Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

MẬT MÃ THẾ GIỚI 9 - LỐI THOÁT CỦA BẬC THÁNH

2026-03-03 00:55:54
Kinh Nikāya Giảng Giải

MẬT MÃ THẾ GIỚI 9

LỐI THOÁT CỦA BẬC THÁNH

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán chiếu sự nguy hại PAGEREF _Toc88894878 \h 1

II.Sự nhàm chán của bậc Thánh PAGEREF _Toc88894879 \h 4

III.Sự tìm cầu của bậc Chánh Đẳng Giác PAGEREF _Toc88894880 \h 7

1.Thế nào là vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly PAGEREF _Toc88894881 \h 7

2.Thường quán vô thường PAGEREF _Toc88894882 \h 11

3.Lối thoát của bậc Thánh PAGEREF _Toc88894883 \h 14

IV.Thoát khỏi ngọn lửa đang bốc cháy PAGEREF _Toc88894884 \h 18

Quán chiếu sự nguy hại

Trong sự tu học của chúng ta, Như Lý Tác Ý là phương pháp tuyệt đối quan trọng trong việc dẫn dắt tâm mình đi theo con đường của chánh kiến, đi theo con đường của sự rời xa, thoát ra, từ bỏ, chấm dứt. Nhất là trong thời gian đang diễn ra đại thảm họa toàn cầu, chúng ta để tâm nghiền ngẫm sẽ thấy được sự nguy hại của cuộc đời này là đầy rẫy và tràn ngập. Thế nhưng, vị ngọt của cuộc đồ đã che lấp sự thật này, nó làm cho con người mê mờ, mờ tối nên không thấy được sự nguy hiểm và tác hại. Cho nên, đối với người học theo đúng lời dạy nguyên chất của Đức Phật thì chúng ta phải luôn nghiền ngẫm, suy tư, quán xét thật nhiều về sự nguy hiểm và tác hại của cuộc đời này.

Có vô số những cảnh khổ xung quanh ta, vì dịch bệnh, hơn 500 người phải đi bộ mấy trăm cây số để về quê. Có những người không còn tiền bạc, họ dùng chiếc xe tự chế chứa đầy đồ đạc, rồi đẩy đi hàng ngàn cây số trở về nhà. Trên đường đi gặp người khác bệnh hoạn, khó khăn hơn, họ cho để đồ chung lên chiếc xe tự chế rồi cùng nhau đi về quê với những đứa con nhỏ chỉ vừa ba, bốn tuổi. Những dòng nước mắt, những lời xót xa, những nỗi lo lắng, bất an bao trùm cả thế giới. Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ, có những người phải chịu cảnh mất cha, mất mẹ, mất ông, mất bà và trở thành cô nhi, quả phụ, mồ côi.

Bất cứ lúc nào, trong phút chốc chúng ta có thể mất hết tất cả: những người thân thương mất, địa vị không còn, danh lợi, tiền tài sụp đổ, chức quyền trở thành giấc mộng đã qua. “Ngoảnh nhìn lại cuộc đời như giấc mộng – Được, mất, bại, thành bỗng chốc hóa hư không”. Nhiều người ngày hôm trước còn đứng trên đỉnh cao, ngày hôm sau hoàn toàn có thể rơi xuống vực thẳm. Cũng như thầy Pháp An bây giờ còn ngồi đây nghe pháp nhưng không biết được lúc nào vô thường sẽ đến. Khi đó Minh Thành sẽ trở thành trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bất thình lình mình có thể mất hết người thân, bất thình lình mình có thể mất hết những gì đang có, bất thình lình mình có thể chia ly với những thứ ưa thích, bồi đắp, xây dựng, tích góp…

Sự vô thường là vậy, sự biến hoại là vậy, sự tan nát, tan vỡ, đổ bể, sụp đổ, hoại diệt là vậy. Nơi nơi đều thấy, đâu đâu cũng có, chỗ chỗ đều hiện hữu những tâm mê muội, dại khờ, u tối, bị che đậy bởi các triền cái. Vì bị che mờ nên không thấy sự thật, tưởng rằng mọi thứ cứ tươi đẹp, bền lâu, vững chắc, trường cửu, còn hoài nên cứ nuôi những hy vọng, ước mơ, bám chấp vào những ham muốn rồi đeo đuổi, nắm bắt, tìm cầu, đuổi hình bắt bóng. Đó là đời sống của chúng ta và hữu tình chúng sanh, thật là một đời sống đáng thương xót, khờ dại, mê muội. Tất cả đều sống trong sự che mờ, che kín, che phủ, che lấp, che đậy mà cứ loanh quanh trong đó để tìm năm dục, tìm những hình sắc, tìm những tiếng, những mùi, những vị, những sự tiếp xúc và bị mê hồn trận, ngũ dục trận, ngũ quỷ đó che ám tâm không có ngày ra, không có lối ra, không có phương pháp để đi ra, không có cách thức để thoát ra.

Vì vậy, chúng ta phải nhìn thấy nguy hại của cuộc đời này thoát ra, để xuất ly khỏi nó. Còn cứ đam mê trong vị ngọt là mãi chìm nổi trong đắng cay, vì vị ngọt này là ác độc, là mũi tên, là kẻ giết người. Chỉ một chút vị ngọt nhưng đã làm không biết bao nhiêu là nước mắt, bao nhiêu là máu hồng đã đổ xuống; không biết bao nhiêu sự đấu đá, đánh đấm, mưu sĩ, mưu mô, mưu toan, mưu hại, mưu sát, mưu độc đã xảy ra. Vợ chồng, anh em, mẹ con, cha con, huynh đệ, thầy trò đều có thể đưa nhau ra tòa loanh quanh cũng vì năm dục trưỡng dưỡng. Vì vậy, chúng ta phải tu tập, tác ý để đi ra, nhàm chám, thoát ra, rời xa một cách liên tục, đến khi tâm này thoát ra thật sự là đạt tận cùng thế giới. Còn cứ đi tìm cái này rồi đau khổ, tìm cái khác lại khổ đau, tìm cái kia lại tiếp tục đau khổ… thì sẽ không có ngày thoát ra, vô lượng vô biên, vô số kiếp, vô thỉ kiếp cứ lẩn quẩn, loanh quanh như kiến bò miệng chén.

Thật là đau khổ cho chúng ta, thật là xót xa cho chúng ta, thật là cay đắng cho chúng ta. Chúng ta thật là ngu dại, thật là khờ dại, thật là mê muội, thật là ngu si, thật là vô minh, thật là tăm tối, thật là hắc ám khi cứ lao đầu vào vị ngọt của cuộc đời này. Như con thiêu thân, cứ thấy ánh sáng là lao vào rồi chết. Như con tằm nhả tơ để buộc lấy chính nó. Đây là hai hình ảnh rất hay. Một hình ảnh biểu tượng cho bên trong là thọ, tưởng, hành phát sanh ra tham, sân, si, bản ngã rồi tự bó buộc và làm khổ chính nó. Những tư duy, tham ái về dục ở trên đời bên trong tự nhả ra“Như tằm kéo kén, càng buộc càng bền – Như bướm lau đèn, tự thiêu tự đốt”. Bên trong nhả kén ra rồi tự bao buộc lại, đó là “nội công”, còn “ngoại kích” là gặp ánh sáng thì tự lao vào, tức là hướng ngoại, chạy theo ngũ dục bên ngoài.

