Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

KHỔ THÁNH TRÍ 1 - KHỔ DO AI LÀM RA đã chỉnh

2026-03-03 00:55:54
Kinh Nikāya Giảng Giải

KHỔ THÁNH TRÍ I

Khổ Do Ai Làm Ra?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Có và Không PAGEREF _Toc143070429 \h 1

II.Khổ do ai làm ra PAGEREF _Toc143070430 \h 3

III.Trung đạo PAGEREF _Toc143070431 \h 6

IV.Mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ PAGEREF _Toc143070432 \h 12

Có và Không

Trong kinh Ví Dụ Con Rắn, Đức Thế Tôn tuyên bố “Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ”. Sau đây, Minh Thành xin gửi đến quý vị những trí tuệ về khổ trong kinh tạng Nikāya, gọi là Khổ Thánh Trí. Vậy tại sao không chỉ gọi là “khổ” mà lại gọi là “khổ Thánh trí”? Lâu nay chúng ta chỉ hiểu chung chung về Khổ thánh đế, khi đi sâu vào tạng kinh Nikāya, ta sẽ thấy rất bất ngờ vì sự khổ Đức Phật nhắc đến không như trước nay mình đã hiểu, cho nên có chữ “Thánh trí” phía sau. Vì vậy, “Khổ” ở đây là trí của bậc Thánh đã giác ngộ, chứng ngộ, thấy biết thấu đáo tất cả mọi phương diện, khía cạnh của thân tâm, của thế giới, của hữu tình, chúng sanh, vạn loài.

Đầu tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu thế nào là chánh tri kiến trong bài kinh Kaccàyanagotta:

“Trú ở Sàvatthi (Xá-vệ)...

Rồi Tôn giả Kaccàyanagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:

- "Chánh kiến, chánh kiến", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là chánh kiến?”.

Tôn giả Kaccàyanagotta hỏi Thế Tôn thế nào mới là “chánh kiến”? Thế nào mới là thấy đúng như sự thấy của bậc Thánh? Thế nào gọi là cái nhìn chính xác, triệt để về sự thật mà Đức Thế Tôn chứng ngộ? Chữ “thấy đúng” trong kinh rất sâu sắc, không phải “thấy đúng” như ở ngoài thế gian, tự cho rằng “tôi thấy điều đó là đúng”. Cần nhớ rằng, tất cả những lời Đức Phật tuyên thuyết trong tạng kinh Nikāya mới thật sự là phương pháp cứu cánh cùng tột, rốt ráo, viên mãn.

Khi được hỏi như vậy, Thế Tôn trả lời như sau:

“Này Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.

Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có.

Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có”.

Nghĩa là phần lớn mọi người đều rơi vào hai cực đoan: có và không. Nhưng người thành tựu trí huệ thật sự không rơi vào hai cực đoan “có hoặc không” như thế. Người với trí tuệ thấy một cách chính xác thân thể này được sanh khởi ra, vị ấy không chấp nhận thân này là không có. Người với trí tuệ chân chánh thấy một cách chính xác thân thể này sẽ chấm dứt, vị ấy không chấp nhận thân thể này là có. Ví dụ, một đứa bé mới lọt lòng mẹ khóc oa oa, mình nói không có cũng không được; đến khi tắt thở nằm trên giường, đẩy vào lò thiêu thành đống tro rồi, mình nói thân này có cũng không được. Đối với người có Chánh trí huệ sẽ thấy nhân duyên hội hợp có ra nhân duyên ly tán, hoại diệt. “Duyên tụ như sanh, duyên tán như tử”. Đủ nhân, đủ duyên sẽ hình thành, sanh khởi ra pháp đó; nhân duyên không đủ sẽ rã nát, hoại diệt, chấm dứt.

“Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc. Phần lớn thế giới này là vậy”.

Phần lớn chúng sanh, hữu tình, thế giới ngũ uẩn này là chấp thủ phương tiện, tức nắm giữ vào những phương tiện, những sự thấy biết thiên lệch, nghiêng qua một bên, bị cách nhìn nghiêng về một bên trói buộc. Nghiêng về một bên là có hoặc là không, đó gọi là thiên kiến, tức sự thấy biết nghiêng lệch, hoặc có, hoặc không.

“Và ai với tâm không trú trước, chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: "Đây là tự ngã của tôi". Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác. Trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccàyana, là chánh tri kiến”.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập II, bài kinh Kaccàyanagotta)

Một người không bị nắm chặt, không bị chấp thủ, không bị sự thấy biết nghiêng lệch, không trú trước trong sự thấy đó, tức là không bám chặt vào sự thấy đó, vị ấy không nghĩ rằng “Đây là tự ngã của tôi”. Cho nên, khi khổ sanh khởi lên, vị ấy không xem đó là “tôi khổ”, mà xem là khổ sanh khởi, khi khổ sanh thời xem là sanh, khổ diệt thời xem là diệt, vị ấy thấy sự khổ đó là pháp sanh-diệt.

