không đổi khác.

"Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).

Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:

-- Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.

Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:

-- Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.

Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:

Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.

Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: 'Tôi là con mắt", hay: 'Con mắt là của tôi'... hay: 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi'.

Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.

Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm". (Tương Ưng Bộ, tập IV. Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, VII. Upasena)

Đó là sự khác biệt giữa người biết tu và không biết tu, giữ nhìn đúng và nhìn sai, giữa chánh kiến và tà kiến, giữa bậc Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu. Tất cả sự đau khổ của chúng ta đều đặt nền tảng trong năm uẩn cho nên trong kinh Đức Phật đã nói tóm lại năm thủ uẩn là khổ.

"Đây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)

Vì tính chất của nó là tính chất đột ngột, đột biến, đột tử, không có sự an toàn nên đừng tin tưởng nó, đừng gửi niềm tin vào những thứ hoại diệt, tan hoại này. Hiện nay có rất nhiều người chết trẻ với muôn vàn lý do, bị tại nạn giao thông, bị đâm chém, đột quỵ, bệnh tật… như vậy làm sao mình bảo đảm là mình sống được bao lâu? Biết bao cảm giác cứ thay đổi liên tục trong tâm, sáng thì tươi tắn, trưa đi nắng đến trường là khó chịu, vào học mệt quá thì lờ đờ, chiều đói bụng kẹt xe thì mệt mỏi, đến suy nghĩ hết thương lại ghét, hết yêu lại hận thù, khen rồi chê, mình cứ bị chìm đắm trôi nổi trong đó mà không biết nó là vô thường, cái nào sanh khởi lên cũng cho là tôi nên cứ sầu, bi, khổ, ưu, não, bất hạnh, bất an, bất ổn dài lâu trong sanh tử.

Làm sao để điều phục tâm? Chính là luôn kiểm soát ba loại cảm giác: Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác dễ chịu lúc nào cũng có tham trong đó, cảm giác khó chịu có sân, cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si. Chúng ta tu là hướng vào cảm giác, khi có cảm giác bực bội, nóng bức, sân hận thì mình hướng về lồng ngực và nói với cảm thọ sân hận đó "an tịnh, lắng dịu đi. Ngươi đã đốt ta bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp rồi, ngươi thiêu ta vô lượng vô biên kiếp rồi, như vậy là đủ rồi. Ngươi hãy an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, ngọt ngào đi", đây chính là cách điều phục tâm. Chúng ta đưa tay lên vuốt ngực và nói với cảm giác trong lồng ngực "an tịnh nè, lắng dịu nè, dễ thương nè", nhiều người sẽ thấy cách làm này rất lạ, giống như dạy em bé nhưng lại có hiệu quả và rất quan trọng vì nó là cách điều phục tâm. Cảm thọ của mình rất nổi loạn, trong kinh Đức Phật đã nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ.

"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". (Tăng Chi Bộ, chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật).

Tất cả những tham, sân, si, bản ngã, vô minh chỉ cần nhìn vào cảm thọ, cảm xúc sẽ thấy cho nên cách điều phục tâm cũng là cách điều phục các cảm thọ, cảm xúc, cảm giác mà ở ngoài người ta gọi là làm chủ cảm xúc nhưng người ta chỉ làm được ở phần ngọn thôi. Đức Phật chỉ dạy rất rõ tạo sao có cảm giác, cảm giác sanh khởi, vận hành như thế nào và làm sao để chấm dứt cảm thọ, chính là do tiếp xúc mới có cảm giác chứ nếu không tiếp xúc sẽ không có cảm giác.

"Này các Tỳ-kheo, ba thọ này do xúc sanh, lấy xúc làm căn bản, lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm trợ duyên, do duyên xúc tương ứng, các thọ tương ứng, tương ứng, khởi lên". (Tương Ưng Bộ, tập IV. Thiên Sáu Xứ, chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, X. Căn Bản Của Xúc) 

Do mình nhìn thấy, mình nghe, mình đụng chạm, tiếp xúc món đồ đó nên mình mới thích chứ không thấy thì làm sao thích? Cho nên xúc tập khởi thì thọ tập khởi.

