Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Những Lợi Ích - Thù Thắng - Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 3

2026-03-03 00:55:55
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 9

Những Lợi Ích – Thù Thắng

Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 3

Thích Minh Thành

Ngày 11 tháng 04 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lợi ích khi học và hành theo Nikāya PAGEREF _Toc137398917 \h 1

II. Tâm nhu nhuyến – hiền lành PAGEREF _Toc137398918 \h 4

III. Cảm nhận khi tu học PAGEREF _Toc137398919 \h 8

IV. Cảm thọ PAGEREF _Toc137398920 \h 10

V. Lợi ích thứ 4 PAGEREF _Toc137398921 \h 14

VI. Chánh Kiến PAGEREF _Toc137398922 \h 16

I. Lợi ích khi học và hành theo Nikāya

Lợi ích thứ 2 ở đây là: “Biết được thực tế đời sống và xã hội thời Đức Phật. Trong khi nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya, hành giả biết được với những sự kiện thực tế đã từng xảy ra trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế. Hoàn cảnh xã hội thời đó, đời sống thực tế của Đức Phật và các buổi thuyết giảng Chánh pháp của Ngài.” Mình đọc đi rồi mình sẽ thấy, hay lắm. Có những người mà họ đi tắm ở những dòng sông linh thiêng, 1 ngày tắm 3, 4 lần để rửa sạch tội lỗi. Đức Phật gặp những người đó, Đức Phật dạy cách làm sao để cho sạch tội, chứ không phải là lấy nước sông đó mà rửa sạch được. Rồi có những người họ đốt những nhóm lửa, họ thờ thần lửa, họ làm những tế lễ, giống như bây giờ mình có nhiều nghi thức, lễ.

Thì tôn giáo nào cũng vậy, có nhiều nghi thức, lễ. Nhưng mà thật sự cái lễ đó có đem đến lợi ích, đem lại giá trị nhân văn, đem lại cái giáo dục, làm cho người ta khởi lên niềm tin chân chánh về nhân quả và nghiệp báo, về đạo đức, về từ tâm hay là về trí tuệ hay không, thì đây là cái điều khác. Thì có những cuộc tế lễ họ giết rất là nhiều con vật, thậm chí hồi xưa mình coi có khi họ tế sống 1 người, chúng ta có thấy, có nghe không? Thì đó là những quan niệm tà kiến, mê tín. Thì Đức Phật dạy người ta phải thắp lên những ngọn lửa đạo đức, của tình thương, trí tuệ, từ bi. Rất là nhiều những bản tin, bây giờ mình kể là không hết đâu, nhiều lắm.

Mình phải đọc hết tạng kinh Nikāya, mà những bài kinh nào mà mình thấy hay thì mình đọc tới đọc lui, mình ghi chép nó lại. Thậm chí là bây giờ có người đọc sẵn cho mình, rất là tiện. Còn nếu mình muốn cho mình dễ nhớ thì mình phải lấy cái bài kinh mình đọc, ghi âm của chính âm giọng mình đọc, mình nghe tới nghe lui rồi mình thuộc luôn. Đây là 1 phương pháp học rất là hay, hồi xưa Minh Thành học bằng cách này. Đoạn kinh nào mình tâm đắc, bây giờ thì rất là tiện, có cái điện thoại mình bấm cái rồi ghi âm. Thay vì để mình nghe nhạc, nghe thời sự, thì mình nghe Thánh điển Nikāya, rồi mình sẽ thuộc lòng luôn. Thì như vậy là Đức Phật đã dùng rất là nhiều phương tiện, mà không phải tự Ngài đặt để ra, mà là do nhân do duyên, hoàn cảnh đó, phong tục, tập quán, xã hội, con người, những quan điểm đó.

Rồi Ngài dẫn dắt người quay trở về với Chánh kiến, Chánh pháp, Chánh đạo, Chánh tín. Những vị tắm dưới sông, đốt lửa, tế lễ, cúng tế, cầu nguyện hoài. Rồi có những người khổ hạnh, ép xác, có những người Bà-la-môn họ phân biệt giai cấp rất là nặng nề, họ chấp vào cái huyết thống cao quý. Thì Đức Thế Tôn giải thích cho họ là không phải chỗ dòng giống, dòng họ, huyết thống, mà Đức Phật nói ở cái đức hạnh, giới đức và trí tuệ là tối thượng nhất, chứ không phải là dòng họ, sanh ra trong cái dòng họ nào. Thì trí tuệ của Đức Phật làm cho rung chuyển những quan niệm, những sự phân biệt giai cấp hàng ngàn năm của xã hội Ấn Độ thời đó.

Làm phước bổn từ trên vua chúa, cho đến những người cùng đinh trong xã hội, từ kỹ nữ, người hốt phân, từ những thành phần thấp nhất ở trong xã hội. Sĩ, nông, công, thương, từ giới tu sĩ cho tới quan quyền, tới giới doanh nhân, rồi đến những giới lao động chân tay. Mỗi người khi mà Đức Phật tiếp xúc, đều khéo léo, thiện xảo, nhẹ nhàng, uyển chuyển khi mà hướng dẫn người ta. Làm cho người ta nhận thức được Chánh kiến, Chánh tín, nhân quả. Cho người ta thấy được cái nghiệp là do chính tự thân của mình, chứ không phải là cầu xin. Có rất nhiều bài kinh, bản kinh, ví dụ như: Có 1 xứ đó họ cầu xin, cầu nguyện dữ lắm. Họ đem hoa, đem hương rồi cúng tế rất là nhiều. Thì Đức Phật mới đưa ra nhiều hình ảnh lắm.

Chúng ta có từng nghe hình ảnh mà Ngài kêu là bây giờ đem bỏ tảng đá lớn xuống dòng sông, chung quanh là hàng trăm, hàng ngàn người cầu nguyện. Sáng, trưa, chiều, tối cầu nguyện cho tảng đá này nổi lên. Thì nó nổi được không? “Không”. Tại sao? Vì nó nó nặng. Rồi Ngài mới nói là đổ dầu xuống nước, rồi kêu trăm, ngàn người, nhiều ngàn người cầu nguyện sáng, trưa, chiều, tối, ngày đêm cho nó chìm xuống. Rồi nó có chìm không? “Cũng không”. Tại sao? Tại vì bản chất nó nhẹ, cho nên nó nổi. Thì như vậy Đức Thế Tôn dùng những cái ví dụ cụ thể, thiết thực, rõ ràng, thực tế. Để mà khơi mở Chánh kiến, Chánh tín cho chúng sanh, cho con người. Chúng ta phải thấy rằng, cầu nguyện là 1 phần nhỏ trong sự tu, chứ không phải tất cả.

Ngày nào chúng ta vô cũng “phong điều vũ thuận, quốc thế dân an, thiên hạ thái bình, chư tai tiêu diệt”, ngày nào cũng đọc cái đó hết trơn, mà chư tai có tiêu diệt không? Quốc thế dân an không? Khi con người còn đầy giẫy những ác tham, dục vọng, sân hận, những cái âm mưu, mưu sĩ, mưu toan, mưu tính, mưu hại, mưu độc. Lên đó cầu nguyện, là nhắc cho mình nhớ là để mình làm. Thành ra nguyện và hành, mong muốn, mong cầu, cầu nguyện là 1 lẽ, nhưng phải hành động. Chứ mình không có mong muốn thì làm sao có hành động, làm. Cho nên cũng có những mong muốn, nhưng mong muốn xong dừng lại là không đủ. Thành ra Đức Phật dạy thì biết: “À cái này không phải cầu nguyện là hết sân đâu nha.”