Nếu có sự nhận diện ngũ uẩn, thực tập quán chiếu các cảm thọ thì chúng ta sẽ biết sự khổ đó chỉ là một cảm thọ, cảm xúc. Cảm xúc đó do duyên xúc mà sanh thọ, tức do tiếp xúc sanh ra cảm giác khổ. Khi cảm thọ khổ đó sanh xong thì sẽ diệt. Sự thấy được có một cảm giác khổ sanh khởi, cảm nhận được khổ, rồi bây giờ cái khổ này chấm dứt. Đó gọi là Chánh kiến, tức người này không thấy có một “cái tôi” đang khổ, “tôi bị khổ”, “tôi chịu khổ”, mà thấy rằng sự khổ này là một pháp sanh lên rồi diệt xuống; chính do tiếp xúc mà sanh ra cảm thọ khổ này. Đó là pháp vận hành, pháp sanh khởi, chấm dứt và đoạn diệt chứ không có một tự ngã – tức “tôi khổ”.

Thấy được như vậy, vị ấy không còn nghi ngờ, không còn phân vân gì nữa đối với ngũ uẩn, đối với các xúc, thọ, ái; biết rằng sự tiếp xúc sanh khởi ra các cảm thọ, và cảm thọ này là vui hay khổ, sanh rồi diệt. Vị này thấy rõ đây là sanh-diệt pháp, không có tự ngã, không có một “cái tôi”, không có “của tôi” bên trong. Thấy được như vậy một cách rõ ràng, xác quyết, chân xác, không phân vân, không nghi ngờ, không dựa vào ai khác, đó là trí của tự thân. Như vậy gọi là Chánh tri kiến.

Minh Thành xin giải thích thêm một chút về chữ “có” và “không”. Đối với sự khổ, nhiều người nói có, nhiều người cho là không có; nhưng nếu “không có” tại sao mình khổ, tại sao mình thèm, tại sao mình bị dục ái sai khiến, bị tham ái hành hạ, bị đau khổ với tình ái đó? Vậy, sự sân hận đó có hay không? Nếu không, tại sao mình nổi giận, tại sao mình tham lam? Tại sao ai đụng tới thì mình phừng phừng cái “tôi” lên? Đến đây chúng ta mới thấy được chỗ sâu sắc."Tất cả là có", này Kaccàyana, là một cực đoan. "Tất cả là không có" là cực đoan thứ hai. Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo”.

Khổ do ai làm ra

“Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ràjagaha để khất thực.

Lõa thể Kassapa thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Sau khi thấy, lõa thể Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên.

Đứng một bên, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:

- Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.

- Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.

Lần thứ hai, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:

- Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.

- Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.

Lần thứ ba, lõa thể Kassapa... (như trên)... Chúng ta đã vào trong làng.

Khi được nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:

- Nhưng không phải chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama nhiều chuyện.

- Vậy hãy hỏi đi, này Kassapa, như ông muốn!

- Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do tự mình làm ra?

Thế Tôn đáp:

- Không phải vậy, này Kassapa.

- Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do người khác làm ra?

Thế Tôn đáp:

- Không phải vậy, này Kassapa.

- Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do mình làm ra và do người khác làm ra?

Thế Tôn đáp:

- Không phải vậy, này Kassapa.

- Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?

Thế Tôn đáp:

- Không phải vậy, này Kassapa”.

Vậy khổ do đâu? Vấn đề này cực kỳ thâm sâu, sâu sắc, mà có khi mình ở trong chùa, ăn hết gạo cũng chưa thấy được, chưa thành tựu trí tuệ này nếu mình không nương theo Đức Phật. Mình làm ra cũng không phải, người ta làm ra cũng không phải; bây giờ nhập chung lại, vừa mình vừa người làm ra, Đức Thế Tôn nói cũng không phải.

“- Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?

- Này Kassapa, không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa.

- Như vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy khổ sao?

- Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ.

Được hỏi: "Tôn giả Gotama, khổ có phải tự mình làm ra" , Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa”. Được hỏi: " Tôn giả Gotama, khổ có phải do người khác làm ra?”, Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa". Được hỏi: "Tôn giả Gotama, khổ có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra?", Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa". Được hỏi: " Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, mà khổ do tự nhiên sanh?", Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa". Được hỏi: " Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?", Ngài trả lời: "Không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa". Được hỏi: "Như vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy khổ chăng?”Ngài trả lời: "Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ. Này Kassapa, Ta thấy khổ".

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên cho con về khổ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết cho con về khổ”.