"Có ba thọ này, này Ananda, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Ananda, đây gọi là các thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, V. Thuộc Sở Hữu)

Khi sanh khởi lên tham cần phải tác ý "mình là người tu, tham hoài, muốn hoài để làm cái gì? Cái tham này nhận chìm mình, làm mình trôi lăn trôi nổi, làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não hoài. Đi theo nó để chết chìm hay sao? Cái tham này hãy tan biến khỏi tâm ta hoàn toàn đi, an tịnh, lắng dịu đi", đây là cách điều phục tham. Đối với cái si cũng vậy, ngồi học hoặc nghe pháp mà con mắt mỏi mệt, sụp xuống thì phải đánh tan cảm giác mỏi mệt và hướng vào ở nơi con mắt, cái đầu đang thấy nặng nề để tác ý "ngươi ngủ ngàn vạn kiếp rồi vẫn chưa tỉnh hay sao? Hỡi cảm giác si ám này tan biến hoàn toàn khỏi cái đầu ta đi", sau đó mở mắt sáng lên và cảm giác thật mạnh về phía trước, đừng để con mắt sụp xuống, khi ngồi thiền tuyệt đối không được nhắm mắt vì chỉ cần nhắm mắt là đi vào si mê ngay cho nên ngồi thiền phải mở mắt, tầm nhìn rộng mở. Trên đây là cách đánh phá tham, sân, si và điều phục tâm của mình.

Tại sao trước giờ tụng kinh cần xá tổ trước khi xá Phật? Đó là vì mình phải có sự cung kính đối với những bậc thầy tổ có công ơn như câu tục ngữ "uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây".

Câu hỏi "Ta là ai" là sai, đã vô ngã thì làm gì có ta, đi tìm cái ta sẽ bị Đức Phật quở trách rất nhiều trong kinh tạng Nikāya vì Đức Phật đã dạy sắc là vô thường, khổ, vô ngã mà vô ngã tức là không có cái ta vậy mà bây giờ mình đi tìm cái ta là cái gì? Minh Thành đang nói đến tinh thần của kinh tạng Nikāya còn những tư tưởng sau này không nói đến, không có cái ta nào ở đây mà chỉ có vô minh, tham ái và chấp thủ mà thôi, khi nào phá vỡ sự chấp thủ, nắm chặt trong ngũ uẩn này thì lúc đó tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chúng ta diệt tận tham ái thì lúc đó tâm được giải thoát vì tâm ta đang bị tham ái trói cột, chúng ta bị trói mười sợi dây tương đương cho mười kiết sử.

Hạ phần kiết sử:

Thân kiến.

Hoài nghi.

Giới cấm thủ.

Tham dục.

Sân hận.

Thượng phần kiết sử:

Sắc ái.

Vô sắc ái.

Kiêu mạn.

Trạo cử.

Vô minh.

Sợi dây cứng chắc nhất và siết chặt nhất chính là thân kiến, kiến chấp về thân chính là chỗ cho rằng năm uẩn là tôi, là cái nhìn sai lệch về thân. Khi phá được thân kiến thì hoài nghi, giới cấm thủ tự động được tháo gỡ, lúc đó sẽ Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, tức là bước vào dòng trí huệ của các bậc hiền Thánh, cho nên từ nãy giờ chúng ta đang học chánh kiến, học phương pháp để phá thân kiến, chúng ta đang phân tích để tháo gỡ, phơi bày ra mọi thứ vì ngũ uẩn là sự kết hợp của sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng do nó lắp ráp, kết hợp quá khéo léo và được lớp da bao phủ bên ngoài nên chúng ta bị lầm và cho đây là nguyên khối tưởng, nhưng thật chất nó có đến năm thứ hợp lại và trong năm thứ đó lại có vô vàn những thứ nhỏ khác hợp lại. Chúng ta ngồi đây là một con người nhưng chỉ cần bị tai nạn thủng bụng là ruột bên trong trào ra, tim, gan, phèo, phổi lộ ra bầy nhầy thì những thứ đó ai là tôi, ai là của tôi? Chúng ta phải thường quán chiếu như vậy để phá cái nhìn sai lầm về thân này, nếu chúng ta không quán chiếu bất tịnh, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của một tử thi thì chúng ta không thể nhiếp phục được dục, tham, ái và càng không thể phá vỡ được thân kiến để bước vào dòng trí tuệ của bậc Thánh.

