Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tỳ Kheo Thời Đức Phật 5 - Mẫu Tử Tình Thâm

2026-03-03 00:55:55
Kinh Nikāya Giảng Giải

Tỳ Kheo Thời Đức Phật 5

Mẫu Tử Tình Thâm

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chuyện Ngài Sànu PAGEREF _Toc209283032 \h 1

II. Chuyện Ngài Ramnìyavihàrim PAGEREF _Toc209283033 \h 8

III. Trình pháp PAGEREF _Toc209283034 \h 15

IV. Phát lộ sám hối PAGEREF _Toc209283035 \h 16

I. Chuyện Ngài Sànu

"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ) trong gia đình một cư sĩ, sau khi người cha đã từ bỏ gia đình. Bà mẹ, đặt tên ngài là Sànu, khi ngài lên bảy tuổi, được đưa đến ở với các Tỳ-kheo, nghĩ rằng như vậy con mình được sống hạnh phúc."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIV) Sànu (Thera. 7))

Sau khi cha của ngài đã đi tự bỏ gia đình, cái nghĩa đây không có rõ lắm, từ bỏ gia đình là đi có vợ hay là không có ở trong gia đình nữa, có thể là đi tu hành. Có khả năng ba của ngài từ bỏ gia đình là có thể đi tu hoặc là đi sống đời phạm chí, du sĩ. Cha đi rồi, mẹ mới đem con đi đến chỗ các thầy Tỳ-kheo để cho đi tu, lúc đó ngài mới có bảy tuổi.

"Rồi Sànu trở thành một vị học hành giỏi, một vị pháp sư, thiền sư với lòng từ bi, được chư Thiên và loài Người ái kính."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIV). Sànu (Thera. 7))

Từ bảy tuổi ngài đã đi vô chùa rồi, ngài thông minh, siêng năng học hỏi và trở thành một vị vừa là pháp sư vừa là thiền sư và ngài tu tập cái lòng từ được chư thiên và loài người rất là kính mến, kính thương, kính trọng.

"Trong đời trước, mẹ ngài là một nữ Dạ-xoa. Sau một thời gian, ngài mất sự sáng suốt, sống sầu khổ và muốn đi lang thang đây đó."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIV). Sànu (Thera. 7))

Kể lại đời trước của mẹ ngài là một nữ Dạ-xoa, Dạ-xoa ở đây giống như thần đạo còn nhiều sân hận, phước báo kém hơn chư thiên. Ở đây văn nói không có rõ, mình phải hiểu là người mẹ đời trước của ngài là một vị nữ Dạ-xoa, còn người mẹ trong đời này là của con người bình thường cho nên đọc kinh phải kỹ mình mới hiểu ý. Người mẹ đời này của ngài là một con người phụ nữ bình thường nhưng người mẹ đời trước sanh ở trong loài Dạ-xoa, chính vì cái mẫu tử đó tuy là ở loài nào nhưng các vị Dạ-xoa có thần thông thì người ta biết được kiếp quá khứ. Cho nên tuy ngài là một pháp sư, một thiền sư sống với lòng từ được chư thiên là người ái kính nhưng sau một thời gian, do ngài chưa có chứng thánh quả cho nên ngài mất đi sự sáng suốt, ngài sống ở trong cái sự buồn đau, khổ sầu.

Chúng ta nhớ khi chưa vào Dự Lưu thì khả năng thối thất nhiều lắm, chính như vậy mà con nói chúng ta là phải nỗ lực, nỗ lực, nỗ lực và tiếp tục nỗ lực cho đến chết, miễn sao vào Dự Lưu được mới bất thối chuyển. Còn khi chưa vào Dự Lưu là bất cứ lúc nào cũng có thể thối thất, mình thấy đây là bậc pháp sư, bậc thiền sư với lòng từ được cả không phải loài người ái kính mà còn chư thiên vậy mà sau một thời gian ngài mất đi sự sáng suốt, sống buồn đau, khổ sầu, muốn đi lang thang đây đó. Không biết mấy thầy mấy cô lâu lâu có cái ý này không? Thấy cũng lai rai có, pháp có rồi, đạo lộ có rồi, con đường có rồi, rất là rõ ràng, minh bạch mà vẫn muốn đi lang thang, đi chỗ này kiếm, đi chỗ kia tìm, đi qua nước này nước nọ.

Ở đây là ngài buồn khổ, sầu đau, đi lang thang thì bà mẹ Dạ-xoa của ngài, tức là bà mẹ đời trước của ngài thấy vậy mới liền báo cho bà mẹ hiện tại. Chúng ta thấy bà mẹ đời trước là Dạ-xoa mới báo cho bà mẹ hiện tại là loài người hay biết con của bà bây giờ thối thất rồi, đang thối lui rồi, không còn sáng suốt như hồi xưa nữa, đang sống buồn đau, sầu khổ, đi lang thang, muốn đi lang thang đây đó. Bà hãy khích lệ con bà đi, hãy khuyên con bà tinh tấn, hãy đi gặp con bà, hãy đi gặp Sanu đi, Sanu bây giờ đang thối thất rồi, đang thối lui rồi, đang lui sục rồi, đang thối tâm rồi, đang buồn đau, sầu khổ, đi lang thang vất vơ vất vưởng vậy đó.