Phước mới nổi lên, tội là chìm xuống dưới, nghiệp đen thì chìm xuống, nghiệp trắng thì nổi lên. Bởi vậy hay lắm, đọc tạng kinh này, còn hơn mình coi 1000 bộ phim mà hay nhất hành tinh này, cũng không bằng tạng kinh Nikāya. Không có bộ phim nào mà bằng bộ phim của bậc Thánh chứng thực hết, kinh tạng Nikāya. Sáng này Minh Thành đi qua dạy thế bên trường Cao Trung, vô cho cả lớp thiền quán, quay về xuyên không 2600 năm, trở về cùng dự pháp hội với bậc Chánh đẳng Chánh giác và các bậc Thánh chúng Tỳ-kheo. Ngơ ngẩn hết trơn kìa, không biết là cái gì luôn. Tức là khi mình đọc kinh, mình phải đặc hết cái tâm của mình vào trong lời kinh.

Thí dụ như bài kinh “Nhập Tức, Xuất Tức Niệm” là tả lại lúc đó là ngày rằm tháng 4, trăng tròn. Thế Tôn cùng với chư Tỳ-kheo, Thánh tăng ngồi ngoài trời. Ngài mới tán thán hội chúng của Ngài: “Ta hài lòng, ta thỏa mãn với hội chúng này. Trong hội chúng này có những vị đã lậu tận, các kiết sử đã đoạn tận, tu hành đã thành mãn, việc đã làm đã làm xong.” Trong hội chúng này có những vị bất lai, nhất lai, dự lưu. Có những vị trọn ngày chuyên tâm, chú tâm thực tập tứ niệm xứ; trọn ngày chuyên tâm, chú tâm quán bất tịnh; trọn ngày chuyên tâm, chú tâm tu bốn chánh cần, 4 như ý túc, ngũ căn ngũ lực, thất bồ đề phần. Khi mình nghe như vậy thì không phải mình đọc truyện, không phải mình đọc chữ mà mình đưa mình trở về cái cảnh.

Thì lúc đó mình “tùy văn nhập quán”, nghe tới đâu thì cái tâm mình đi tới đó. Mình dùng cái thọ, tưởng, hành của mình mình quán, đó gọi là xuyên không. Tức là đi ngược dòng thời gian, 2600 năm, cùng tham dự Thánh hội của bậc Chánh đẳng chánh giác và các vị Thánh chúng. Thấy giống như mình đang trở về, mình đang ngồi gần Đức Thế Tôn và các bậc Thánh. Mình có một sự hạnh phúc, an lạc, tuyệt vời, tuyệt dịu. Mình tụng kinh, mình đọc kinh, mình học kinh là phải học như vậy đó, nó mới có cảm thọ. Chúng ta thấy không? Những bộ phim mà hay, là mình thấy giống như mình nhập vai vô đó luôn phải không? Có không? Khi mình coi bộ phim mà nó hấp dẫn, cũng như mình coi bộ phim thời Đức Phật, thì có những lúc nước mắt mình chảy ra, mà mình phải nhập được vô bộ phim đó.

II. Tâm nhu nhuyến – hiền lành

Mình phải cảm động, chấn động, xúc động, chứ mình coi mà cứ đơ đơ thì đâu có chảy nước mắt. Thì cái đó tức là “tùy văn nhập quán”, mình nhập vai vào trong đó luôn, mình thấy giống như mình đang được trở về. Mà nhập vai là nhập vô những cái vai hiền thiện, thánh thiện thì tốt. Mà nó nhập những cái vai bất thiện, thì cái này không tốt à, có không? Khai thiệt nghe coi? Có à. Mình coi những cái ác, những bất thiện pháp nó cũng nhập vai nữa. Thí vụ mình coi những bộ phim tình cảm, mà người ta đương ghen tuông, thì ở trong người mình cũng tức lên. Có nhiều bà hồi xưa, hay mấy ông đàn ông lại đập ti vi, thua đá banh. Thì mình nhập làm 1 trong cái đó, là mình nhập vô ác và bất thiện pháp. Còn đây là mình nhập vô thiện pháp, Thánh pháp.

Cho nên học kinh là phải học cả trái tim, cả tấm lòng, phải học như vậy đó. Cho nên các thầy, các cô coi các khóa tu ở trên Linh Quy là nước mắt đầy mặt, đầm đìa hết. Thì các vị đó là cảm thọ đã được tu tập, gội rửa, khai mở, đã hiền thiện, nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, đã thấm được khổ Thánh trí, đã nhiếp phục được tự ngã. Cho nên họ có những cảm xúc dào dạt, sung mãn, chứ đâu phải dễ khóc đâu. Tự nhiên sao làm người ta khóc được, vì chạm vô tới trái tim người ta, người ta mới xúc động. Thành ra có nhiều người không biết, họ nói: “Ủa sao thầy dạy gì mà khóc hoài vây? Tu có trúng không?” Người ta đâu có hiểu, tại vì những vị đó là khai mở được cảm thọ.

Cái cảm thọ của chúng sanh là 1 cái cảm thọ trơ trơ, chai sạn, cứng chắc của vô minh và chấp thủ. Cho nên khi tu Nikāya này là đánh phá được cái cảm thọ đó, làm cho cái cảm thọ đó mềm ra, nhũng ra, nhả ra, mở ra, tan ra, chảy ra. Chúng ta thấy không? Vàng mà không có nung luyện, không có tan chảy thì làm sao mình làm lắc, làm cà rá, làm vương miện đồ được, 1 cục làm sao mà làm. Phải cho nung chảy cho nó tan chảy ra, cái tâm chúng sanh là 1 cảm thọ chai sạn, cứng chắc. Mà nói tiếng mình cho nó dễ hiểu là cứng đầu, cứng cổ, khó dạy, là cái tâm chúng sanh, bản ngã dữ dằn, cao ngạo. Cho nên khi mà vô gặp Chánh pháp là khuất phục trước, sau đó mới tu được.

Cho nên 2 cái pháp mà tối quan trọng trong đạo tràng Nikāya, là tâm hiền và diệt ngã. Bất cứ 1 người nào vào đạo tràng Nikāya là phải tu tập 2 cái này trước, được tâm hiền, sau đó mình diệt 8 tháng. Không nói gì cao hết, tu cái tâm hiền, diệt cái bản ngã trước. Hồi nãy con mới ngồi ở dưới, nghe quý thầy nói hồi sáng này chấm bài, có các vị Tăng Ni sư cãi lại, cự lại. Con nói như vậy là không được, mình còn Tăng Ni sinh, còn ngồi trên ghế nhà trường mà giáo thọ sư, ban giám khảo chấm bài, chỉ dạy, hướng dẫn cho mình. Mà mình không chịu lắng nghe, mình còn cãi, còn cự, cái bản ngã to lớn như vậy thì mình học được cái gì? Cái này rất quan trọng. Đó là tâm chưa có hiền, không có tu tập được, không có họ được cái gì cao siêu hết.

Mình giỏi quá như vậy thì mình đi học làm chi? Cho nên con thưa thiệt, là hồi xưa lúc mà con chưa đi vô Nikāya. Thì thấy các chú, các thầy, đệ tử mà bị nói là cãi, nói là cãi, thì con kêu những người này là “ông trọc cãi trời, cãi thầy núi đè”. Thiệt sự những người này sau này đi xuống núi hết, không có ai ở tu được hết, tự động họ đi à, cái bản ngã to lớn. Mà cái này là cái đau đớn vô cùng, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ người yêu, bỏ vợ, bỏ con, bỏ tài sản, bỏ nghề nghiệp, bỏ danh vọng, bỏ hết tất cả, mà cái bản ngã không chịu bỏ, đây là thất bại, không tu được. Cha mẹ bỏ, chị em, anh em, cô bác bỏ, ông bà nội bỏ, người yêu bỏ, vợ con bỏ, chồng bỏ, cháu bỏ, nghề nghiệp, sự nghiệp bỏ mà cái bản ngã không bỏ thì làm sao mà tu cái pháp môn này?