Khi chết thần thức đi về đâu? Nếu cho mình nghỉ học thì mình làm gì đầu tiên? Nghỉ ngơi, quét chùa lau chùa, đi chơi nếu không có dịch… Giả sử chết đi thì mình muốn làm gì? Mình sẽ gặp ai đầu tiên? Mình muốn gặp ai đầu tiên thì khi mình chết mình sẽ đi lại gặp người đó nếu cái nghiệp mình tương thích. Vì khi chết sắc đã tan hoại nhưng cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức vẫn còn cộng với nghiệp sẽ tạo thành sức mạnh đẩy mình đi theo dục, tham, ái cho nên Đức Phật chia ra nghiệp đen, nghiệp trắng, nghiệp đen trắng và nghiệp không đen không trắng.

"Này Punna có bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là bốn? Này Punna, có nghiệp đen đưa đến quả báo đen, này Punna, có nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, này Punna, có nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng, này Punna, có nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp". (Trung Bộ Kinh, 57. Kinh Hạnh con chó).

Nghiệp đen tương thích với địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Khi mình chết thì dục, tham, ái trong con người mình, tức là những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng cộng với sức của vô minh đẩy mình đi vào nghiệp đen và lúc đó mình không có quyền lựa chọn là muốn lên trời hay muốn đến chỗ này chỗ kia, tất cả là do sức mạnh của nghiệp lực đẩy mình đi và mình hoàn toàn không thể làm chủ được vì mình không có đạo lực, định lực nên sẽ bị nghiệp lực lôi kéo. Nếu mình có chút phước báo, có nghiệp lành nghiệp thiện thì tương thích với nghiệp trắng và sẽ được sanh cõi trời, cõi người. Ngoài ra còn có người tu đoạn hết tất cả nghiệp không đen không trắng, không đen không trắng không phải là không làm thiện mà vị này phá được nghiệp đen, tu tập nghiệp trắng nhưng không chấp thủ nghiệp trắng mà xả bỏ hoàn toàn, tức là làm điều thiện nhưng không mong muốn sẽ hưởng được quả báo đó mà người này hướng đến sự giải thoát, vì thế người này thành tựu nghiệp không đen không trắng chính là Niết-bàn, chấm dứt tất cả các nghiệp. Cho nên cần cực kì cẩn trọng đối với nghiệp, chỉ cần một suy nghĩ (tác ý) lóe lên thôi cũng là nghiệp.

"Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý". (Tăng Chi Bộ, chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Mình đừng nghĩ rằng không ai biết suy nghĩ của mình, suy nghĩ của mình sẽ tạo thành ý nghiệp, cứ suy nghĩ tới lui nhiều lần sẽ tạo thành thói quen thì đó chính là ý nghiệp. Lúc đầu, trong giờ học không uống nước mà ra chơi mới uống nhưng học một thời gian cứ uống vì nghĩ "uống nước đâu có sao" rồi để bình nước kế bên để chừng nào khát là có nước uống ngay. Chính suy nghĩ đó làm cho mình buông lung phóng dật, mình chấp nhận suy nghĩ đó, chấp nhận hành động đó nên nó trở thành thói quen, thế là ngày nào trong giờ học cũng lấy nước uống, đó là thói quen xấu do mình không có chánh niệm tỉnh giác, không thực hành oai nghi nên trở thành buông lung phóng dật, bất thiện pháp. Hoặc lên ngồi thiền cứ nhắm mắt vài phút là ngủ, mình không chống cự, diệt tận cảm giác si ám đó mà chấp nhận nên thành thói quen cứ lên ngồi thiền là ngủ, ngoài ra còn sân hận, tham dục, bản ngã, cứ hễ ai nói đến là sân hận lên, đùng đùng vào phòng đóng cửa lại không làm gì nữa. Ngoài ra Đức Phật còn nói đến nghiệp cũ và nghiệp mới.