"Bà mẹ Dạ-xoa của ngài thấy vậy liền báo động với bà mẹ hiện tại và bảo bà khích lệ con bà phải tinh tấn, và đọc lại lời nói của các Yakkhà (Dạ-xoa):

Chớ có làm điều ác,

Công khai hay bí mật,

Nếu người làm điều ác,

Sẽ làm hay đang làm,

Người không thoát khổ đau,

Dầu có đứng lên chạy."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIV) Sànu (Thera. 7))

Bài kệ này nhắc nhở chúng ta đừng có làm điều ác, đừng có làm điều xấu, đừng có làm điều tội lỗi, dầu cho đó là công khai hay là bí mật. Mình tưởng đâu người ta không biết nhưng mà mình biết, tâm của mình sẽ bất an, tâm mình sẽ ray rứt, tâm của mình sẽ lo lắng, sợ hãi, trạo hối. Thí dụ như mình cầm cái cục than cháy đỏ ở chỗ đông người với cầm ở chỗ không có ai hết thì nó có phỏng tay như nhau không ạ? Hay là ở chỗ đông người mới phỏng, còn chỗ không có ai hết là nó không phỏng? Pháp ác nó như vậy, cái điều ác nó như vậy, dù người ta biết hay là không biết thì cái đó vẫn là ác, vẫn là tội, vẫn phải nhận lấy những cái quả báo khổ cho nên sẽ làm hay đang làm những cái điều ác đó mà người không có thoát khổ đau dầu cho có chạy đi nữa, chạy đi đâu đi nữa rồi cũng không thoát được khổ đau, mà muốn thoát khổ đau là đừng có làm điều ác.

"Nói như vậy xong, người mẹ Dạ-xoa biến mất, nhưng người mẹ hiện tại, nghe vậy rất lấy làm sầu khổ."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIV) Sànu (Thera. 7))

Người mẹ hiện tại khi nghe người mẹ đời trước của ngài Sanu nói như vậy thì bà rất là buồn đau, khổ sầu.

"Rồi Sa-di Sànu cầm y và bát đến thăm bà mẹ rất sớm. Thấy mẹ sầu muộn, ngài hỏi và được bà mẹ trả lời lý do, ngài nói bài kệ:

Thưa mẹ, người ta khóc,

Khóc vì người đã chết,

Hay có khóc người sống,

Khi sống, không được thấy,

Thưa mẹ, con đang sống,

Và mẹ đang thấy con,

Vậy vì sao, thưa mẹ,

Mẹ lại khóc cho con?"

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIV). Sànu (Thera. 7))

Sa-di Sanu mới cầm y và bát đến thăm mà mẹ rất là sớm, thấy mẹ buồn đau như vậy ngài mới hỏi sao mẹ buồn vậy, sao nay con nhìn thấy mẹ buồn quá vậy, có chuyện gì mẹ buồn vậy. Bà mẹ trả lời lý do là mẹ đời trước của ngài mách bảo cho biết như vậy đó, ngài mới nói bài kệ người ta khóc vì khóc người đã chết, thưa mẹ con đang sống và mẹ đang thấy con, vậy vì sao, thưa mẹ, mẹ lại khóc cho con. Thưa mẹ người ta khóc là con của người ta chết hay khóc vì chia ly với con, mẹ con không được gặp nhau, gọi là sanh ly tử biệt nên người ta khóc. Thưa mẹ con đang sống và mẹ đang thấy con, vậy vì sao thưa mẹ, mẹ lại khóc cho con, con với mẹ đâu có sanh ly tử biệt, con đang gặp mẹ mà, con đang ở kế bên mẹ mà, sao mẹ lại khóc.

"Bà mẹ trả lời, từ những lời trong kinh: 'Ðây là sự chết, này các Tỳ-kheo trong giới luật của bậc Thánh, tức là sự từ bỏ học giới và hoàn tục'."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIV). Sànu (Thera. 7))

Bà mẹ trả lời nhưng bà mẹ lấy pháp ở trong kinh để trả lời, Thế Tôn nói "Ðây là sự chết, này các Tỳ-kheo trong giới luật của bậc Thánh, tức là sự từ bỏ học giới và hoàn tục", như vậy là con đã chết rồi. Con muốn bỏ học giới, con muốn đi lang thang, con muốn trở lại cuộc đời của thế tục, như vậy là con chết và lúc đó mẹ ngài nói bài kệ:

"Người ta khóc cho con,

Là khóc cho con chết,

Hay khóc cho con sống,

Nhưng không được thấy mặt.

Ai đã bỏ dục vọng,

Lại trở lui đời này,

Này con, người ta khóc,

Là khóc cho người ấy,

Vì người ấy được xem,

Còn sống cũng như chết,

Này con, được kéo ra,

Khỏi than hầm lửa rực,

Con còn muốn rơi vào,

Ðống than hồng ấy chăng?"

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIV). Sànu (Thera. 7))

Này con được kéo ra khỏi hầm than rực lửa, con còn muốn rơi vào đống than hồng ấy chăng? Cuộc đối đáp giữa mẹ con này rất là thắm thiết, rất là sâu sắc, rất là nghĩa tình, rất là đạo vị, rất là ngọt tình mẫu tử, thâm sâu mẫu tử tình thâm. Mẹ người ta khóc vì con của người ta chết hay là người ta khóc vì chia ly không được gặp mặt con, thưa mẹ con đang sống đây mà, con với mẹ đang gặp nhau, đang thấy nhau. Vì sao thưa mẹ, mẹ lại khóc cho con, này con, đây là sự chết trong giới luật của bậc thánh tức là từ bỏ học giới và hoàn tục. Con à, tuy rằng mẹ con đang gặp nhau, đang đối diện nhau nhưng mà con từ bỏ học giới, con hoàn thì như vậy là con đã chết rồi trong giới luật của bậc thánh, cho nên mẹ khóc là khóc cho sự chết của con ở trong pháp và luật chứ không phải mẹ khóc trong cái sanh ly tử biệt của thường tình, mẹ khóc trong sự chết của con đối với giới luật của bậc thánh.

Ngọt ngào làm sao!

Thấm thía làm sao!

Thấm đẫm làm sao!

Thấm đượm làm sao mẫu tử tình thâm!