Như vậy, bên trong chúng ta tiết ra những thứ tham muốn, nóng giận, si mê, dính mắc, bản ngã để tự trói cột mình. Còn bên ngoài thì hướng ngoại, chạy theo những âm thanh, sắc tướng, mùi vị, những sự tiếp xúc. Còn chặng giữa là những sự tham ái, chấp thủ. Cho nên, chữ “thủ” trong năm thủ uẩn và chữ “ái” là cả một sự chứng ngộ tối tôn, tối thượng của Đức Phật. Trong rất nhiều bài kinh, Đức Phật nói ái là nguyên nhân của khổ, nguyên nhân của tái sanh, chỉ một chữ này thôi nhưng mình tu tới chết mới có thể nhìn thấy, nhiếp phục và đoạn tận nó. Cũng vì yêu thích vị ngọt của cuộc đời này nên đi ra không được, không giải thoát được, không thoát ra được, dù vẫn biết là khổ nhưng bỏ thì bỏ không được. Nhiều Phật tử nói với Minh Thành: “Thầy ơi, con cũng biết là khổ, muốn lên núi tu nhưng lên không được”, các vị này đi lên không được, hoặc lên được thì không phải ở tu luôn mà đi chỉ một tuần thôi cũng là vì ái.

Thế nên, bên trong chúng ta nhả ra những thứ dục, tham, ái, sân, si, bản ngã, hơn thua, đố kị, ganh tỵ… rồi tự làm khổ đau, hành hạ, hành tội, hành xác nội tâm của chính mình. Còn bên ngoài là chạy theo những tham dục, si mê. Trong ngoài kết hợp, làm mô giới cho nhau như thế và chặng giữa là sự chấp thủ, nắm chặt. Như vậy, trong, ngoài và giữa tổng hợp, hội hợp, tập hợp lại với nhau làm cho tất cả chúng sanh đi ra không được, ai ai cũng bị đắm chìm, trói buộc trong dục ái và cuối cùng chỉ chuốc thêm những bất hạnh, bất an, bất ổn, bất trắc, bất toại nguyện, bất thường. Chúng ta chiêm nghiệm để thấy rằng cả cuộc đời này mình chỉ lo chạy theo những vị ngọt rồi nhận về đau khổ, sân si, giận hờn trong trăm đời, ngàn kiếp.

Sự nhàm chán của bậc Thánh

Chính vì vậy, bậc Đa văn Thánh đệ tử luôn luôn suy nghĩ, quán sát, suy tư xem làm sao để ra khỏi những thứ đó. Những vị này không muốn, không ham, không thích, không ưa đi vào… Cái thấy của chánh kiến giúp cho vị này không còn ưa thích, thay vào đó, ý nghĩ của vị này là ý nghĩ rời xa, thoát ra, từ bỏ. Đó là đệ tử chánh thống của Đức Phật, dự vào hàng bốn đôi tám chúng, là đệ tử thật sự của Đức Phật. Những vị này sống quán tánh vô thường, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh ly tham, sống quán tính chất từ bỏ thường xuyên. Khi thấy, khi nghe, khi cảm xúc thì những vị này đều nhìn bằng ngọn đuốc, nhìn bằng ánh sáng trí tuệ được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác truyền trao.

Dù vị Đa văn Thánh đệ tử này còn tập khí nhưng sâu thẳm bên trong cái thấy của họ vẫn là hướng đến sự rời xa, sự thoát ra, sự chấm dứt, sự diệt tận. Và cái thấy này được tưới tẩm bằng sự tác ý, bằng sự thiền quán, bằng sự chiếu soi trong mỗi phút, mỗi giờ, mỗi buổi, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi mùa, mỗi năm và nhiều năm. Từ đó tạo thành sự tích tập của cái thấy biết bất động, cái thấy biết không cùng chung với phàm phu, tức là cái thấy biết riêng của bậc Thánh đệ tử. Còn phàm phu không có được sự thấy biết này. Dù họ có nhàm chán thì cũng là do họ bị mất đi, họ không có được nên dẫn đến sự nhàm chán, chứ không phải họ chán để mà thoát ra.

Cho nên, sự hướng đến viễn ly, hướng đến ly tham, hướng đến từ bỏ, hướng đến chấm dứt, hướng đến xuất ly… chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử, bậc tu học chánh kiến, thành tựu chánh kiến, viên mãn chánh kiến mới có được và đặt tâm đúng hướng như vậy. Vị thành tựu cái thấy biết ly tham này là người đứng ngoài cuộc của thế gian. Người này không muốn danh lợi, không muốn tranh đấu, không muốn giành giật với bất cứ một ai trên cuộc đời này. Người này đặt tâm của mình hướng đến sự rời xa, hướng đến sự thoát ra, hướng đến sự từ bỏ, hướng đến sự chấm dứt. Tuyệt vời như vậy mới là đệ tử của Đức Phật, một lòng xác quyết như cột trụ, không thể lung lay. “Dầu ai nói ngả, nói nghiêng – Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân” trong sự thấy biết về tính chất nguy hại, đau khổ, đổi thay của đời sống này và sự bất thình lình, đột biến, đột ngột, đột quỵ của sinh mạng, cảnh vật, thế giới này.

Vị Thánh đệ tử luôn sống trong tính biến hoại của thế giới. Cũng như Đức Phật đã định nghĩa: “Cái gì chịu sự biến hoại (palokadhamma), này Ananda, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh” (Tương Ưng Bộ Kinh IV, bài kinh Biến Hoại). Biến đổi và tan hoại là tính chất của thân xác này; biến đổi và tan hoại là bản chất của những cảnh vật, hình sắc; biến đổi và tan hoại là đặc tính của trời đất, của vũ trụ, của vạn pháp, của ngũ uẩn này và vị Đa văn Thánh đệ tử luôn sống trong trí tuệ này. Để được như vậy vị này phải nghe nhiều, tác ý nhiều, tư duy nhiều, dẫn tâm mình theo chiều hướng đó thật nhiều. Hơn nữa, phải làm cho tính nguy hại được sung mãn trong thân tâm, được thấm đượm trong từng tế bào, từng lỗ chân lông, từng làn da, từng thớ thịt, từng khớp xương và thấm nhập vào bên trong tủy não… để cái thấy biết này trở thành bất động, không bị phai nhòa. Vị này là người đứng ngoài cuộc trên thế gian này, vị này không tranh, không giành, không đua đòi, không ganh tỵ, không đố kị với bất cứ ai trên cuộc đời này và vị này chỉ hướng đến sự từ bỏ, nhàm chán, ly tham, chấm dứt, thoát ra.