"Này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp cũ?

Mắt, này các Tỳ-kheo, cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ.

Các Tỳ-kheo, đây được gọi là nghiệp cũ.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp mới? Này các Tỳ-kheo, hiện tại phàm làm việc gì với thân, với lời nói, hay với ý. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là nghiệp mới". (Tương Ưng Bộ, tập IV – Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, I. Nghiệp)

Gương mặt, hình hài chúng ta đang mang là nghiệp cũ, đó là biểu hiện của những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động trong quá khứ nên hiện giờ tạo thành thân xác này. Cho nên có nhiều người cao to trắng trẻo, có người thấp bé đen đúa, có người nhìn hiền lành, phúc hậu, có người nhìn hung dữ, có người nhìn gương mặt quang minh trí tuệ nhưng cũng có người nhìn vào chỉ thấy u tối, lờ đờ… tất cả những cái này đều là biểu hiện của ngôn ngữ, suy tư, hành động trong quá khứ mới tạo thành một thân tướng như vậy, đó là nghiệp cũ. Nghiệp mới là ngay trên thân tướng này mà chúng ta nói năng, suy nghĩ, hành động sẽ tạo ra nghiệp mới, những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành vi trong hiện tại là nghiệp mới. Cho nên trong khi suy nghĩ phải kiểm tra xem nó là thiện hay bất thiện vì suy nghĩ đó sẽ thành ý nghiệp, trong lời nói phải xem nó là thiện hay bất thiện vì nó sẽ thành khẩu nghiệp, trong hành động phải kiểm tra xem nó là lợi mình lợi người hay hại mình hại người vì nó sẽ tạo thành thân nghiệp. Sau đó mình phân biệt, quyết trạch, chọn lựa cái thiện, diệt bất thiện là mình đang tạo nghiệp trắng cho nên nhận diện năm uẩn để nhìn lại hành uẩn là biết mình đang có suy nghĩ gì, còn lúc trước không biết ngũ uẩn thì mọi thứ rất lung tung, toàn là tôi nghĩ, tôi biết, tôi thấy, mọi thứ dính chùm vào nhau, còn giờ đã biết thì phải nhận diện ngũ uẩn đang có cảm giác gì trong ba loại cảm thọ, tham sân si ra sao, đang có hình bóng gì trong tâm, đang có suy nghĩ gì, đây là suy nghĩ của tâm từ hay tâm sân… đó là mình đang kiểm tra lại nội tâm, đó cũng là sự tu tập của chúng ta chọn lựa nghiệp tốt lành. Đối với nghiệp xấu thật sự rất khó tu, chuẩn bị tu là bệnh, chuẩn bị học là có trở ngại, tới giờ học là buồn ngủ, đến giờ tu là mệt mỏi, nhức mỏi, ê ẩm nhưng đến giờ chơi lại khỏe khoắn, giờ giải lao là phấn khởi nhưng học là ngáp dài ngáp ngắn, đó là biểu hiện của nghiệp si, cho nên người quang minh thấy rất rõ vì lúc nào họ cũng chánh niệm tỉnh giác, tỉnh sáng còn người si ám lúc nào gương mặt cũng u ám, một bóng đêm bao phủ từ đầu cho đến chân.

