Trà Đạo - Mở Kho Báu 1 - Thế Nào Là Chân Tu
Kinh NIKĀYA Giảng Giải
TRÀ ĐẠO - MỞ KHO BÁU 1 - THẾ NÀO LÀ CHÂN TU
−Thích Minh Thành−
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Phật tử chia sẻ PAGEREF _Toc104290969 \h 1
II.Tạng kinh Nikāya tối thượng PAGEREF _Toc104290970 \h 3
III.Trí tuệ năm uẩn PAGEREF _Toc104290971 \h 7
IV.Con đường xuất ly PAGEREF _Toc104290972 \h 12
V.Tu tập tâm từ PAGEREF _Toc104290973 \h 17
Phật tử chia sẻ
Hôm nay chúng ta uống trà đàm đạo trong tinh thần thân thiện, nhẹ nhàng. Mọi người có thể bộc bạch, chia sẻ hết những điều mình nghi ngờ, thắc mắc trong sự tu học, hoặc những trở ngại trên bước đường thực tập giáo pháp. Vì vậy, xin mời tất cả quý vị cứ trải lòng, mở rộng tâm của mình và có thể chia sẻ được hết tất cả những gì mà mình muốn chia sẻ với quý thầy.
Phật Tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con bạch thầy, con thưa quý thầy con thưa tất cả hội chúng. Con không biết là do âm thanh của bài nhạc, không khí hay là tất cả năng lượng từ tất cả đại chúng và tất cả cây cối ở đây, mà có một cảm xúc trào dâng không ngăn lại được. Con tự thấy mình chắc trong nhiều kiếp trước phải tạo nhiều duyên lành lắm nên giờ phút con được như vậy. Con muốn cảm tạ chư Phật, chư Bồ Tát ở trong nhiều kiếp trước đã giảng dạy cho con để kiếp này con được như bây giờ. Thứ hai là khi cầm tách trà trên tay con thấy mình chưa đủ công đức, chưa đủ đức độ, phẩm hạnh để nhận được tách trà. Thứ hai là con thấy tách trà này thơm ngọt nhưng sau khi nó vào người nó sẽ ra một thứ khác. Thật sự tự nhiên con ước muốn có một cái thân, một bộ máy nào đó có thể chuyển thành hóa những thứ thơm tho của trời đất, thành những thứ thơm tho hơn, con tự nhiên ước như thế. Con xin hết thưa thầy.
Phật Tử 2:
Trước hết là con không biết thủ tục nhưng con biết phải chào Phật, chào thầy, chào quý vị, tất cả mọi người. Như bữa trước con có tới chùa Bửu Liên trình bày là tại sao con tới gặp thầy. Đó là nhờ vợ con đã tìm ra được clip Chiến thuật tâm linh của Phật, bài giảng này chỉ ra cái chỗ tụi con bị kẹt mà tụi con không biết. Lúc đó con đã trình bày với thầy, nhưng cái thức và cái hành của con nó lặn mà con không biết. Ngày hôm sau con nghĩ ra là đã quên cảm ơn thầy. Con bị kẹt từ 1994, nhưng nhờ có thầy mà sẽ không vướng kẹt trong mấy chục năm. Lúc đó tự nhiên con thấy khác lạ lắm, nổi lên sự cảm ơn thầy, thành ra hôm nay nhân đây con xin cảm ơn thầy.
Phật Tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính quý thầy cùng quý vị Phật tử. Con cũng có cảm xúc như bạn đây (Phật tử 1) nhưng mà con rõ ràng có hai cảm xúc. Thứ nhất là do âm thanh của âm nhạc, do không khí này và do trước mắt chúng con là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, trước mắt chúng con là chư Tăng, chư Tôn Đức hết sức tôn nghiêm và rất là thanh tịnh. Cho nên những cảnh ấy, những âm thanh ấy đã tác động đến tâm thức của chúng con khiến cho ở đây ai cũng xúc động. Qua vài phút thôi nhưng con thấy được rằng từ vô lượng kiếp cho đến nay chúng con quá tệ, cho nên bây giờ vẫn ngồi đây nhưng vô minh vẫn còn dày đặc tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến vẫn còn đầy ắp trong lòng. Mặc dù chúng con lâu nay theo pháp môn niệm Phật, đạo tràng của chúng con đã mười mấy, hai mươi năm rồi, trình độ niệm Phật, trình độ định tâm qua câu Phật hiệu của mỗi cá nhân có lẽ cũng có một ít tiến bộ. Nhưng bên cạnh đó, cái tham, sân, si, những cái tiêu cực trong tâm vẫn còn tồn tại và thậm chí còn rất nhiều; nó đi lên theo chiều cao chứ không phải chiều ngang cũng như là không thể đi xuống được nữa. Và điều đó làm cho con rất đau lòng, con thắc mắc như vậy thì mình tu theo pháp môn này sai rồi sao? Như vậy thì Chư Tổ đã dạy mình như thế nào, mình ứng dụng ra sao và bây giờ tình trạng lại như thế. Rõ ràng là Chư Tổ dạy câu Phật hiệu ấy làm cho tâm của chúng sanh bớt ô nhiễm, được thanh tịnh đi cũng giống như thiền định vậy. Nhưng tại sao chúng con lại tu không khéo như thế này?
Điều thứ hai, tự bản thân con thấy rằng là lâu nay mình đi tìm một vị chân sư để có thể kèm cặp việc tu tập của mình, kèm cặp từng lời ăn tiếng nói, từng sự rèn luyện để tâm thức của mình được định tĩnh, có những điều tích cực hơn, thanh tịnh hơn; tham, sân, si, mạn, nghi bớt đi. Có thể gặp chân sư nhưng do ác nghiệp của mình quá nhiều, cho nên gặp nhiều chướng ngại giống như không gặp được hoặc nhận được sự dạy dỗ của chân sư nhưng mà mình không có ứng dụng được. Nhiều chướng ngại từ trong bản thân cho nên không nhận được sự tiến bộ tích cực trong quá trình tu đạo giải thoát của mình. Điều cơ bản nhất là đối xử giữa người với người với nhau, bạn với nhau, những quan hệ trong gia đình, hay bên ngoài bạn bè với đồng nghiệp, với xã hội… nhưng dù thấy con đường đó, biết con đường đó mà khi thực tập từng chi tiết, từng manh múng đều vẫn còn là rất tệ. Cho nên không khí này, âm thanh này khiến cho chúng con cảm thấy hết sức xúc động. Chúng con mong chờ được sự dạy dỗ của thầy sao cho tất cả những điều tiêu cực của chúng con nhờ bài pháp hôm nay và nhờ sự tu tập trong mấy ngày qua ít nhiều được giảm bớt. Chúng con mong có được kiến thức căn bản để chúng con có được phương pháp cụ thể, thiết thực nhất, biết đường mà đi để chúng con tiêu diệt tham, sân, si, mạn, nghi. Sau đó chúng con sẽ tiếp tục theo dõi, học lại những bài pháp thầy đã giảng trên youtube để chúng con thực hành, để cho câu Phật hiệu kết hợp với sự rèn luyện tâm sẽ có hiệu quả hơn. Chúng con sẽ đem kết quả ấy ít nhiều cúng dường lên Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật và đền ơn các vị chân sư cũng như quý thầy.
