Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nếp Nhà Nikāya 7

2026-03-03 00:55:54
Nếp Nhà Nikāya 7

Thích Minh Thành

Ngày 04 tháng 12 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trang nghiêm thanh tịnh PAGEREF _Toc175077707 \h 1

II. Tôn trọng PAGEREF _Toc175077708 \h 7

III. Biết ơn PAGEREF _Toc175077709 \h 12

IV. An tịnh – lắng dịu – tâm hiền PAGEREF _Toc175077710 \h 15

I. Trang nghiêm thanh tịnh

Chúng con xin đem hết lòng thành kính, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Chánh pháp, đảnh lễ Thánh chúng, đảnh lễ Thánh giới.

Bạch chư tôn thiền đức và chư hiền trí, sáng nay chúng ta chia sẻ về nếp nhà của đạo tràng Nikāya. Về thanh quy, về nội quy, về cách ăn ở, đi đứng trong đạo tràng trong suốt 2 tuần lễ. Phần này rất quan trọng, ở trong kinh tạng Nikāya Thế tôn nói pháp và luật. Những khóa trước chúng con chú trọng rất là nhiều pháp, nhưng mà lần để cho có sự cân bằng, đầy đủ, cho nên khóa này cũng là cái khóa đặt biệt so với khóa trước. Trước khi chúng ta xuất gia, chúng ta sẽ được chia sẻ khái quát những phần căn bản trong đời sống của 1 người tu. Dù cho là xuất gia hay là tại gia, ở đây dự khóa tu chúng ta đều phải có những tiêu chí, nội quy, thanh quy, cách ứng xử, oai nghi, tế hạnh của 1 người tu.

Điều này sẽ làm cho trang nghiêm đạo tràng, cho thanh tịnh nội chúng, làm cho an ổn đoàn thể, làm cho hòa hợp ở trong các vị đồng phạm hạnh. Chúng của Đức Phật gọi là Thánh đệ tử, chữ “Thánh” ở đây là chỉ cho Đức Thế Tôn, chữ “đệ tử” ở đây là chỉ cho chúng ta. Thành ra cái văn phạm của chữ Hán nó khác với tiếng Việt, tiếng Việt của mình dịch chữ “Thánh đệ tử” là đệ tử của bậc Thánh. Thì tất cả chúng ta có 4 bốn chúng: Nam cư sĩ, nữ cư sĩ hay là Tăng, Ni, đều được gọi là Thánh đệ tử. Bốn chúng này đều có khả năng đạt đến Thánh quả, vì đi trên Thánh đạo, học Thánh pháp, và vì sống với Thánh trí. Đầu tiên là mình nghe và học Thánh pháp, kế đó mình thực hành theo Thánh pháp đó, mình đi trên đạo lộ đó, gọi là mình thực hành Thánh đạo.

Khi mình thực hành Thánh đạo đó, mình chiêm nghiệm, quán chiếu, ứng dụng, tu tập, thực tập, thì mình có được 1 trí tuệ gọi là Thánh trí. Từ Thánh trí này mình nỗ lực, hành trì, thì sẽ có thành quả. Thành ra chữ Thánh quả bình thường mình nghe ghê gớm, khủng khiếp, mình tưởng tượng chắc là cái gì ghê gớm lắm. Nhưng mà Thánh quả chỉ là thành quả, kết quả tu học thôi. Mình trồng cái cây mà nó ra trái là bình thường, hay là nó không ra trái là bình thường. Hồi xưa giờ mình tu mà mình nghe nói là đắc quả, Thánh quả là ghê lắm. Thì như vậy là mình trông cái cây mà mình sợ ra hoa, sợ có trái lắm. Bây giờ mình trồng cái cây mà không thấy hoa, không thấy trái gì hết thì cái này là cái giống gì?

Giống này 1 là làm bằng đồ giả, 2 là cái giống bị tẩm hóa chất, chất độc. Ba là mình mường tượng nó trổ ra không phải cái trái hay cái hoa đó, mình trồng hoa sen mà nó ra hoa súng. Thì như vậy là không trúng rồi, cho nên sao mà mình tu mà không thấy được thành quả, kết quả, hoa trái của sự tu là tại vì những nguyên nhân đó đó. Có thể cái hạt giống đó là đồ dỏm, hàng nhái, hàng giả, cho nên người ta những nhãn hiệu lớn và uy tín người ta thường ghi “đề phòng giả mạo”. Bữa nay chúng ta gặp được đúng Chánh pháp, đúng pháp xịn của Phật, hoan hỉ không? Bây giờ để thực hành pháp, để học được Thánh pháp, đi trên Thánh đạo, để nhập Thánh trí và đạt đến Thánh quả. Thì chúng ta phải có 1 sự sửa soạn và chuẩn bị cho thân tâm, đó là oai nghi và giới luật.

Không có cái này thì dù cho chúng ta có hiểu pháp cao siêu thế nào đi nữa, mà đời sống của mình không có giới luật, không có giới hạnh, không có giới đức. Thì nó đi khập khiểng, đi cà thọt, là người què, không phải là người đứng thẳng 2 chân. Cho nên đầu tiên muốn đi vào Thánh pháp 1 cách vững chắc, ổn định, thâm sâu, thể nhập, thì mình có oai nghi, giới hạnh, giới luật của mình. Bây giờ con chỉ nói đơn giản thôi là quý vị lên chào con, mình có thấy trước bậc thang có chữ gì không ạ? Quý vị mới về hôm qua lên chào con, có ai nhớ không? Thậm chí là mấy vị cũ có thấy trước mặt con có chữ gì không ạ? Không ai thấy chữ gì trước mặt hết hả, chắc trời tối không thấy phải không? “Trang nghiêm, thanh tịnh, tôn trọng, cung kính, biết ơn”.

Đầu tiên khi mình về chùa, ở trong chùa có điền những câu là: “Thiền môn nghiêm tịnh”, ở trong chùa thường có 4 chữ đó. Trang nghiêm và thanh tịnh thì gọi tắc là nghiêm tịnh, không có cái này thì không thành thiền môn. Không có trang nghiêm và không có thạnh tịnh, thì nó không ra thiền môn. Cho nên khi Đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài đuổi mấy lần các thí chủ đại gia. Khi nghe Ngài tới vùng nào đó, thì các vị ở vùng đó làm đồ ăn nhiều món ngon, đem vải rồi quà cáp đi tới trước cổng tịnh xá mấy trăm người. Thế Tôn nghe tiếng ồn ào, la lối, ồn ào trước tịnh xá. Thì Thế Tôn hỏi ngài Anada tiếng gì giống tiếng chợ cá vậy. Ngài Anada trả lời là các vị nghe Thế Tôn đến thì họ chuẩn bị đồ ăn, y phục đến để cúng dường Thế Tôn.

Thế Tôn nói: “Thôi Anada, ta không cần lợi dưỡng như phân đó, ông ra nhân danh ta đuổi các vị đó đi, ta không có tiếp”. Năm trăm người thí chủ Thế Tôn không tiếp, đó là chữ thiền môn nghiêm tịnh. Chúng ta nhớ kỹ 2 chữ nghiêm tịnh này, không có cái này thì không có cái chất của thiền môn, nó thành 1 cái chợ. Rồi 1 lần khác các vị mới xuất gia, tân học Tỳ-kheo mấy trăm người đệ tử của các thầy lớn về chia bồ đoàn, tọa cụ này kia, làm cho chỗ nghỉ ồn vang dội. Thế Tôn mới hỏi ngài Anada là tiếng gì đây, đang họp chợ cá hay sao. Thế Tôn hay dùng từ đó lắm, hay dùng hình ảnh nhóm chợ cá. Ngài Anada mới trả lời là do các đệ tử, Tỳ-kheo mới xuất gia của ngài Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất đến chia bồ đoàn, tọa cụ.