Làm sao để biết được trả nghiệp hay tạo nghiệp? Người nào cứ hay kiếm chuyện, làm khó dễ dù mình không làm gì họ thì mình biết đó là chủ nợ của mình nên phải trả nợ. Đối với những người đó mình phải trải tâm từ với họ vì tâm từ vô cùng quan trọng trong sự tu, nếu không thực tập trải tâm từ sẽ tạo nghiệp rất nhiều, cái nghiệp tăng trưởng khủng khiếp cho nên chỉ có tâm từ mới làm giảm bớt các nghiệp, chặn đứng các nghiệp và hóa giải các nghiệp. Cứ hễ có ngôn ngữ, hành vi, suy nghĩ mà bất thiện là đang tạo nghiệp, ví dụ người ta tốt gần hết nhưng hôm đó người ta mệt nên hơi quạu với mình thế là mình nghĩ "tưởng tu thế nào, cũng ta đây, bản ngã như ai" thì câu nói đó là đang tạo nghiệp, mình phủi hết công sức của người ta, cứ lấy cái sai đó ra nói hoài, soi mói người ta rồi phóng đại nó lên là đang tạo nghiệp. Cho nên con bất hiếu với cha mẹ cũng từ chỗ này, cha mẹ thương yêu, chăm sóc, lo lắng cho đứa con cả cuộc đời nhưng cha mẹ lỡ làm sai chuyện gì hoặc có tật xấu gì là đứa con chỉ nhớ cái sai đó thôi, không muốn nói chuyện với ba mẹ nữa, vì thế cần cẩn thận với chủ nợ và cần tránh tạo thêm nghiệp. Vì nếu không khéo vừa trả nợ vừa vay thêm, nếu người đó lại kiếm chuyện gây đau khổ cùng cực cho mình nhưng mình không nhận thức đây là chủ nợ của quá khứ để mình trả nghiệp mà mình sân hận, trả đũa lại thì nợ cũ chưa trả xong lại chồng chất thêm nợ mới và điều này diễn ra rất thường xuyên cho nên mới trở thành oan gia trái chủ. Nếu chúng ta không khéo tu tập tâm hiền lành, tâm lắng dịu, tâm tình thương, từ bi thì mình sẽ chết ngay vì nghiệp chồng chất lên rất khủng khiếp, kinh hoàng với cái nghiệp vì chỉ cần một lời nói, ý nghĩ, hành động thôi là chúng ta có thể ân hận suốt đời, mình làm người ta oán hận mình hoặc chính mình sẽ bị mất hết duyên lành, ví dụ người đó từ đó giờ hay giúp đỡ mình nhưng bỗng nhiên xảy ra chuyện giữa mình và người đó nên mình sân hận lên, mình quay lại oán trách vậy là mình vong ơn bội nghĩa, tạo thêm nghiệp. Trong kinh tạng Nikāya, những giáo lý Đức Phật nói về nghiệp có đến mấy chục bài cho nên phải biết sợ hãi nghiệp, chỉ có những người điếc mới không biết sợ chứ còn nghe được thì phải biết sợ hãi ác nghiệp và phải biết người nào hay gây sự với mình chính là chủ nợ. Phải tập kham nhẫn, từ nhẫn, tập trải tâm từ để hóa giải cho hết nghiệp báo, nếu không mình sẽ khổ dài dài vì còn những đời sau nữa chứ không phải chỉ đời này là xong, nếu mình không hóa giải nghiệp từ bây giờ thì đời sau lời lãi cứ tăng thêm, gặp nhau sẽ đối đầu gay gắt, vậy là khổ triền miên. Cho nên muốn hóa giải, trả hết nghiệp thì đừng giận, đừng sân cũng đừng trả đũa người ta mà hãy chấp nhận trả nợ.