Có nhiều bài kinh nói về mật mã thế giới. Đức Thế Tôn nói vị chứng Sơ thiền là người đi đến tận cùng thế giới. Tức là người đã lìa tham muốn đối với ngũ dục một cách xác quyết thì người này là người đi đến tận cùng thế giới (Tăng Chi Bộ IV, bài kinh Các Bà-la-môn). Nếu đi bằng chân, đi bằng thân hình thì không thể đi hết thế giới nhưng đi bằng tâm thì Đức Thế Tôn nói có thể đi đến tận cùng thế giới. Có bài kinh nói về Thiên tử Mã Huyết, Ngài dùng thân hình của mình đi ngày, đi đêm, đi trong nhiều năm, nhiều kiếp, dùng thần thông để đi nhưng vẫn không thể đi tận cùng thế giới.

Trong bài kinh “Các Bà-la-môn”, Đức Thế Tôn nói: “Năm dục trưởng dưởng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh. Tỷ-kheo chứng đạt và an trú sơ Thiền được gọi là vị đã đến tận cùng thế giới và sống trong tận cùng thế giới”. Tức là vị này đã ly dục, không còn tham muốn đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc. Khi trú và chứng đạt vào tâm này thì người này là người đi đến tận cùng thế giới. Chúng ta phải phân biết được giữa “chứng” và “chưa chứng”. Chứng nghĩa là ở trong tâm ly dục bất cứ khi nào muốn; còn chưa chứng là có lúc được, có lúc không. Lúc nào đạt được ly sanh hỷ lạc thì lúc đó mình đến tận cùng thế giới. Lúc quán chiếu, tác ý thấy nhàm chán hoàn toàn, không còn tham muốn gì đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc là lúc đó mình đến tận cùng thế giới. Sau đó, khi không còn quán chiếu nữa thì mình đang ở trong thế giới, chúng ta phải thấy rõ tâm của mình như vậy. Cho nên, khi chứng được trạng thái ly dục sanh hỷ lạc, không còn ham muốn đối với năm dục trưởng dưỡng: sắc, thanh, hương, vị, xúc nữa thì vị đó được gọi là vị đã đến tận cùng thế giới và sống trong tận cùng thế giới. Chúng ta tu thì tối thiểu phải đi được đến mức này. Tâm này công với chánh tri kiến là diệt tận được các lậu hoặc, dứt hết các kiết sử, gỡ bỏ sanh y, thành tựu cứu cánh Phạm hạnh.

Chỗ ác độc nhất chính là vị ngọt của cuộc đời, nó là đắng cay, là mũi tên, là con dao giết người. Vị ngọt ở trong năm dục làm người ta không thoát ra được, có lúc người ta nhàm chán, nhưng có lúc lại bị đam mê trong đó. Nhắc lại lần nữa, chữ chán của bậc Đa văn Thánh đệ tử hoàn toàn khác với cái chán của vô văn phàm phu, cần phân biệt kỹ điểm này. Cái chán của phàm phu là chán vì họ bị mất, họ không có được nên sân hận, buồn đau, sầu khổ, tức là họ cầu mong nhưng không có được, hoặc đã có được nhưng lại mất đi. Thế nên người phàm phu chán nản vì không được như ý muốn, không được thỏa mãn dục vọng, tham muốn, tham ái của họ và họ muốn tìm cái khác để thỏa mãn. Cái chán như vậy không phải là cái chán của bậc Đa văn Thánh đệ tử như từ “nhàm chán”, “yểm ly” trong kinh đã dùng. Bậc Đa văn Thánh đệ tử chán vì thấy được tính chất biến hoại, khổ não, bất an. Họ chán và muốn thoát ra khỏi nó, còn người vô văn phàm phu là chán cái này rồi tìm cái khác. Chúng ta phải hiểu rõ chữ “chán” này, bằng không sẽ hiểu lầm, vì chữ nhàm chán, yểm ly trong Nikāya là cả một trí tuệ của bậc Thánh, là Chánh tri kiến. Chán của bậc Thánh là chán để thoát ra, còn chán của phàm phu là chán tại vì không có được rồi muốn tìm cái khác.

Hãy để tâm học tập, nghiền ngẫm, tác ý về những sự nguy hại để thoát ra và chúng ta sẽ trở thành kẻ đứng ngoài cuộc, đúng như câu “hồng trần tục lụy xin bái bai”. Chúng ta tạm biệt thế tục, lên rừng, lên núi cư trú và tu học. Chỉ cần có Thánh Pháp này thì mình có thể đi mọi nơi, đủ duyên thì chia sẻ pháp, xong rồi thì từ biệt mọi người, vĩnh biệt luân hồi. Chúng ta không còn ưa thích, khoan khoái bất cứ điều gì nữa, ai muốn giành giật, tranh đấu thì cũng mặc kệ người ta, còn mình chỉ là người đứng ngoài cuộc. Như vậy gọi là “siêu vật ngoại” tức là vượt ra ngoài sự vật, đó chính là bản chất, là phong thái, là bản sắc của người xuất gia.

Còn người suốt ngày cứ suy nghĩ, tìm kiếm, phát huy những hình tướng, âm thanh, sắc tướng, mùi vị, sự tiếp xúc… làm nuôi lớn thêm ham muốn thì đó không phải đệ tử của Đức Phật, không phải con của Đức Thế Tôn. Dầu có làm gì đi nữa thì Đức Phật cũng không nhìn nhận là đệ tử của Ngài. Nhất là trong thời điểm dịch bệnh đang bùng phát như hiện tại, nếu còn không nuôi dưỡng tâm viễn ly, tâm xuất ly thì không biết đến thời điểm nào mới có thể nuôi dưỡng, tăng trưởng, thành tựu tịnh tín bất động được. Nhìn dịch bệnh hủy hoại thế giới như vậy còn chưa nhàm chán, chưa muốn thoát ra, mà còn muốn sáp vào để kiếm thêm dịch bệnh hay sao?

Chính vì vậy, nếu đã học được Thánh Pháp vi diệu này mà không để hết tâm ý, nỗ lực, suy tư, quán chiếu, tác ý thì rất uổng phí. Những lời dạy của Đức Thế Tôn là mật mã của thế giới, Ngài chỉ ra những bí mật mà cả thế giới này bị che đậy, che kín. Chỉ có Thế Tôn là người phơi bày, mở ra, giải mã những bí mật trên cuộc đời, trên thế gian này.

Sự tìm cầu của bậc Chánh Đẳng Giác

Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập I, bài kinh “Trước Khi Giác Ngộ”, Đức Phật có nói về chủ đề “cái gì là vị ngọt ở đời, sự nguy hại và sự xuất ly”.

Thế nào là vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly

Trước khi Phật giác ngộ, chưa thấu suốt về tận cùng về ngũ uẩn, về thế giới, chưa đạt được Chánh Đẳng Chánh Giác, khi Ngài còn là Bồ-tát, còn là một người đang đi cầu đạo, đang đi tìm lối thoát ra thì Ngài suy nghĩ như sau:

"Cái gì là vị ngọt ở đời? Cái gì là nguy hại? Cái gì là xuất ly?"