Tạng kinh Nikāya tối thượng
Từ lâu, Minh Thành nhìn nhận, thấy được chung chung người tu học bây giờ thường thích những gì cao siêu, rộng lớn. Mọi người dễ bị những ngôn từ hoa mỹ làm cho không thấy được thực pháp, không thấy được thực tế, sự thật. Cộng thêm một điều rất là quan trọng là giáo pháp của Đức Phật trải qua một thời gian dài nên có rất nhiều sự truyền thừa. Có nhiều vị cao tăng, danh tăng phát huy theo căn cơ, theo duyên của những vị đó, cho nên bây giờ giáo pháp muôn màu muôn vẻ. Khi tu học mình thấy vẻ nào cũng thích, vẻ nào cũng đẹp. Nếu nói ra thì có nhiều vấn đề lắm, nên bây giờ mình chỉ điểm vào những trọng điểm, để mình tìm ra mấu chốt vấn đề ở đâu? Tại sao mình tu học với những lý tưởng, mục đích rất là cao siêu nhưng trong đời sống bình thường, cách đối nhân xử thế giữa con người với con người, giữa tình người, tình thương, giữa tình bạn đạo với nhau, những đạo lý rất căn bản để làm người có khi cũng bị thiếu xót, có lúc mình mất niềm tin và hụt hẫng?
Điểm thứ nhất là mình học nhưng không đi lên từ nền tảng. Mình phải đi từ tiểu học, rồi trung học, đến đại học, rồi mới lên sau đại học. Còn mình thấy đại học hay quá, muốn vô chuyên ngành luôn, mình cứ nghiên cứu thẳng vô lĩnh vực đó rồi bỏ qua hết những kiến thức nền, những kiến thức căn bản. Cho nên khi mình nói, mình chia sẻ, mình hiểu biết thì giống như là gần gần với pháp nhưng trong đời sống thực tế, nhất là va chạm với nhau trong sinh hoạt thường ngày thì lúc đó mình mới thấy thực tế khác với những gì mình đã học, đã hiểu và khác với những gì mình nghe, mình nói. Đức Phật dạy trong tạng kinh rất rõ, nhưng nhiều lí do, có khi là mình thấy những điều đó bình thường quá: năm giới, tam quy bình thường quá; biết ơn, nhớ ơn và đền ơn cũng quá bình thường, nhưng không ngờ những điều này rất là quan trọng ở trong đời sống.
Thật ra trong tất cả các đường lối tu, nếu không thành tựu Chánh Tri Kiến trong tạng kinh Nikāya thì mình không ra khỏi bàn tay của Như Lai Phật Tổ trong Tây Du Kí. Bàn tay đó là năm uẩn và mình không đi ra khỏi được. Trong sự tu tập của mình, ngồi tu mà tưởng mai mốt sẽ được cái này, được cái kia, mai mốt chết rồi mình sẽ thế này thế nọ,… tất cả những cái này là ảo tưởng, là vọng tưởng. Trong khi thực tế ngay cái chỗ mình muốn chính là dục, tham, ái, bản ngã nhưng mình không thấy. Mình còn muốn thấy hình ảnh mai mốt mình ngon lắm, mọi người quý kính – danh trong đó nhưng cũng không thấy. Ngay chỗ đó nhưng mình không thấy thật pháp, mình sống toàn với tưởng, với hành. Tức là bao nhiêu hình bóng, bao nhiêu lời nói thầm thầm vẽ ra, vạch định ra những chương trình, những kế hoạch, những dự tính, bao nhiêu bản vẽ nó vẽ ra rồi ngồi đó mình ăn bánh vẽ. Rồi khi mình gặp chuyện sân si nổi lên, tham dục nổi lên, bản ngã nổi lên rồi cuối cùng mình tu nhưng không được gì hết.
Còn tạng kinh Nikāya, phương pháp thực hành này chỉ thẳng trực tiếp, không có một con đường nào khác. Nếu không thấy được giặc nó ở chỗ nào thì lúc đó làm sao đánh giặc, làm sao diệt giặc? Kéo binh đi đánh giặc mà hỏi giặc ở đâu thì không biết; giặc mặt mũi ra làm sao, mặc đồ gì cũng không biết, tính tình nó ra sao, nó giỏi như thế nào, nó luyện võ gì, sở trường như thế nào, cũng không biết gì hết, như vậy làm sao diệt? Vậy nên quý vị phải nghe bài “Tham sân si ở đâu?”, chứ mình không biết nó ở chỗ nào hết mà đó giờ đòi diệt nó hoài thì sao diệt được. Mỗi ngày trước Phật hãy đọc bài sám: phải từ bỏ tham, sân, si; phải diệt hết tham, sân, si; chứng giới, định, tuệ này nọ mà mình không biết nó ở đâu thì làm sao? Sự tu học như vậy rất hời hợt, không có thực tế, không có thiết thực, chính vì vậy kết quả rất mông lung. Còn tạng Nikāya dạy cho mình rất là rõ, ngay trong cảm giác bực, khó chịu vì một câu nói, một cái ánh mắt, ánh nhìn, một cái hành động là trong thân mình dâng lên, giữa thân ấm ấm, nóng lên, hất lên. Mặt bắt đầu ửng ửng lên, mắt lờ mờ, cái lỗ tai lùng bùng, mình biết sân tới rồi. Nó rõ ràng như vậy đó, mình thấy rất là rõ, nhìn cảm giác mới thấy được. Còn nếu không lúc đó mình với cơn sân đồng hóa, mình bị cuốn vô rồi vòng xoáy đó nhấn chìm mình. Tới lúc mình hay là xong hết, rồi đi vào ba cái nhà: một là nhà thương, hai là nhà tù, ba là nhà quàn (nhà tang lễ).
Hằng ngày tin tức ở ngoài liên tục, mở ra toàn là những cái vụ án hình sự, tất cả những chuyện mà thương tâm, khủng khiếp trên cuộc đời này. Mình đọc mà không tin được là nó có thật. Tất cả đều từc tham, sân, si phát tác ra. Từ cái chỗ người ta không biết nó, không biết tên tuổi nó, không biết mặt mũi nó, không biết tính tình nó nên nó xâm chiếm nội tâm mình, nó an trú, khống chế, chế ngự, điều khiển toàn bộ hết. Cho nên nếu Đức Phật không ra đời, không chỉ phương pháp cho mình thì tất cả chúng sinh chìm trong bóng đêm, vĩnh viễn trong trường dạ vô minh, đêm dài tăm tối không có ngày ra. Mình đã học Phật rồi mà lại giống đi vào rừng rậm, bát quái trận, đào hoa đảo, đi vòng vòng rồi thấy chỗ nào cũng giống, chỗ nào cũng tốt. “Con thưa thiệt với thầy, trì chú con cũng thấy hay, niệm Phật con cũng thấy êm êm lắm, mà ngồi thiền con cũng thấy được được.” Rồi cái nào cũng tu hết nhưng cuối cùng không có cái nào. Cho nên trong tinh thần tạng kinh Nikāya, đầu tiên, mình phải thường trực nhìn lại cảm giác. Minh Thành nói để quý vị thấy rằng cả năm bộ Nikāya gom lại, cuối cùng là nói năm uẩn. Từ năm uẩn gom gọn, rút gọn cuối cùng còn lại là thọ uẩn, cảm thọ, cảm giác. Vì vậy thường trực nhìn lại, để ý, theo dõi, tìm hiểu, nhìn sâu vào trong cảm giác sẽ phát hiện được tất cả những gì có mặt ở trong đó.