Làm thế nào để phân biệt được kinh thật sự của Đức Phật? Điều này rất quan trọng vì nếu không biết cái nào là kinh của Đức Phật thì cũng không biết tu có đúng hay không. Trong Tăng Chi Bộ kinh đã ghi lại câu chuyện giữa Thế Tôn và ngài Upàli.

"Rồi Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:

- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

- Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn', thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn'. Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn', thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn'". (Tăng Chi Bộ, chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX). Thông Điệp)

Đây chính là Thánh pháp ấn của Đức Phật, tất cả những kinh sách nào dạy nhất hướng nhàm chán, nhàm chán đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhàm chán đối với ngũ uẩn, không tham muốn đối với ngũ uẩn và những pháp nào đưa đến sự chấm dứt ngũ uẩn, tức là chấm dứt tham ái và vô minh đối với ngũ uẩn để đưa đến nội tâm an tịnh, có trí tuệ thù thắng để thấy rõ, phát giác những tham, sân, si, vô minh, bản ngã cấu bẩn trong tâm và làm cho nó dập tắt hoàn toàn để đi đến Niết-bàn thì đó là pháp và luật của Như Lai. Đó là Thánh pháp ấn, là con dấu của trí tuệ, con dấu của bậc Thánh, con dấu của sự chứng ngộ của Đức Phật. Bất cứ một pháp nào làm mình sanh khởi lên lòng tham đối với năm uẩn thì pháp đó không phải là pháp và luật của Phật, dù cho có treo bảng, gắn mác gì đi nữa cũng không phải Chánh pháp của Phật. Nhưng làm mình sanh khởi lòng dục, lòng tham để tu tập giác ngộ thì đó là Chánh pháp, còn làm sanh khởi lòng tham để yêu thích trong ngũ uẩn, yêu thích trong dục, trong sắc, yêu thích trong ngũ dục thì đó không phải là pháp của Phật. Đây là định lý, là Thánh pháp ấn, là con dấu, là con mắt thần để phân biệt cái nào là Chánh pháp và cái nào không phải Chánh pháp. Pháp nào dạy cho mình mà càng học, càng tu càng thấy nhàm chán đối với ngũ uẩn, không yêu thích, không tham đắm thì đó là Chánh pháp, chúng ta cần nhớ kĩ điều này để xem lại mình tu đã đúng chưa. Tu là đi đến chỗ thấy rõ bản chất của ngũ uẩn chính là vô thường, khổ, vô ngã để nhàm chán, thoát ra khỏi nó, còn không thấy thì cứ lòng vòng trong đó, không thể giải thoát được. Mỗi lần soi gương thấy mặt mình trong đó chúng ta đều thấy hài lòng "trông mình cũng không đến nỗi nào", đó chính là tham ái và vô minh, không có cái tôi nào ở đây, gương mặt này là máu, đầu lâu, xương sọ, là da, mỡ, tủy, hai con mắt là hai cục thịt, gân và máu trong đó, nhìn vào gương và nói với gương mặt đang hiện trong gương "không có cái ta nào ở đây, hãy nhìn kĩ bóng dáng của vô thường, của tứ đại ảo ảnh này. Do vô minh, tham ái và chấp thủ mà chúng ta bị dính chặt vào thân xác vô thường". Mọi người cần quán chiếu như vậy để không còn ưa, không còn thích mặt mũi, tay chân, thân thể này nữa vì nó là đống bất tịnh, theo thời gian nó sẽ rã nát, trương sình lên, nứt nẻ và chảy ra những chất dịch hôi thối, những con giòi được sanh ra ăn hết từ thịt vào trong bộ đồ lòng để lộ ra bộ xương trắng màu vỏ ốc, dần dần bộ xương kia cũng sẽ tan nát, hủy hoại, đó chính là cửu tưởng quán. Hôm nay Minh Thành đã gửi cho mọi người bí kíp Chánh pháp, mọi người cần cố gắng thực hành theo để tu học có kết quả.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.