Đức Phật bây giờ mới bắt đầu trả lời:

“Một người làm và chính người làm ấy cảm thọ (kết quả). Này Kassapa, như ông gọi ban đầu "khổ do tự mình làm ra", như vậy có nghĩa là thường kiến.

Một người khác làm và một người khác cảm thọ. Này Kassapa, như vậy đối với người bị cảm thọ, được xảy ra như: "Khổ do người khác làm ra", như vậy có nghĩa là đoạn kiến”.

“Này Kassapa, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo”.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập II, bài kinh Lõa thể)

Như vậy, từ bỏ “có và không” là thuyết pháp theo trung đạo. Còn chủ trương có hoặc không là một chiều, là cực đoan, chỉ nói một khía cạnh, không đầy đủ tất cả mọi mặt. Ví dụ dễ hiểu, đối với một căn nhà lục giác hay bát giác, mà mình chỉ nhìn hai góc thì không nhìn thấy được toàn diện ngôi nhà. Căn nhà bát giác mà mình chỉ để ý đến hai mặt, còn sáu cạnh kia thì sao? Cũng vậy, quan niệm có hoặc không đối với cái khổ là cực đoan, là thấy biết nghiêng lệch, phiến diện. Đó không phải là sự thấy biết đầy đủ, đồng đều, trọn vẹn, viên mãn tất cả mọi góc độ, khía cạnh của đau khổ.

Nếu ta nói “không thấy, không biết về khổ”, vậy tự thân chúng ta vô minh, không thấy, không biết về ngũ uẩn. Nếu như nói “mình tự làm mình khổ”, tức là mình cho rằng có tự ngã, có pháp khổ thật và đó là chấp thường, thường kiến. Còn nếu nói “khổ do người khác làm ra” thì đó là đoạn kiến. Có trường hợp nữa là bảo “không có khổ”, nhưng làm sao không có khổ được? Mà nếu nói có khổ cũng không được, vì nó là pháp duyên sanh nên ta mới có thể đoạn diệt được nó. Nếu nó có thật làm sao mình đoạn diệt nó được? Nếu khổ là tự thể, bất biến, thường hằng, thường trú, làm sao mình diệt được?

Cho nên, nếu nói không có khổ là phủ nhận sự khổ. Còn nói có khổ tức là khổ có thật, vậy làm sao mình lìa khổ được? Hoặc nói “khổ tự nhiên có” cũng là vô minh, rơi vào lập luận phái tự nhiên của ngoại đạo. Hơn nữa, mọi thứ không có gì là tự nhiên, tất cả đều có nhân quả, có nhân duyên, có duyên có khởi. Do cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh, cái này không nên cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt. Thế nên, “Từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo”.

Trung đạo

Thế nào là “Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo”? Tóm thâu vài mắc xích quan trọng trong mười hai nhân duyên ta thấy được trí huệ tuyệt vời của Đức Phật. Ngài dạy rằng, khổ là pháp duyên sanh, như vậy, trung đạo là duyên sanh pháp, là duyên khởi pháp. Chúng sanh khổ là do không thấy, không biết thân tâm chính mình, tức không thấy không biết ngũ uẩn. Chính vì không thấy không biết ngũ uẩn nên “vô minh duyên hành”, có ra thân hành, khẩu hành, ý hành; không biết ngũ uẩn là vô thường, là duyên sanh, là hoại diệt; không thấy không biết bản chất của ngũ uẩn.

Ngũ uẩn giống như một bộ máy được những mắc xích lắp ráp, kết hợp lại với nhau, có bản chất là vô thường, biến hoại, tan hợp, đổi dời, thiên lưu, sanh-diệt nhưng ta lại cho nó là mình. Chính vì không thấy không biết bản chất đó nên những gì ta nghĩ, nói và làm đều sai quấy, tạo thành ba ác hành: thân hành, khẩu hành, ý hành và từ những điều này tạo ra nghiệp. Như vậy, nói một cách đơn giản là vì vô minh mà chúng sanh tạo ra hành nghiệp và từ nghiệp phải chịu quả báo của khổ. Những người xung quanh cũng chỉ là ngũ uẩn, nhưng đến khi có chuyện thì mình lập tức cho là:

“Nó mắng tôi, đánh tôi

Nó thắng tôi, cướp tôi

Ai ôm hiềm hận ấy

Hận thù không thể nguôi”

Bài kệ số 3 – kinh Pháp cú

Nếu nghĩ như vậy, chúng ta chỉ thấy những người khác đang “đánh tôi, mắng tôi, cướp tôi, giết tôi, hại tôi”! Do đó, ta nói ra những lời ác, làm việc bất thiện, nghĩ những điều sân hận, đương nhiên sẽ tạo ra nghiệp và mình phải chịu quả báo khổ. Cho nên, sự khổ đau này là kết quả của những chuỗi duyên sanh pháp, ta không thể tự mình đổ hết cho người khác, hay cho rằng chính mình và người kết hợp lại tạo nên đau khổ. Hang ổ của sự khổ chính là do vô minh, tham ái, đây là hai thứ căn bản! Chính vô minh, tham ái và chấp thủ là những thứ làm ra khổ chứ không phải do ai cả.