Rồi làm sao thể nhập được vô ngã Thánh trí, Thánh trí tuệ vô ngã, cái bản ngã cao đó mà học cái gì. Cho nên con thưa thiệt là dù là đệ tử xuất gia, mà con nói là cãi là con không có dạy, cứ để đó. Năm hay 6 tháng sau mới chỉ cho 1 đôi chút nữa, mà cãi nữa là thôi. Mà cãi hoài như vậy là không dạy nữa, tự sanh tự diệt thì ráng chịu. Vậy thì làm sao mà học? Mà họ không có thấy được cái đó thì làm sao mà tu? Cho nên bước quyết định trong dòng pháp Nikāya nói chung của người tu, là cái tâm hiền và cái diệt ngã. Mình không có nói được 100%, mà phải được 70%, 80% mới tu được. Cho nên con kêu trình pháp cũng vậy, con thấy vị nào hiền thiện, chân thành con mới kêu, con thấy cái mặt dữ dằn là con sợ lắm, học trò đó, mà cũng sợ lắm.

Cái tiếp theo là mình nhìn được cái ngũ uẩn rồi, mình sẽ đọc được những cái mà họ không có biết. Nhiều khi ngồi trong lớp như vậy, mà nhìn cái ánh mắt trợn con 1 cái là con hoảng hồn luôn, là con cúi đầu xuống “mô Phật, trời ơi”, thấy được liền, con sợ liền. Tại vì đọc được cái ngũ uẩn rất là thâm sâu, sắc bén, bén nhạy. Mà có thể bản thân người đó họ cũng không biết là đang sân, đang khó chịu. Cái ánh mắt họ nhìn mình 1 cái là té lửa, rực lửa ra. Mà học trò đó, mà nhìn giáo thọ sư như vậy thì con “mô Phật”, cúi lạy. Chắc con còn nói được bao nhiêu không biết, thôi vài bữa hết nói được thôi bỏ qua. Thiệt sự như vậy, là tại vì sao? Tại vì cái Thánh trí huệ này, nó phá vô ngay những cái món ruột của mình. Những cái mà mình nuông chiều nhất thì bị cái Thánh trí huệ này nó đạp tơi tả, tới tấp, đập tan tành hết.

Mà 1 là chống đối, còn 2 là thành Thánh. Mà đa số người tu dòng pháp Nikāya, tu cái Chánh pháp, thì cái đầu tiên và quan trọng nhất là diệt cái tâm chống đối mới tu được, cái này quan trọng vô cùng. Sư phụ con dạy con lúc đầu con không có biết, mà mình tu hai mươi mấy năm rồi, 28 năm trời. Mà bây giờ bậc đạo sư dạy cho mình kêu tu tâm hiền, mình nghĩ trong bụng: “Ũa con không có hiền hay sao mà kêu con tu tâm hiền?” Thì bây giờ mình mới thấy cái ý nghĩ đó là cái ý nghĩ không có hiền, hung dữ, chống đối liền. Không có nói ra miệng, nhưng mà trong bụng chống đối. Mà cái này là chung hết trơn, ngũ uẩn nào cũng vậy, cái này mà không diệt được thì không tu được.

Thật sự đánh tiếng chuông mình cũng phải hiền nữa, vì cái chuông nó nhỏ, không gian nó lớn, chứ đúng ra đánh nhẹ thôi. Nhưng vì cái điều kiện, có khi con thấy dưới kia buồn ngủ quá nên con mới đánh mạnh cho tỉnh. Cách đánh chuông cũng phải có Chánh niệm, cái thiện trong đó. Nhiều khi đánh tiếng chuông cũng là lợi hại lắm, phải không con thưa các thầy, các cô? Nhiều khi tâm đang lơ ngơ, lờ đờ, lờ mờ, thả hồn trên mây gió, tự nhiên nghe tiếng chuông cái giật mình. “Mình đang ngồi trong lớp học nghe trời”, kéo cái tâm đó trở về, cái tâm vất vơ, vất vưởng, cái tâm lang thang, vô gia cư, tâm lãng tử. Mà mình nói cho nó mạnh hơn nữa là cái tâm cô hồn, cái từ đó thật mà đúng.

Mà cái tâm này là nó dẫn mình đi vào thế giới của ngạ quỷ, cái này rất nhiều à nha. Ác nghiệp, nó cộng với cái tâm vất vơ, vất vưởng, lang thang, ngẩn ngơ, “tôi buồn chẳng biết vì sao tôi buồn”. Cái tâm này ghê lắm, nếu cái tâm hồn thi sĩ nếu mà tu đúng Chánh pháp là cũng tiến bộ lắm, mà tu không đúng Chánh pháp là nó đi theo ngã khác là nó cũng tiến, mà tiến đâu không biết. Cho nên quay lại ở đây là gì? Là cái tâm hiền và sự nhiếp phục bản ngã là tuyệt đối quan trọng. Tâm hiền, cái khiêm hạ, nói vậy cho dễ, tức là diệt ngã, diệt trừ cái chấp ngã là tuyệt đối quan trọng. Quyết định tu được hay không được là ở 2 cái pháp này, nếu mình không có 2 cái pháp này là mình tu không được.

Cho nên mong quý thầy, các cô mà chịu thì về nghe chủ để, loạt bài “Tầm quan trọng của tâm hiền trí”, 9 cái pháp an trú tâm của ngài Xá-Lợi-Phất, tuyệt đối quan trọng. Bây giờ cái bài này chúng ta học là nó nhiều cái hay lắm, cái thứ 3 là: “Khi được tiếp xúc với trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật trong nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya, trí tuệ của hành giả được mở rộng. Hành giả được nghe biết đôi phần về trí tuệ thâm sâu, vi diệu của Đức Phật thông qua các bài thuyết giảng của Ngài. Và đối diện cách xử trí của Ngài trước các cuộc cực vấn, chất vấn của ngoại đạo”. Cái này đọc tổng Trung Bộ kinh chúng ta sẽ thấy trí tuệ của Đức Phật, nhiếp phục, bẻ gãy những cái lý luận bản ngã, chấp thủ. Những cái lý luận siêu hình, những cái lý luận gọi là mê tín.

Như bài kinh “Phạm Võng”, là 62 cái kiến chấp của ngoại đạo, mà gom gọn lại là chấp ngã, gom sâu hơn cuối cùng là cảm thọ, nó nằm trong cảm thọ. Mà chúng ta tu là nhận diện cái gì? Nhận diện ngũ uẩn để thấy được cảm thọ, nó thâm sâu lắm. Có 1 vị giám đốc của 1 công ty mới gửi con bài trình pháp, khi mà trình pháp với chủ đề “Nhận diện thâm sâu về cảm thọ”, chính là bài chúng ta học lớp ở dưới đó, bộ đó hình như 5,6 buổi. Thì vị này nhờ tu học cái đó, mà bây giờ thay đổi, được thành công, làm chủ cái cảm xúc của mình trong việc lãnh đạo công ty. Vị này cảm ơn vô hạn, cảm ơn rất là nhiều. Cho nên chúng ta tu xuất gia mà không nhận diện được cảm thọ, thì nó uổng lắm, rất là uổng.