Tình thương của người mẹ ở đây hơn cả những bà mẹ thường tình rất là nhiều, người mẹ ở đây là một vị thánh đệ tử, thâm hiểu về chánh pháp nên chắc chắn có thực hành chánh pháp cho nên bảy tuổi là gửi ngài đi vào chùa để ngài trở thành một vị pháp sư, một vị thiền sư có cái từ tâm được cả chư thiên và loài người ái kính như vậy thì cái tâm huyết của bà mẹ không phải là đơn giản. Trong kinh viết vắn tắt nhưng mình phải hiểu ra là cả một tấm lòng của người mẹ, thế nào cũng tới lui thường xuyên, gặp gỡ rồi khuyến khích, khích lệ, an trú con của mình để cho con mình, nói theo bây giờ là một bậc Tăng tài. Vậy mà người con thối thất, thối đọa, thối lui, thối sụt, muốn trở về hoàn tục thì bà mẹ cả một tấm lòng khóc cho con là khóc cho con chết, hay khóc cho con sống nhưng không được thấy mặt. Này con những người mẹ thông thường ở thế gian khóc vì sanh ly tử biệt của thường tình.

Ai đã bỏ dục vọng,

Lại trở lui đời này,

Này con, người ta khóc,

Là khóc cho người ấy,

Vì người ấy được xem,

Còn sống cũng như chết

Con đã bỏ những ham muốn của thế gian đi vào con đường xuất thế, con đường viễn ly, bây giờ con lại muốn quay trở về cuộc đời đầy bụi bặm, đầy phiền não và khổ đau này. Này con mẹ khóc là khóc cho con như vậy đó, con chết đi cái tâm muốn giải thoát, chết đi cái tâm viễn ly, chết đi cái tâm xuất ly, chết đi cái tâm xả ly, chết đi cái tâm hướng thượng, chết đi cái tâm bồ đề, chết đi cái tâm cầu giác ngộ. Như vậy người ấy được xem là còn sống cũng như chết, một người xuất gia mà không có một cái tâm hướng thượng, không có một cái tâm kính pháp, không có một cái tâm tăng thượng, không có một cái tâm làm sao để tiến lên ở trong giới đức, ở trong thiền định, trong trí tuệ, trong giải thoát, trong cái thấy biết về sự giải thoát không có một cái tâm như vậy thì người này coi như là đã chết dầu cho đang còn sống.

Cho nên nhiều khi mang hình tướng xuất gia nhưng chỉ có cái xác không có hồn, giống như cái tử thi vậy, đắp cái y cũng như cái tấm vải, cạo cái đầu cho có hình thức tại vì đi tu phải cạo, còn bên trong trái tim nó chết, không có linh hồn, không có ý chí, không có sự phấn đấu, không có sự nỗ lực. Nhiều khi bằng cả một tấm lòng con để ý, con nhìn ngó, con khích lệ, khuyến khích, nhiều lúc con đau lòng, con thấy người này đã chết dù cho ở kế bên cạnh con. Chúng ta nhớ trong ghi lại con lừa đi theo bàn bò cũng nói tôi là con bò, tôi là con bò nhưng nó không có màu sắc của con bò, nó không có âm thanh, nó cũng nói tôi cũng là người tu, tôi cũng là người tu nhưng không có một ước muốn sắc bén để tăng thượng về giới đức, về thiền định, về trí tuệ.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: 'Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò', nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: 'Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'."

(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, Sa Môn)

Mình coi mình còn sống hay là đã chết. Chết là chết cái tâm hướng thượng, chết cái tâm tăng thượng, chết cái tâm vươn lên, chết cái tâm tiến tới, chết cái tâm vượt ra, thoát ra, chạy ra, chết cái tâm đi ra khỏi cái đống đau khổ, đầy bất an, tai họa. Này con, được kéo ra khỏi hầm than rực lửa con còn muốn rơi vào đống than hồng ấy chăng? Lời nói của bà mẹ thật là thắm thiết, thật là sâu sắc, thật là đầy tình thương, đây là thánh mẫu, thánh đệ tử. Này con được kéo ra khỏi hầm than lửa rực con còn muốn rơi vào đống than hồng ấy chăng? Con đã được kéo ra khỏi cái hầm lửa sao giờ này con còn muốn quay trở lại để rơi xuống cái đống than hồng ấy nữa? Con này con được kéo ra khỏi hầm than rực lửa con còn muốn rơi vào đống than hồng ấy chăng?

Đây là cái bài kệ để thiền quán cho tất cả người xuất gia, tất cả những vị tại gia luôn, khi mình đi vào dòng pháp này tất cả đều có cái tâm yểm ly, thoát ly, xuất ly thì mới vào vòng pháp này. Khi nào mình thấy cái tâm mình muốn quay lại những cái dục, những cái tham, cái ngũ dục, năm dục trưởng dưỡng, những cái sân hận, những cái thấp hèn đó, mình hỏi "này con được kéo ra khỏi hầm than rực lửa con còn muốn rơi vào đống than hồng ấy chăng?", "con được Đức Thế Tôn, con được bậc đạo sư kéo con ra khỏi cái hầm than rực lửa, bây giờ con còn muốn rơi vào đống than hồng ấy nữa hay sao con?".

"Khi ngài nghe vậy, Sa-di Sànu lấy làm xấu hổ sầu muộn, và tinh tấn phát triển thiền quán, không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Suy nghĩ rằng ngài chiến thắng là nhờ những bài kệ này, nên lấy những bài kệ ấy thành những bài kệ của ngài."

(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, Sa Môn)

Ngài thấy xấu hổ, tàm quý, buồn đau, nghe mẹ nói như vậy nên ngài cảm động, ngài chấn động trước tình mẫu tử, cảm động trước ân đức của mẹ hiền thánh Mình quay lại nhìn tự thân của mình thấy xấu hổ, nhục nhã, tội lỗi, thấy mình ngu si, sai lầm, mình tinh tấn nỗ lực, dõng mãnh, phát triển thiền quán, không bao lâu ngài chứng thánh quả A-la-hán. Cho nên phải có xấu hổ, nhục nhã, buồn đau thì tu mới tiến được, lúc nào cũng muốn ngọt, lúc nào cũng muốn thầy chiều mình, lúc nào cũng muốn mình sống cho êm ái, không có cái gì xảy ra với mình hết thì không bao giờ mình tiến được. Mình phải có những cái đòn, những cây gậy thiết bản, những cái cây roi quất cho thật là mạnh mà thường thường con người không ai chịu như vậy hết. Cái bản ngã, cái tâm ái, sống với cái thọ an nhàn cho nên ngài được quất một cái roi hết sức là mạnh bằng một cái tình, cái hiếu.