Đức Phật tư duy, nghiền ngẫm, suy tư, tầm cầu, quán sát, quán chiếu, soi xét xem tại sao tự thân Ngài và tất cả chúng sanh không thoát khỏi cuộc đời này được?

Rồi này các Tỷ-kheo, về vấn đề ấy, tư tưởng sau đây khởi lên nơi Ta: "Do duyên với đời, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt ở đời. Cái gì ở đời là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hại ở đời. Điều phục dục tham ở đời, đoạn tận tham dục, đấy là xuất ly ở đời".

Lạc hỷ là sự vui sướng, khoan khoái, thích thú, đó chính là vị ngọt của cuộc đời này. Những gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại là sự nguy hại ở đời. Để thoát ra khỏi cuộc đời, đi ra khỏi thế gian, vượt ngoài thế giới thì phải điều phục dục tham, đoạn tận dục tham, đó chính là sự xuất ly ở đời. Đây là những khẩu quyết, những định lý của sự chứng ngộ, là pháp hành của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, chúng ta phải thuộc lòng.

Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Ta chưa thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không có xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

Đức Phật sẽ không xác nhận, không tuyên bố Ngài đã hoàn toàn chứng ngộ sự thật về thế giới và thân tâm khi Ngài chưa thấu suốt hoàn toàn về vị ngọt, sự nguy hại và sự thoát ra khỏi cuộc đời này. Đến khi nào Phật chứng ngộ hoàn toàn ba phương diện, ba loại trí huệ này thì Ngài mới tuyên bố với tất cả thế giới của ma, trời, nhân thiên và tất cả những bậc tu hành rằng Ngài thật sự đã chứng ngộ Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không còn bất cứ điều gì trong cuộc đời này mà Ngài không thấu suốt, không tận tường, không liễu tri, không thấu triệt. Khi đó Ngài đã thấy biết một cách viên mãn, cùng tột đối với thế gian, thế giới, cuộc đời này.

Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Ta như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta mới xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

Thứ nhất, Đức Phật hoàn toàn giác tri, thấu suốt vị ngọt ở đời là vị ngọt, tức là thấy được sự vui sướng, khoan khoái, hỷ lạc trong cuộc đời.

Thứ hai, Đức Phật hoàn toàn giác tri, thấu suốt nguy hại là nguy hại, tức là thấy được cuộc đời này là vô thường, thế gian luôn đổi thay, chịu sự biến đổi và hoại diệt, Đức Phật thấu suốt điều này, không còn nghi ngờ gì nữa. Ngài đã thấy biết rõ ràng, tường tận, thấu đáo, đồng đều, đầy đủ, viên mãn tất cả mọi khía cạnh về những sự vô thường, những sự đau khổ, những sự biến hoại trên cuộc đời này.

Thứ ba, Đức Phật hoàn toàn giác tri, thấu suốt sự xuất ly là xuất ly, tức là Ngài thấu suốt chỉ có một sự điều phục dục tham, diệt tận tham muốn đối với tất cả những vui sướng trên cuộc đời này.

Khi thành tựu ba điều này ở mức độ tận cùng như vậy thì Đức Phật mới dõng dạc tuyên bố trước tất cả chư Thiên, tất cả thế giới, tất cả chúng sanh, tất cả giới tu hành rằng Ngài là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực, tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Ngài là Phật, là bậc Vô Thượng Giác, Thế Gian Giải, Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ, là bậc đã hoàn toàn thức tỉnh, hoàn toàn thấu triệt, hoàn toàn thấu đáo sự thật của thế gian, thế gian và cuộc đời này.

Và tri kiến khởi lên nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Đây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa".

"Bất động là tâm giải thoát của Ta" tức là Đức Phật không còn bất cứ dục tham nào đối với lạc hỷ ở đời. Đối với tất cả sắc, thanh, hương, vị xúc, tất cả tứ đại, ngũ uẩn cũng không còn một chút nào yêu thích, khoan khoái, vì Ngài đã thấy rõ bản chất vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của nó trong cuộc đời này. Khi không còn bất cứ dục, tham, ái như vậy thì tâm của Phật hoàn toàn an tịnh, không còn dao động. Còn tâm của chúng ta sở dĩ luôn luôn dao động là bởi vì lúc nào cũng ham, thích, muốn, ưa hết thứ này đến thứ khác và những thứ đó làm cho mình dao động: muốn ăn thì chạy đi kiếm ăn, muốn ngủ đi nằm xuống ngủ, muốn chơi thì đi chỗ này chỗ kia… lúc nào cũng trong trại thái dao động, không được yên. Vì vậy, khi đã không còn thích, không còn muốn bất cứ thứ gì nữa thì tâm sẽ hoàn toàn yên tĩnh, an tịnh. Không còn một bất cứ sắc, thinh, hương, vị, xúc nào có thể làm cho tâm của Đức Phật dao động, phải chạy đi tìm kiếm nữa vì Phật đã thấy bản chất của tất cả tan hoại, đổ nát, rỗng không, khổ, bất toại nguyện, vô nghĩa. Ngài không còn một chút nào của sự hướng tâm đi tìm kiếm những thứ đó nữa, cho nên Ngài hoàn toàn an tịnh, viên mãn, cùng cực, tự tại, tịch tịnh. Đó chính là ý nghĩa của câu "Bất động là tâm giải thoát của Ta".

Và Phât cũng tuyên bố "Đây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa", bởi vì một đời sống là sanh ra để đi tìm các dục trưởng dưỡng, nhưng khi đã không còn thích, không còn muốn tìm kiếm thứ gì nữa thì không có động cơ, điều kiện để tiếp tục sanh ra tìm những thứ đó nữa. Nghĩa là bình thường cứ đi tìm dục, tìm ái, tìm sung, tìm sướng trong những sắc, thanh, hương, vị, xúc nhưng bây giờ không còn muốn tìm gì nữa, nội tâm hoàn toàn im lặng, tịch tịnh hoàn toàn. Phật không còn gợi lên một chút mong muốn nào, dù gặp Da Du Đà La, tìm La Hầu La hay đi về nhìn ngôi vàng thì Ngài cũng hoàn toàn không hề nghĩ đến, tâm Ngài hoàn toàn tịch tịnh. Bây giờ, người ta dùng từ “viên tịch” có nghĩa là “chết”, tuy nhiên, hiểu đúng thì “viên” là viên mãn, “tịch” là tịch tịnh, nghĩa là một nội tâm hoàn toàn tịch tĩnh của bậc chứng đắc, bậc A-la-hán. Vị này không còn tham muốn, không còn dục ái, không còn lưu luyến, không còn ưa thích, không còn ràng buộc, không còn nghĩ nhớ, không còn kiếm tìm đối với bất cứ một sắc, thanh, hương, vị, xúc nào trên cuộc đời này nữa.