Khoảng 8 tháng nay Minh Thành nhất hướng vào tạng kinh Nikāya. Lúc trước thì nói chung chung để chia sẻ nhưng mà bây giờ thì Minh Thành chuyên một hướng đó. Theo những nhà nghiên cứu trên thế giới, sự nghiên cứu về Phật học đều lấy tạng kinh Nikāya, tạng Pāli làm chỗ gọi là Thánh điển để nghiên cứu, tìm hiểu, cũng như tu học Phật pháp. Tạng kinh này cho chúng ta biết rằng: thành tựu được lòng tin bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng là mình chứng Thánh quả thứ nhất – Tu-đà-hoàn. Nhiều người nghe qua sẽ thấy lạ và thắc mắc: “Thưa thầy, vậy mấy chục năm nay không lẽ con không hiểu Phật, không tin Phật, không tin Pháp, không tin Tăng sao? Vậy sao giờ này con ngồi đây”, nhưng sự thật là cái tin của mình chưa đặt nền tảng trên sự hiểu biết, thấu đáo và cặn kẽ. Cho nên niềm tin này có khi còn phiến diện, khía cạnh, thậm chí mê tín trong đó mà mình không biết. Còn nếu thành tựu niềm tin đối với Phật, Pháp, Tăng và Giới, đồng thời lòng tin đó không dao động thì tối thiểu mình Hướng Dự Lưu và Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, vĩnh viễn cắt đứt ba đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chậm nhất trong bảy đời thăng tiến tới Chánh Giác, tới bậc A-la-hán chấm dứt hết tất cả mọi phiền não.
Như vậy, cần hiểu Đức Phật như thế nào, tin Phật như thế nào; cần hiểu Pháp như thế nào, tin Pháp như thế nào, thực hành Pháp như thế nào; cần hiểu về Tăng; hiểu về Giới như thế nào? Ở đây Minh Thành chỉ giới thiệu với quý Phật tử những điểm cốt lõi, chúng ta phải có thời gian tìm hiểu, xem như chúng ta học lại từ đầu. Trước hết phải đổ móng, làm cho nền móng thật vững chắc thì sau đó mình xây bao nhiêu tầng cũng được. Bây giờ đa số những ai đi vào Phật pháp, đừng nói chi những người mới, thậm chí những người tu lâu, không những người cư sĩ, ngay cả người xuất gia thì cũng chưa chắc đã hiểu thật chính xác về Đức Phật. Cứ lạy lục, cầu xin này kia thì mình chưa có hiểu Phật. Việc cầu xin cho mình được khỏe mạnh, được sống lâu, cầu xin cho mình được mọi việc bình an – quý vị thấy điều này rất bình thường phải không? Nhưng xét sâu sắc là mình chưa hiểu thực sự về Phật và Pháp. Nếu chỉ mong muốn cho quý vị được khỏe mạnh hoài thì quý vị không tin tưởng cái lý vô thường: sinh, lão, bệnh, tử; đến chùa mà chỉ ghi cầu an hoài trong khi giáo pháp của Phật thực sự là:
Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau. (Tương Ưng Bộ - tập V, chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định)
Sâu sắc trong tâm của mình có thấy được bản chất thân này là khổ không? Có thấy được bản chất của cuộc đời này là khổ không? Hay sâu sắc thực sự bên trong mình cũng còn muốn đi tìm, muốn đi kiếm. Trong bài kinh “Có pháp môn nào”, Đức Phật nói rằng: có một pháp môn không cần phải có lòng tin, không cần phải có sự tìm hiểu để suy nghĩ tìm ra phương pháp, không cần phải có bất cứ sự tín ngưỡng gì. Pháp môn này là nội tâm đang có sân, phải biết nội tâm đang có sân. Nội tâm đang có tham, phải biết nội tâm của mình đang có tham. Nội tâm đang có si mê, phải biết nội tâm đang có si mê. Quý Phật tử nghĩ cái biết đó có cần qua một kĩ thuật, kĩ nghệ gì không? Khi tâm của mình nóng giận mình có biết không? Có biết mình đang nóng giận không? Mình có cần phải học để biết nội tâm đang nóng giận không? Hay là mình cần phải tin tưởng điều gì để biết rằng nội tâm đang nóng giận?
Chính vì vậy, Đức Phật nói pháp này là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy với mục đích trọng tâm của đạo Phật là nhiếp phục tham, sân, si đến đoạn tận tham, sân, si. Nhưng lâu nay chúng ta bị những từ hoa mỹ che mờ, tức là khi tu mình mong muốn những gì cao siêu, đẹp đẽ, huyền diệu diễn ra ở trong tưởng uẩn. Thế nên cứ tưởng tu rồi thì sẽ được đến một nơi nào đó, hay là đến một trạng thái gì đó, hay được thứ gì đó. Nhưng không ngờ rằng trí tuệ trong tạng kinh Nikāya cho biết, người thành tựu trí tuệ, thành tựu Thánh trí là người thấy được hết tất cả những cấu nhiễm, những sự nhơ bẩn khủng khiếp nhất trong nội tâm. Sự tu của mình bây giờ đại đa số là tránh né, tìm cái gì đó khỏa lấp, che đậy, mình không có trực diện, không có nhìn thẳng để mình thấy tham, sân, si. Nếu không nhìn thấy, không biết nó ở đâu, không hiểu nó như thế nào thì làm sao trị được nó? Khi nhìn lại cách thực tập của mình trong thời gian qua, chính bản thân Minh Thành cũng đã từng rơi vào những điều này. Sau khi Minh Thành phát hiện ra được tạng kinh Nikāya và thực tập sâu sắc thì thấy đúng là như vậy.
Ngày xưa, chúng ta hướng ngoại nhiều, mà không phát hiện được thực pháp ở trong nội tâm chính mình, nếu phát hiện được quý vị sẽ rất là bất ngờ. Dù bây giờ quý vị nghĩ: “Giờ con ngồi đây, con thấy an lạc mà, thanh tịnh mà” nhưng nếu Minh Thành chỉ ra là quý vị sẽ bất ngờ, vì đa số mọi người đang ngồi đây ở trong vô minh, ở trong ái dục và ở trong chấp ngã. Theo tinh thần tạng kinh Nikāya sẽ chỉ cho chúng ta thấy tại sao như vậy? Bởi lẽ, chúng ta ngồi đây và thấy có cái tôi, thấy cái của tôi, thấy cảm giác của tôi và mình thích cảm giác êm ái, nhẹ nhàng, thích thú, này. Khi thấy có một cái tôi mà mình không thấy rõ được năm uẩn, không thấy được tứ đại kết hợp thì lúc đó là vô minh.
Cho nên, Minh Thành thường chia sẻ là chúng ta phải thường nhìn lại cảm giác, điều này phải có sự thực tập mới thấy được. Vì giáo pháp này đòi hỏi “đến để mà thấy”, chứ không phải mình học, mình nghe, mình viết, mình chép, mình hiểu, mình nói nhưng không thấy gì hết thì không có gọi là “đến để mà thấy”, vì thấy là phải nhận diện ra luôn. Ngay ở trong cái cảm giác thích thú, vui vẻ có tham cư trú. Ngay trong cái cảm giác bực bội, khó chịu, khổ trong đó phải thấy được có sân trú ẩn. Ngay trong cảm giác đều đều, thường thường, không vui mà cũng không khổ, không có thích thú mà cũng không ghét bỏ, thì phải thấy được vô minh tùy miên ở trong đó. Lúc đó, chúng ta không thấy năm uẩn, không thấy tứ đại mà mình thấy có cái tôi.
Trí tuệ năm uẩn
Toàn bộ nội dung của tạng kinh Nikāya là giúp cho chúng ta thành tựu trí tuệ năm uẩn. Tức là ngày xưa đến bây giờ, thân tâm này giống như là một nắm tay và chúng ta chỉ thấy đây là một nắm tay, do đó cứ nắm chặt vào, nghĩa là mình nắm chặt vào năm uẩn, cho rằng đó là tôi và của tôi. Không thấy đó chỉ là năm ngón tay, năm ngón kết hợp, chứ không có cái nắm tay nào. Vậy, năm ngón đó là ngón gì?