Tọa cụ là tấm vải trải ngồi khi mình đi trên rừng, trong núi, chỗ dơ, sìn, hay nghĩa địa phải có 1 tấm trải ngồi, để tránh ruồi muỗi, côn trùng dơ bẩn. Thế Tôn nói: “Ông nhân danh ta ra đuổi đi hết 500 người Tỳ-kheo”. Mấy lần như vậy đó, mình đọc tạng kinh rồi mình sẽ thấy, đuổi hết, không tiếp. Ông Sapati là Ta bà chủ đó, là người đứng đầu hành tinh này xuồn năn nỉ 3 lần, dòng họ Thích ca năn nỉ 3 lần, để tiếp các vị Tỳ-kheo này. Bạch Thế Tôn: “Giống như con bê còn nhỏ, cần đến sự chăm sóc của bò mẹ. Như mầm cây mới vừa nhú lên, cần được bảo vệ, nuôi dưỡng, xin Thế Tôn thương xót các cị Tỳ-kheo mới xuất gia này”. Mình về mình nghe lại bài kinh này, mình đọc để mình thấy. Năm lần 7 lượt rồi Đức Thế Tôn mới tiếp, sau đó các vị này đều chứng Thánh quả hết, tuyệt vời không?

Việc này cũng diễn ra nhiều trong hội chúng Đức Phật, cả ngàn vị đó, mà nếu như có 1 vị ho, thì lặp tức các vị Tỳ-kheo kế bên lấy tay ra hiệu, chạm chạm đầu gối của vị kế bên đó. “Thưa hiền giả, Đức Thế Tôn – bậc A-la-hán Chánh đẳng giác đnag thuyết pháp, chớ có làm ồn”. Cho nên mình ho mình cũng hãm âm thanh lại, chứ không phải mình rống cái cổ lên mà ho. Cái ho cũng có sự tu tập nữa, hãm âm thanh lại. Cho nên mình để ý các vị tu tập lâu, người ta ho là người ta lấy cái tay bụm cái miệng lại để hãm âm thanh. Còn mấy người mới ho là vặn hết volum lên, đặng để biết là tôi đang bệnh. Mình phải hãm âm thanh lại, làm cho nó nhỏ tối đa có thể. Còn nếu ho nhiều quá thì mình sẽ lui về, mình lấy kinh mình đọc. Những cái này là những cái hết sức căn bản cho mình tu.

Lúc đó vua A-sà-thế nghe lời Đề-bà-đạt-đa xúi dục, 1 bên thì muốn soán ngôi Đức Phật, 1 bên thì muốn soán ngôi vua cha. Đề-bà-đạt-đa thì muốn làm Phật, muốn lãnh đạo Tăng đoàn, còn vua A-sà-thế thì muốn giết cha để lên ngôi. Thì vua A-sà-thế này thể hiện hành vi ngỗ nghịch của mình, khi lên làm vua rồi thì rất là ray rứt, đau khổ, hối hận ở trong lòng. Một thời gian dài ngài ăn không ngon, ngủ không yên, bị tòa án lương tâm xét xử, phán xử ngài. Cho nên ngài muốn tìm vị thầy, để giúp cho ngài được an tâm. Ngồi trên ngai vàng mà tâm không có yên, tại vì giết cha để lên ngôi. Cho nên hỏi các vị đại thần, tất cả các vị đạo sĩ nổi tiếng thời đó, từ vị này tới vị kia vị nọ, rất nhiều những người nổi tiếng đương thời, gọi là thời danh.

Nói tới ai thì vua A-sà-thế không có chịu đi tới, ông tỏ hành vi, cử chỉ, thái độ không chịu. Rồi cuối cùng khi giới thiệu Đức Phật thì vua A-sà-thế chịu đi, đi nghe tới Đức Phật thì tự nhiên có cái tâm cung kính, kính ngưỡng. Khi vua A-sà-thế đi, thì vào tới tinh xá tới chỗ đi xe được thì đi, tới chỗ không đi xe được thì xuống đi bộ. Khi vua đi vào thì tới 1 đoạn nhà vua mới quay lại nới với cận thần: “Ngươi muốn giết ta ha?” Vị cận thần hỏi tại sao nhà vua nói như vậy, thì vua A-sà-thế nói:
“Sao ngươi nói ở đây cả ngàn vị Tỳ-kheo, sao ta vô ta không có nghe tiếp động, ngươi muốn ám sát ta hả”. Nhà vua tại vì giết cha lên ngôi, thì lúc nào cũng thấy người ta muốn giết mình để cướp ngôi hết.

Vị cận thần mới nói: “Muôn tâu bệ hạ, ngài cứ việc đi vào 1 chút nữa. Thế Tôn và chư Thánh chúng đang ở phía trong, ngài cứ bình tĩnh đi vào”. Khi nhà vua đi vào tới, ngài nhìn 1 cái thì đập vào mắt của nhà vua là 1 hình ảnh Thế Tôn ngồi ở giữa Thánh chúng, giống như là núi vàng, sừng sững bất động, trang nghiêm, thanh tịnh. Chung quanh là hàng ngàn vị Thánh tăng, không có 1 tiếng động, các ngài đang ở trong Thánh chánh định, chánh định của bậc Thánh. Nhà vua nhìn 1 cái thì lông tóc dựng đứng, sụp đổ cả người xuống, lạy Đức Phật, tuôn trào nước mắt ra. Khở lên 1 niềm cung kính cùng tột, cùng cực tột độ đối với Đức Phật và Thánh chúng.

Ngài chưa từng thấy từ khi cha sanh mẹ để cho đến cai trị thiên hạ, trên ngôi cửu ngũ chí tôn chưa từng thấy 1 hội chúng trang nghiêm, thanh tịnh, hùng tráng trong sự im lặng sấm sét. Sự thinh lặng mà biểu lộ ra 1 sức mạnh vô biên, vô tận vô cùng, vô lượng. Nhà vua sụp đổ hoàn toàn bản ngã kiêu ngạo, ngạo mạn tội lỗi của chính mình xuống trước Thế Tôn. Nước mắt trào ra, tuôn ra, bài tỏ sự sám hối, hối hận, hối lỗi, sự bất hiếu, ngỗ nghịch trước cha của mình. Đức Thế Tôn bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng bi mẫn, thuyết pháp cho nhà vua. Nhà vua phát tính tâm rất là mạnh mẽ, và quy y làm đệ tử tại gia trước Đức Phật. Thế Tôn nói rằng nếu nhà vua không phạm tội ngỗ nghịch, giết cha, thì ngay buổi thuyết pháp đầu tiên đó sẽ chứng đắc sơ quả Tu-đà-hoàn, tịnh tính bất động.

Bởi vì mang tội ngỗ nghịch, cho nên nghiệp chướng ngăn cản, nếu không ngay buổi thuyết pháp đầu tiên đã chứng đắc nhập lưu Thánh quả thứ nhất. Chúng ta thấy được sự “thiền môn nghiêm tịnh”, bốn chữ này. Không có nghiêm tịnh là không có thiền môn, mà thành chợ cá. Cho nên thật sự dầu cho mình có tu bao năm ở trong chùa, mình đi tới đâu cũng chớp chóe, ồn ào, thì giống như cái cây có cái vỏ không có cái ruột. Mà cái vỏ ngoài của phạm hạnh cũng chưa có nữa, cái đó là cái vỏ đó. Là 1 người tu là người có được sự an tịnh và lắng dịu, đây là chất liệu của bậc hiền giả, hiền trí, hiền tuệ.

Sự kiện tiếp theo là vua Ba-tư-nặc năm đó ngài 79 tuổi, cũng bằng Đức Thế Tôn, 1 năm sau đó nữa Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn. Chúng ta thấy tuyệt vời lắm, bài kinh “Pháp trang nghiêm”. Thì vua Ba-tư-nặc đi đến tinh xá, nhà vua đi vào như 1 người bình thường đi vào, các vị Tỳ-kheo ai thiền hành vẫn thiền hành, ai ngồi thiền thì vẫn ngồi thiền. Chứ không phải vua tới là quýnh quáng hết như mình bây giờ đâu. Vua đi tới hỏi 1 vị Tỳ-kheo: “Bạch tôn giả, Thế Tôn đang ở chỗ nào, con muốn đi đến thăm Thế Tôn”. Thì vị tôn giả mới chỉ: “Bệ hạ đi đến nhẹ nhàng, bước qua cửa rồi tằng hắng 3 tiếng, sau đó gõ cửa 3 lần, Thế Tôn sẽ mở cửa, đừng có làm phát ra tiếng động ồn ào”.