Thầy mà đọc bài hôm trước, hôm nay không có đi học, thầy nào có giọng đọc thì đọc dùm con, hôm nay con lên lớp 8 tiết rồi. Vị nào có giọng tốt tốt, đọc chậm rãi, để cho mọi người có cảm nhận, cảm thọ. Đây là bài trình pháp của vị mà con không biết mặt, không biết tên là ai luôn, gửi lên con biết hiệu quả tu học vậy thôi. Cứ đọc chậm rãi, cho mọi người cảm nhận được sự tu học.

III. Cảm nhận khi tu học

Bài trình pháp:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính đảnh lễ sư phụ, con kính bạch sư phụ, con suốt đời cung kính, tôn trọng và biết ơn bậc đạo sư, ân sư Chơn Tín Toàn, người đã đưa con đến dòng Thánh pháp. Từ những năm 2019, con nỗ lực tu tập tại gia, với khát khao tột cùng, suốt đời, được thành tựu Thánh pháp, được đứng vững trong dòng chảy của Thánh pháp. Con biết ơn những bài giảng bài giảng của sư phụ, đã cho con thêm hiểu những bài kinh của Đức Phật. Sự nhiệt tâm với lòng từ mẫn của sư phụ, đã cảm hóa con. Tấm gương sáng ngời của sư phụ, chính là động lực giúp con tinh tấn tu học mỗi ngày. Con là chủ của 1 công ty chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản, ngay từ nhỏ khi được tiếp xúc với những nông dân chân lắm tay bùn, vất vả trồng trọt, nhưng sản phẩm do họ làm ra luôn trong vòng lẩn quẩn “được giá mất mùa, được mùa mất giá”.

Với sự cảm thông và lòng thương yêu, con mong ước sau này được phụng sự nhà nông. Phải đưa được nông sản Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài, để nâng cao giá trị cho sản phẩm của nông dân nước mình, giúp nông dân sống vững vàng với nghề nông nghiệp. Với suy suy nghĩ như vậy, con cố gắng thi vào trường đại học ngoại thương, sau này cố gắng đi học nước ngoài, để tiếp xúc gần hơn với các nghành hàng và tìm cơ hội xuất khẩu nông sản. Con luôn cố gắng thực hành pháp trong đời sống và trong việc kinh doanh, áp dụng tinh hoa Nikāya vào cuộc sống và thương trường. Cố gắng sống thật đẹp với Chánh pháp, con xin được trình pháp như vậy ạ.

Có vị đã chửi mắng con rất thậm tệ, vị này là người con đã cưu mang, tạo công ăn việc làm cho cả 2 vợ chồng, giúp đỡ tiền bạc và nơi chốn. Khi ấy bắt đầu họ bước vào nghề, đến nay họ muốn tách khỏi công ty, tìm đến chỗ khác để khởi nghiệp, nên đặt điều nói đủ thứ không có thật về con. Khi nghe những lời ấy, trong lòng ngực con bỗng dâng lên cảm giác nghẹt thở, như lồng khí đọc mạch theo sự tức tối, bóp chặt tim con. Nhưng do lúc đó con Chánh niệm với cảm giác toàn thân, con đã nhận ra đây chính là thọ do nhĩ xúc sanh, do nhãn xúc sanh. Trước đây không có xúc nào, thì đâu có cảm thọ này. Khi ý thức được điều đó, thì con tác ý thật mạnh: “Mình không chấp nhận cái cảm thọ bực tức và đầy sân hận này, thọ này hãy biến đi. Ta sẽ đánh đuổi mi, hỡi cảm thọ khổ, khốn nạn này”.

Rồi lại tự an ủi: “Thọ già cõi tỷ tỷ, bà cố nội thọ ơi, bà đã khổ bao nhiêu kiếp rồi, bà muốn khổ tiếp sao?” Rồi con trải tình thương đến bà thọ già này, trải tình thương khắp thân mình, rồi trải tình thương đến vị ấy. Vì vô minh mà vị ấy đã hành xử như vậy, thật xót thay. Do nhiếp phục được sự sân si với cảm thọ, mà con đã không buông lời nào tới vị ấy. Tất cả đều giải quyết trong sự im lặng, và vị ấy cũng rời bỏ nhóm trong im lặng. Sau đó có 1 sự mừng vui thực sự đã khởi lên trong con, như đã trải qua 1 thương vụ kinh doanh thành công mỹ mãn. Con vui vì đã chiến thắng chính mình, “bà cố nội thọ, con vui vì mình đã thực hành theo đúng Chánh pháp.

Con vui vì mình đã có Chánh pháp dẫn đường, khi còn bị mù lòa, mò mẫm đi trong cuộc đời cay đắng, oan nghiệt này”. Con sẽ cố gắng tu tập, nhiếp phục những ái, tham, sân, si đối với ngũ uẩn. Để xứng đáng là người con Phật chân chánh. Con xin cúi đầu cám ơn sư phụ, đã miệt mài, từ mẫn chỉ lối, dẫn đường, con xin cúi đầu đảnh lễ.”

IV. Cảm thọ

Chúng ta có nghe cái từ là “bà cố nội thọ”, nghe nó lạ, nhưng mà từ đó có ý nghĩa rất là sâu sắc. Tại vì cái thọ của mình, cái tuổi của nó là nó lâu không ạ? Vô lượng, vô biên kiếp huân tập trong cái cảm thọ, cho nên kêu là bà cố nội vẫn còn nhỏ. Người ta muốn diễn tả cảm thọ trong con người mình, là nó huân tập tập vô lượng, vô số, vô biên kiếp. Mà nếu không có Thánh trí tuệ để nhìn ra được, là không bao giờ ai thấy được. Nếu không có bậc Chánh đẳng Chánh giác chứng ngộ về ngũ uẩn, thì không ai chỉ ra nổi về cảm thọ này hết. Chúng thấy mỗi người có 1 tính cách khác nhau phải không? Là do cái cảm thọ đó. Chính vì sự huân tập ở trong cảm xúc, cảm thọ, cảm giác của mình, cho nên mỗi người mỗi tánh không ai giống ai.

Mà có giống chăng là giống tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái, cũng bao nhiêu đó thôi à, nó nằm ở trong đó thôi chứ không có đi ra được. Chúng ta thấy 1 người cư sĩ, 1 doanh nhân mà tu học như vậy. Bị người ta mắng, người ta chửi, người ta hủy nhục như vậy. Mà cái người này là người mà họ từng cưu mang, giúp đỡ, hỗ trợ. Họ không có nói 1 lời nào hết, dùng cái Chánh pháp để hóa giải cảm thọ. Chúng ta thấy có đáng cho 1 tràng pháo tay không? Chúng ta người xuất gia, chúng ta phải coi kỹ sự tu của mình. Chỉ có trong huynh đệ, đâu chuyện chút xíu không có gì hết trơn. Cái chuyện nhỏ nhặt, vụn vặt mà mình tu không được nữa thì uổng, uổng công cạo đầu, uổng công xuất gia.

Nhiều khi con thưa các thầy, các cô chứ chắc cũng tại mình đã tu nhiều đời rồi. Từ ngày con đi vô chùa, là con không có biết hơn thua với huynh đệ 1 chút nào hết trơn. Con không bao giờ để tâm đến, con thấy mấy cái chuyện đó là chuyện của mấy người gọi là rất hạ liệt, thấp kém, con nít, ấu trĩ. Tức là trẻ con mới đi làm những việc như vậy, thậm chí đệ tử con đi ra rồi nói xấu lại, con nghe thì con cũng: “Dạ, chắc cái nghiệp quả của mình không sao hết”. Mình quán cái nghiệp quả của mình thôi, không sao hết, chấp nhận. Tại vì mình thấy những cái chuyện đó rất là bình thường, tại vì cái tâm của chúng sanh là nó như vậy.