Trong kinh gọi những vị như vậy là bậc tối thượng nhân, nghĩa là một con người tối cao giữa chư Thiên và nhân loại, từ bậc A-la-hán cho đến Đức Thế Tôn. Những bậc đối với năm dục trưởng dưỡng, tứ đại, ngũ uẩn hoàn toàn không còn dục tham nữa, đó gọi là tội thượng nhân, là bậc đáng để cho nhân thiên chắp tay, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.

Thường quán vô thường

Đó cũng chính là chỗ chúng ta hướng đến trong sự tu, nghĩa là không còn ưa thích, khoan khoái, ham muốn, trông đợi, mong chờ, hy vọng, tìm kiếm bất cứ thứ gì nữa. Quý Phật tử nên nhớ, trong những ngày chuẩn bị ra đi, chúng ta không nên nhớ thương, thăm hỏi, tìm nhớ bất cứ ai, bất cứ chuyện gì mà phải xả bỏ một cách hoàn toàn, từ bỏ một cách rốt ráo để ra đi với một nội tâm hoàn toàn tịch lặng, yên lặng. Mọi người không nên lưu luyến với bất cứ người con, người cháu hay món đồ, cảnh vật, nơi ở, mà cố gắng trở thành Thánh đệ tử thiên để lên Tịnh Cư Thiên, còn chỗ chúng ta đang ở chỉ toàn đau khổ.

Hơn nữa, chỗ đang ở dù ngon lành, đẹp đẽ, bình yên đến mức nào thì chúng ta cũng không được lưu luyến, mà phải xả bỏ nó, vì tất cả đều là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Tại Linh Quy Pháp Ấn cũng đã có vài chỗ sạt lỡ, giông gió làm bay mái tôn, trời mưa to làm nước ngập đầy thiền đường… cho nên đừng tưởng nơi đây là bền chắc, vững bền, kiên cố. Đây cũng chỉ là thứ tan nát, tan rã, hủy hoại, hoại diệt, là chỗ đáng từ bỏ, đáng rời xa, đáng thoát ra. Thân này cũng vậy, những cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức cũng vậy, tất cả cug đều là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Lúc sắp ra đi, chúng ta phải gom hết tất cả những tinh lực, sức lực, trí lực, hạnh lực, nguyện lực, thần lực để đánh một trận quyết định và sau đó một đường đi đến chỗ làm Thánh đệ tử thiên, được ở tại Tịnh Cư Thiên.

Cho nên, tất cả chúng ta, ngay lúc xảy ra tai nạn, hoặc lúc sắp sửa chết phải quán ly tham, nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt, đoạn diệt, xuất ly. Lúc đó phát huy sức mạnh của tuệ quán, triển khai thiền quán và tâm lực đủ mạnh kết hợp lại với nhau thì có thể đi thẳng lên làm Thánh đệ tử Thiên, không còn quay lại thế gian đầy bất an, đau khổ, ác độc này. Nơi mà bên ngoài là thế gian đầy những hiểm họa, tai nạn, lừa dối, lọc lừa, phản phúc, gian trá, xảo quyệt, hư ngụy, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã. Còn bên trong là những dục, tham, sân, si, bản ngã ác độc, lọc lừa, gian trá, lật lọng.

Vô nghĩa là đời sống này, cứ đi lanh quanh lẩn quẩn trong dục, tham, ái, sân, si, bản ngã, ngoài ra không có gì cả. Tình nghĩa dù to lớn đến đâu thì cũng vì lợi ích riêng mà quay lưng với nhau, như hình ảnh quăng cục xương ra thì hai con chó thương yêu nhau bỗng chạy ra giành giật lẫn nhau. Hoặc chị chị em em thương yêu nhau vô cùng nhưng đột nhiên có sự xuất hiện của một người nam, rồi dính mắc tình cảm lẫn nhau thì lập tức có thể quay lưng và trở thành kẻ thù. Cho nên, không có tình cảm nào là thật, tính chất của ngũ uẩn là vậy. Tất cả đều là đắng cay, ác độc, vô thường, đổi thay, lật lọng, tráo trở, xảo ngụy, dối gian. Đừng tin cậy vào ngũ uẩn này, tin vào nó là chúng ta bị một cú lừa ngoạn mục, một cú lừa cay đắng, đau đớn, ác độc, thảm khốc, cay nghiệt. Chúng ta phải biết bản chất của các pháp là vô thường để không đặt hết lòng tin vào đó, nếu không thì mình sẽ chết, sẽ hụt hẫng, bàng hoàng, hốt hoảng.

Đau đớn vô cùng nếu chúng ta tin vào ngũ uẩn dối trá này. Bản chất của ngũ uẩn là dối trá, hư ngụy, lọc lừa, phản trắc, phản phúc, lật lọng… Ở đây, nếu nhìn sâu sắc thì chỉ cần một chữ vô thường là có thể bao trùm hết tất cả mọi góc độ. Chúng ta đừng nghĩ vô thường đơn giản, lật lọng cũng là vô thường, tráo trở cũng là vô thường, phản phúc cũng là vô thường, vô ơn cũng là vô thường, bội nghĩa cũng là vô thường, thương ghét yêu hận cũng là vô thường, bạn thù thân sơ cũng là vô thường… Chữ vô thường bao trùm hết cả trời đất và tất cả sự vận hành của ngũ uẩn. Thành ra chỉ cần bốn chữ “các hành vô thường” là đủ để đắc quả A-la-hán, tối thiểu là Thánh quả thứ nhất – Nhập Lưu. Chúng ta đừng nghĩ chữ vô thường là đơn giản, vì mọi sự vận hành trên cuộc đời này luôn thay đổi không ngừng. Mới thấy như vậy nhưng tích tắc là đổi khác. Chúng ta phải thấm thía sâu sắc hai chữ vô thường này đến tận cùng để biết rằng không có bất cứ thứ gì có thể tin tưởng được. Tâm chính mình mà còn không tin được thì huống gì những thứ gì khác. Tâm mình mới tự nói sẽ ly dục, ly tham, sẽ diệt ngã nhưng vừa nói xong thì bản ngã, tham muốn lại như cũ… bấy nhiêu cũng đủ thấy tâm này tráo trở, lật lọng, phản phúc, bất trắc, vô thường đến nhường nào. Chính tự thân tâm mình còn vô thường như vậy thì người bên ngoài làm sao thường được.

Cho nên, làm gì có thường trú trong ngũ uẩn này, chúng ta phải thấy được điều đó để khi tính chất vô thường của ngũ uẩn hiện bày ra thì mình đã biết trước bộ mặt, mặt mũi, tên tuổi, bản chất, bản tánh, thể tánh của nó là như vậy. Nhờ đó mà chúng ta đỡ khổ, bớt khổ, ít khổ và điềm nhiên, bình thản trước mọi biến động của tình cảm, người thân, bạn bè… Khi đã thấu rõ sự nguy hại của cuộc đời này là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, biết rõ các hành là vô thường thì chúng ta sẽ đối diện với muôn ngàn thay đổi một cách an nhiên.