Đây cũng là một cái roi mà roi của sự nhẹ nhàng, thấm thí, có những lúc Đức Phật quất cái roi mạnh lắm, tùy lúc Đức Thế Tôn có khi dùng nhu, có khi dùng cương. Ở đây bà mẹ bằng tình thương làm cho ngài Sanu cảm động, thấy xấu hổ, buồn đau, ngài tinh tấn, phát triển thiền quán, không bao lâu ngài đoạn tận hết dục ái, ái tận, giải thoát, chứng thánh quả. Ngài suy nghĩ rằng ngài chiến thắng là nhờ những bài kệ này cho nên ngài lấy những bài kệ này làm bài kệ chứng ngộ, lấy những bài kệ của mẹ làm bài kệ chứng ngộ.

Chúng ta học kinh là phải học vậy đó, đừng đọc phớt phớt qua hết chữ ngắm, phải đọc cho ngấm sâu vào, thấm thía, thấm đẫm, thấm nhuần, thấm gội, thẩm thấu. Tất cả kinh điển đều quay lại chính mình, coi lại tự thân tâm của mình, mỗi một vị thánh trong đây là một tấm gương để soi lại mình. Sau đây tới một vị thánh này rất là đặc biệt, cái tên hơi dài Ramnìyavihàrim.

II. Chuyện Ngài Ramnìyavihàrim

"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), con một công dân có tên tuổi và sống đời sống tuổi trẻ trác táng."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLV). Ramnìyavihàrim (Thera. 7))

Chúng ta thấy ở thành Vương Xá rất nhiều các vị thánh, ngài là con của một công dân có tên tuổi, danh tiếng, con của một người có danh tiếng, giàu có, có tiếng tăm và đời sống tuổi trẻ của ngài là ăn chơi trác táng, con nhà giàu, đây là cậu ấm.

"Một hôm, ngài thấy các quân lính nhà vua bắt một người thông dâm, ngài sanh tâm dao động, nghe lời Phật dạy và xuất gia."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLV). Ramnìyavihàrim (Thera. 7))

Hồi xưa có gông cùm, xiềng xích đeo vô cổ, rồi người ta trói hai cái tay lại, người ta cùm lại và có khi người ta kéo sợi dây xích, nhiều khi lại là thị chúng nữa, tức là đi dạo vòng xung quanh cho mọi người thấy. Hồi xưa có những sự việc như vậy để cảnh tỉnh người dân. Ngài nhìn thấy quân lính nhà vua bắt một người tà dâm, thông dâm, người ngoại tình này nên ngài sanh cái tâm giao động, ngài thấy được sự nguy hiểm và tác hại, lỗi lầm tai họa của dục. Ngài thấy thật là khổ, thật là tai họa, thật là ác độc, thật là đắng cay, thật là chướng ngại pháp, thật là hoạn nạn, tai nạn, khổ nạn, khốn nạn với cái dục, làm cho người ta từ một con người đàng hoàng, thành công trên cuộc đời bỗng chốc thân bại danh liệt, tan nhà nát cửa, tù tội, giam cầm, gông cùm, xiềng xích, trói buộc nơi thân như vậy, xấu hổ, nhục nhã, không dám nhìn người.

Chúng ta thấy những người bị bắt là cúi mặt, nhiều khi họ lấy cái nón đội lên, bây giờ chúng ta đối chiếu ngày xưa nay họ lấy tay che mặt, không muốn cho mọi người nhìn thấy, xấu hổ, nhục nhã, tội lỗi rồi cha mẹ, anh em, vợ chồng, gia đình mang tai mang tiếng, đi đâu người ta cũng nói có con vậy đó, ăn trộm, ăn cắp rồi tà dâm, giết người. Ngài thấy được cái sự nguy hiểm, tác hại, đắng cay, ác độc, chấn động, cái dục này làm cho người ta tâm dao động, chấn động, ngài nghe lời Đức Phật dạy, từ đó ngài mới đi tìm tới Đức Thế Tôn mà nghe pháp, ngài phát tâm xuất gia.

"Là Tỳ-kheo, ngài vẫn còn những ái dục về thân, ngài sắp đặt phòng ngài thật đầy đủ bàn ghế, đầy đủ đồ ăn, đồ uống, đồ nằm và sống như vậy."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLV). Ramnìyavihàrim (Thera. 7))

Dù xuất gia rồi nhưng ngài vẫn còn yêu cái thân của mình rất nhiều, gường chõng, bàn ghế, đồ ăn, thức uống, đồ nằm, đầy đủ tiện nghi hết. Chúng ta biết thời Đức Phật là giới luật và đời sống rất là đơn giản nhưng ngài là con nhà danh gia vọng tộc, có tiếng tăm, có địa vị trong xã hội cho nên sau khi đi tu vẫn còn những cái ái dục về thân, yêu cái thân của mình nên sắp đặt cái phòng của ngài đầy đủ bàn ghế, đầy đủ đồ ăn, đồ uống, đồ nằm.