Vua Ba-tư-nặc làm y như vậy, thì Thế Tôn mở cửa, nhà vua đem đỉnh đầu của mình lạy dưới chân Đức Phật. Lấy 2 cái tay nâng bàn chân của Đức Phật lên, để cái trán lên bàn chân. Đó là cách bây giờ mà con cho quý vị thiền biết ơn, chúng ta thấy không ạ? Đó là được truyền thừa 2600 năm. Năm đó 2 cụ gần 80 tuổi, 1 vị là đế vương, 1 vị là pháp vương. Một vị là nhân trung chi chủ, 1 vị là Thánh trung chi vương, vua của tất cả các bậc Thánh, 1 vị vua của thiên hạ. Khi gặp nhau vua Ba-tư-nặc làm như vậy, thì Thế Tôn mới cúi xuống: “Thưa đại vương, sao đại vương hôm nay đại vương lại thể hiện sự cung kính tột cùng đối với Như Lai”.

Rồi nhà vua nói nhiều cái pháp mà Đức Phật thành tựu lắm: “Con ở trong kinh thành hàng hàng lớp lớp bộ binh, mã binh, xa binh, tượng binh, gươm giáo sáng lòa. Thậm chí những người thân cận con, mà con cho họ lương hàng tháng, cho họ sự sống, lo cho họ tất cả. Nhưng mà tối họ ngủ mà nghe nói Thế Tôn ở chỗ nào, là họ hướng đầu về đó, hướng chân vô mình con. Mà Thế Tôn không có 1 tấc sắt trong tay, đầu trần chân đất, chỉ bằng cái tâm từ bi, tình thương, trí tuệ mà cảm hóa tất cả chúng sanh. Còn con hàng hàng lớp lớp mã binh, bộ binh, xa binh, tượng binh bảo vệ như vậy, mà con lo sợ, còn Thế Tôn ngồi 1 mình ở trong rừng mà đại bình an”.

Rất nhiều những cái pháp mà nhà vua xưng tán, tán thán Thế Tôn. Thật là tối thượng, vi diệu, Thánh thiện, vô thượng, không ai ngang bằng, không ai sánh bằng, không ai so bằng, không ai cao bằng, không ai đặt ngang hàng. Chúng ta thấy được, 1 nhà vua kính Đức Phật như vậy. Chúng ta trở lại 1 hội chúng trang nghiêm, nghiêm tịnh ở trong tinh xá, ở trong đạo tràng, ở trong thiền môn. Không có cái này là không có thiền gì hết trơn, là cái chợ. Cho nên con nhìn thấy quý thầy, quý cô mà tu lâu lại không có cái này, thật sự là con đau lòng lắm, nước mắt chảy vào trong tim. Bị vì nói hoài à, mà con thì không thể nhắc hoài được nữa, tự bản thân họ thôi.

Mình nhớ 4 chữ “thiền môn nghiêm tịnh”, đó là lý do tại sao con đặt tiếng chuông ở dưới nhà bếp. Và hôm nay con sẽ đặt tiếp ở trong Văn thủy đường, Ni xá, Tăng xá và thư viện để nhắc chúng ta. Bởi vì cái tâm mình hay quên lắm, 15 phút sẽ có tiêng chuông ngân lên, để mình quay về cảm thọ nhắc nhở thân tâm mình, biết mình đang ở đâu. Nhiều khi mình tưởng mình đang ở nhà, không biết mình đang ở chùa. Mình ở chùa 1 thời gian rồi, mình xem chùa y như cái nhà, còn hơn cái nhà mình nữa. Mất hết sự cung kính, trang nghiêm, thanh tịnh, tôn trọng, biết ơn. Thành ra chỗ này là chỗ tuyệt vời, chúng ta để ý chỗ này, thì chúng ta tu mới tiến. \

II. Tôn trọng

Trang nghiêm, thanh tịnh, tôn trọng, cung kính, biết ơn. Trang nghiêm là đi, đứng, ngồi, nằm của mình. Mình không có đi đánh đằng xa vừa đi vừa chạy, mình không có ở trong chùa mà mình la, mình nói lớn thật là lớn. Mình phải biết tôn trọng lẫn nhau, dù cho người đó là người nhỏ tuổi hơn mình, mình tôn trọng. Kính trên, nhường dưới, mình gặp các thầy, các cô đi ngang qua hình bóng có chiếc y, có cái đầu tròn, có cái giới vóc, thì mình chắp tay cúi đầu mình xá, bất cứ khi nào mình gặp. Đó là tối thiểu của sự lễ kính, và cái này làm cho mình tăng thượng lên cái thiện tâm, thiện hành. Bất cứ lúc nào gặp quý thầy, quý cô, là mình chắp tay cúi đầu mình xá. Lúc đó 3 nghiệp của mình được trang nghiêm, thanh tịnh, tôn trọng, cung kính, đó là pháp lành.

Khi mình ứng dụng được cái này, về nhà mình có lễ kính đối với ông bà, cha mẹ. Thậm chí đối với người đồng trang lứa của mình, mình tự vận dụng 2 tuần ở đây, mình về mình sẽ có sự thay đổi. Ngay cả những người nhỏ hơn mình, thấp hơn mình ở trên tuổi tác thôi, chưa chắc gì trí tuệ người ta thấp hơn mình đâu. Chưa chắc gì phước báo của người ta ít hơn mình đâu, chưa chắc gì công đức của mình bằng người đó đâu. Tuy họ còn nhỏ tuổi, hay là trọng lượng, thân hình họ nhỏ, nhưng chưa chắc gì phước báo, công đức của họ nhỏ hơn mình. Cho nên mình tôn trọng cái thiện tâm trong người đó, tôn trọng cái tâm hướng thiện trong người đó, tôn trọng cái tâm hướng thượng trong người đó.

Mình tôn trọng với nhau, không có buông thả, buông lung phóng dật, không phải vô đây tìm bạn, không phải vô đây nghỉ dưỡng, không phải vô đây để được vui đùa. Mà mình vô đây để tu học, để thực hành pháp, xác định rõ ràng mục tiêu như vậy. Nếu mình muốn vui thì đi du lịch, đi Đà Lạt chơi, không cần ở đây, ở đây không phải chỗ nghỉ đưỡng, không phải khi vui chơi, mà ở đây là chỗ thực hành thiền tu tập. Xác định rõ trong tâm mình, như vậy mình có lợi ích. Giống như mình bắn cung phải nhắm trúng hồng tâm, mình nhắm lệch 1 chút là sai rồi. Giống như mình đi đến địa chỉ là số nhà như vậy, thì đi phải đến đúng số như vậy. Dù cho số tới nhỏ hơn 2, 3 số, hay lớn hơn 2, 3 số cũng là trật, phải đúng cái số đó.

Thì cũng vậy, mình xác định mục tiêu của mình đến đây là tu học, không phải đi du lịch. Xác định rõ như vậy, thì mình sẽ có 1 cái định hướng trong sự thực hành tu học của mình. Cung kính, mình tập sự lễ kính, chúng ta thấy các vị trình pháp, chắp tay tay thưa đàng hoàng: “Chư tôn đức Tăng Ni và chư hiền trí”. Mình chắp tay mình cúi đầu, không phải mình cung kính cái miệng, mà mình cung kính cả cái thân khiêm cung. Mình phải cung kính từ trong cảm thọ tâm của mình, không phải cái miệng mình nói, mà cái thân mình trơ trơ là không phải. Khi mình nói: “Con kính bạch”, thì cái thân mình phải biểu lộ sự khiêm cung, cung kính. Chứ mình nói cái miệng mà cái thân cứ trơ trơ, thì như vậy cái miệng nói kính chứ cái thân không có kính.

Như vậy khẩu hành kính, nhưng mà cái thân hành không có kính. Chúng ta để ý khi mình làm, là thân khẩu ý mình phải tương ưng. Khi mình nói: “Kính bạch”, thì cái thân mình kính, cái miệng mình kính, và trong cảm thọ mình có sự cung kính. Như buổi sáng nay, chúng ta nói là: “Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni”, lúc mình nói mình cúi đầu xuống. Như vậy đó, không phải mình chỉ nói bằng cái miệng, mà mình nói cả bằng cái thân, mà nó phải phát xuất từ cái tâm cung kính. Đó gọi là “thân tâm nhất như, trong ngoài là một”, nhiều khi mình nói cái miệng không à, thân mình không có làm, tâm mình không có sanh khởi lên. Chúng ta thấy cái này có nhiều không ạ, cứ nói nói cái miệng, mà mình có gặp nhiều dạng giống vậy không?