Mới vừa ngọt ngào thì bất thình lình trở nên đắng cay, yêu rồi hận, thân rồi sơ, thương rồi ghét đổi thay không ngừng. Vừa nói “không có anh là em sống không nổi”, “không có em là anh chết” thì quay lưng dẫn nhau ra tòa kí đơn li dị ngay lập tức, không đợi thêm phút giây nào được nữa. Ban đầu nhìn nhau không muốn giây phút nào rời xa, cuối cùng thì chỉ muốn mau mau đi cho khuất mắt. Đó là bản chất phũ phàng, phảng trắc, phảng phúc của cuộc đời này.

Lúc giàu có thì được mọi người hoan nghênh, vỗ tay, đội lên đầu, tán thưởng nhưng vừa phá sản thì không ai thèm nhìn, đến gõ cửa thì không ai mở cửa, gọi điện thoại thì không ai nghe máy, nhắn tin không ai trả lời. Mới hôm qua còn là chí cốt, đào viên kết nghĩa với nhau, tức là “nguyện không sanh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày nhưng nguyện chết cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ”. Lúc có tiền, lúc thành đạt thì đào viên kết nghĩa như vậy, còn lúc phá sản, đi ăn xin, nghèo nàn, ở tù thì không ai thèm nhìn.

Thế nên, chúng ta phải thật thấm thía, thẩm thấu mùi đời, để biết rằng không có gì là bền chắc, tất cả cũng chỉ là tạm bợ, có gì đâu để chúng ta tham dính rồi đau khổ. Ba chữ “có gì đâu” dùng để tác ý cũng rất tuyệt vời. Người ta mới thương rồi giận thì mình tác ý “có gì đâu”, hoặc mới khen rồi chê, mới thân rồi sơ, mới gần rồi xa cũng thì mình cũng “có gì đâu”, vì bản chất của cuộc đời, của thế giới này vốn là trống không, trống rỗng, trống trơn. Đừng tưởng thế giới này chỉ là quả địa cầu xa xôi, mà thế giới ở đây chính là thân tâm, cảnh vật, hành tinh này và tất cả những thứ đó cũng đều là trống không. Những quả bom nguyên tử tối tân bây giờ có sức công phá khủng khiếp, chỉ cần người đứng đầu quốc gia nổi nóng, nhấn nút một cái là xong.

Lối thoát của bậc Thánh

Này các Tỷ-kheo, ta đã đi tìm cầu vị ngọt ở đời. Vị ngọt ở đời là gì, Ta đã tìm được. Cho đến như thế nào, vị ngọt có mặt ở đời, với trí tuệ Ta khéo thấy vị ấy ngọt.

Tức là Ngài đã trải qua, hưởng qua, nếm qua, thưởng thức qua, hưởng thụ qua những vị ngọt của cuộc đời và với trí tuệ Ngài thấy đó là vị ngọt, là hỷ lạc, là sự sung sướng, khoan khoái, thích thú. Ngài nhìn thấy và thật sự biết đó là vị ngọt đã làm cho chúng sanh đau khổ, trói buộc, đày đọa, sai xử, sai khiến, che lấp tâm trí của chúng sanh.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã tìm được cầu nguy hại ở đời. Nguy hại ở đời là gì, Ta đã tìm được. Cho đến như thế nào, nguy hại có mặt ở đời, với trí tuệ Ta khéo thấy nguy hại ấy.

Ở đây chúng ta hiểu rằng, Ngài đã trải qua những sự đau khổ, nguy hiểm, tai hại, tai họa của cuộc đời; Ngài đã chịu đựng những sự vu khống, hãm hại; Ngài đã nếm trải những sự vô thường, đau khổ, biến hoại của thân xác, cảm giác, tâm thức này. Đức Phật đã cảm nhận, đã trải qua, đã kinh qua, đã kinh nghiệm về sự biến đổi của thế gian, sự đau khổ của cuộc đời. Ngài đã chịu đựng sự xa cách người thân, mới sanh ra thì mẹ đã mất, trở thành trẻ mồ côi và được Di mẫu nuôi. Ngài đã chịu đựng sự ái biệt ly khổ đối với Da Du Đà La và La Hầu La. Cụ thể là chịu đựng sự nhớ nhung của tình nghĩa vợ chồng khi còn tươi trẻ và sự khổ đau khi phải phân ly chia cách tình cha con giữa Ngài và La Hầu La. Ngài cũng phải chịu đựng sự nhớ thương đối với vua Tịnh Phạn, đối với Di mẫu đã nuôi Ngài từ nhỏ đến khi trưởng thành. Đức Phật đã kinh qua và thấy được sự nguy hại của thế gian, của cuộc đời, của thân xác, của tình cảm giữa cha con, vợ chồng, anh em, người thân... Ngài đã thấy sự chia ly của Xa Nặc với những dòng nước mắt, quỳ xuống lạy dưới chân Ngài và cầm nắm tóc của Ngài đem về hoàng cung để giao lại cho phụ vương. Ngài đã trải qua những tác hại của vô thường, khổ não, tan biến, hủy hoại của cuộc đời này và đã thấy được rằng những nguy hiểm, tác hại thật sự là nguy hiểm, tác hại. Thật sự là có đau khổ, thật sự là có vị đắng trong cuộc đời này và với trí tuệ, Ngài đã khéo thấy được một cách triệt để sự thật về vị đắng và sự nguy hiểm, tác hại đó.

Này các Tỷ-kheo Ta đã đi tìm cầu xuất ly ở đời. Xuất ly ở đời là gì, Ta đã tìm được. Cho đến như thế nào, xuất ly có mặt ở đời, với trí tuệ Ta khéo thấy xuất ly ấy.

Ngài đã đi tìm một đạo lộ để thoát ra, tìm một con đường để giải thoát, tìm một phương pháp để ra khỏi vị ngọt và sự nguy hiểm. Và Ngài đã tìm được sự xuất ly và sự thoát ra ở đời. Với trí tuệ, Ngài đã khéo thấy sự xuất ly chính là điều phục dục tham đối với cuộc đời này, là sự đoạn tận, chấm dứt tất cả sự tham muốn đối với ngũ uẩn, đối với đời sống sắc, thanh, hương, vị, xúc vô thường này. Như vậy, sự điều phục, sự chấm dứt tất cả những tham muốn chính là sự xuất ly, sự thoát ra khỏi đời sống, khỏi thế giới vô thường và đầy bất an, tai hoạ, lo lắng, sợ hãi, biến động này. Với trí tuệ, Ngài đã chứng đắc con đường thật sự thoát ra là như thế nào và Ngài đã chứng ngộ, chứng đạt con đường, phương pháp thoát ra đó hoàn toàn thấu đáo.

Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Ta chưa như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không có xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

Nếu chưa thấu suốt hoàn toàn trí tuệ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly thì Ngài không tuyên bố đã chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta mới xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

Chỉ khi nào hoàn toàn thấu triệt mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly khỏi thế gian thì lúc đó Ngài mới tuyên bố Ngài là bậc giác ngộ, cứu cánh cùng cực, tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và nhân thế này. Phật là bậc chánh biến tri, vô thượng giác, bậc thông đạt, thấu suốt hoàn toàn đạo lộ thoát khổ, diệt khổ và hoàn toàn xuất ly khỏi thế giới đau khổ, vô thường chịu sự biến hoại này. Khi đó, Phật tuyên bố dõng dạc giữa chư Thiên, loài Người, Ma giới và tất cả giới tu hành rằng Ngài đã hoàn toàn chứng ngộ con đường xuất ly khỏi thế giới. Ngài là người đã đi đến tận cùng thế giới, là người đã thoát ra khỏi thế giới và là người đã chinh phục thế giới. Ngài vượt lên tất cả mọi hình thái của thế giới vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại và đạt được cảnh giới bất tử.

Khi Đức Thế Tôn giảng bài kinh này thì cả đất trời cũng phải rung chuyển trước oai lực của Ngài, bây giờ chúng ta chỉ lặp lại nhưng cảm thọ chấn động vô cùng. Lúc đó chư Thiên ở các tầng trời và tất cả các thế giới ma, thần, quỷ… đều phải rúng động. Mỗi lần Đức Phật thuyết pháp không phải chuyện bình thường, ngoài những vị ở trên thế gian thì còn các chư Thiên, dạ xoa và các cõi khác xuống nghe rất nhiều, cho nên, lúc đó trời đất rung chuyển, muôn loài chấn động như thế nào là điều không thể nghĩ bàn. Chúng ta phải sanh khởi cảm thọ thật dào dạt trước sự tuyên bố dõng dạc, trước những lời khải hoàn ca của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trong bài kinh này.

Những lời của Đức Phật gọi các Tỳ-kheo hết sức ngọt ngào, thân thương, thân thiện, gần gũi như cha lành đối với con. Đức Phật nói mình đã đi tìm những vị ngọt, những hỷ lạc, những sung sướng và đã trải qua tất cả vì Ngài đã từng làm thái tử. Bao nhiêu sơn hào hải vị, bao nhiêu những sắc đẹp, bao nhiêu những vàng bạc kho báu, bao nhiêu những thứ vui trong ngũ dục Ngài đã nếm hết, hưởng hết.

Và bao nhiêu những nguy hiểm, cay đắng, đau khổ trong cuộc đời này Ngài cũng đã đi qua. Ngài là người khổ hạnh tối thượng trong tất cả những người khổ hạnh. Khi Ngài độc cư thì Ngài ở chỗ không có người ta, khi thấy bóng người là như thú rừng chạy từ đồi này qua đồi khác, từ núi này qua núi khác. Khi Ngài nhịn ăn thì nhịn cho đến tận cùng, sờ vào bụng là đụng đên xương sườn, tóc rơi xuống từng mảng, cận kề với cái chết. Những sự nguy hiểm, nguy hại, khổ hạnh như vậy Ngài đều đã nếm qua, kinh qua, trải qua. Và Ngài đã thấy những sự nguy hại đó bằng trí tuệ thâm sâu, xác quyết, trọn vẹn.

Sau khi thấy sự đau khổ của lòng tham, sân, si, bản ngã, vô minh, khát ái thì Ngài đi tìm cầu sự thoát ra, tìm con đường để chạy ra, vượt ra khỏi tất cả. Ngài đi tầm đạo, hỏi đạo, cầu đạo, học đạo, hành đạo ở khắp mọi nơi. Cuối cùng, bằng tấm lòng chân thành, tha thiết, nhiệt huyết cháy bỏng của tuổi thanh niên và bằng tất cả trí lực, nguyện lực, tâm lực, nguyện lực, hạnh lực thì Ngài đã tìm thấy một lối thoát ra, một đạo lộ xuất ly, một con đường giải thoát. Với trí tuệ Ngài đã biết thật sự, thấy thật sự, chứng ngộ thật sự về xuất ly đạo lộ. Và con đường thoát ra đó là sự điều phục ham muốn, chấm dứt tất cả ham muốn đối với ngũ uẩn, đối với năm dục trưởng dưỡng trên cuộc đời này.

Đức Phật đã thật sự chứng ngộ, thật sự thoát ra, thật sự viên mãn trên con đường đó và Ngài dõng dạc tuyên bố giữa Nhân Thiên, Ma phạm, Bà-la-môn, chúng sanh hữu tình vạn loài rằng Ngài là một con người đã thành tựu sự thấy biết tận cùng, triệt để, hoàn toàn về thân tâm, đời sống và thế giới này. Không còn bất cứ một chỗ nào mà Ngài không thấy, không biết, không tường, không tận, không minh, không bạch, không thấu, không đáo. Ngài là bậc Thế Gian Giải, Chánh Biến Tri, là bậc thông giải tất cả pháp thế giới, thấy biết cùng tột tất cả về ngũ uẩn, vũ trụ, vạn vật, không còn một thứ gì mà Ngài không hiểu. Chẳng những thấu hiểu tất cả mà Ngài còn biết được lối thoát ra và Ngài đã thoát ra một cách viên mãn, trở thành bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Pháp âm của Đức Phật vang lên như một bản đại thánh hùng ca, làm rung chuyển trời đất. Chánh Pháp của Ngài như tiếng gầm của sư tử chúa, của sư vương, của bậc long tượng làm tất cả ngoại đạo đều rúng động, kinh hãi, khiếp sợ.

Cuối cùng, Đức Phật tuyên bố: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Đây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa".

Thoát khỏi ngọn lửa đang bốc cháy

Hãy nhìn tâm thức này như nùi giẻ rách. Hãy nhìn hình hài này như tấm chà chân. Hãy nhìn thế giới này là một đống lửa và chúng ta cần phải nhanh chân chạy thoát ra, vì nếu tiếp tục ở đây thì sẽ bị cháy. Tất cả chúng sanh đều là những đống lửa tham, sân, si đang di động, chờ cơ hội để phựt cháy và đốt thiêu nhau, để rồi cuối cùng tạo thành một biển lửa đại khổ uẩn.

Đức Phật đã dạy, con mắt này bị bốc cháy bởi các sắc, lỗ tai này bị bốc cháy bởi những âm thanh, lỗ mũi này bị bốc cháy bởi những mùi, cái lưỡi này bị bốc cháy bởi vị, thân này bị bốc cháy bởi những sự xúc chạm, tiếp xúc và cái ý này bị bốc cháy bởi những thọ, tưởng, hành, hình bóng, cảm giác, suy nghĩ bên trong. Như vậy, tất cả đều đang bốc cháy.

Chúng ta đang bị bốc cháy bởi bệnh tật; bốc cháy bởi những vi trùng, vi rút; bốc cháy bởi những sự lo lắng, bất an, khổ sầu. Tại Sài Gòn hiện tại, hơn 500 bị thần kinh, điên khùng, bị ảnh hưởng tâm lý bởi sự bất an vì dịch bệnh Covid-19. Tất cả mọi người đều đang bốc cháy trong sự bất an, sợ hãi, khổ sầu; bốc cháy trong những dục vọng ác tham; bốc cháy trong bản ngã, tôi ta, nhân ngã bỉ thử, ganh tỵ, đố kị, hơn thua… Lan tràn khắp mọi nơi là sự bốc cháy. Thế giới này đang bốc cháy bởi những quyền lực, tham vọng, dục vọng điên cuồng, chúng thiêu đốt, thiêu hủy thân tâm chúng sanh. “Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu – Đốt cháy tâm can trong hận sân”.