"Do vậy, ngài được tên là Ramanìyavihìrim (người sống trong lạc dục). Nhưng đời sống cũ của ngài làm ngài khó sống đời sống Tỳ-kheo, ngài cảm thấy không xứng đáng để nhận đồ cúng dường, ngài bỏ đi, bộ hành lang thang đó đây"

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLV). Ramnìyavihàrim (Thera. 7))

Tên của ngài có ý nghĩa là người sống ở trong lạc dục, sung sướng, nhưng mà đời sống cũ của ngài làm cho ngài khó sống. Đời sống với các vị Tỳ-kheo là đời sống cũ của ngài làm ngài khó sống đời sống Tỳ-kheo vì ngài quen hưởng thụ, sung sướng đầy đủ rồi, bây giờ xuất gia phải sống đời đơn giản, chỉ ba y và bình bát, đi khất thực, ăn xin, ngủ dưới góc cây nên ngài khó sống. Ngài cảm thấy không xứng đáng để nhận đồ cúng dường, ngài bỏ đi bộ hành lang thang đó đây, mình xấu hổ, mình không giống ai hết, tại sao các vị Tỳ-kheo kia làm được mà giờ mình lại sống hưởng thụ như vậy, đầy đủ tất cả tiện nghi để người ta nói luôn là người sống ở trong lạc dục. Như vậy ngài cảm thấy mình không có xứng đáng để nhận đồ cúng dường ngài, mới đi bộ hành lang thang đó đây.

"Trên đường đi, khi ngồi nghỉ dưới gốc cây, ngài thấy các xe bò đi ngang qua, một con bò vì mệt mỏi nên vấp ngã, người đánh xe cởi dây cho con bò, cho nó rơm và nước, và làm cho nó đỡ mệt, xong lại cột con bò vào xe và bắt nó kéo xe đi. Ngài suy nghĩ: 'Con bò này đã vấp ngã nhưng đã đứng dậy và kéo đi gánh nặng của mình. Vậy ta phải tinh tấn, sau khi rơi vào rừng nhục dục, cần phải đứng dậy và làm tròn bổn phận của người tu hành'."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLV). Ramnìyavihàrim (Thera. 7))

Ngài mới suy nghĩ con bò này đã vấp ngã nhưng đã đứng dậy và kéo đi cái gánh nặng của mình, con bò này nó mệt, bây giờ nó đứng dậy kéo luôn cả gánh nặng của mình thì ta phải tinh tấn, sau khi rơi vào rừng nhục dục cần phải đứng dậy và làm tròn bổn phận của một người tu hành. Chỗ này rất đặc biệt cho nên thiền quán là ở khắp mọi lúc mọi nơi, hôm trước chúng ta có ngày tu dã ngoại con đi chung với mọi người, con chỉ từng cái cho chúng tất cả cái gì mình thấy, mình nghe đều có thể biến thành đề tài thiền quán, triển khai thiền quán, phát triển thiền quán.

Trên đường đi ngài ngồi nghỉ dưới gốc cây ngài thấy xe bò đi ngang qua, có một con bò mệt mỏi quá, nó vấp ngã, người đánh xe mới cởi dây cho nó, cho nó rơm ăn, cho nó nước uống, làm cho nó đỡ mệt rồi cột nó vào cái xe lại và bắt đầu cho nó đi kéo đồ tiếp tục. Ngài suy nghĩ con bò này đã vấp ngã nhưng đã đứng dậy và kéo đi cái gánh nặng của chính nó, vậy ta phải tinh tấn, sau khi rơi vào cái rừng nhục dục cần phải đứng dậy và làm tròn bổn phận của một người tu hành, tức là ngài có sự phạm giới. Ngài chán nản, ngài buồn chán với đời sống xuất gia, bây giờ ngài nghĩ rằng té chỗ nào đứng lên ngay chỗ đó, ngã tại chỗ nào thì đứng lên ngay chỗ đó.

Ngài suy nghĩ như vậy, tác ý như vậy, tư duy như vậy, thiền quán như vậy, ngài chiêm nghiệm như vậy, té ở đâu đứng lên chỗ đó. Ngài không chịu nằm luôn ở đó mà ngài phải đứng dậy, đứng lên, phải đứng dậy lên đường, phải tinh tấn sau khi rơi vào cái rừng nhục dục, cần phải đứng dậy và làm tròn bổn phận của một người tu hành. Có những vị thối thất tâm trở về thế tục thì con cũng khuyên, thời gian ngắn thôi các con cố gắng được rồi trở lại, đừng có đừng có nản chí, đừng có buông tay, miễn sao giữ được cái ý chí tu là có cơ hội. Hồi xưa có nhiều vị bên nam xuất gia năm bảy lần mà cuối cùng cũng chứng thánh quả, đây là vớt vát cho mấy người rơi rớt.

"Rồi ngài trở về, kể lại câu chuyện cho Trưởng lão Upàli và được Upàli chấp nhận cho sám hối các lỗi lầm, và giúp ngài trở lại nếp sống chơn chánh"

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLV). Ramnìyavihàrim (Thera. 7))

Giới luật của ngày xưa tuyệt vời lắm, không phải người ta phạm giới là mình phán một cái rồi suốt cuộc đời người ta cất đầu lên không nổi. Không phải như vậy, mình cho người ta có con đường sống, mình cho ta có cơ hội để hoàn thiện bản thân, cho người ta có một lối thoát. Nếu người đó tha thiết, chân thành muốn tu tập giải thoát thì tất cả đều có một con đường, một lối thoát, có cái sự vực dậy, đứng vậy, ngã đâu thì ngay tại chỗ đó mình đứng dậy. Đó là sự trợ giúp của ngài Upali, ngài trở về kể lại câu chuyện cho trưởng lão Upali và ngài Upali chấp nhận cho sám hối các cái lỗi lầm, giúp ngài trở lại nếp sống chân chánh.

Nhất là các cái vị xuất gia tuổi trẻ bây giờ hiểu rõ được vấn đề này rất quan trọng, một là mình sa đà giống như người đời vậy đó, chỉ có hình thức thôi, không có một cái tâm tăng thượng giải thoát tu hành, cái đó là không được rồi, cái đó thà là hoàn tục. Thứ hai mình rất tha thiết chân thành tu học, mình lỡ có một cái lỗi lầm, một sự sai phạm dầu cho nghiêm trọng nhưng với một cái sự tha thiết, quyết chí, khao khát trên con đường giải thoát mình vẫn có thể làm được, nhớ cái câu té ở đâu đứng đó, té ở chỗ nào thì ngay tại chỗ đó đứng lên dõng mãnh, tinh tấn, quyết liệt, hướng về phía trước, tiến về phía trước, dù có chết cũng phải tiến lên, quyết tử để tu thì chắc chắn cũng thành tựu mà nhất là tu chánh pháp thì thành tựu không có khó, không có xa.