Đó là “thân tâm hợp nhất, trong ngoài nhất như”, khi nói cái gì, đọc kinh tới đoạn nào, là cái tâm đi theo đó gọi là “tùy văn nhập quán”. Chữ đến đâu, câu đến đâu là hình ảnh có ra, cảm xúc có ra, suy nghĩ theo cái đó, thì chúng ta sẽ được hướng dẫn thực tập thiền quán. Trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, tôn trọng, biết ơn. Mình tập biết ơn, mình biết ơn đôi dép không có 1 chiếc ở đây mà 1 chiếc văng ra kia. Mình tập trân trọng đôi dép của mình, vì nó nâng đỡ bàn chân mình. Mình tập trân trọng chiếc áo mình đang mặc, mình không có gặp đâu vứt đó, gặp đâu máng đó, trang nghiêm mà. Có nhiều vị đang đi giữa đường cái lột y cho các giới tử, đó là không có trang nghiêm.

Đó không phải là nói cá nhân, mà đó là bài học chung cho tất cả. Đừng nói chi các vị giới tử, mà nhiều khi có vị xuất gia lâu năm rồi, mà đứng trước bàn tổ lột y ngay đó. Thành ra có những cái mình không có học kỹ là mình không biết mình làm sai, mà ai chỉ mình là mình nổi nóng, bản ngã sanh khởi lên, vậy mà tu cái gì. Cho nên sự tu của mình là từng chút, từng chút 1 như vậy đó. Thế Tôn gọi là sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, như vậy từng cái nhỏ nhỏ, nhiều cái nhỏ đó sẽ trở thành những cái pháp, nhiều cái pháp sẽ trở thành những cái to lớn. Đại đức, là cái đức rất là lớn, mình mang danh là đại đức, mà mình xem thường những hạnh nhỏ, thì đó là danh suông tôi, danh từ trống rỗng.

Cho nên không có từng cánh, thì nó có trở thành cái hoa sen đá như ở trên tay con đang cầm không. Mình nói: “Tôi không cần cánh, tôi chỉ cần nguyên đó hoa thôi à. Những hạnh nhỏ không quan trọng, tôi đòi chứng Thánh quả cao nhất đó”. Như vậy có được không? Viễn vong, mở mắt chiêm bao, chiêm bao còn chưa thấy nữa, nhất trí không? Như cái chậu cỏ ở đây nè, bưng lên cho thấy nè, không có từng cái cọng nhỏ này thì làm sao thành 1 bụi như vầy. Tức là từng cái hạnh nhỏ tích lũy lần lần, cả trăm cả ngàn cọng như vậy mới thành ra 1 cái cây hoàn chỉnh, 1 chậu cỏ, 1 châu hoa. Bây giờ mình nói: “Tôi không cần mấy cái cọng nhỏ này, tôi cần bự à”.

Thì như vậy cái này hết sức nguy hiểm, từ đầu đã tu trong cái sự ngã mạn, kiêu mạng, ngạo mạn. Chính vì vậy mà tu hoài không có thành quả thật sự của sự tu, mình bây giờ chịu làm từng cọng nhỏ này không? Mà chưa đâu, cọng nhỏ này nó có rễ ở dưới đó, chứ không phải tự động nó có được đâu. Thành ra khi chúng ta hiểu được rồi, chúng ta sẽ quý trọng những cái nhỏ nhặt, từ bước đi của mình coi có tu không? Nói: “Tôi tu là lúc ngồi thiền, trên thiền đường, chứ xuống đây tôi đâu có tu. Tôi đang nấu bếp mà tu cái gì?” Rồi xuống cái bếp nó thành cái gì đó không biết. Mỗi bước chân của mình, mình phải coi nó bước như thế nào. Nó bước có trong thúc giục, có trong vội vã, vội vàng không, bước có an tịnh lắng dịu không. Tất cả đều phải niệm an tịnh, lắng dịu.

Nói chuyện coi mình có nói trong cái tâm thúc giục, hiếu thắng, muốn hơn người ta không. Lúc mình nói mình nhìn lại cảm thọ của mình xem có nói trong lắng dịu, trong khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn không. Mà mình thực tập như vậy thì trong nhà mình có hạnh phúc không? Chắc chắn là vợ chồng rất ít cãi lộn, anh em thuận hòa, thầy trò an ổn, đạo tràng rất là hòa kính với nhau. Cho nên cái này là cái hết sức quan trọng, mỗi cái lời nói, cử chỉ, hành động của mình đều quay trở lại. Con bạch chư tôn, chư hiền, đó là thân hành niệm, là tứ niệm xứ, quán thân trên thân, là rõ biết việc mình đang làm đó.

Chứ tứ niệm xứ ở đâu? Đâu phải trên tầng trời ba mươi ba. Tứ niệm xứ là bước chân mình đó, là cách để đôi dép, cách mình mở cánh cửa, cách mình đang làm việc nhiều chừng nào, thì sự kiểm soát tu của mình càng kỹ chừng đó. Chứ không phải lúc làm việc là không còn mình, không còn người tu nữa, trở thành 1 người khác. Nói: “Giờ tôi đang làm mà”, là mượn cớ rất giỏi, ngụy biện quanh co. Lúc làm việc nhiều, chính là lúc ta sẽ nhìn thấy rất cả các công phu tu học của mình trong đó. Chứ không phải lúc mình ngồi trên thiền đường, thấy hết tất cả, mà thấy nhất là chỗ động loạn nhất sẽ nhìn ra được công phu của mình. Trong lúc người ta lại mắng chửi mình, lúc mà mình gặp chuyện bất như ý, nghịch cảnh, trong lúc mà động loạn đủ thứ chuyện hết. Là lúc mình nhìn thấy được định lực, đạo lực, trí lực, lực tu của mình.

Bình thường mình tu là để lúc đó sài đó, giống như mình làm ăn mà để “tích cóc phòng cơ, dưỡng nhi đãi lão”, là chứa thóc để phòng khi đói, nuôi con là để khi lúc tuổi già. Bây giờ mình để tiền giành dụm trong ngân hàng, tới bữa bác sĩ nói: “Ưng thư rồi”, thì mình lấy tiền ngân hàng ra đi chữa bệnh. Còn bây giờ mình để dành đã đời, rồi khi hữu sự móc ra trong này không có đồng bạc nào hết trơn. Vậy tiền này là tiền dỏm hay gì? Tức là bình thường mình tu không có đạo lực, không có công lực, cho nên khi đụng chuyện là mình mất hết pháp, mình không có gì ở trỏng hết trơn. Cho nên khi mình gặp chướng ngại, tai nạn, bất trắc, khi trong những cái động loạn nhất, người ta nhìn được sức tu của mình trong đó.

Nó thể hiện tất cả trong đó, chứ không phải nó thể hiện trong lúc bình tĩnh, sáng suốt để mình trình pháp, mình nói mình thuộc bài, mà lúc đông loạn đó. Cho nên bình thường mình tu, là đợi lúc đó mình đối phó đó. Mình đối phó với tham, sân, si, đối phó với nghịch cảnh, đối phó với chướng ngại, tai nạn. “Trang nghiệm, tôn trọng, cung kính, biết ơn”, quý thầy, quý Ni sư lâu lâu mình đọc lại mấy câu hiệu cho mọi người nhớ, cứ rảnh rảnh cho đọc, để nhắc, để mà tác ý.

III. Biết ơn

Tập biết ơn thật là nhiều, người biết ơn, người nhớ ơn là thế gian chí bảo, là báu vật quý nhất ở trên hành tinh này. Đức Thế Tôn nói trong kinh tạng Nikāya, trừ Đức Phật và các bậc Thánh, thì người có 1 nội tâm biết ơn, nhớ ơn, thì người này là thế gian chí bảo.

Phần lớn chúng sanh là sống trong cái tâm không có biết ơn, không có nhớ ơn, vong ơn, bội nghĩa. Cho nên Thế Tôn lụm mấy hạt sỏi, hoặc có khi Ngài khơi chút đất trong móng tay, Ngài hỏi mấy vị Tỳ-kheo: “Đất trong móng tay Ta là nhiều hay đất trên địa cầu là nhiều, mấy hạt sỏi trong tay Ta là nhiều hay là sỏi đá trong trời đât là này là nhiều?” Các vị Tỳ-kheo trả lời: “Bạch Thế Tôn đất trong móng tay Ngài rất ít, sỏi đá trong bàn tay Ngài rất ít, không thể nào so với đất và sỏi đá trong địa cầu”.