Ngón thứ nhất là ngón sắc uẩn. Đức Phật dạy trong kinh “Thủ chuyển”, định nghĩa sắc là tứ đại, sắc do tứ đại tạo thành, mình phải thấy rõ phần sắc uẩn này. Dù cho căn nhà tranh hay là tòa nhà cao nhất thế giới thì đó cũng là sắc uẩn không hơn không kém. Thân này cũng là sắc uẩn, tứ đại tạo thành, hằng ngày mình ăn, uống, thở, phải thấy được những thứ đó là tứ đại ở bên ngoài và tứ đại ở bên trong kết hợp. Phải luôn luôn thấy, luôn luôn biết như vậy. Nhìn bằng trí tuệ đó thì bắt đầu tách từ từ ra khỏi sắc uẩn, còn nếu không là mình bám, bấu chặt vào trong đó, ai đụng tới là sân giận phát khởi, không còn bình an. Thậm chí chưa ai đụng đến, người ta mới chỉ trích chê bai thì lúc đó tâm mình đã không còn bình an. Nhưng một hồi nghe ra là do cô kia trùng tên, họ chỉ trích người kia chứ không phải nói mình. Lúc đó mình cười, mình nói mình hiểu lầm, nhưng thật ra bên trong chất chứa những cảm giác bực dọc, sân si, khó chịu tại vì đó là tên “của tôi”. Một sự nhận lầm khủng khiếp, kinh khiếp đó là mình bám chặt vô sắc uẩn. Mới nói cái sắc uẩn này thôi mà đã nhận lầm rồi. Nhận lầm cái này mà muốn an lạc, giải thoát là sự kiện không có thể xảy ra. Đây là điều Đức Phật nói tạng kinh Nikāya:
Này các Tỳ-kheo, người nào yêu thích sắc, cũng đồng nghĩa người đó thích khổ.
Sắc đó không phải là người nào khác hết mà chính là xác thân mình. Mình có yêu quý, trau chuốt, chăm chút, tô bồi, vun vén cho nó không, tại sao vậy? Tại vì mình nhận lầm, nghĩ nó là mình, tới lúc nó vô thường, biến hoại, tan nát mình bấn loạn, khủng hoảng, đau khổ. Tại vì nghĩ đó là mất mình, mình tan vỡ, nhưng mình không biết đây là sắc, sắc do duyên hội tụ, hết duyên thì tan. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thấy bằng trí tuệ, chứ không phải niệm Phật xong là thấy được sắc thân này là vô ngã. Niệm Phật là để nhiếp tâm, bớt loạn động. Mình phải dùng trí quán để nhìn sâu vào mỗi ngày, mọi lúc mọi nơi. Tập nhìn tất cả mọi thứ xung quanh là sắc pháp, sắc uẩn, tách suy nghĩ cho nó là mình và của mình ra từ từ. Chỉ có phương pháp đó, không có phương pháp nào khác nữa hết. Quý vị thấy một người lê lết đi xin ăn ở ngoài đường bị bệnh cùi, bị tàn tật, bị khuyết tật, bị mù lòa, bị nan y; người đó có khổ vì xác thân của họ không? Rồi một người giàu nhất, đẹp nhất, thành công nhất ở trên cuộc đời này; người đó có khổ vì xác thân của họ không? Hình thái thì sai biệt, nhưng bản chất của khổ không khác. Tại sao ai chạm tới là đau? Ai đụng tới là bực? Đức Phật nói có ba hạng người:
Thứ nhất: tâm giống như là vết thương. Kẻ vô văn, phàm phu có tâm giống như vết thương, ai chạm đến là đau, bật dậy, phựt dậy, phản kháng liền. Đức Phật diễn tả nó sân hận, bực bội, phản kháng, nó dùng bao nhiêu thứ để đánh trả trở lại.
Thứ hai: tâm giống như ánh chớp. Người này bắt đầu thấy được trí tuệ về năm uẩn và thấy được khổ.
Thứ ba: tâm giống như kim cương. Người này đoạn diệt hết tất cả các lậu hoặc.
(trích Tăng Chi Bộ Kinh – tập 1, bài kinh Vết thương làm mủ)
Riêng về phần sắc uẩn, Đức Phật dạy dùng sáu sự tu tập mới có thể phá vỡ được chấp về sắc uẩn. Sáu phương diện tu tập, gồm:
Thứ nhất: Niệm Hơi Thở.
Thứ hai: Niệm Oai Nghi.
Thứ ba: Niệm Hành Động.
Thứ tư: Niệm Tứ Đại.
Thứ năm: Niệm Ba Mươi Hai Thể Trược.
Thứ sáu: Niệm Chín Giai Đoạn Một Tử Thi.
Đây là sáu phương pháp để phá tan chấp thủ sai lầm vào trong sắc thủ uẩn. Quý vị nhớ chữ “thủ” này, quan trọng lắm. Chữ thủ làmình bấu chặt, bám chặt, nắm chặt, không có buông ra, gọi là Sắc Thủ Uẩn. Bây giờ thường thường ở các thiền viện trong nước ngoài nước, người ta sử dụng ba phương pháp đầu. Tức là Niệm Hơi Thở: thở ra, thở vào. Niệm Oai Nghi: Đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm. Niệm Hành Động: động, tĩnh, co, duỗi,… phải biết. Các chỗ tu thiền thường sử dụng ba pháp đầu này, nhưng ba cái sau bị thiếu, tức là thiếu Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược và Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi. Đêm hôm qua quý vị xem quán chiếu từng bộ phận, khi con mắt quý vị tiếp xúc vô những hình ảnh đó, lúc đó tâm quý vị như thế nào? Có thấy nhàm chán không? Có thấy ghê sợ không? Có thấy là không sạch sẽ, bất tịnh không? Có thấy không tham muốn, hết tham muốn không? Đó chính là “thiết thực hiện tại đến để mà thấy, không có trải qua thời gian, có hiệu quả tức thì, được người trí tự mình giác hiểu” – đây là định nghĩa về Pháp của Đức Phật.
Danh từ trong kinh Hòa thượng Minh Châu dịch là “yểm ly” tức là nhàm chán, ly tham, không có tham muốn nữa, thấy sợ. Ít nhất trong giờ phút đó quý vị phát khởi được cảm giác đó, được những suy nghĩ như vậy. Chư Tỳ-kheo thường thường mỗi ngày đều phải quán chiếu như vậy. Quán như vậy thì làm sao không bớt tham, quán như vậy làm sao không nhàm chán, quán như vậy làm sao dần dần không đưa đến từ bỏ? Không có sự kiện đó xảy ra! Quán như vậy nhất định sẽ đưa đến chỗ nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, từ đó đi đến chỗ chấm dứt sinh tử, không còn ưa thích thân vô thường, tứ đại, bất tịnh. Lúc nãy có cô Phật tử chia sẻ là không muốn có cái thân thể giống vậy nữa, khi ăn vô thì thơm, ngon nhưng khi mình bài tiết ra là nó không còn như vậy. Từ chỗ đó mình phải một cách thường trực, một cách liên tục, một cách sâu sắc, thấy sao cho đi vô trong xương tủy của mình thì cái đó là thành tựu trí quán. Cho nên quý vị nghĩ cái này là dễ hay không dễ? Không có con đường nào khác hết, đây là con đường của bậc Chánh Đẳng Giác, không có con đường thứ hai.