Ví dụ, con mắt nhìn thấy món đồ đẹp, có sự rõ biết món đồ đó quý, mắc tiền. Do duyên có mắt, có món đồ, có sự rõ biết món đồ - ba pháp này hội tụ với nhau, gặp gỡ nhau, sanh ra cảm giác tham muốn, ưa thích. Có khi vì thế mà sanh ra trộm cắp, muốn lấy cho bằng được món đồ đó, rồi cuối cùng bị bắt vào tù, nhận lấy sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy không có ai khiến mình rơi vào cảnh đau khổ khi ngồi trong tù; mà tất cả pháp là một chuỗi dài các pháp duyên sanh kết hợp lại với nhau, do cái này có nên cái kia có. Do có mắt nên thấy món đồ, sự rõ biết hội tụ lại với nhau, sanh ra cảm giác yêu thích, muốn nắm giữ, lấy của người khác. Và hậu quả của nó là sầu, bi, khổ, ưu não.

Qua đây, chúng ta thấy rằng khổ không do ai làm ra; nếu có một thứ thi đó chính là tự ngã. Đây là chỗ thâm sâu của Thánh trí, tức là cái này có thì cái kia có, cái này sanh cái kia sanh, cái này không cái kia cũng không, cái này diệt cái kia diệt. Vì vậy, nếu nói rằng không có khổ tức là ta phủ nhận sự thật. Còn nói có khổ thật sự cũng là chấp đoạn với chấp thường, chấp có với chấp không. Trước nay mọi người thường nghĩ do người khác làm cho mình khổ, suy nghĩ đó là vô minh, là không thành tựu khổ Thánh trí, trí tuệ về khổ chưa thành tựu.

Chúng ta cần thấy khổ là do vô minh kết hợp với tham ái. Do không thấy, không biết bản chất của các pháp, nên mình yêu thích rồi mới có ra những hành động mê lầm, tạo nghiệp và sanh quả báo khổ. Như vậy, nguồn gốc, căn nguyên của khổ đau là do sự không thấy, không biết, do tâm u mê, si ám không nhận rõ, tỏ tường các pháp nên mới có suy nghĩ sai lầm, lời nói bất thiện, có những hành động ác, tạo ra các nghiệp tương thích, rồi nhận lấy những quả báo tương ứng của nó, tức là phải chịu khổ đau. Đó là sự thấy biết của bậc Thánh về khổ.

Nếu xác quyết vấn đề “khổ do tự tôi làm tôi khổ”, tức mình xác định có tự ngã, có “tôi”, có một pháp khổ. Nhưng khổ không tự nhiên có được, mà do duyên có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; có những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên mới có sự giao thoa, xúc chạm, sanh ra cảm xúc, cảm giác yêu thích hoặc sân hận, vui hoặc khổ. Như vậy, các pháp vận hành do pháp duyên sanh! Người không gắn cái “tôi” vào khổ, mà biết rằng khổ là thứ sanh lên rồi hoại diệt; khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt, rõ biết khổ không phải cho ai khác, mà chỉ là là pháp duyên sanh, đó là người có chánh tri kiến.

---

Đức Phật có dạy:

“Người luôn luôn Chánh niệm

Sự sanh diệt các uẩn

Được hoan hỉ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết”

Bài kệ số 374 – kinh Pháp cú

Người luôn luôn chánh niệm về sự sanh-diệt của các uẩn luôn biết rằng không có cái “tôi”, tất cả chỉ là năm uẩn. Nếu không thấy năm uẩn, lúc đó mình sẽ chỉ thấy một cái “tôi và chấp chặt vào đó. Do vậy, chúng ta cần thường xuyên nhận diện năm uẩn, vì “thấy năm uẩn tức là thấy Phật”, “thấy năm uẩn là thấy Pháp”! Khi nhìn ra năm tổ hợp đó, ta sẽ thấy không có một cái “tôi” bên trong, đó là cái nhìn của Thánh trí. Còn khi không thấy năm uẩn, chỉ thấy có một cái “tôi”, có tự ngã, có ta, có tao, có mình, có người, có mi, có bỉ, có thử… đó là kẻ phàm phu.