Thế Tôn: “Cũng vậy, con người mà chết rồi mà trở lại được làm người ít giống như là những viên sỏi, hòn đá, đất trong tay. Còn chết rồi mà xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, làm thú vật, làm cô hồn, nó nhiều giống như là đất, là sỏi của đại địa. Tại sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì chúng sanh phần lớn sống không có biết ơn, không có nhớ ơn.” Cái tâm của mình rất dễ tráo trở, rất dễ phản pháo, phản phúc, phản trắc. Nhiều khi cha mẹ mình hy sinh cho mình suốt cả cuộc đời, mà làm cái đó 1 chút gì mình không vừa lòng là mình bực bội, sân si lên, mình nói những lời bất hiếu, bất kính. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Thầy của mình nhiều khi lo cho mình bao nhiêu như vậy, nhưng mà có 1 cái gì không vừa lòng là mình quay lưng lại mình nói xấu thầy của mình.

Bạn bè, huynh đệ, anh chị em cũng vậy, chơi với nhau 10, 20 chục năm, mà có gì đó 1 chút rồi là bắt đầu trở thành kẻ thù. Đó là cái tâm tráo trở, phản phúc, phản trắc, mà cái tâm này là nó đưa mình xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Khủng khiếp lắm, chính vì vậy mà người tu tập tâm biết ơn và nhớ ơn thành tựu. Thì người này diệt tận trong thọ, tưởng, hành, thức của mình về cái tâm phản trắc, phản phúc, lật lọng, không còn 1 chút nào nữa, bằng 1 hạt cát cũng không còn. Người này diệt tận hoàn toàn cái tâm phản phúc, phản trắc, vô ơn. Mà người diệt tận được cái tâm này, thì chắc chắn sanh trong nhân thiên, không bao giờ sanh trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người này đi đến các Thánh quả.

Chính vì vậy mà Đức Thế Tôn nói cái tâm biết ơn, nhớ ơn là thế gian chí bảo, bảo vật hiếm có, khó gặp ở trên cuộc đời này. Cho nên chúng ta trong khóa tu này là có thực tập thiền biết ơn với cha mẹ, với ông bà, với vợ chồng, anh chị em. Vừa rồi khóa tu ngoài Hà Nội cũng có rất nhiều người con lễ lạy cha mẹ, con ruột, con dâu, con rễ, rồi thầy trò, vợ chồng, chị em, đều dạt dào những cảm xúc rất là đẹp. Thành ra chúng ta thực tập cái tâm biết ơn này rất là nhiều, và là đề mục tu tập suốt cuộc đời của mình, chứ không phải chỉ trong 1 thời gian ngắn. Tập nhìn những ân nhân, người thân, những người giúp đỡ mình, bằng cả 1 tấm lòng biết ơn và nhớ ơn.

Dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra, mình không bao giờ có cái tâm phản phúc, phản trắc, vong ơn, bội nghĩa. Thành tựu được cái tâm này, sẽ trở thành 1 người sống rất đẹp ở trên cuộc đời này. Đây là những đạo đức căn bản, nếp nhà của Nikāya, nếp nhà của Chánh pháp, nếp nhà của hiền trí, hiền Thánh, chúng ta phải thực tập được cái này. Thầy Thiện Huệ đọc bài “Nhớ Mãi Không Quên”, mỗi 1 câu cho đại chúng đọc lại 3 lần. Đây là những phần căn bản để chúng ta làm hành trang, để chúng ta tiện bước vào khóa tu.

“Nhớ mãi không quên

Biết ơn biết nghĩa

Nhớ mãi không quên

Hiền thiện từ bi

Nhớ mãi không quên

Sáu pháp hòa kính

Nhớ mãi không quên

Diệt tham sân si”

Giờ mới có thuộc bài rồi, con mời bất cứ người nào lên đọc nha. Bài này cũng dễ nhớ, nhưng mà không có dễ hành. Để làm thì trong này là hiền thiện, từ bi, chúng ta sẽ được thực tập cái tâm hiền này trong suốt khóa tu. Pháp hiền không có đơn giản giống như mình nghĩ là mình hiền rồi đâu, tâm hiền này là tâm hiền trí của Chánh pháp. Hiền hòa, lắng dịu, hòa ái, trang nghiêm, thanh tịnh. Hiền hòa, lắng dịu, mình tập lời nói của mình nhẹ nhàng. Bình thường mình tập, thì khi mình khó chịu mình vẫn kiểm soát được lời nói. Mình tập hành động của mình nó nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu. Mình tập cho bước đi của mình cho đi nhẹ, khi cái lạy của mình xuống mình lạy chậm chậm, từ từ. Khi mình nói chuyện, mình cũng tập lời nói của mình hiền hòa.

Tất cả đều phải để ý tập hết, chứ không phải tự động mình thành Thánh nhân, bậc hiền trí được. Khi mình nói cao giọng, mình nói to tiếng quen rồi, khẩu khí của mình rất mạnh, ăn to nói lớn, dao to búa lớn. Khi mình đụng chuyện vô thì mình sẽ phẫn nộ, nó bung ra những cái sân hận, ác nghiệp của mình. Thì những cái này nó sẽ hủy diệt mình trong chảo dầu sôi, trong cột đồng cháy đỏ, trong rừng đao núi kiếm của địa ngục. Nếu ở thế gian thì cũng đi vô tù tội, đâm chém, giết hại, đánh lộn đánh lạo, gây lộ gây lạo là từ 1 cảm thọ rất là dao động, động loạn, bạo động. Khi cảm thọ này nó còn ở trong này, thì nó sẽ phát ra lời nói hung hăng, hung dữ, hung bạo. Và một cái thân hành thô tháo, thô bạo. Thì đương nhiên suy nghĩ trong đó là suy nghĩ không có hiền thiện.

IV. An tịnh – lắng dịu – tâm hiền

Thì bây giờ mình nhận diện ngũ uẩn rồi, mình biết thọ, tưởng, hành rồi. Thì mình tập trung trong cái cảm thọ, mình hướng vào trong cảm giác toàn thân, mình kêu nó: “An tịnh, lắng dịu”. Mình niệm nó hoài, niệm giống như mình niệm Phật vậy đó. Cứ rãnh là mình niệm, khi mình đi mình cũng niệm câu đó, khi mình nói chuyện mình cũng tác ý câu đó, mình nhắc nhắc câu đó trong tâm. Khi làm việc mình cũng nhắc câu: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu”. Khi mình tu tập được cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền hòa đó, thì cái này nó cứu mình, bảo vệ mình. Trong Tương Ưng Bộ kinh, vua Ba Tư Nặc lại bạch với Đức Thế Tôn: “Con ngồi 1 mình, con suy nghĩ như sau: Dù cho 1 người có tượng binh, có bộ binh, có xa binh, có mã binh bảo vệ”.

Tức là người này có quân lính đi bộ, quân lính đi ngựa, quân lính đi xe, quân lính cưỡi voi, hay là không quân, hải quân vây quanh, bảo vệ người này, thì đó cũng chỉ là bảo vệ bên ngoài, không phải là sự bảo vệ bên trong. Ngài nói tiếp: “Bạch Thế Tôn, đối với người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, dù cho có xa binh, bộ binh, mã binh, tượng binh bảo vệ, nhưng đây chỉ là sự bảo vệ bên ngoài chứ không phải là sự bảo vệ bên trong. Nếu người này nói hung dữ, làm hung dữ, nghĩ hung dữ, thì người này vẫn gặp tai họa, tai nạn, khổ nạn. Bạch Thế Tôn nếu như người nghĩ hiền, nói hiền, làm hiền, dù cho người này không có mã binh, xa binh, bộ binh, nhưng người này được sự bảo vệ rất là tốt, đây là sự bảo vệ từ bên trong.”