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ. (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Đại Niệm Xứ)
Không có con đường khác, làm gì có một cách nào khác để mà mình không còn bám chấp, không còn say đắm vào thân này ngoài cách nhìn thấy được thực chất của nó. Đó là phương pháp trực tiếp, chỉ thẳng, Đức Phật gọi đó là “tuệ tri”. Từ một thân thể chết rồi nó sình lên, chảy mủ chảy nước vàng, những con dòi ăn, rồi nó phân hủy như thế nào? Những bộ xương rải rác, đây là xương sọ, kia là xương sườn, kia là xương chân, xương ống chân. Cuối cùng nó nát ra thành bụi hết. Phải quán bằng trí quán thâm sâu, triệt để như vậy thì hắc chắn quý vị sẽ giảm bớt. Chưa nói là mình dứt được 100%, nhưng ít nhất mình cũng phải đi được 40, 50, 60%. Như vậy thì quý vị là Hiền nhân, gần tới Thánh nhân.
Minh Thành ví dụ thêm những cái rất là nhỏ để cho quý vị dễ thấy. Khi đi đám cưới, dọn lên 15 món, mình thấy rất là bình thường, mình ngồi ăn bình thường. Mình nghĩ đây là ăn cơm mà có gì đâu, tu là lúc lên trên chánh điện, chứ còn ăn những thứ này thì làm gì tu. Nhưng quý vị nhìn kỹ, trong khi ăn có thúc dục không? Khi ăn nhiều, mình nhai chưa hết miếng này mà mình gắp thêm miếng tiếp tục rồi, trong đó có dục, có tham và mình có thích thích, khoái khoái đó là có ái. Kinh Nikāya mới chỉ ra hết cho mình thấy, dục, tham, ái có trong đó mà mình không thấy. Rồi đến những điều vi tế của bản ngã kinh khiếp lắm, phải có trí tuệ thường trực nhìn lại hoài mới thấy. Lời nói dù rất nhẹ nhàng thôi nhưng thể hiện bản ngã trong đó, nó lồng trong đó mà mình không thấy. Trong ánh nhìn đơn giản, một hành động, cử chỉ thôi là bản ngã biểu hiện mà mình không thấy. Mình để cho nó qua mặt, trú ẩn, lén lút, âm thầm hoạt động, trá ngụy làm đủ thứ trong đó hết. Cuối cùng toàn bộ kinh thành của mình là cái thân bị xâm chiếm hết từ đầu tới chân. Từ cảm giác, từ suy nghĩ, từ những nghĩ tưởng, từ những nhận thức, toàn bộ bị vô minh, tham ái và chấp thủ chi phối, chiếm lĩnh, nhưng mình không thấy, không biết gì hết.
Cho nên điều quan trọng nhất của Bát Chánh Đạo và cũng là cách cửa đầu tiên để đi vào Phật Giáo là Chánh Tri Kiến. Được cái này rồi thì sau đó suy nghĩ, lời nói, hành động sẽ dẫn mình đi đúng. Còn nếu không vào được cửa này, mình làm cái gì đi nữa thì cũng lẩn quẩn trong vô minh, tham ái, chấp thủ, tham, sân, si. Chánh Tri Kiến là gì? Thấy năm uẩn là năm uẩn, năm uẩn không phải là tôi, không phải là của tôi. Đó mới nói một phần sắc uẩn. Rồi mình nhìn vào cảm giác. Cái tưởng của mình có làm mình khổ nhiều không? Nói đơn giản, gộp chung lại là những hình bóng, những lời nói thầm thầm trong nội tâm có làm cho mình khổ không? Nó có quậy mình không? Nó có để cho mình ngồi yên, ngủ yên không? Khi ngồi lại hoặc nằm xuống, bao nhiêu hình bóng người này, người kia, hình người nọ hiện lên; bao nhiêu lời nói, hết nói cái này, nói cái kia,… cứ lầm thầm. “Thôi mệt quá, để ta nghỉ chút” nhưng nó không cho mình nghỉ, và chúng ta lại nhận chúng là mình: “Tôi đang suy nghĩ mà, suy nghĩ này là của tôi”, mà không biết nó là pháp duyên sanh, là vô thường.
Nếu trước đó không nghe tiếng nói ấy thì khi về mình sẽ không suy nghĩ theo câu đó. Nếu không thấy hình bóng đó thì sẽ không có suy nghĩ về hình bóng đó. “Xúc tập khởi cho nên tưởng tập khởi”, tức là do tiếp xúc cho nên mới có cảm giác do tiếp xúc. Vì vậy do tiếp xúc mới có những cái tưởng, những hình bóng, mới có suy nghĩ, nếu không tiếp xúc thì không có. Sau khi tiếp xúc rồi thì có cảm giác, sau khi có cảm giác thì thích cảm giác đó, sau khi thích rồi thì muốn bám víu cảm giác. Đó là xúc sinh thọ, thọ sinh ái, ái sinh thủ, mười hai nhân duyên này sáng, trưa, chiều, tối lúc nào cũng vận hành trong tâm nhưng mình không thấy. Mình cứ mở bài ra, học cái này, học mười hai nhân duyên, học xong đóng sách lại là hết, tu như vậy không dính dáng tới mình, đó là bài học. Còn tạng kinh Nikāya đòi hỏi mình nhận diện những cái này đang có mặt trong thân tâm, phải xem trong cái xúc có dục, có ái, có tham, có sân không? Trong thọ có cái gì? Trong tưởng có cái gì? Mình phải thấy rõ, không thể không thấy, không thể không biết. Chúng ta tu như vậy thì không có thời gian rảnh để nói chuyện với người khác, không có thời gian rảnh để để ý những cái ngoài. Tối ngày lo nhìn lại mình, cũng giống một người tối ngày ở trong nhà, lo vệ sinh sạch sẽ chỗ này, chỗ kia, sắp xếp ngăn nắp thì căn nhà đó đẹp, sạch, “nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”. Khỏi cần quảng cáo gì hết, ai bước vô cũng cảm thấy được sạch sẽ, mát mẻ, ăn cơm ngon thì đó tự độ – độ tha. Đâu cần gắn bảng hiệu, cầm micro la lên “Tôi là Bồ Tát đạo”, mình không nhìn chính mình, mình cứ nói, rồi cuối cùng Bồ Tát đâu không thấy coi chừng thấy tát, có khi là tát thiệt chứ không phải mình nói vui.
Con đường xuất ly
Bên ngoài rất nhiều trường hợp những thanh thiếu niên tự vẫn vì chuyện nam nữ, chia tay hay những chuyện về tình cảm? Tại vì họ không biết con đường nào để thoát ra, không biết phương pháp xuất ly, không biết phương pháp vượt ra. Cho nên nếu học được những cái này thì lợi ích rất là nhiều. Ít nhất, mình cũng có những vũ khí, súng đạn để khi giặc phiền não tới thì mình có những phương tiện để mình tiêu diệt, chống cự với nó, không cho nó xâm chiếm hết tất cả toàn bộ cảm giác, tư tưởng và nhận thức của mình. Cho nên cần những phương pháp để thấy được tứ đại, những phương pháp để nhìn sâu vào được ba mươi hai thể trượt từng bộ phận của cơ thể, những phương pháp để mà thấy rõ chín giai đoạn phân hủy của một thây chết. Phải nhớ lúc quán là quán cái thây của mình, chứ không phải quán thây của ai hết, thấy mình đang nằm chết. Lúc đó quý vị sẽ thấy tuyệt diệu lắm, kỳ tích xuất hiện. Tất cả những dục, tham, ái sẽ lắng dịu, an tịnh.
Khi nãy một Phật tử chia sẻ từ nửa vòng trái đất trở về đây, Phật tử này thực tập tưởng yên tịnh và hành yên tịnh. Tưởng yên tịnh là những hình bóng nội tâm không xuất hiện nữa, hành yên tịnh là những lời nói, suy nghĩ không xuất hiện, lắng dịu hết thì vị này tưởng tới đó là chân tâm Phật tánh. Nhưng không phải. Đó là có tiến bộ trong sự tu tập. Tưởng, hành lắng dịu, an tịnh, lúc đó nó an lạc lắm. Nhưng khi an lạc, tự nhiên mình khoái khoái, thích thích chỗ này: “Chỗ này ngon à nha, chỗ này êm à nha, chỗ này mình đạt được cái gì rồi đó”. Đó chính là ái, mình muốn tìm lại chỗ đó, muốn kéo dài cảm giác này ra nữa nhưng nó đã mất.