Vì vậy, đối với người trí, “Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt”. Rõ biết khổ này từ tai (căn), âm thanh (trần), sự rõ biết âm thanh (thức). Ba pháp này giao thoa là xúc, từ xúc sanh khởi ra cảm thọ. Cảm thọ đó nếu khó chịu, bực bội thì sân sanh khởi, tạo thành khổ. Khổ này là một pháp được sanh ra từ một chuỗi dài, được móc xích, liên hệ từ các nhân, các duyên, chứ không có khổ sẵn.

Ví dụ, khi nghe thấy những điều không hay, không tốt, khó nghe thì ta liền tức giận, nghĩ ngay rằng “Tôi đang giận, tôi đang tức, tôi vô minh”, đồng hoá mình với cơn sân đó, như vậy là phàm phu, không thấy pháp. Thay vào đó, ta biết rằng trong tâm đang có một cảm thọ khó chịu sanh khởi, và cũng biết rằng cảm thọ này đang có mặt, nhưng nó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Đây là một thọ khổ đang sanh khởi, hiện tại nó chưa hết, đang an trú. Lát sau nó sẽ lắng dịu, tan biến và khi khổ thọ này chấm dứt ta cũng rõ biết.

Như vậy, tất cả đều là khổ sanh, khổ diệt chứ không hề có người chịu khổ hay người đang khổ. Nếu không nhận diện năm uẩn, không quán chiếu cảm thọ, không tác ý thì chúng ta không thoát ra nổi! Và như vậy, chúng ta sẽ dính chùm bên trong năm uẩn. Năm uẩn như năm ngón tay kết hợp tạo thành một bàn tay, bàn tay này nắm chặt lại thành một nắm tay cứng chắc giống như tự ngã. Khi chúng ta biết mở ra thì mình sẽ thấy có năm nhóm, năm tổ hợp rời rạc thì mới không chấp thủ vào đó.

Hơn nữa, riêng sắc uẩn đã gồm rất nhiều thứ hợp lại tạo thành. Thân này bên ngoài là da, bên trong là thịt, gân, xương, máu và vô số tế bào. Sắc thân này phải được nuôi dưỡng hằng ngày, phải ăn, phải uống, phải thở, từng lỗ chân lông, máu huyết phải lưu thông tuần hoàn, hô hấp, bài tiết ổn định thì thân này mới có sự sống… Mặt khác, sắc uẩn do tứ đại hợp thành, trong địa đại, thuỷ đại, phong đại, hoả đại lại còn rất nhiều thứ khác kết hợp lại, cho nên sắc uẩn chỉ là pháp duyên sanh, không có thật. Nếu một ngón tay còn không có thật thì làm sao có một bàn tay, làm gì có một cái được gọi là “tôi” thật sự!

Với sự quán chiếu thâm sâu như vậy, chúng ta mới hiểu rõ ràng quan niệm về “tất cả” trong bài kinh Kaccàyanagotta là một cực đoan. Vì vậy Đức Phật tuyên bố:

“"Tất cả là có", này Kaccàyana, là một cực đoan. "Tất cả là không có" là cực đoan thứ hai.

Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.

Vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi”.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập II, bài kinh Kaccàyanagotta)

Cái khổ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, mà nó chỉ là uẩn-xứ-giới. Trong đó Uẩn là năm uẩn; Xứ là mười hai xứ; Giới là mười tám giới; tức là căn, trần, thức, tứ đại, ngũ uẩn kết hợp lại tạo thành; vậy làm gì có “tôi” trong đó? Tất cả là một chuỗi dài nhân duyên kết hợp, lắp ráp, móc xích của các pháp, không có một tự thể, tự ngã, không có “tôi”, cái “tôi” nào bên trong cả. Sự thấy biết về khổ như vậy, Đức Thế Tôn gọi là Chánh kiến – thấy đúng về khổ của bậc Thánh nhân. Thực tướng của khổ không phải có hay không, mà thực tướng của nó là duyên sanh. Thân này cũng vậy, nếu nói không có thật là phủ nhận, còn nói có là xem thân này có thật, có tự ngã; chúng ta phải nhìn thấy thân này là ngũ uẩn, là pháp duyên sanh, vô thường, sanh diệt.

Vì vậy, Đức Thế Tôn mới dạy người có sự chánh niệm sẽ luôn luôn nghĩ nhớ, soi xét, quán chiếu, thấu rõ một cách chân chánh sự sanh khởi, vận hành và chấm dứt của ngũ uẩn – của các sắc, của hình hài, của những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức. Nhờ thấy được sự sanh-diệt của các uẩn nên người này được hoan hỉ, hân hoan trong pháp. Sự hân hoan này “Chỉ bậc bất tử biết”, vì người này bất cộng phàm phu, không cùng chung với vô văn phàm phu. Sự thấy biết của họ không giống kẻ phàm phu, mà đó là pháp của thượng nhân, là tri kiến bậc Thánh, là Thánh trí. Còn phàm phu nhận vào một tự ngã thì làm sao biết được hương vị của bất tử!