Mà chuyện quan trọng là chuyện mình nhiếp phục được tham, sân, si, bản ngã của mình không nè. Cái cảm thọ của mình khi nghe lúc đó nó như thế nào nè, cái đó mới quan trọng. Còn cái chuyện người ta nói cái gì đâu có quan trọng, cho nên nhiều người lại nói: “Thầy nghe người ta nói thầy vầy vầy không? Con nói: “Dạ con không có nghe”. Mà sau đó con cũng không có hỏi là nói gì luôn, con thấy nó không quan trọng. Thì nói cái gì cũng là cái tâm tham, sân, si, bản ngã, vô mình. Mình nghe thì mình càng xúc, đặng mình sanh cảm thọ tiêu cực thôi chứ đâu có gì đâu. Từ ngày đi tu tới bây giờ, con thưa thiệt với các thầy, các cô, không bao giờ con để tâm vô chuyện thị phi, đúng sai trong chùa người này nọ kia, không có.

Tại vì mình thấy cái đó không liên hệ đến mục đích, mình nhớ không ạ? Cái cụm từ rất quan trọng trong pháp hành Nikāya đó. “Không có liên hệ đến mục đích”, là không nói, không nghe, không làm, không suy nghĩ. Thí dụ người ta nói: “Bữa nay sầu riêng lên giá”, thì có liên hệ đến mục đích không? Sư cô nói có hả? Sầu riêng lên giá mà có liên hệ đến mục đích hả? Con đang nói đến mục đích của người tu mình, là đoạn tận tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Người ta nói những cái chuyện như vậy đó, thì mình không quan tâm. Người ta nói cái chuyện giúp cho mình diệt tham, sân, si, bản ngã thì cái này quan tâm. Chỗ này là chỗ quan trọng, bởi vậy mình có được trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật thì mình mới nhìn ra được cái này.

Còn nếu mà không là mình khổ lắm, người ta nói chút xíu là mình cũng khổ. Người ta chỉ cần muốn mình bực bội, người ta nói 1 câu, người ta nhìn mình 1 cái là mình cũng khổ, mình bỏ ăn, bỏ ngủ. Tội nghiệp quá! Đáng thương quá! Mình giống như con rối vậy, người ta muốn giật sao thì giật à. Chúng ta biết con rối không? Con rối là người ta muốn giật kiểu nào thì giật, người ta muốn ngã qua đây thì giật qua đây, muốn qua kia thì giật qua kia à. Hễ người ta khen là mũi hỉnh lên, người ta chê cái mặt sụ xuống. Tại sao mình lại làm con rối? Nói cái này mới nhớ tới câu chuyện.

Có lần Đức Thế Tôn đang đi khất thực với các vị Tỳ-kheo, sau lưng Ngài có 2 người, sự phụ và đệ tử. Đệ tử thì tuyên dương, tán tháng Đức Phật hết lời luôn, không có còn 1 lời nào nữa, khen ngợi Đức Phật hết mức luôn. Còn sư phụ thì ổng chửi: “Giựt đệ tử tôi, dụ đệ tử tôi”, ổng nói Đức Phật thậm tệ hết. Đức Phật thì đi yên bình thản, không có chuyện gì hết trơn. Ông sư phụ ổng tức quá, ổng nhảy ra hỏi: “Nãy giờ có nghe tôi chửi hay không? Nãy giờ Sa môn Gotama có nghe tôi chửi hay không?” Đức Thế Tôn bình thản, nhẹ nhàng, an tịnh: “Bây giờ ta nói ví dụ, nếu như ông cho quà người ta mà người ta không nhận thì sao?” Sư phụ trả lời: “Nếu như ông không nhận quà thì cái đó về tôi”. Thì lúc đó ổng mới giật mình lại: “Vậy nãy giờ mình cho Đức Thế Tôn không có nhận, chửi nãy giờ Ngài không có nhận vậy là tự chửi mình hết trơn rồi”.

Ngài nói rất bình thản, mà mình thấy 1 cái tâm mà không có trầm tĩnh, không có Chánh định, không có sáng suốt thì làm sao nói được những cái đó. Khi bị người ta chửi là con mắt mình mờ, lỗ tai mình lùng bùng hết trơn phải không? Lúc mình bị chửi thì mình có bình tĩnh, sáng suốt nói ví dụ, làm thơ không? Đức Thế Tôn là cái tâm Ngài như vậy đó. Tâm bình thản, bất động, hoàn toàn an tịnh, hoàn toàn lắng dịu. Cho nên Ngài nói lấy ví dụ cho đồ mà người ta không nhận, thì đồ đó trở về người cho, Đức Phật chỉ nói vậy thôi, Ngài không nói gì thêm. Sau chuyện đó rồi thì Đức Phật mới kêu các vị Tỳ-kheo lại Đức Phật chỉ: “Này các thầy, nếu cho ai xưng vươn, ca ngợi, tán thán, cúng dường, đảnh lễ, tôn trọng các thầy, các thầy đừng có vội mừng. Nếu có ai mắng chửi, chỉ trích, chê bai các thầy đừng có vội buồn. Chánh niệm, tĩnh giác, trú xả.”

Chánh niệm, tĩnh giác tâm ở trong cảm thọ buông bỏ, xả thọ. Mà muốn như vậy chúng ta nghĩ cái nội công thâm hậu không? Muốn tu được như vậy là hàng ngày chúng ta luyện công công phu như thế nào, chứ đâu phải tư nhiên mà nói vậy. Cho nên Đức Phật nói tới đâu là người ta ngộ đạo tới đó là như vậy, Ngài làm được, người ta chứng kiến những gì Ngài nói. Mình bây giờ kêu đừng có giận, đừng có sân, trải tâm từ, mà người ta mới đụng mình 1 chút cái sừng sộ lên vậy mình dạy ai, thấy chưa? Đó là tại vì mình không có tu tập cảm thọ, không có diệt bản ngã, không có làm lắng dịu những cảm giác sân hận. Mình không có làm cho sung mãn những cảm xúc của từ tâm, cảm thọ của tình thương, cho nên mình rất là dễ bực bội, sân si, tức giận.

Trí tuệ của Đức Phật là trí tuệ thấy được ngũ uẩn, an tịnh và lắng dịu được các cảm thọ. Tâm của Ngài ở trong sự bất động, giải thoát. Thì mình học ở trong Tương Ưng Bộ là chỗ thâm những pháp hành tột cùng, Trung Bộ là thấy được trí tuệ thể hiện ra ngoài của Đức Phật, bẻ gãy được những tư tưởng tà kiến ngoại đạo. Đọc Trung Bộ mình sẽ thấy độc đáo lắm, những cái ví dụ, lý luận, những cách Ngài ứng xử với các ngoại đạo, Bà-la-môn giáo. Đọc vô trong đó giống như mình xuyên không 2600 năm, trở về mình chứng kiến bậc Chánh đẳng chánh giác tuyên thuyết, gầm lên “sư tử hống”. Đọc trong đó mình thích thú, hân hoan, hỉ lạc, hạnh phúc, sung sướng. Giống như mình trú trong sơ thiền, pháp lạc, pháp hỷ, pháp vị thắng mọi vị (mọi hương vị trên thế gian này), pháp hỷ thắng mọi hỷ, pháp thí thắng mọi thí, ái diệt thắng mọi khổ.