Có cần vệ sĩ đi theo không? Vệ sĩ đi kế bên, nhưng mà gặp người ta mình đánh, thì có để yên cho mình không ạ? Mà nếu có để yên đi nữa thì pháp luật có để yên cho mình không ạ? Do vậy sự bảo vệ thật sự cho mình là tâm hiền, là cảm thọ hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền nhân, hiền đức, hiền thiện, hiền lành, hiền trí. Đó là sự bảo hiểm tối thượng nhất trên hành tinh này, chịu không? Chính cảm thọ cái tâm hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền thiện, hiền lành, hiền đức, hiền từ, hiền nhân, hiền trí của mình, là vệ sĩ tối thượng ở trên hành tinh này. Mình không cần thuê vệ sĩ nà đi theo hết, chỉ cần 1 cái tâm hiền hòa, hiền lành thôi, thì mình có vệ sĩ để nhất thiên hạ không tốn đồng xu, không đồng bạc nào hết. Mà đi đâu mình cũng được bảo vệ hết.

Bây giờ lời nói không có hiền thiện, nói ra là muốn cự người ta, nói ra cái cãi, nói ra muốn giành phần thắng, giàng phần hơn, giành phần phải về mình, thì 2 vợ chồng sao ạ? Là cãi lộn. Mà người thân thương nhất của mình mà vẫn khổ đau như thường, chứ đừng nói chi người dưng nước lả ở ngoài, họ dọng cho phù mỏ. Mấy ông bên đây có bị không? Có bị chưa, cái miệng nó hại cái thân đó bị chưa? Sao ngồi im ru hết trơn vậy. Từ nhỏ tới lớn có trận nào chưa? Cũng lai rai phải không? Khai thiệt đi. Thành ra như vậy mình có lời nói hiền, miệng mình nở hoa sen. Thế Tôn trong hiều đời, nói lời ái ngữ, nói lời hiền hòa từ bi, nói lời chân thật có lợi ích, nói đúng thời, nói bằng từ tâm, nói lời chạm đến trái tim người ta.

Cho nên trong nhiều kiếp, nhiều đời, Ngài sanh ra thì lời nói từ miệng của Ngài tỏa ra mùi hoa thơm sen xanh. Còn miệng mình giờ tỏa ra mùi gì? Súc miệng lựa kem nhập đánh không đó, mà nó cũng hôi rình. Tại vì nhiều đời mình ác khẩu, nói lời chia rẻ, thêu dệt, bất hòa, làm cho tranh đấu, đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi. Đó là trong kinh Nikāya đó, Đức Thế Tôn dùng mấy từ mà mình nghe mình nổi da gà, nghe cái là chạm tới não, thấu não, hack não, động não của mình luôn đó. Đức Thế Tôn gọi là “đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi”, đây là đề tài thiền quán. Đừng có nói chi đến chuyện đời, nói chuyện pháp thôi mà 1 hồi 2 ông cãi lộn với nhau luôn. Lúc đầu vô cũng huynh huynh đệ đệ, hiền giả này kia. Nói xong 1 hồi ông pháp ông, tui pháp kia, xong 1 hồi mặt mày đổi sắc lên.

Đó là nói pháp đó, mà còn sân như vậy, chứ đừng nói chi mà nói phi pháp, xong là 1 hồi lỗ mũi ăn trầu, cái đầu sỉa thuốc. Thành ra mình có lời hiền là hay lắm, tuyệt dịu lắm. Thế Tôn nói người mà không biết tu, lời nói ác, lời nói chia rẽ, đâm thọc, lời nói làm cho tan rã mọi người, hung dữ, hung hăng. Đức Phật ví dụ là lời nói giống như là đống phân, mình phải ghê sợ lời nói đó. Mình phải tập rung sợ, khiếp sợ những lời nói đó, mình thấy nó thối kinh hoàng khủng khiếp, dơ bẩn cái miệng của mình. Mình không muốn nghe lời nói đó, mình không muốn chất chứa lời nói đó, mình càng không muốn từ miệng mình phát ra những lời nói đó. Những lời nói như phân, dơ, hôi, thối, bẩn, mình không muốn lời nói đó.

Lời nói hiền hòa, dễ thương, từ ái, Đức Phật nói lời nói này giống như hoa, chịu không? Lời nói lúc nào cũng hài hòa với mọi người, lời nói lúc nào cũng nhỏ nhẹ, từ ái, nói để cho người ta được lợi ích, thì lời nói này giống như hoa, có sắc có hương. Lời nói chạm vào trái tim của người, làm cho người cảm nhận được từ tâm, tình thương, làm cho người phá mê khai ngộ. Lời nói này Đức Phật nói là lời nói như mật, mật ngọt, chịu không? Lời nói như phân, lời nói như hoa, lời nói như mật ngọt, mình chịu cái nào? Như hoa, như mật phải không? Như vậy thì bây giờ từ bỏ lời nói như phân này. Từ bỏ lời nói ác khẩu, lưỡng thiệt, ỷ ngữ, phù phiếm, hung ác, chia rẽ. Những lời nói mà đưa đến sự tranh đấu, đổ vỡ, phân li, vô ích, phù phiếm, vô nghĩa.

Giờ nào đi ra nhìn vô quán cà phê cũng có ở đó hết trơn, 1 hay 2h đêm cũng có. Thành ra mình để giành lời nói chân thật, để giành lời nói hiền thiện, để giành lời nói có ý nghĩa và thực sự cần nói. Thì mình nói ra là như hoa, như mật, có sắc, có hương. Đem lại an lạc, lợi ích, đem lại sự tăng thượng, hướng thượng cho mình và cho người. Mỗi 1 lời nói mình là nở hoa, là những giọt mật của thiện pháp, Chánh pháp, Thánh pháp, ý nghĩa không? Cho nên mình tập tâm hiền, lời nói hiền, hành động hiền. Cái này mình tu cho tới chết, bởi vì chữ hiền mà mình hoàn thành là Thánh quả tối cao đó. Chứ không phải chữ hiền này là chữ hiền ở ngoài đời đâu, chữ hiền này là hiền trí, hiền thiện, hiền Thánh.

Đầu tiên mình tập hiền thiện trước, cho nên có 1 vị lên trên núi lần đầu tiên, vô có các sư cô, các bạn đạo kêu: “Thưa hiền giả mới tới”, cô này nghe 1 cái mà cô đứng cô sững sờ, cổ ngắm vô tâm coi lại mình có hiền không. Tuyệt vời không? Đó là danh xưng của Nikāya, tập gọi nhau bằng hiền giả nha. Mai mốt cạo tóc rồi là ai cũng hiền và trí hết trơn, bên nữ hiền, bên trí là nam, mình lấy chữ hiền trí trong kinh Nikāya đó. Mình tập gọi nhau bằng hiền giả Hùng, hiền giả Dũng, hiền giả Đức. Cái này nó rất là lợi ích, vì này là từ của Đức Phật và các bậc Thánh sử dụng. Khi mình gọi với nhau là hiền giả, chữ “giả” này là người đó, là bậc hiền, người hiền.

Khi mình nhắc gọi nhau là hiền giả, hiền trí đó, người ta gọi cái mình coi mình có hiền không, người ta kêu mình hiền mà mình hung dữ thì sao được trời, nhục lắm, kêu cái như là lời nhắc mình vậy đó. Rồi cô Phật tử đó giờ đang sắp xếp vài bữa lên đây tu, lên xuất gia luôn rồi. Cô nói là cô thấm thía 2 chữ “hiền giả” quá sư phụ ơi. Mình thấy trong tâm mình đang bực bội, khó chịu, mình kêu: “Thôi, hiền đi, hiền hòa, hiền thiện đi. Dữ làm chi, khó chịu, bực bội, hơn thua để làm cái gì?” Mình kêu, mình nhắc cái tâm mình hoài, nhắc cảm thọ hiền đó, tập cho nó sanh khởi cảm thọ, tưởng, hành. Tập tác ý, tập nhắc nhở, huấn luyện cái tâm của mình. Đó là những cái pháp rất là quan trọng để chúng ta sửa soạn đi vào tạng Nikāya, những cái này là tiền phương tiện, là sửa soạn, chuẩn bị.

Chúng ta cạo tóc, đắp y, để chúng ta chuẩn bị đi vào ngôi nhà của Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi dưới gốc cây, bụi trúc, ngồi gần Bồ đề đạo tràng, cái tòa giác ngộ của Như Lai. Những cái này là sửa soạn, chuẩn bị rất cần thiết cho chúng ta. Không có những cái này, thì chúng ta học pháp không có lợi ích bao nhiêu hết. Học biết để nói cho giỏi, mà bản thân mình nhìn vô không có gì hết, không có hiền thiện, mình phải tập. Hiền thiện, từ bi rồi gì nữa? Câu tiếp theo là gì? “Sáu pháp hòa kính”, là phải nhớ. Thân, miệng, ý, là sự hài hòa, cung kính với nhau. Đây là tiêu chí, nguyên tắc, chất liệu mà Đức Phật đưa ra cho Thánh chúng của Ngài đó.