"Không bao lâu, ngài chứng quả A-la-hán."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLV). Ramnìyavihàrim (Thera. 7))

Người ta có lỗi gì là mình phán một cái thì chết cuộc đời người ta luôn, mình phải cho người ta một con đường thoát, cho người ta một con đường sống, cho người ta làm lại cuộc đời, phấn đấu, tăng thượng, hướng thượng nhưng nếu điều kiện người đó phải chân thành, tha thiết, quyết tâm để thành tựu, để làm trong sạch chính mình, để làm thanh tịnh chính mình, để làm tăng thượng chính mình thì sẽ có cơ hội. Đây là chứng thánh quả tối cao chứ không phải những quả vị thấp.

"Về sau, hưởng thọ an lạc giải thoát, ngài nói lên sai lầm của ngài, và sự trở lui lại nếp sống chơn chánh trong bài kệ này:

Như con thú hiền thiện,

Giống tốt, huấn luyện khéo,

Sau khi đã vấp ngã,

Lại đứng lên, an trú,

Ta đầy đủ chánh kiến,

Ðệ tử bậc Chánh giác."

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLV). Ramnìyavihàrim (Thera. 7))

Ngài nói chính tự thân của ngài, nói cái tâm của ngài là một nội tâm hiền thiện, cái hạt giống bồ đề, hạt giống giác ngộ, giải thoát và huấn luyện khéo. Ngài được bậc đạo sư, được Đức Thế Tôn, được ngài Upali giảng dạy, hướng dẫn, huấn luyện khéo và chính tự thân ngài cũng huấn luyện cái tâm mình một cách khéo léo, cho nên sau khi đã vấp ngã rồi lại đứng lên, an trú. Trong vòng luân hồi sanh tử này mà ai không từng vấp ngã, ai không từng dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, ai không từng? Cái quan trọng là mình đứng lên, đứng dậy, vực dậy, mình an trú được ở trong thánh trí, thánh pháp, chánh kiến đó.

Chúng ta thấy là một vị Tỳ-kheo tuổi trẻ trác táng nhưng lại nhìn thấy được cái việc người khác thông dâm bị bắt thì tâm ngài dao động mạnh và xuất gia. Sau khi xuất gia ngài vẫn còn yêu cái thân của mình đó rồi ngài buồn nản, chán nản, bị rơi vào ở trong cái bẫy của dục ái. Nhưng sau sự kiện con bò vấp ngã và đứng lên ngài chiêm nghiệm, tác ý, quán chiếu và quay trở về sám hối với ngài Upali, được chấp nhận rồi trong cái chánh kiến của mình, trong cái thấy đúng về pháp của ngài, ngài nỗ lực không bao lâu diệt tận được dục ái, ái tận giải thoát, làm lại cuộc đời, trở thành bậc thánh Tăng chói sáng, chiếu sáng, rực sáng, tỏa sáng, bừng sáng ở trong hàng thánh chúng.

Chúng ta có thấy tuyệt vời không? Ai cũng có cơ hội hết, ai cũng có phần hết, ai cũng có khả năng hết, người không có khả năng là người không có một cái tâm tha thiết, khao khát, khắc khoải, ưu tư, quyết liệt, mạnh mẽ, dù cho được gọi giống như trong sạch nhưng mình không có một cái tâm hướng tới nỗ lực. Nhiều khi mình coi người ta không ra gì hết, người ta không sạch bằng mình nhưng mà người ta quyết liệt, mạnh mẽ thì nhiều khi người ta đi trước mình. Vấn đề ở đây sau này chúng ta học bài Kinh Trung Bộ thì chúng ta sẽ thấy cái chỗ đạt đến cuối cùng là tâm vô trước giải thoát chứ không phải dừng lại ở những cái phần đầu, ở cái vỏ cây, ở cái giác cây ở ngoài mà dừng lại, mình được một chút thiện pháp là bắt đầu là tu trong bản ngã, tu ở trong một cái tôi ta, tu trong cái hơn thua, mình người, khinh thị, khinh khi, khinh thường người khác, coi ai cũng không ra gì hết.

Tu như vậy thì phát huy cái bản ngã, có khi người ta nhiều điểm tốt chỉ có một điểm không có tốt nhưng mình nhìn vô cái điểm không tốt đó bắt đầu mình khinh khi người ta, trong khi tự thân của mình có rất nhiều những lỗi lầm mình không thấy, cứ săm soi vô cái lỗi của người khác. Như vậy là tai họa, tổn hại rất lớn cho mình cho nên ở trong sự tu hành của chúng ta trong cái dòng pháp Nikāya này cái hai khéo là cái rất quan trọng, khéo nhìn lỗi mình và khéo hộ trì căn. Mình chỉ thấy cái lỗi của mình thôi, mình ưu tư cái lỗi mình, mình thao thức cũng như ở đây ngài trăn trở, thao thức lỗi lầm của chính mình và cuối cùng sau khi đã vấp ngã lại đứng lên an trú và trở thành bậc thánh tối thượng, tối cao, tối thắng, thầy của chư thiên và loài người luôn. Thành ra chúng ta tu không có nhìn ai hết, cứ nhìn mình hoài, con nói suốt cuộc đời của người tu là đi tìm cái lỗi của chính mình, người nào khéo nhìn được lỗi của mình càng nhiều chừng nào rồi khắc phục, hoàn thiện chừng nào thì người này đi càng nhanh, càng mau, càng lẹ, càng vững chắc chừng đó. Còn người tối ngày cứ đi nhìn người này, nhìn người kia, nhìn người nọ, săm soi người khác thì người này là không biết nhìn chính mình, chuyện người thì sáng mà chuyện mình thì quáng, không phải là quán chiếu mà là quáng gà, mù quáng, chuyện người ta thì mình sáng còn chuyện mình thì mù quáng thì như vậy cái tu mình không đi tới đâu.