Nghe Đức Phật đáp như vậy rồi, lõa thể Ca-diếp này nói:

“- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, con xin xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.

- Này Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú nếu chúng Tăng đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau”.

Người xưa rất chơn chất, hiền hòa mà lại rất tế nhị, sáng suốt. Tôn giả Kassâp chỉ cần nghe Thế Tôn nói: “Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau”, liền thưa:

“Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm. Sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu chúng Tăng đồng ý, mong chúng Tăng cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.

Rồi lõa thể Kassapa được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới.

Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong đời sống hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị này chứng tri: "Sanh đã tận. Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.

Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa”.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập II, bài kinh Lõa thể)

Mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ

Trong bài kinh “Một pháp môn quyết trạch”, Tăng Chi Bộ Kinh, tập III, Đức Thế Tôn có dạy:

“Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên gì đã được nói như vậy?

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sanh khởi?

Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ”.

Trước đây, đối với ba chữ “sanh là khổ” Minh Thành chỉ hiểu phớt qua, không thật sự thấm thía những chữ này. Nhưng bây giờ, mỗi khi nhắc đến “sanh là khổ” Minh Thành thấy rất xúc động, rưng rưng nước mắt, thấm thía vô cùng. Vậy, tại sao Đức Phật dạy “sanh là khổ”? Chỉ khi đi sâu vào kinh tạng Nikāya, chúng ta mới thấy Thánh trí tuệ về khổ của Đức Phật trùm hết tất cả vũ trụ, vạn vật, thế giới, thân tâm này chứ không phải nỗi khổ thông thường như nghèo đói, thất tình hay phá sản; bởi vì Đức Phật tuyên bố tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ.

Trong Tương Ưng Sáu Xứ Đức Thế Tôn có dạy:

Sự sanh khởi của con mắt này là khổ đau sanh khởi, tật bệnh có mặt, già chết xuất hiện. Mũi, lưỡi, thân này được sanh khởi, được hiện hữu, được xuất hiện là khổ đau được sanh khởi, là chỗ y cứ cho bệnh tật, ung bướu, ung nhọt, ung hạch, ung thư. Cho nên sự xuất hiện của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này là sự xuất hiện của khổ, sự xuất hiện của bệnh tật, của lo lắng, của sợ hãi, của bất an, tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, ách nạn, nguy nan. Này các Tỳ-kheo, ý sanh khởi, an trú, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh có mặt, già chết xuất hiện. Khi nào con mắt chấm dứt, diệt tận là khổ đoạn diệt; bệnh tật ngừng dứt; già chết diệt tận. Khi nào tai, mũi, lưỡi, thân, ý chấm dứt, đoạn diệt là khổ đoạn diệt; bệnh tật chấm dứt; già chết diệt tận.

Các sắc sanh khởi, có mặt, hiện hữu, xuất hiện là khổ sanh khởi, bệnh tật cư trú, già chết xuất hiện. Các tiếng, các hương, các vị, các xúc, các pháp xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh cư trú, già chết xuất hiện. Khi nào sáu trần chấm dứt, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chấm dứt, già chết tận diệt.

Con mắt xuất hiện là khổ đã sanh khởi, tật bệnh chỉ trú, cư trú, già chết xuất hiện. Hiện tại ba của Minh Thành có một con mắt hoàn toàn không nhìn thấy nữa, con mắt còn lại nhìn chỉ thấy mờ mờ, đi đứng phải có người dẫn dắt; mẹ của Minh Thành cũng phải từng phải mổ đục thủy tinh thể. Đi vào những bệnh viện mắt, ta thấy có rất nhiều gười bị cận thị, viễn thị, loạn thị, lé, chột, đui mù. Minh Thành cũng thường đến những đạo tràng khiếm thị để chia sẻ pháp, mỗi khi đến đó, Minh Thành vô cùng xúc động, thấy thương họ rất nhiều, nhìn các vị mà tim đau nhói, xót xa. Lỗ tai cũng vậy, lỗ tai xuất hiện là bấy nhiêu thứ bệnh xuất hiện. Minh Thành cũng đưa mẹ đi mổ tai vì có mủ bên trong; rất nhiều người bị bệnh viêm xoang, mỗi khi hỉ mũi là máu, mủ rỉ chảy. Mắt, tai, mũi, lưỡi này là nơi cư trú của vi trùng, vi rút, vi khuẩn.