Một khi cái tâm tham ái của mình được diệt tận rồi, thì nó vượt qua tất cả khổ đau. Hãy sung sướng và hạnh phúc, hân hoan ở trong cái pháp, thì mới có được những cảm giác ở trong sơ thiền. Nó mới nuôi lớn mình ở trong Thánh nhũ, pháp nhũ, thuốc bổ, siêu vitamin của bậc tối tôn, tối thượng, Chánh đẳng chánh giác. Ngày nào mình cũng uống Thánh nhũ, uống pháp dược, uống những chất bổ dưỡng nhất, cam lồ thần dịu. Trong trí tuệ của bậc thế gian giải, chánh biến tri, vô thượng giác. Như vậy mà mình không lớn mạnh cái pháp thân sao được, cái pháp thân của mình nuôi lớn lên, mập lên, có chân đứng trong pháp và luật vững chắc, vững trú, vững mạnh.

V. Lợi ích thứ 4

Còn bây giờ mình tu mà mình không có thấy, đọc kinh lên đơ đơ: “Buồn ngủ”, mình đâu có cảm thọ được pháp. Cho nên lợi ích ở đây là: “Được tiếp xúc với trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật”. Cho nên người tu đúng Chánh pháp sẽ có được hạnh phúc, an lạc, thú vị, pháp vị, pháp hỷ, thù diệu tối thượng này. Lợi ích thứ 4: “Pháp học, pháp hành được mở rộng, không bị gò bó. Trong khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, hành giả thấy biết được pháp học, pháp hành. Đã được Đức Phật trình bày đa dạng với nhiều hình thức, nhiều gốc độ, nhiều khía cạnh. Hành giả học hỏi được nhiều cách tu tập, nhiều phương tiện tu tập, không bị hạn chế, bó buộc trong một phương tiện tu tập, theo một cá nhân, 1 tông phái nào”.

Một điều đặc biệt may mắn cho con thưa các thầy, các cô là từ ngày con xuất gia tới giờ không có quan niệm tông phái. Cái này thật là may mắn cho con, thật là hạnh phúc cho con, thật là an lạc cho con. Con không có tư tưởng tông phái, chỉ tìm cầu cách diệt khổ đau thôi, chính vì vậy nên cuối cùng tìm ra được. Nếu mình có tư tưởng tông phái là sẽ bị phiến diện, cái thấy biết của mình sẽ bị góc cạnh, không có thấy được phổ quát của cái pháp. Như ông tu cái này thì nói cái này đúng thôi à, ông tu cái kia thì chỉ tu cái này mới là số 1, cái ông tu cái nọ thì nói chỉ có cái này mới là số dách, ông tu cái kìa nói tu cái này mới là number one.

Mà giáo pháp Nikāya là không có chuyện đó, như bây giờ ông bác sĩ trị lỗ mũi, nói lỗ mũi mới là số 1; ông làm răng nói làm răng là số 1, ông trị bao tử nói bao tử là số 1, ông trị gan nói gan mới là số 1…thì cuối cùng cái nào mới là số 1? Trong cơ thể mình có bệnh cái nào thì cái đó nó bất ổn, phải trị hết, trị đúng cách. Chỗ này là chỗ rất quan trọng, 1 khi mà mình đã có 1 cái nhìn hạn hẹp, chấp thủ, phiến diện, khía cạnh rồi thì học không có đi đến cái pháp tánh, mình sẽ học học đến tận cùng của giáo pháp được. Cái chùa đâu phải chỉ có cái nhà khách, chỉ có cái bếp, cái giảng đường, cái Chánh điện, mà tất cả cái đó cộng lại hết mới ra được cái chùa đầy đủ.

Cũng vậy, pháp của Như Lai là phải đầy đủ 37 phẩm trợ đạo, con mắt nó làm việc của con mắt, cái chân nó làm việc của cái chân chớ. Chứ đâu thể con mắt cướp việc của cái chân, rồi thành cụt chân rồi sao, thấy chưa? Cho nên Chánh kiến không cũng không được, mà phải Chánh tư duy. Thấy đúng thôi chưa đủ, mà phải nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng, đầy đủ 8 đúng của bậc Thánh. Phải đầy đủ 8 đúng, thiếu 1 cái thôi không thành tựu, không có sơ quả, nhị quả, tam, quả, tứ quả. Ngài Subhadra: “Trong giáo pháp nào mà không có Bát chánh đạo, là nơi đó không có đệ nhất Sa-môn, không có đệ nhị Sa-môn, không có đệ tam Sa-môn, không có đệ tứ Sa-môn. Chỉ trong pháp luật nào có Bát chánh đạo, là nơi đó mới có đệ nhất Sa-môn, không có đệ nhị Sa-môn, không có đệ tam Sa-môn, không có đệ tứ Sa-môn”, là bốn Thánh vị.

Còn bây giờ mình tu học, cái pháp hành của mình có Bát chánh đạo không? Im re hết rồi. Chỗ này là con đang thao thức trong vấn đề đào tạo, nhất là các lớp giảng sư sắp tới này. Bây giờ ta học cứ học pháp hành pháp học, kiến thức Phật học không à. Rồi kiến thức mình 1 đống, mà mình không có tiêu hóa được cái kiến thức. Bây giờ hỏi cái Chánh kiến, bây giờ thử coi tại vì không có thời gian. Con sẽ xin trên ban các vị tôn đức lớn, là cho chúng ta mỗi 1 tuần phải có 1 ngày pháp hành, phải thực thanh, chúng ta học lý thuyết không là không được. Bây giờ con hỏi từng người trả lời cho con: “Chánh kiến như thế nào?” Thì lúc đó chúng ta sẽ thấy sự thật nó hỡi ôi như thế nào.

VI. Chánh Kiến

Từng người con kêu lên hết, thi khỏi cần viết bài gì hết, lên hỏi: “Chánh kiến là cái gì?” Chấm điểm ngay tại chỗ đó, không cần viết bài, về coppy gì hết trơn, hỏi ngay tại chỗ liền. Bây giờ trả bài đi, ai xung phong, những giảng sư tương lai của con. Rồi mời thầy, cho 1 tràng pháo tay đi.

Giảng sinh 1:

“Dạ mô Phật, thưa thầy cũng đại chúng. Theo giáo lý của Phật dạy về Chánh kiến, có nghĩa là 1 cái thấy chơn chánh, đúng đắn. Nhưng mà chúng ta phải thấy ở các phương diện như sau: Chúng ta thấy về 3 phương diện “tam pháp ấn” của Đức Phật dạy, đó chính là vô thường, khổ, vô ngã 1 cách tận tường. Về giáo pháp của tứ đế, trước tiên chúng ta thấy về cặp nhân quả của thế gian, về khổ. Thì thường thường, chúng ta sẽ nhìn nhận cuộc đời này con nói chung là qua bát khổ và tam khổ. Thì bất cứ chúng ta ở nơi đây, nếu mà chưa có chứng đến bậc sơ quả đến tứ quả, thì chúng ta lúc nào cũng chịu những cái khổ đó. Bát khổ và tam khổ giống như thầy nói, là luôn luôn ập tới chúng ta 1 cách đột ngột, đột quỵ, đột tử. Là nó lúc nào cũng bao quanh chúng ta, người thân của chúng ta và tất cả mọi người.