Trong 1 đạo tràng, trong 1 hội chúng, trong 1 đoàn thể, trong 1 tập thể, công ty, xí nghiệp, gia đình, nhóm họp…những cái này là chất liệu quyết định, yếu tố quyết định, để mình có thể an ổn rồi mới phát triển. Trong 1 hội chúng, gia đình, công ty, xí nghiệp, đạo tràng mà bất hòa, chia nhóm, chia phe phái với nhau thì chúng ta thấy có an ổn được không? An ổn còn không được chứ đừng nói chi phát triển. Cho nên mình tập làm sao mà suy nghĩ của mình thường suy nghĩ hòa kính, hài hòa với nhau, đừng có chống đối. Cái này thấy vậy chứ mình tu tới chết à, cái tâm này là nội tâm rất ưa chống đối, rất dễ chống đối, rất ghiền, rất nghiện chống đối. Mình biết chữ “nghiện” này không? Người ta nói gì đó không biết, chứ chống đối trước tính sau.

Sao gật đầu lia lịa vậy, có không? Ngồi phía sau đó có không? Vợ nói có cãi lại không? Nói 1 cái là cãi trước cái đã. Nó nghiện, nó bị ghiền, bởi vậy con kêu là chồng cãi trời, cãi trời luôn chứ không phải cãi thường đâu, trời cũng cãi mà Phật cũng cãi luôn. Phật kêu quán bất tịnh, cái nói: “Quán bất tịnh chi, quán này mệt lắm, ghê lắm, thôi”, cãi trời, cãi Phật. Mẫy bữa nói cãi trời, nay tới cãi Phật là đúng luôn tới cùng rồi đó, bởi vậy xuống luôn địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh. Cãi Phật, cãi trời, cãi cha, cãi mẹ, cãi thầy, cãi tổ là xuống địa ngục, súc sanh. Chà, cái này hay à, chiêm nghiệm cái này đề mục quán à. Cho nên mình nhiếp phục và chế ngự được cái tâm cự cãi, chống đối, phản đối này là một sự tu rất là tuyệt diệu, tối thượng.

Ngày xưa con làm việc với sư phụ của con, con nói ra 1 cái gì là ngài đồng ý liền 1 cáh nhẹ nhàng. Ngài có điều chỉnh là ngài điều chỉnh rất là khéo léo, uyển chuyển nhiều khi mình không biết luôn. Ngài điều chỉnh rất nhẹ, con hỏi: “Thầy thấy cái này có được không? Ngài: “Dạ con thấy cái này hay, tốt, mình cứ làm như vậy”, là xong. Chứ ngài không có như mình đưa ra 1 cái, là người ta gạt ngang 1 cái, thì cảm thọ mình sao ạ? Mình còn muốn nữa không ạ? Mình mất hứng, cụt hứng, tuột hứng rồi. Cho nên có nhiều người mình thấy trong gia đình, không thôi trong đoàn thể, tập thể, đạo tràng người ta nhiệt tâm lắm. Người ta rất nhiệt tâm, phấn khởi, đang nóng bỏng, những ngọn lửa đang lên để phụng sự, gặp cái nói người ta dẹp đi. Rồi từ đó về sau miễn luôn, khỏi, lửa lòng đã tắt từ đây, 1 đống tro tàn.

Từ đó về sau kêu làm cái gì là lắc đầu: “Thôi”. Phải không? Người ta đang nóng bỏng, đang muốn phụng sự, cống hiến cho Tam Bảo, mà người ta đi lại cái nói dẹp, rồi xong luôn. Cho nên người làm việc, người trong gia đình phải để ý, con của mình tự nhiên bữa nay nó nói: “Mẹ ơi bữa nay để con nấu cho Mẹ buổi ăn nha, Mẹ nấu cho con suốt đời rồi”, người Mẹ lắc đầu liền: “Thôi được rồi để Mẹ nấu, con đừng có nấu”. Như vậy thì mình vì tình thương của mình, mà mình không có khéo léo, thiện xảo để cho con mình sanh khởi lên tâm hiếu thảo, từ từ nó hư. Đó là cơ hội rất là tốt để con mình biết hiếu, biết thảo, biết ơn, nhớ ơn. Bởi vị cái tình thương nó ché lắp mình, bởi vậy mình có 5 triền cái đó.

Một cái ái nó che mờ cái tâm, làm cho mình yếu ớt, trí huệ tác thành mù lòa, tác thành không mắt, yếu ớt trí tuệ. Cho nên nhiều lắm, mà mình đã làm cho con mình hư mà mình không biết, mình nói: “Trời ơi tại sao con hư như vậy?” Mà thực sự là mình tiếp tay trong đó mà mình không biết, con hư tại mẹ. Câu này không có đúng tuyệt đối, nhưng mà bộn bộn, cái này là túi khôn của nhân loại, kinh nghiệm của ông cha. Cho nên mình phải để ý nhiều lắm, nhiều trí tuệ mà mình không thấy không biết. Nhiều khi mình tưởng cái đó là tốt, nhưng cái đó không tốt. Trở lại vấn đề là mình tập tâm hài hòa, nhưng mà không phải nói cái nào cũng gật hết trơn à nha. Người ta kêu làm ác, làm tà mà cũng nghe theo là không phải.

Mình phải biết cái đó là chánh tà, đúng sai, nếu đúng là mình phải cố gắng hòa hợp, hài hòa. Thế Tôn 1 hôm đi thăm các vị Tỳ-kheo, đệ tử của Ngài. Khi tới Ngài hỏi các vị đệ tử của Ngài sống với nhau có hài hòa, an lạc không? “Dạ bạch Thế Tôn, chúng con rất là hài hòa, an lạc. Chúng con tuy thân khác nhau, nhưng giống như là đồng 1 tâm”. Cái câu này hết sức là sâu sắc, thân thì khác nhau ngay cả sanh đôi, nhưng mà cũng không giống như đồng 1 tâm. Đồng 1 tâm hòa hợp, 1 tâm cung kính, 1 tâm biết ơn, 1 tâm ai cũng hướng đến sự từ bỏ tham sân si, ai cũng hướng đến sự diệt tận bản ngã. Cho nên cùng 1 cái tâm đó, cùng 1 cái tâm hiền thiện, hướng thiện, cùng 1 tâm diệt tham sân si đi đến chỗ Thánh thiện, đó là cùng 1 tâm.

Cho nên chính vì vậy mà sống hài hoài, không có cự cãi gì với nhau hết. Một điều quan trọng mà con muốn nhắc chúng ta là cố gắng tịnh khẩu, chuyện cần thiết hãy nói chuyện, và hạn chế tối đa sài điện thoại trong khóa tu. Mình quy định giờ nào, giờ chiều hay gì đó cần thiết công việc mình liên lạc 1 chút thôi. Và cố gắng tịnh khẩu, để nhận diện ngũ uẩn, mình biết cách rồi. Hằng ngày mình tập nhìn tâm, mình đọc cái tâm của mình nó hay lắm.

Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ

Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm

Mình tập cái ý hòa, mình nghe được thọ tưởng hành, mình mới tập được, cái ý này là thọ, tưởng, hành đó. Mình tập cái ý nghĩ của mình phải hòa với mọi người, chứ cứ giờ người ta tu mình không tu, tới giờ người ta giải lao cái mình tu. Giờ người ta ăn mình không ăn, tới giờ người ta đi ngủ cái mình đi ăn. Mình không bao giờ biết được nhà bếp vất vả, cực khổ, người ta phải hy sinh thời gian tu học của người ta cho mình, thức đêm dậy sớm, cực khổ ở trong đó. Cho nên đến giờ ăn là phải đi ăn đồng đều hết, đặng xong giờ người ta còn phải lo việc khác, còn phải tu học, phải lo cho hàng 100, 200 người, đâu phải có cá nhân mình mình.