Suốt ngày cứ nhìn người này, người kia, sai người nọ, trật người nọ, dở người này, còn bản thân mình thì không thấy gì hết, đó là một cái thất bại rất là lớn. Mình tu là tu cho mình chứ không phải cho người khác, có khi những người hết sức là ân đức, nghĩa tình với mình mà mình không có thấy, không có biết, mình phê phán, mình chỉ trích thì cái này tai họa, là đại họa, từ từ cái đức, cái phước của mình tổn hết. Cái tâm khinh thị, khinh thường đó thì công đức phước báo của mình lần lần suy sụp, nó tan ngã, nó đổ nát rồi cuối cùng mình ra đời luôn, hoàn tục luôn, trong khi cái pháp rực sáng, chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng, tỏ sáng mà mình không thấy.

Trong cái bài mới vừa rồi chúng ta sẽ thiền quán nhiều lần, bài khổ thánh trí mới vừa rồi chia sẻ trong đó con có nói hai câu "ai đem vũ trụ vào hạt cải, ta phá tu di cho tiêu tan". Trong giáo lý của kinh sách sau này có nói ví dụ đem vũ trụ nhét ở trong hạt cải, con nói phá tu di cho tiêu tan là phá cái bản ngã đó. Người ta đem một cái tâm rất là lớn nhét vào trong một cái thân hôi thối, bẩn thỉu này "đất trời rộng lớn thênh thang lắm, dạt là dạy gì chui vào chỗ tối tăm", tức là đem một cái hết sức to lớn nhét vô cái nhỏ. Mình đập cho tan cái núi tu di tức là mình phá cái bản ngã cho nó tiêu, mượn hình ảnh đó để nhắc nhở chính mình tu, mình tu mình lo đập cái nước tu di của mình, mình lo phá cái núi tu di của mình, cái bản ngã nặng nề, to lớn chình ình một đống trước mắt là mình không thấy. Mình lo đập cái đó, lo phá cái đó, lo phá ngọn tu di của chính mình, cái tôi của mình, cái ta của mình, cái ngu si, mê muội của mình chứ không phải đập cái núi của người ta. Chúng ta chiêm nghiệm gì được gì trong hai vị thánh Tăng rất là tuyệt vời này?

III. Trình pháp

Cô Diệu An: Con xin đem hết lòng thanh kính lãnh lễ ân đức Thế Tôn, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ơn đức sư phụ, chư TĂNG ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Con rất là cảm ơn sư phụ hàng ngày nhắc nhở, bài học hôm nay con thấy rất là xấu hổ và con nhớ lại xưa có lần sư phụ nói là thấy là nhục, nhục ở khắp lỗ chân lông, mắc những cái lỗi lầm làm biếng, tối qua thấy mệt nên chui vô gường ngủ thì con nói ngồi nghe chút xíu, nghe ở trong hay nghe ở ngoài cũng vậy nhưng mà một hồi ngủ mất tiêu, sáng thức dậy thấy xấu hổ, nói phải nỗ lực lại rồi cũng có nói về người khác, giống như là không có nói nặng, nói xấu nhiều nhưng mà thấy cũng rất là mắc cỡ, ngồi nghĩ lại nhiều những cái lỗi lầm thì thấy rất là nhục, rất là xấu hổ, nghĩ là nhắc mình phải giống như lấy cái bấm sách, bấm cái miệng này lại, phải tịnh khẩu giống như đạo sư nói. Ở chùa mà mình không có cẩn thận, không có đàng hoàng thì mình sẽ tạo những cái lỗi lầm rất là nguy hiểm. Con lần nữa con xin cảm ơn sư phụ cùng tất cả các bậc hiền trí.

Sư cô Huệ Lý: Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng chư vị hiền giả, hiền thiện. Con kính bạch trên sư phụ, sáng nay sư phụ cho chúng con thiền quán hai bài kinh về đức hạnh và sự chứng ngộ của hai vị thánh Tăng, cảm thọ trong con thật là ngưỡng mộ gương sáng của hai vị thánh Tăng. Con nhìn lại tự thân qua lời giảng dạy của sư phụ, con tự nhắc nhở mình phải lấy hai tấm gương đó làm ánh sáng cho mình, theo lời dạy của sư phụ phải tự sách tấn mình, phải cố gắng tu tập, phải có cái tâm hướng thượng, phải có sự ưu tư và sẽ cố gắng không phải mang hình tượng của người tu nhưng thân tâm đã chết rồi. Phải cố gắng để thành tựu những gì mình chưa thành tựu, phải biết sống xứng đáng với cái áo xuất gia này, không phải đầu tròn áo vuông là đã thành người xuất gia mà trong tâm mình có xứng đáng với người xuất gia hay không.

Qua những lời sách tấn và bài kinh ví dụ con lừa và con bò thì con cũng tự thấy xấu hổ trong thời gian mình tu học, mình cũng giống như con lừa, mình tưởng mình là con bò, mình cũng tưởng mình là người tu nhưng mà rất là xấu xa, chưa xứng đáng người tu. Con cố gắng vì con đã vấp ngã thì con cố gắng đứng dậy để làm những gì mình chưa làm được, con xin hứa con sẽ quay lại nhìn lại chính mình và sửa đổi chính mình, không nhìn ai cả và con sẽ cố gắng tinh tấn tu tập, sách tấn mình ngày càng tiến bộ hơn để không xấu hổ, hổ thẹn mình là một người xuất. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Cô Hiền Hoa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Giới tử con Hiền Hoa xin được sám hối trước sư phụ, trước quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Vì con ngu si, vì sự vô minh, vì con ích kỷ, nhỏ nhen, hơn thua, đố kỵ, con đã gây ra nỗi lầm rất là lớn, con như kẻ phá pháp, phá đi sự tâm huyết, nhọc nhằn bao lâu nay của sư phụ và quý thầy cô. Trong lòng con rất là hối hận, tâm can con đau xót, tại sao con lại có thể vô minh như thế, con biết có sám hối bao nhiêu lần cũng sẽ không thể quay lại được.