Chúng ta phải thấy về cái khổ là như vậy, đó chính là cái quả mà nó hiện ra, do cái nhân là sự kết tập các chủng tử mà chúng đã gieo, các hành nghiệp chúng ta đã gây tạo từ kiếp này, hoặc rất nhiều kiếp về trước. Mà Đức Phật nói là thai tạng của nghiệp, là kết quả của nghiệp. Mà mình đã kết tập những tật xấu của chúng ta là tham, sân, si, mạng nghi, ác kiến, thân kiến, tà kiến, chấp thủ…Đó chính là những sự kết tập vững chải của nghiệp. Và chúng ta muốn thoát được sự khổ và nguyên nhân của khổ, thì chúng ta phải hướng đến sự nhân quả của xuất thế. Đó là chúng ta luôn nhìn nhận rõ về việc, đó là sự có mặt của trạng thái hạnh phúc gọi là Niết-bàn. Cái trạng thái này đối lập với trạng thái khổ đau, bứt bách, khó chịu.

-Thầy: Nói gọn thôi, tóm tắt Chánh kiến là gì?

Dạ Chánh kiến là thấy rõ về con đường tứ diệu đế, thông qua con đường tam pháp ấn, đó chính là khổ không và vô ngã.”

Giảng sinh 2:

“Kính bạch trên thầy là thầy có dạy, Chánh kiến là cái thấy của bậc Thánh. Thấy rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thấy những cảm giác, hình bóng trong tâm, thấy về ngũ uẩn, cảm xúc hiện hữu của mình. Thấy về cảm thọ, mình biết được cảm thọ lạc, khổ, không khổ không lạc.”

Cho 1 tràng pháo tay đi, rồi tiếp theo.

Giảng sinh 3:

“Kính bạch trên thượng tọa, trong kinh “Chánh tri kiến” nói rằng Tỳ-kheo, Thánh đệ tử thấy rõ về khổ, thấy rõ về con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ đó là Chánh kiến. Và ở trong kinh “Chánh tri kiến, thì Chánh kiến tức là thấy rõ về thiện và nguồn gốc của thiện, thấy rõ bất thiện và nguồn gốc của bất thiện. Nguồn gốc của thiện là bất tham, bất sân, bất si. Nguồn gốc của bất thiện là tham, sân, si. Và trong 1 bản kinh còn nói Chánh kiến tức là vị Tỳ-kheo, Thánh đệ tử thấy rõ được sự tập khởi của cái chết, sự đoạn diệt của cái chết và con đường đưa đến sự đoạn diệt nó. Chánh kiến là thấy rõ và phá được 5 cái tà kiến, trong đó là chấp về thường đó là con đường thứ 3.”

Rất tốt, cho 1 tràng pháp tay. Có học bài, có đọc cuốn tinh hoa Nikāya. Chúng ta tiếp tục, nãy có sư cô bên đây giờ tay, chúng ta cứ tiếp tục. Mạnh mẽ lên, nhiệt tình, hợp tác, xung phong.

Giảng sinh 4:

“Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên chư tôn đức là con có nghe pháp qua trên trang mạng của thầy, con có nghe và hiểu về Chánh kiến. Đó là thấy rõ ngũ uẩn là khổ, sự có mặt của ngũ uẩn là khổ, sự có mặt của cái mũi này là khổ, sự có mặt của cái thân này là khổ…vì nó muốn bệnh giờ nào thì nó bệnh, muốn chết giờ nào là nó chết, chứ chúng ta không thể làm chủ được. Vì thế thấy rõ ngũ uẩn là khổ, đó là Chánh kiến.”

Rất tốt, cho tràng pháo tay lớn luôn. Mỗi người 1 vẻ, 10 phân vẹn 10. Mạnh mẽ lên, nhiệt tình hợp tác, cho 1 tràng pháo tay trước luôn.

Giảng sinh 5:

“Dạ mô Phật, con kính bạch thầy. Chánh kiến là ví dụ như mình hiểu về nhân quả, mình biết có nhân quả, mình cho nhân quả là có, thì đó là Chánh kiến. Mình biết vô minh, tham ái là đưa đến luân hồi. Ác là đưa đến quả xấu, thiện sẽ đưa đến quả lành, thì đó cũng là Chánh kiến. Dạ con góp thêm được 2 ý đó ạ.”

Rất tốt cho 1 tràng pháo tay, nãy giờ là điều nói đúng hết, lớp này rất khá. Cho 1 tràng pháo tay lớn luôn.

Giảng sinh 5:

“Thưa thầy, Chánh kiến trong kinh Tương Ưng có dạy rằng Chánh kiến biết Chánh kiến được gọi là Chánh kiến, tà kiến biết tà kiến được gọi là Chánh kiến. Có nghĩa là người đó theo con được học bữa giờ bên thầy, thầy nói là thấy đúng. Thì như vậy 1 con người có tà kiến, họ biết họ tà kiến, thì họ sẽ biết các pháp sanh khởi và nhân duyên sanh khởi của nó. Người mà nhận biết được tà là tà, thì họ đã có cái thấy đúng ở đó, họ không thể sai vào. Chánh kiến là thấy rõ được khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. Chấp vào 5 thủ uẩn là khổ đế, tập đế là nguồn gốc của khổ đó là có tham, sân, si đối với ngũ uẩn. Còn diệt đế là diệt tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái.

Con đạo đế là 8 chi phần, đó là con đường của chư vị Thánh giả đã đi và đã thành tựu. Bao gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Để thành tựu tu tập 1 chi phần, thì các chi phần kia sẽ hỗ trợ. Tu bát Chánh đạo sao để gọi là viên mãn, là thành tựu Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ của bậc Chánh đẳng giác.”

Giảng sinh 6:

“Con kính bạch trên thầy, và toàn thể huynh đệ trong lớp. Chánh kiến là thấy rõ sự sanh diệt 5 uẩn, theo kinh Trung Bộ thì mình phải thấy biết về khổ tập, diệt và đạo. Thầy có dạy về Chánh kiến là thấy về 5 uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, và thấy sự sanh diệt và chi phối của 5 uẩn.”

Giảng sinh 6:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên thầy, nói về Chánh kiến dựa trên bát chánh đạo, thì 1 hành giả mà mà tu tập theo giáo lý của Đức Phật. Thì ở đây có 2 cái phương diện, thứ 1 là phương diện rõ các pháp thế gian gọi là tục đế, phương tiện đối đãi với nhau trong cuộc sống thì chúng ta biết rằng đó là sự hỗn tạp. Cho nên sống trong thế gian, không thể nào mà tránh khỏi những cái phiền lụy. Cho nên người mà có Chánh kiến, sẽ nhận ra được đâu là chánh, là tà. Dựa trên nền tảng qua đạo đế, tứ diệu đế, qua chân lý Đức Phật đó là phương diện rộng. Đó là con ví dụ như về về tục đế, còn chân đế là cá nhân. Ở đây có nghĩa là mỗi 1 hành giả, nếu đã phát tâm tu tập theo giáo lý của Đức Phật trên nền tảng tứ Thánh đế.

Thì mỗi người hãy nhận rõ được, mà nhất là bản thân thấy rõ được ví dụ như hồi này, 1 giảng sinh cũng có nói về ngũ uẩn thầy đã dạy cho chúng con 2 năm qua. Thủ uẩn như cái thân này, không đầy 1 sải tay đều có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhưng đó không phải là khổ. Cái khổ theo cái nhìn của Chánh kiến chúng ta thấy, thủ là sinh ra tất cả các khổ. Ví dụ như ngũ uẩn là ngũ uẩn, chúng ta nói bình thường thì nó không sanh ra khổ. Nhưng chúng ta chấp thủ, chấp vào đúng sai mà chúng ta không có thực tập được cái từ tâm của mình. Thí dụ như hồi nãy thầy xuống hỏi con cũng vậy thôi, thầy hỏi: “Sao con không ngồi bên này?” Thì con nói: “Nóng quá nên con chạy qua đây có quạt”.