Cũng như quý vị là chủ nhà, nhưng phải đi 2-3 tháng để làm công việc ở nước ngoài, khi trở về phát hiện trong nhà có mùi rất hôi nhưng không biết xuất phát từ đâu. Quý vị tìm hiểu rồi móc bàn, ghế, giường, tủ, khiêng ra, cuối cùng phát hiện ra hai xác chết của con chuột, bị con mèo xé. Mình đi lau chỗ đó, bao nhiêu côn trùng, dòi sinh ra, dơ bẩn. Khi phát hiện mình cứ để vậy, đi ngủ, kệ nó hay hốt đống dơ đó, rồi đổ bỏ, lau chùi cho tới lúc hết mùi luôn? Minh Thành ví dụ cho quý vị nghe đơn giản Tứ Thánh Quả ở trong đó:
Thứ nhất, phát hiện ra xác chết chuột là Sơ Quả Tu-đà-hoàn;
Thứ hai, hốt đi đổ là Nhị Quả;
Thứ ba, đang lau chùi đó là Tam Quả;
Thứ tư, lau chùi đến khi không còn mùi nữa, là Tứ Quả A-la-hán.
Sự tu đơn giản như vậy. Cho nên làm sao để phát hiện ra được có một xác chết chuột ở trong hốc nhà? Mình phải đi tìm, không đi ra ngoài đường nữa, không đi chơi nữa, không đi công tác nữa mà phải ở nhà. Rồi mình phải đi mọi hốc hách, những xó kẹt, phải lôi ra, kéo đồ ra hết, đó là giai đoạn nhìn trở lại cảm giác. Nhìn hoài, tìm hoài, nhìn sâu vào thì như vậy quý vị phát hiện ra nào giờ tưởng mình ngon lắm, bây giờ đã thấy cái sân tổ bố. Nào giờ tưởng đâu mình ngon lắm ai dè tham dục đủ thứ chỗ, chỗ nào cũng thấy tham hết. Nào giờ tưởng mình sáng suốt, trí tuệ, thông minh lắm ai dè si mê, vô minh, chấp ngã quá chừng. Nào giờ tưởng tâm mình hiền thiện lắm ai dè tật đố, ganh tị, khen người khác hoài cũng khó chịu nữa.
Đến khi nào thấy được:“Ôi cha! Xác chuột chết hôi quá, những thứ này dơ bẩn quá”, bao nhiêu vi trùng khi mình phát hiện được thì nhất định phải dọn dẹp. Và khi thấy được rác bẩn là thành tựu Thánh trí thứ nhất. Lâu nay mình cứ hướng ra ngoài nên không thấy, bây giờ bắt đầu nhìn vào nên mình thấy. Khi thấy được rồi thì mình dọn dẹp, có phương pháp rõ ràng hết. Quý vị xem bài “Mục đích của Đạo Phật”, bài “Tham, sân, si ở đâu?”, bài “Mở cửa bất tử”, trong đó Minh Thành có nói: tham dùng cái gì trị, sân dùng cái gì trị, si dùng cái gì trị, bản ngã dùng cái gì trị? Những điều này là trong tạng kinh Nikāya Đức Phật dạy, không có bất cứ một ai có thể đưa ra Thánh đạo được hết trừ bậc Chánh Đẳng Giác. Tại sao mà mình đi học với thầy này, thầy kia, ông cụ này, cụ nọ,… đó là vì mình chưa thành tựu niềm tin bất động đối với Đức Thế Tôn, chỗ này rất là thâm sâu. Phật chỉ như vậy tại sao mình không làm? Rõ ràng Phật chỉ: dùng bất tịnh quán, dùng ba mươi hai thể trược, dùng chín giai đoạn một tử thi là trị tận cùng tham dục, tại sao mình không làm? Còn mấy người kia sao có thể so được với Đức Thế Tôn. Tại sao Phật mình không tin mà đi tin mấy cái khác? Có lẽ những cái đó là đơn giản, là dễ dãi, là dễ dàng, nó phù hợp với lòng tham của mình. Vả chăng là như thế?
Cho nên tạng kinh Nikāya rất là thiết thực, rất là thực tế. Khoan nói trang trí nhà cửa, đãi tiệc, thiết kế mỹ thuật, thẩm mỹ gì. Hãy dọn sạch đống hôi hám đó trước đã, cho nó sạch sẽ hết hôi đi rồi tính sau. Sau khi nhà sạch sẽ rồi, muốn làm gì thì làm. Còn cái kiểu của mình là tuyên bố “tôi là tổ chức tiệc quốc tế, tiệc toàn quốc, tôi là kiến trúc sư mỹ thuật bậc nhất”, tất cả là viển vông. Bệnh tùm lum mà la lên đòi cứu nhân độ thế, bản thân bệnh giai đoạn ung thư thời kỳ cuối rồi mà không biết, không phát hiện ra. Thành ra điều quan trọng trong tinh thần tu tập này là quay trở lại để nhìn, nhìn để thấy được ở bên trong đang có những gì? Những cái đó đang có mặt, đang sinh khởi như thế nào? Nó chi phối, an trú, xâm chiếm, quậy mình như thế nào? Mình phải thấy được rồi nhiếp phục, làm chủ, từ bỏ nó, tách ra khỏi nó từ từ.
Tu pháp này hay lắm, quý vị thực tập rồi sẽ thấy, biết tất cả. Cứ tu từ bước thứ nhất, đến bước thứ hai, qua bước thứ ba, cuối cùng là bước thứ tư, bản thân đang trải qua giai đoạn nào mình sẽ biết được. Cho nên phải thực hành ba pháp, rồi sau đó nhận diện năm uẩn. Đang ngồi thiền tưởng khởi mình phải biết đây là tưởng, lời nói khởi lên là mình phải biết đây là hành, có cái cảm giác khởi lên phải biết đây là thọ. Mình phải niệm câu: “Sắc này không phải là tôi, không phải là của tôi. Cảm giác này không phải là tôi, không phải là của tôi. Suy tưởng này không phải là tôi, không phải của tôi. Nhận thức này không phải là tôi, không phải của tôi. Đó là pháp vô thường, là pháp duyên sanh, là pháp tan nát, tan hoại, bại hoại”. “Này các Tỳ-kheo, thân thể này là do cha mẹ sinh, do cơm cháo tác thành vô thường, tan hoại, bại hoại, tan nát. Các Ông phải thực thấy, thực biết như thế để nhàm chán, đừng ham muốn nữa thì các Ông sẽ chấm dứt được sự ràng buộc ở trong sinh tử”. Bây giờ chưa chấm dứt được 100% mà quý vị thường quán như vậy thì dứt được 40 - 50% , khỏe không? Cho nên đừng có sợ nói: “Thầy ơi, con chưa có bỏ hết được đâu”, đó là ý hành nói. Mà trong ý hành có ái, tham, sân, si, bản ngã, dục… chính những thứ này không mình muốn tu. Nó nói: “Thôi tu vậy đâu còn gì đâu, tu ít ít thôi”, nó nói vậy là nó kéo mình đi xuống, không muốn mình đi lên. Cho nên nó muốn mình đi xuống, đi ngang thì sẽ dễ bị rớt xuống, nên mình phải đi lên, phải hướng Thánh đạo thì mới đi tới Thánh quả.