Theo lẽ thường, một đứa trẻ được sanh ra thì mọi người đều hạnh phúc, vui mừng, mỗi năm vào ngày sinh nhật, người ta cũng thường chúc mừng nhau, ôn lại kỷ niệm; thế nhưng Đức Thế Tôn nói sanh là khổ. Vì tiếng khóc oa oa của em bé chứng minh cho sự đau đớn, quằn quại, thập tử nhất sinh của người mẹ; sự lo lắng, bất an, thấp thỏm của người cha mong cho mẹ tròn con vuông. Khi một sinh mạng, hình hài ra đời thì những bệnh tật, già, chết cũng bao vây; chưa kể sâu thẳm bên trong là bao nhiêu tham muốn, sân hận, tranh giành; chỉ vì mưu sinh kiếm sống thì cuộc đời này đã tràn ngập những đau khổ.

Ở miền Trung vừa xảy ra một chuyện hết sức đau lòng, khi nước lũ tràn về, gỗ và củi trôi rất nhiều, một người đàn ông vì nhà nghèo nên gọi đứa con trai hơn hai mươi tuổi, mới lấy vợ và sống chung nhà với ông cùng ông đi lấy củi, chẳng may hai cha con bị nước lũ cuốn trôi. Cùng với đó là bao cảnh tan nhà nát cửa, nước lũ dâng cao cuốn trôi tất cả của cải, tài sản tích góp cả đời người. Chúng ta hãy chiêm nghiệm thật sâu sắc những sự thật về khổ để khai mở pháp nhãn, tuệ nhãn, đạo nhãn, trí nhãn, Thánh trí, mở con mắt pháp mà Đức Thế Tôn đã truyền trao, từ đó nhìn thấu thế giới này, thân tâm này, đời sống này.

Tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Dù cho sự hiện hữu đó là đẹp xinh, giàu có, tốt đẹp đến đâu thì sâu bên trong cũng là những nỗi lo lắng, bất an, sợ hãi. Đối với người giàu có thì bệnh tật có sợ họ không? Đứng trước kẻ chức lớn thì già yếu có né họ không? Đối với người quyền cao thì chết chóc có chạy trốn họ không? Bệnh tật, già yếu, chết chóc không chừa một ai cả, thế nên, Đức Phật tuyên bố tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ.

Chúng ta phải nhìn kỹ những điều này, để những trí tuệ về khổ đi sâu vào trong cảm thọ, cảm xúc, cảm giác thì mới thấm thía khổ Thánh trí của Đức Phật. Nhờ đó thấy được bản chất của thân xác này là ổ chứa nhóm bệnh tật, chỗ cư trú của già chết, hang ổ của sự lo lắng, sợ hãi, bất an, bệnh tật, buồn đau, khổ sầu. Cho nên Đức Thế Tôn nói: “Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân xuất hiện, tồn tại là khổ sanh khởi, tật bệnh cư trú, già chết xuất hiện”. Nhưng khi nào bệnh tật đến, già chết cận kề thì chúng sanh mới bàng hoàng, lo sợ, chứ không biết rằng khi sanh có mặt thì tử đã nằm bên trong.

Một lần, khi Thế Tôn tám mươi tuổi, Ngài vén y để lưng phơi nắng. Tôn giả A-nan-đa xoa bóp cho Ngài và thốt lên rằng: “Ôi, Thật kinh hoàng, thật xót xa thưa Thế Tôn, tuổi già làm phai nhạt màu da. Thuở xưa, mắt, tai, mũi, lưỡi, gương mặt của Thế Tôn căng bóng thanh tịnh, trong sáng, tươi đẹp nay đã trở thành mắt mờ, lưng còng, da nhăn, gối mỏi, tóc bạc. Tất cả những gì tươi trẻ, đẹp đẽ của Thế Tôn ngày xưa đã bị tuổi già phá sập”.

Thế Tôn nói: “Này A-nan-đa, cái già nằm trong tuổi trẻ, tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh ở trong sức khỏe, và tánh chết nằm trong sự sống… Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập”.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập IV, bài kinh Già)

Bậc Đạo sư, bậc Thế gian tôn kính đã dành cả cuộc đời để phơi bày, tuyên thuyết, trình bày, khai thị cho chúng ta thấy sự thật về bản chất khổ của tất cả mọi hiện hữu của nhân sinh, cuộc sống, của thế giới, của hữu tình, chúng sanh, vạn loại. Ngài chỉ rõ rằng sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, đau buồn là khổ, mong cầu không gặp được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Thế nhưng chúng sanh cứ chấp chặt vào thân năm uẩn này, rồi chăm sóc, lo lắng, cung phụng cho nó; rồi khi tuổi già ập đến, thân này bắt đầu thay đổi, già yếu, bệnh tật bủa vây, chết chóc cận kề. Sức khoẻ dần dần cạn kiệt, có khi muốn đi bên đây nhưng chân lại bước qua bên kia, có người vào trong toilet sảy chân trượt té nằm dài, chết không ai hay. Vừa rồi, ở Sài Gòn có bà cụ chỉ sống một mình, mấy ngày không thấy bà mở cửa, hàng xóm qua thăm hỏi, gõ cửa thì có mùi kinh hãi từ trong nhà bốc ra. Khi phá cửa vô, người ta thấy bà cụ té chết tại cầu thang đã mấy ngày, cơ thể đang phân hủy và bốc mùi.