Khi mà sáng nay con được nghe sư phụ giảng về đức hạnh của hai vị thánh Tăng, hai bậc A-la-hán thì con nhìn lại trong thân tâm con, con càng thấy đau xót, tủi hổ, nhục nhã, đê hèn, đáng khinh bỉ. Cái sự trạo hối này đã xuất hiện trong con hai ba ngày nay mà sao con không thoát ra khỏi được, con ân hận, hối hận rất là nhiều, nghe về đức hạnh của các bậc thánh Tăng thực sự con không có cái lỗ nào để chui xuống, con thấy con không đang sống nữa, nó quá nhục nhã, quá ê chề. Con thành tâm xin sám hối trước sư phụ.

IV. Phát lộ sám hối

Sư Phụ: Nếu hiền giả sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi, như pháp phát lộ chúng ta sẽ chấp nhận cho hiền giả vì rằng như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh, nghĩa là bất cứ ai sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm phải như pháp phát lộ và phòng hộ ở trong tương lai. Ở đây này hiền giả những ai không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc đạo sư, vị này bị bậc đạo sư quở trách, bị các vị đồng phạm hạnh có trí sau khi quán sát, quở trách, bị chư thiên quở trách, bị tự mình quở trách mình nên chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh. Tại sao vậy? Này hiền giả vì vị ấy không có thực hành trọn vẹn học giới ở trong giáo pháp của bậc đạo sư, nhưng ở đây những ai thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc đạo sư vị này, không bị bậc đạo sư quở trách, không bị các đồng phạm hạnh sau khi quán sát quở trách, không bị chư thiên quở trách, không bị chính mình quở trách nên chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này hiền giả là vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc đạo sư.

"-- Này Bhaddali, thật sự một lỗi lầm đã chiếm đoạt Ông, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỳ-kheo chấp hành học giới đã được Ta chế định, Ông đã tuyên bố sự bất lực của Ông. Này Bhaddali, nếu Ông sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, và như pháp phát lộ, chúng ta sẽ chấp nhận cho Ông. Vì rằng, này Bhaddali, như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc Thánh, nghĩa là bất cứ ai, sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, phải như pháp phát lộ và phòng hộ trong tương lai.

Ở đây, này Bhaddali, có Tỳ-kheo không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Ðạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: 'Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh'. Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Ðạo Sư quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, chư Thiên quở trách, tự mình quở trách mình. Vị này bị bậc Ðạo Sư quở trách, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư Thiên quở trách, bị tự mình quở trách mình, nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bahaddali, là vì vị ấy không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.

Nhưng ở đây, này Bhaddali, có Tỳ-kheo thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: 'Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh'. Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Ðạo Sư không quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát không quở trách, chư Thiên không quở trách, tự mình không quở trách mình. Vị này không bị bậc Ðạo Sư quở trách, không bị các đồng Phạm hạnh sau khi quán sát quở trách, không bị chư Thiên quở trách, không bị mình quở trách mình, nên chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư." (Trung Bộ Kinh, 65. Kinh Bhaddàli)

Sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm như pháp phát lộ sám hối, như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh. Để chúng ta như pháp phát lồ phòng hộ ở trong tương lai, giới tử cùng với sư cô Pháp Linh hai người lạy sám hối với nhau, sư cô Pháp Linh cũng phải khởi cái tâm lạy sám hối diệt cái bản ngã của mình, diệt cái bản ngã ngu si, ngu ngốc, ngu muội, lạy cho chôn vùi cái bản ngã này xuống lòng đất ở tại nơi này, lạy cho mai táng cái bản ngã, cái sân si, cái thứ thấp hèn, chôn sống nó tại chỗ này, từ đây về sau không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai.

Lành thay! Lành thay! Lành thay! Đây là những hình ảnh đẹp, những cảm giác hiền thiện mà tất cả chúng ta cần phải tu tập, cần phải thực tập, cần phải hành trì thường xuyên và thật là nhiều. Bất cứ một ai ở trong chúng thấy mình có lỗi thì mình ra sám hối, những cái này còn được duy trì, còn được thực hành thì đại chúng chúng ta càng đi tới chỗ hiền thiện, hiền trí, hiền hòa, hiền kính, càng đi đến chỗ tinh ba chứ không phải là một hội chúng cặn bã. Những điều này rất là tốt, rất là nên cung kính, nên tôn trọng, nên tán dương, xưng tán những cái nghĩa cử, những sự cúi lạy, sám hối xin lỗi với nhau như vậy.

Ngày nào còn tồn tại, những hình ảnh này còn có mặt, những hành động này còn được sự hành trì những pháp này ngày đó chúng ta còn hiền hòa, còn hiền từ, hiền trí với nhau. Ngày nào mất cái pháp này, chỉ có hai trường hợp một là tất cả chúng ta thành tựu thánh quả tối cao hết, không còn có lỗi, còn hai là chúng ta rơi vào chỗ vô tàm vô quý, không biết hổ, không biết thẹn, không biết lỗi lầm mà thường chắc cũng chưa có chứng hết A-la-hán cho nên còn hình ảnh này là còn sự tu trì, còn hình ảnh đẹp nên chúng ta có những cái lỗi lầm không có gì mắc cỡ, không có gì xấu hổ mà không dám bước ra. Chính cái không dám đó, không chịu hạ cái bản ngã mình xuống để xin lỗi đó thì cái đó mới là đáng cấu hổ, còn cái hạ mình xuống để lễ lạy diệt ngã, để lễ lạy xin lỗi, để lễ lại sám hối thì đó mới là cái đáng trân trọng, quý kính để tu học.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.