Một trong những phương pháp chúng ta luôn sử dùng là Như Lý Tác Ý và quán chiếu. Như Lý Tác Ý là dùng những lời nói mạnh bạo, mạnh mẽ giống như những cây roi mà quất vào con trâu vậy, không có cho nó vô ăn lúa mạ của người ta. Phải dùng sợi dây buộc cái mũi nó lại, nắm kéo nó, lôi nó, đánh nó, quất nó mạnh. Đó là Như Lý Tác Ý, là những lời nói mạnh bằng trí tuệ gọi là tuệ lực – sức mạnh của trí tuệ. Ví dụ bắt đầu khởi lên cái khó chịu, bực của sân mình mới nói: “Sướng lắm hả, giận người ta sướng lắm phải không? Ham giận lắm hả, thích giận lắm hả? Chính cái giận này đã đốt ta bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp rồi, mày đốt thiên hạ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, giờ mày còn muốn đốt nữa hay sao? Đi theo cái sân này nguy hại, nguy hiểm, tác hại như thế nào? Nó đốt cháy hết tất cả, đốt mình, đốt người, gây khổ đau cho gia đình, cho những người thân thương của mình. Mình đâu muốn người thân mình khổ, vậy tại sao nuôi dưỡng cái sân này? Dẹp đi, đi chỗ khác chơi. Ta từ bỏ ngươi, ta đoạn tận ngươi, ta chấm dứt ngươi. Ngươi tan biến thanh hư không đi, đừng đeo bám theo ta nữa.” Đó là ta dùng Như Lý Tác Ý, lúc đó sân mới lắng dịu. Còn không nó nói là mình nghe, rồi nhập cuộc với nó thì từ ý hành phát ra khẩu hành, từ lời nói phát ra thân hành, hành động, cuối cùng đi đến hậu quả tan nát hết.
Cho nên trong sự tu, mình phát hiện tham, sân, si ở trong trứng nước, nó manh nha, vừa rục rịch ở trong cảm giác là mình thấy được và nhiếp phục. Như vậy nó không bung ra, phình ra, tung ra, bật ra, phựt ra bên ngoài, cái tu đó là cái tu tuệ giác. Người ta gọi là thiền tuệ, trí tuệ của con mắt, trí tuệ của tâm mới thấy được phiền não. Nhiều khi mình cứ đợi cho nó phát ra hết rồi mới hay, lúc đó cũng như vô văn phàm phu. Người ta đâu cần tu, nhưng cũng biết cái đó là tham, sân, si. Sở dĩ mình khác người không biết tu là mình thành tựu trí tuệ. Tham, sân, si khi mới bắt đầu manh nha, nảy mầm, rục rịch thôi là mình đã thấy được, mình bóp nó trong trứng nước, như vậy mới là trí tuệ. Cho nên người tu đâu phải lúc nào cũng hiền hiền, khờ khờ hoài đâu quý vị, ở ngoài thì hiền dễ thương nhưng bên trong thì sắc bén. Đức Phật nói là sắc bén để đoạn tận, sắc bén để từ bỏ, sắc bén để chấm dứt, sắc bén để tiêu diệt tất cả phiền não, sát tặc, giết giặc, anh hùng. Đức Phật là bậc đại hùng đại lực, Mật Tông gọi là bậc chiến thắng. Bây giờ hằng ngày mình thắng hay bại, mỗi ngày như vậy mình bại bao nhiêu lần? Thành ra sự tu tập này tuyệt vời lắm!
Ngoài ra, có những phương pháp làm cho mình rất vui trong sự tu. Đó là tu tập: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm, đây là những phương pháp mình phải thực tập. Ví dụ suy nghĩ: “Ủa sao chán chán quá, nhợt nhạt quá. Giờ này bạn bè đi chơi, người ta rủ nhau đi du lịch. Tự nhiên mình lên Linh Quy Pháp Ấn, khuya 4 giờ thức dậy, ngồi đây bùn ngủ.” Lúc đó mình phải làm gì? Khi ấy gọi là Phi Như Lý Tác Ý, nó nghĩ sai, không có đúng với Chánh Pháp, không có đúng với sự thật. Phải làm cho nó Như Lý Tác Ý, mình quay ngược suy nghĩ đó lại, mình nói: “Tỉnh dậy đi, tỉnh đi! Những người bạn của mình bây giờ đầu tắt mặt tối lo cho mấy đứa con. Những người cỡ tuổi mình đang nằm liệt giường liệt chiếu một chỗ. Ngay cái giờ phút này những người đang mất chồng mất con mất cha mất mẹ. Những người bây giờ trong trại tâm thần điên loạn thống khổ. Những loài chúng sinh bây giờ, trong loài ngạ quỷ khốn khổ, trong các loài súc sanh ăn nuốt lẫn nhau. Những người bạn bằng tuổi mình lo hốt tiền, lo suy nghĩ làm sao kiếm tiền mà mình bỏ được hết tất cả những cái này, mình ngồi trên đỉnh Linh Quy, vững thế trên bồ đoàn, lúc này tâm mình tỉnh giác, sáng tỏ, có Phật, có Pháp, có Tăng, được thực tập Chánh Pháp tối thượng. Hoan hỷ lên chứ, vui lên. Đây là hi hữu, đây là hiếm có, đây là đặc biệt, đây là hạnh phúc nhất, tuyệt vời nhất của cuộc đời mình. Mỉm cười hoan hỷ lên!” Mình làm cho sinh ra pháp hỷ, pháp lạc. Điều này cần phải biết cách tác ý. Phương pháp tác ý này rất quan trọng, nếu không biết cái này thì tu buồn chán lắm, có những lúc nó kéo mình ra khỏi sự tu. Cho nên cần phải biết khéo tác ý.
“Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, đây là Đức Phật nói trong tạng kinh Nikāya. Tác ý là dẫn đầu, nếu mình không khéo Như Lý Tác Ý, mình tác ý sai thì giống như cầm dao nhưng cầm vào lưỡi, đứt tay, cho nên, phải cầm ngay cán. Tất cả những suy nghĩ của mình phải được điều khiển, phải hướng đặt cho đúng hướng. Có một bài kinh Đức Phật gọi là “Đặt tâm đúng hướng” trong Tăng Chi bộ kinh. Cũng như có một loại lúa, những cái lá, những loại cỏ, loại cây bén lắm, mình cầm đúng chiều thì không đứt tay, nếu cầm ngược chiều mà bóp mạnh thì nó làm mình đứt tay. Đức Phật nói cũng vậy, tâm mình đặt sai hướng thì không đi đến kết quả an lạc mà phát triển mạnh thêm tham, sân, si. Nếu tâm đặt đúng hướng thì sẽ đi đến an tịnh Thánh trí, chứng ngộ Niết-bàn.
Tu tập tâm từ
Bên canh đó, chúng ta cần tu tập Bốn Tâm Vô Lượng và đặc biệt Từ Tâm là rất quan trọng.
Mỗi ngày phải thực tập trải tâm từ và làm cho phát sanh ra một cái cảm thọ. Chính cảm thọ này sẽ đưa mình vào tham, sân, si, bản ngã, vô minh, đau khổ mà cũng chính cảm thọ này đưa mình đến từ bi, hỷ xả, an lạc, giải thoát. Cho nên tu là phải phát sanh được cảm thọ, chứ không phải tu mà ngồi trơ trơ, cười mỉm mà mỉm không nổi, như vậy là mình không khéo tác ý. Mình không làm nó phát sinh cảm thọ thì lúc đó không hề hấn gì hết. Cho nên khi Quán Bất Tịnh hay Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Một Tử Thi là phát sanh cảm giác rùng rợn, nước mắt chảy ròng ròng. Phải phát sinh một cảm giác ghê gớm, rùng rợn, cảm giác sợ và thậm chí bay mùi hôi lên mình nghe được luôn. Phát sanh ra cảm giác đó và nó mới đánh cảm giác dục, tham, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Đó là sự tẩy rửa, giống như gặp ánh sáng xanh thì bóng tối phải tan; giống như mình đang nóng, uống nước mát vào thì dịu lại. Những cảm thọ này sẽ đánh đuổi những cảm thọ kia, cho nên mình phải làm cho sinh cảm thọ mới được. Nếu quán tâm từ mà mình trơ trơ, thì không có từ. Quán tâm từ thì phải dào dạt một cảm giác thương yêu, cảm giác tha thứ, cảm giác bao dung, từ ái lan tỏa ra khắp không gian, khắp Vân Thủy Đường, khắp cả ngọn núi này. Trải ra một cảm giác tình thương rộng lớn mới là thành công.