Chúng ta hãy dập tắt ngọn lửa này. Hãy chạy ra, chạy nhanh, chạy mau để thoát khỏi căn nhà lửa. Hãy thoát khỏi căn nhà đang bị thiêu rụi bởi lòng dục, lòng tham, lòng sân hận. Hãy thoát khỏi căn nhà đang bị thiêu rụi bởi tâm vô minh, hắc ám. Hãy thoát khỏi căn nhà đang bị thiêu rụi bởi những ngọn lửa ta đây, vênh váo, kiêu ngạo, hống hách, cọc cằn, bức xúc, hơn thua. Tự chúng ta bốc cháy lên rồi thiêu đốt tâm can chính mình và thiêu đốt những người thân xung quanh bằng những cảm giác bức xúc, bực bội, bức bối, khó chịu. Chúng ta làm tràn lan mọi nơi bằng những ngọn lửa ác độc đó. Chúng ta tự hành hạ, hành tội, hành xác nhau và làm thế giới này bị thiêu hủy trong những sân hận, dục vọng, bản ngã của con người.

Thật là tội nghiệp, thật là xót thương, thật là đau khổ, thật là cay đắng cho chúng ta! Chúng ta tự thiêu đốt anh chị em ruột thịt với nhau, tự nung nấu, hủy hoại tình cảm giữa cha con, mẹ con với nhau. Chúng ta tự quăng củi lửa, tự phóng hỏa đốt nhà, tự thiêu cháy nhau bằng những ngọn lửa của cảm giác, cảm xúc, cảm thọ; bằng những suy nghĩ của bất thiện, của ác pháp; bằng những hình bóng của vô minh, của dại khờ. Cuối cùng hậu quả chúng ta tự lãnh lấy là đại thảm họa toàn cầu và sắp tời còn nhiều những đau khổ, ác nghiệp, quả báu mà chúng sanh phải gánh chịu từ những tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục vọng của con người.

Vì vậy, chúng ta hãy sớm thức tỉnh, sớm tỉnh giấc, sớm tỉnh mộng. Chúng ta hãy đưa tất cả những suy nghĩ, thấy nghe, cảm giác, nhận thức… đi đến sự rời xa. Hãy rời xa, thoát ra, bước ra, chạy ra, vượt ra khỏi năm dục trưởng của thế gian này và bước đi trên đạo lộ xuất ly mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã tìm ra, đã chỉ dạy. Bằng không, ngọn lửa vô minh này sẽ thiêu đốt chúng ta vĩnh viễn và mãi mãi. Vô thỉ là luân hồi này, bất tận, không có ngày kết thúc được những nỗi khổ, những sự sân si, sân hận, không có chấm dứt nước mắt và máu.

Vở tuồng của ngũ uẩn cứ liên tục tiếp diễn, hết tuồng này đến tuồng kia, hết bộ phim này đến bộ phim khác, hết tập này đến tập khác, hết cảnh này đến cảnh khác. Tất cả đều là những khổ cảnh đau thương, vô thường, tan biến, bại hoại, tan nát. Đầu tiên là tấm thân sắc uẩn như món đồ gốm này sẽ vỡ nát ra. Kế đến là những cảm thọ như ngọn lửa bốc lên, rực cháy, sôi sùng sục không có ngày dập tắt. Tiếp theo là các tưởng, các hình bóng là kết quả của thói quen trong tâm thức, chúng cứ ám ảnh, hiện ra, hết hình này đến bóng kia, hết dáng này đến tướng nọ, hết sắc tưởng này lại đến thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng kia... chúng nó cứ sanh khởi liên tục nên gọi là chúng sanh. Sau đó là những suy nghĩ trong tâm cứ thỏ thẻ, thủ thỉ, thì thầm, thở than, uyên thuyên ngày đêm, hết nói chuyện này lại nói chuyện khác không ngừng nghỉ, chúng vận hành liên tục như vậy trong tham, sân, si, bản ngã. Cuối cùng là nhận thức dại khờ, u tối, hắc ám, tạo thành nghiệp thức theo thói quen để làm khổ, hành xác, hành hạ, hành tội nhau. Đó chính là vở tuồng của ngũ uẩn, vở tuồng của thế giới, vở tuồng của thế gian, vở tuồng của tổ hợp đau khổ vĩ đại này được sanh khởi. Đó cũng chính là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn.

Và sự nhiếp phục tham muốn, cắt đứt tham muốn, chấm dứt tham muốn chính là con đường thoát ra, là lối thoát, là cách thoát, là phương pháp thoát, là đạo lộ xuất ly, gọi là giải thoát đạo – con đường đi ra. Chúng ta phải luôn tác ý, nhắc nhở, dạy dỗ, huấn luyện những suy nghĩ của mình để dẫn dắt nó đi theo con đường thoát ra, không cho nó nhập cuộc với ngũ uẩn, mà hãy là người đứng ngoài cuộc. Nếu nhập cuộc với ngũ uẩn, với tham dục, với năm dục trưởng dưỡng thì chúng ta sẽ bị thiêu hủy, chỉ còn lại nước mắt, máu và cuối cùng bị đốt thành bộ xương, thành đống tro. Hãy tác ý, tư duy, quán chiếu, triển khai thiền quán liên tục trong khi thấy, khi nghe, khi cảm xúc, khi nhận thức. Từ đó dẫn tâm mình thoát ra khỏi ngũ uẩn và hướng đến sự nhàm chán, yểm ly, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt, từ bỏ, xuất ly. Được như vậy chúng ta sẽ có được sự bình an tuyệt diệu tối thượng và sự an tịnh, tịch tịnh của thân tâm. Vĩnh biệt luân hồi. Tất cả động cơ làm chúng ta nhập cuộc với ngũ uẩn phải diệt tận, xử lý, thiêu hủy, đập vỡ, phá tan nó thành cát bụi, thành hư không để mình có thể bước ra, chạy ra, thoát ra, thẳng tiến trên xuất ly đạo lộ, thẳng tiến trên con đường thoát ra.

Như vậy, mật mã của thế giới được Đức Thế Tôn giải mã. Tất cả những sự che kín được Như Lai phơi bày, hiển lộ. Những người đi lạc hướng trong rừng rậm được Như Lai chỉ lối để thoát ra. Đức Thế Tôn đã thắp đèn sáng vào trong bóng tối, cho người có mắt có thể thấy, đó là công năng, là tác dụng, là lợi ích của Chánh Pháp. Chánh Pháp đã được Thế Tôn kéo thuyết, thiết thực, hiện tại, không có thời gian, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, được người trí tự mình giác hiểu.

./.