Chính vì vậy mà mình đừng có sống ích kỹ, hãy sống biết suy nghĩ đến người khác, hãy sống biết cảm nhận của người khác. Hãy sống biết đồng cảm với người khác, hãy sống biết thương những người mà đang bằng tất cả tấm lòng, bằng tình thương, bằng công, bằng của, bằng tài, bằng sức, bằng tấm lòng lo cho mình tu học. Mình không có sống vô cảm, vô ơn, không có sống mà chỉ biết bản thân mình, ích kỷ, không nghĩ đến người khác. Nhớ cho thật kỹ, đến giờ ăn thì đi ăn, giờ tu đi tu, giờ ngủ phải yên lặng tuyệt đối. Chứ giờ người ta ngủ mình nói chuyện, người ta phiền não, người ta động niệm là mình tổn phước, tổn đức.

Con nhắc trước rất là nhiều khóa, con mong rằng tất cả chư tôn đức, chư hiền trí phải để ý, ngồi không để phía trước chỗ trống, ngồi đầy hết tất cả chỗ. Mình ngồi mà mình muốn ngồi yên 1 góc thì đó là bản ngã, là ngồi theo dục, ngồi phải hòa chung, đó là thân hòa đó. Mình thích ngồi chỗ nào là mình ngồi à, mình phải ngồi lắp đầy tất cả chỗ cho trang nghiêm đạo tràng. Chúng ta thấy chùa Hoằng Pháp đẹp không? Từ chùa Hoằng Pháp mình nhân rộng tất cả khóa tu ra toàn quốc, cho đến ra tới miền Bắc, miền Trung. Cái mô hình đó chúng ta học được những cái hay, khi mình ngồi như vậy, mạnh ai muốn ngồi chỗ nào thì ngồi, thì ngay chỗ phía trước trống đống. Khi mà người ta quay phim lên, hay nhìn vô đạo tràng không có nề nếp, không có đều đặn, không có trang nghiêm, không có đẹp đẽ.

Mình thích đẹp không? Mình muốn đẹp, mình chịu đẹp, thì đừng có làm xấu. Cho nên ngồi khi mình bước vô, thì cứ theo thứ tự mà lắp đầy chỗ trống. Khi đi thiền hành cũng vậy, không phải là muốn ngồi chỗ nào thì ngồi, muốn đi chỗ nào thì đi, mà cứ theo thứ tự lắp đầy tất cả chỗ. Người nào đứng trước chỗ trống không biết, thì người tiếp theo nhắc để bước lên cho lắp đầy chỗ. Đó là mình vì đại chúng, vì chư Tăng Ni và vì tất cả những người lo cho mình. Không lẽ mỗi ngày con phải đứng phía sau đặng con coi chỗ nào, rồi con đi mời từng người như vậy thì tội nghiệp cho con vì cái chỗ ngồi của chúng ta, chúng ta phải để ý đều đó.

Ăn cũng vậy, khi mình đi khất thực, mình múc vừa, mình ăn bao nhiêu thì múc bấy nhiêu, không có được vì con mắt lớn hơn cái bụng, cái tâm tham múc cho nhiều 1 hồi đi đổ, thì như vậy có tội. Mỗi cái mỗi cái chúng ta cần xét cho sâu sắc, để chúng ta ít có nói chuyện. Tịnh khẩu là như vậy đó, để quay trở lại, trong 2 tuần lễ này là mình thoát tục, siêu phàm. Mình vượt ra khỏi những cái tầm thường, phàm tục, bụi bặm ở đời. Mình đi ra khỏi bụi đời, mình thoát khỏi bụi trần, mình tập sống đời sống của 1 hiền giả, đời sống của 1 người đức hạnh, thanh bạch, thanh cao, cao thượng, Thánh thiện. Thì từ những cái nhỏ đó mình phải để ý, luôn luôn biết nghĩ đến người khác.

Nhớ con nhắc lại là đến giờ ngủ, đúng tới giờ thì con sẽ cho cại kẻng lệnh các thầy các cô sắp, tời giờ chỉ tịnh là phải đánh lên cả 1 hồi nhất tứ. Còn những lúc quan trọng là đánh 3 hồi, đặng cho đại chúng nghe để biết giờ tu học. Khi mình nghe tiếng kẻng lệnh thì tới giờ đó mình phải yên lặng, dù cho mình không ngủ, mình cũng phải nằm ở đó để mình an tịnh, lắng dịu, để mình thực hành thiền nằm, thực hành 3 pháp. Đừng có làm động người khác, tổn phước, tổn đức của mình. Rồi mình ăn cũng vậy, hay mình xài nước cũng vậy, tiết kiệm. Tuy rằng nước ở đây là miễn phí, nhưng không phí của trời, mình xài đúng mức. Khi mình dội nước, xối nước, mình xối nhẹ nhàng, không phải tắm ở trong dục. Mình tắm cho nó nhẹ nhàng, không phải ào ào cho nó văng tung tóe hết trơn.

Mình xối nhẹ nhàng, từ tốn, mình tập tất cả các hành vi của mình an tịnh, lắng dịu. Để nhiếp phục cái cảm thọ mà bạo động, động loạn ở trong tâm của mình. Chúng ta thấy nhiều cái để cho mình thực tập được, từ cái tắm, cái ăn, cái mặc đồ của mình. Mình đi đến chùa, mình mặc bồ đồ nào cho phù hợp, nếu thiếu đồ thì hỏi quý thầy, quý cô có đồ lam cho mình. Rồi khi bước vào thiền đường ngồi, khi để đôi dép, mình biết chỗ nào là chỗ nhường chút cho các chư tôn đức, chỗ nào là chỗ mình để ngay ngắn, ngay thẳng. Để khi nói chuyện, khi làm việc, khi nghĩ nằm thế nào cho nó trang nghiêm, oai nghi. Đó là những cái huân trượng, những cái rèn luyện mình, đó là tu đó, chứ không phải lên thiền đường lúc đó mới tu. Mà chúng ta vận dụng tất cả thời gian có thể, để mình nhớ mà mình hành trì.

Mình làm được như vậy, thì mình mới đổi đời, mới thay đổi vận mạng sau khi xuống núi, chịu không? Tương thân, tương ái, thân thiện, hòa nhã, hòa đồng, giúp đỡ nhau gánh vác công việc của đạo tràng. Mình thấy quý thầy, quý sư cô làm việc, mình thấy mình có khả năng trong lĩnh vực, công việc đó, thì mình xin mình được đóng góp công sức. Mình thấy các vị làm nặng, các vị đồng phạm hạnh, các hiền giả, hiền trí, mình sẵn sàng đi đến đỡ phụ, khiêng phục, vác phụ, dọn phụ trong sự an tịnh, lắng dịu và đầy nhiệt tâm, đầy sự cảm ơn, biết ơn của mình. Thấy có đẹp không? Sống như vậy là sống có chất, sống có lượng, có chất lượng. Sống như vậy là sống có ý nghĩa, giác trị, lợi ích, không phải là kẻ vô tích sự trong đạo tràng.

Sống vậy là sống bằng tâm hiền thiện, từ bi, và cái này phải nhớ mãi không quên. Nhớ mãi không quên sáu pháp hòa kính, thân, miệng, ý của mình. Cái gì mình được cho mình chia đều ra, giới luật, nội quy mình giữ gìn cùng với nhau. Và trí tuệ mình được học mình phải chia sẻ với nhau, những người có duyên và muốn nghe thì mình chia sẻ. Đó là 6 sáu hòa kính: Thân hòa hợp để mà làm việc, miệng hòa hợp không có cự cãi. Ý hòa hợp, hiền thiện, không có chống đối, có đồ ăn gì chia sẻ với nhai cho nó đồng đều. Giới luật, nội quy cùng nhau gìn giữ, và cuối cùng thấy biết ở trong tu học thì cùng nhau chia sẻ.

“Thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tranh, lợi hòa đồng quân, giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải”. Chúng ta thực hành được cái này, thì nửa tháng này là nửa tháng thoát tục siêu phàm, bồng lai tiên cảnh, thần tiên. “Cô quyền phong đảnh, bất thị nhân gian”. Trên đỉnh non thiên này, không có những cái tâm hơn thua, tham, sân, si, buông lung, phóng dật. Trên đỉnh non thiên này, là những tâm hiền thiện, hiền hòa, hiền đức, hiền trí, hiền từ, chúng ta nhớ kỹ.