Thì thầy nói tập trung cảm thọ, thì con nghĩ cũng là cái hay. Nếu mình thực tập được, thì cái nóng này chưa phải là cái nói để mình phải chạy. Thì dù chỉ là đơn giản thôi, mà đây là nói tánh lăn xăn, tìm chỗ này chỗ khác. Con nghĩ chánh kiến là nên tập trung vào chân đế và tục đế, hai phương diện để bỏ đi sự chấp thủ của mỗi cá nhân, thì đó là sự thấy Chánh kiến. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Và thầy cũng chưa có trở về chỗ ngồi của thầy, chỗ này là chỗ rất quan trọng. Hồi lúc trước Minh Thành chưa có đi vào chuyên nhất về Nikāya, thì cũng hiểu giống như thầy vậy đó. Khổ là do mình chấp thủ, cái đó là đúng mà nó chưa đủ. Tại vì Đức Phật nói: “Sắc là khổ”, còn chấp thủ thì có thọ, tưởng, hành, thức thôi à. Sắc cái bản chất nó khổ, nó có vô thường không? Nó có tan hoại, tan nát, hủy hoại không? Cho nên 1 số người nó: “Bản chất của đời sống này nó không có khổ”, nói vậy là không có đúng. Cái này sâu sắc lắm, khi mình học Nikāya, mà có sự nghiêm túc trong nghiên cứu đầy đủ những lời dạy của Đức Phật, thì lúc đó mình mới có 1 Chánh kiến.

Như bây giờ mình nói: “Khổ hay là hạnh phúc là do tâm mình thôi”, thì không phải. “Do tâm mình mình hạnh phúc”, vậy những lúc mình bệnh trong bệnh viện đó, cái tâm mình hạnh phúc không? Ung thư giai đoạn cuối đó, cái tâm mình hạnh phúc không? Bị tai nạn giao thông đó, cái tâm mình hạnh phúc không? Nằm liệt giường, liệt chiếu như thực vật đó, cái tâm mình hạnh phúc không? Đó cho nên chỗ này là chỗ rất là sâu sắc. Trong phần khổ Thánh trí, mấy huynh đệ chịu khó nghe lại, trong mùa dịch Minh Thành có giảng về khổ Thánh trí. Là những bài kinh mà Đức Phật nói về khổ, nhiều khía cạnh, phương diện, góc độ ở trong Nikāya. Thành ra cái gì mình cũng nói do tâm không là không được, nó không có toàn diện.

Tâm vậy sao mình cần phải chạy đi mua cây quạt máy làm chi? Tâm thì đâu cần máy điều hòa, đâu cần cây quạt, tâm mình hạnh phúc là được rồi. Nhưng mà không phải, cái thọ thân ảnh hưởng đến cái thọ tâm. Cho nên Đức Phật nói: “Con mắt này là khổ, này các Tỳ-kheo. Sanh khởi, sự xuất hiện, sự an trú của con mắt này là sự sanh khởi, sự xuất hiện, sự an trú của khổ, già, chết, bệnh tật, bất tịnh”. Thì cái này nó mới thâm sâu, đầy đủ hết mọi phương diện, khía cạnh, góc độ. Chính cái này các bậc Thánh mới từ bỏ, mới thoát ra được. Chứ bây giờ mình nói: “Cuộc đời này hạnh phúc, không có khổ”, thì làm sao thoát khỏi xuất thế gian. Sao các bậc Thánh muốn từ bỏ ngũ uẩn, xuất ly khỏi ngũ uẩn.

Chỗ này là chỗ rất thâm sâu, chính vì vậy mà tu rất nhiều mà không có người đắc đạo, giải thoát, tại vì đâu có người nào thấy cái khổ nó toàn diện đâu. Như bây giờ mình nói ví dụ cho dễ hiểu nè, ở ngoài đời người này thương người kia bị thất tình, khổ quá khổ, giờ kiếm người khác lắm vô cho nó đỡ khổ. Tại vì họ nghĩ rằng, cái người sau này họ sẽ khác với người trước. Nhưng mà cuối cùng họ tìm rồi cũng bị khổ nữa, cái họ bỏ, họ kiếm người khác, mới có 5 con vợ ra chuồng bò ở. Cái thọ đi tìm không có được, tại vì cái bản chất của ngũ uẩn nó là như vậy, không thể khác hơn được. Cái bản chất nó là tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã, ngũ uẩn nào cũng giống như vậy, trừ các bậc Thánh.

Thành ra mình đi tìm 1 cái mà gọi là chân thành tuyệt đối, thì chỉ có các bậc Thánh mới có thôi à. Tâm của các bậc Thánh là tâm không có phản trắc, không có phản phúc, cái tâm chánh trực, cái tâm chân thành, hiền thiện, ngay thẳng. Cho nên trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn, dịu hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Tức là 4 đôi tám vị đệ tử của Thế Tôn là đáng được chắp tay, đáng được tôn trọng, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng của Chư thiên và loài người. Chỉ có những bậc thành tựu Thánh trí tuệ, cái tâm không có thay đổi, còn lại vô văn phàm phu là sẽ thay đổi liên tục.

Có 1 bài kinh “Nguồn Cội Của Khổ Đau”, Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, sắc là khổ. Thọ, tưởng, hành, thức là khổ. Thế nào là nguồn cội của khổ? Là sự chấp thủ, tham ái trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Cái đó là nguồn cội của khổ”. Thành ra bài kinh đó rất là thâm sâu, về nghe đi, bài thiền quán “Nguồn Cội Của Khổ Đau.” Đức Phật nói: “Sắc, thọ, tưởng, hành thức là khổ”, Đức Phật còn chỉ cho thế nào là nguồn gốc của khổ. Thì cái tâm tham ái, chấp thủ đó là nguồn gốc của khổ. Chứ không phải mình chỉ nói: “Tâm không à, mình nói cuộc đời này bản chất là không có khổ đau, không có hạnh phúc, chỉ do mình thôi à, do tâm mình thôi”, không phải.

Bản chất cuộc đời này là khổ, xác định rõ như vậy, mới nói khổ Thánh trí chứ. Chứ bây giờ mình nói mình học tứ đế, mình nói 1 hồi mình phủ nhận khổ Thánh trí, khổ Thánh đế của Đức Phật là rồi xong rồi. Cái đó gọi là “cha làm thầy mà con đốt sách”, cái này rất quan trọng. Mà cái này không có tinh vi, không có nghiên cứu 1 cách nghiêm túc, không có sự tu tập thì không có thấy được, không thể thấy nổi cái này. Mà người mà nhận thức được cái đó, và có 1 cái tâm hướng đến sự thoát ra khỏi ngũ uẩn, thì đây mới đi vào hướng dự lưu. Còn cái tâm mà chưa bao giờ mong muốn thoát ra khỏi ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là dù cho tu tới đâu vẫn là phàm phu.

Cho nên mình tu mà mình mong muốn đời sau hưởng cái này, hưởng cái kia đó, thì cái đó Đức Phật gọi là kiết sử. Hưởng cái này, cái kia là cái gì ạ? Là dục, tham, ái, tự ngã, là dính mắc vô trong lạc thọ. Mà lạc thọ nó là vô thường, làm sao đi đến chỗ hết khổ được. Chắc chắn là phải khổ tiếp, thành ra chỗ này là chỗ rất quan trọng mà chúng ta để ý 1 chút ha. Thôi chúng ta giải lao 15’, mà nhớ trong 15’ này chúng ta tiếp tục quán chiếu, tư duy nha.