Hiện tại, chúng ta cũng đang chứng kiến thảm cảnh dịch bệnh Covid-19 trên toàn thế giới, thật sự đau khổ không thể tưởng tượng, không thể nói hết. Không ai trong chúng ta nghĩ đến có một ngày thế giới dường như trống rỗng, trống không, trống trơn. Chỉ cần ho vài tiếng là chúng ta liền cảm thấy lo lắng, bất an, ăn không ngon, ngủ không yên vì sợ nhiễm dịch; khi ra đường thì sợ người khác tiếp xúc lây bệnh cho mình. Mọi người gặp nhau trong sự lo lắng, sợ hãi, thậm chí phải bị cách ly, không được tiếp xúc; từng ngày trôi qua trong sự lo âu, sợ hãi. Rất nhiều người trên thế giới hiện nay bị tự kỷ, trầm cảm vì ảnh hưởng tâm lý, hàng triệu gia đình rơi vào cảnh tan nát, phân ly, đau thương tột cùng. Ngay giờ này mà không thấy khổ thì không biết đến bao giờ mới thấy khổ!

Sự khổ này hiện hữu trong mọi lúc, mọi nơi; chúng ta phải quán chiếu thật sâu sắc để cho trí huệ này thâm nhập, thẩm thấu, ngấm vào từng làn da, thớ thịt, đi vào trong xương tủy, trong mỗi lỗ chân lông của mình! Ăn cũng thấy khổ, đói cũng thấy khổ, no quá cũng khó chịu, mà ăn không no cũng khổ… tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Ai đi sâu vào trí huệ này, thật sự thấy được Thánh trí về khổ của Đức Phật không chỉ trên lý thuyết thì tối thiểu sẽ được Nhập lưu, tối cao sẽ đi đến chứng A-la-hán quả. Vì khi thấy khổ thì ta mới có sự nhàm chán, không còn tham muốn, dần dần đi đến từ bỏ, chấm dứt và thoát ra khỏi ngũ uẩn, thể nhập Thánh trí, diệt tham sân si, thoát ly sanh tử. Còn ai vẫn thấy vui sướng, thích thú đối với năm uẩn thì cánh cửa giải thoát sẽ rất xa vời, vì những đau khổ ràng buộc vị ấy, không thấy con đường để thoát ra.

Lời kết:

Trên đây là tổng quát trí tuệ về khổ đau của bậc Thánh chứng ngộ. Đức Thế Tôn trình bày chân tướng của các pháp, không rơi vào hai cực đoan, hoặc có tự ngã, hoặc trống không, không có gì hết. Ngài đã phân tích khổ không phải chính mình làm ra, không phải người khác làm ra, không phải mình và người khác kết hợp lại để làm ra, không phải khổ không có, không phải khổ vô nhân vô duyên, tự nhiên sanh ra; mà Khổ là do duyên sanh, là pháp sanh-diệt. Chính vì không thấy, không biết, không rõ, không thấu triệt về sự lắp ráp, móc xích vô thường, tan hoại, hoại diệt của năm uẩn, nên ta bám vào trong đó, cho rằng năm uẩn là “tôi”, là “của tôi”, là “tự ngã của tôi”, tạo thành một sự chấp thủ trong năm uẩn. Từ đó, chúng ta tạo tác những suy nghĩ, hành động, lời nói theo nghiệp xấu, nghiệp ác để rồi tiếp nhận lấy quả báo đau khổ. Từ căn, trần, thức tạo thành sự tiếp xúc, sanh ra những cảm thọ rồi mình yêu thích, nắm giữ, tạo ra nghiệp, từ đó sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ưu não hiện hữu.

Như vậy, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu thương và xa lìa là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ. Tóm lại, sự nắm chặt vào hình hài, vật chất, sự nắm chặt vào những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này gây ra phiền não, khổ đau. Năm thủ uẩn là khổ, tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Thấy được điều này thì chúng ta mới có một sự nhàm chán, muốn xa lìa, từ bỏ, thoát ra. Đó chính là xuất ly đạo lộ, là con đường xa lìa, là con đường giải thoát mọi khổ đau./.