Quán sao cho mình muốn hỷ là hỷ sanh, mình muốn từ là từ sanh, mình muốn xả là xả sanh, được như vậy là khéo tu tập. Phải tập từ từ rồi quý vị thấy sử dụng cái tâm của mình giống như là đang xài trên internet, trên hệ điều hành, trên laptop của mình vậy. Mình muốn cái nào khởi là cái đó nó khởi, đó là mình khéo tu tập tâm. Còn bây giờ hoàn toàn không làm chủ tâm mình được. Sân sanh khởi, dù mình làm đủ mọi cách mà nó vẫn sân thì không được, phải huấn luyện tâm của mình. Phải tu tập, điều khiển, làm chủ cái tâm của mình. Mình muốn hỷ là hỷ sanh, thậm chí mình muốn nó 3 tiếng là 3 tiếng, mình muốn 6 tiếng là hỷ vô lượng tâm của mình 6 tiếng. Thậm chí mình muốn hỷ suốt ngày, trú trong hỷ vô lượng tâm từ sáng tới chiều mình vẫn làm được. Điều này đòi hỏi mình phải có thực tập, thực tập được cái này hay lắm. Chưa vô lượng tâm nhưng mà ít nhất cũng bự cỡ chừng ngọn núi này thôi cũng được, hoan hỷ lên!
Quý vị phải thực tập Tâm Từ, thực tập tâm từ hay lắm. Tâm từ tẩy rửa, gội rửa hết tất cả những cảm giác về sân, những cảm giác về hại. Chánh Tư Duy trong Bát Chánh Đạo là: Ly Dục Tư Duy, Ly Sân Tư Duy, Ly Hại Tư Duy – những suy nghĩ giúp cho mình lìa khỏi cái tham muốn, lìa khỏi sự bực tức, lìa khỏi những ý muốn hại người, những suy nghĩ đó là Chân Chánh Tư Duy. Cái từ ái này sẽ tẩy rửa, gội rửa hết những suy nghĩ hại đó. Giống như không những chùi chỗ dơ trong nhà, mà quý vị còn xịt đồ thơm lên. Mình để lá dứa hay quý vị lấy vỏ của trái thơm sau khi móc ruột, để đèn vào trong cho nó tỏa hương thơm, đó là xông ướp hương. Cho nên từ tâm, bi tâm, hỷ tâm, xả vô lượng tâm này quan trọng lắm. Phải thực tập để làm cho tâm linh của mình thăng hoa, thanh cao, cao thượng, rộng lớn, bao dung, độ lượng thì rất tuyệt vời. Chúng ta thấy tâm mình màu nhiệm, vi diệu lắm, còn hơn đào trúng mỏ kim cương. Đừng bỏ tâm của mình, uổng lắm.
Trong đời sống thông thường, người ta chỉ biết vật chất, tài sản ở bên ngoài, họ không biết thật ra những điều bên ngoài chỉ là một phần nhỏ của cuộc sống. Điều quan trọng nhất của mình là đời sống tâm linh. Tâm biết tu tập là điều rất quan trọng, giống như Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, Ta chưa thấy một pháp nào đem lại lợi lạc lớn, lợi ích lớn, đem lại an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn giống như tâm của tu tập”. Cho nên phải biết nhìn lại, biết quán chiếu, biết khai thác, biết huấn luyện, biết tu tập tâm. Khi biết mở rộng tâm mình ra thì giống như mở kho báu. Quý vị muốn cho từ là từ, muốn bi là bi, muốn hỷ là hỷ. Khi gặp phải nhiều vấn đề, mình trú vào xả vô lượng tâm, thì sẽ ngon lành, nhã hết ra, buông xuống, được khỏe liền. Xả không được thì mình phải tập, thực tập quen thì mới được, cái gì cũng vậy, nhuần nhuyễn là được. Còn mình không thực tập tới chừng muốn xả mà xả không được, nắm vô hoài, muốn buông ra mà không chịu buông, nắm hoài, tâm mình không nghe lời nữa. Đó là cái tâm khó dạy, cứng cỏi, cang cường. Tâm không tu tập thì mình nói nó không có nghe, còn tâm đã được huấn luyện thuần thục thì tuyệt vời lắm. Phật dùng hình ảnh “điều ngự” tức là huấn luyện voi, huấn luyện ngựa. Tức là những con ngựa, những con voi thuần thục cho nhà vua cưỡi, chúng biết nghe, dễ nghe, dễ điều phục thì tâm mình điều phục giống vậy.
Quý vị về nhớ để ý thực tập điều phục tâm của mình. Thực tập trong giờ ngồi thiền. Nhất là khi còn ở đây, trong lúc thực tập, có gì thắc mắc quý vị cứ hỏi, quý thầy, mấy chú sẽ chia sẻ. Thực tập và nắm được phương pháp này rồi thì đây là cả một cái gia tài tinh thần, tài sản tâm linh, quý vị xài hoài không hết. Bình thường mình thực tập, tới lúc có chuyện chạm tới mình mới thấy kỳ tích xuất hiện. Những chuyện đáng lẽ làm mình sân hận nhưng tâm mình không bị tác động nhiều, nó gợn nhẹ lên một chút vậy thôi. Những chuyện đáng lẽ làm cho mình khổ đau, quằn quại lắm, nhưng nhờ có tu tập nên thấy nó cũng thường. Ngày nào mình cũng quán chiếu, nên đã thấy hết rồi, mọi chuyện xảy ra đều là lẽ đương nhiên thôi.
Phật Tử:
“Thưa thầy cho con hỏi, mình tập trải tâm từ nhưng mình không có thương người đó, mà mình nói mình trải tâm từ vì thương họ và mong họ sẽ được những cái điều tốt hơn trong khi mình đang ghét. Vậy có phải mình nói dối không thầy?”
Đầu tiên, trải tâm từ là trải tình thương chính mình chứ không phải bắt đầu vào là trải cho người nào mình ghét liền, đó là cấp cao, mới vào mà đòi nhảy lên đại học, tiến sĩ liền thì không được. Đầu tiên là mình trải tình thương với chính mình, mình ngồi lại quán chiếu. Mình quán chiếu thấy thương mình quá, bao nhiêu năm qua bị dục ái chi phối; bị sân hận làm khổ đau; bị si mê, vô minh, chấp ngã chi phối nhưng mình không thấy. Tất cả đều là vô thường, năm uẩn mà mình cứ bám chặt cho rằng mấy chục ký lô này là mình, cho nên mình tạo biết bao nhiêu nghiệp. Đáng thương cho mình! Đáng tội nghiệp cho mình! Đáng bi mẫn, xót xa cho chính mình! Phải làm dâng trào lên một cảm xúc thương sự si mê, vô minh, chấp ngã, phiền não của mình. Trào dâng lên một cảm xúc thương chính mình trước.
Từ sự tự thương mình một cách sâu sắc, rồi mình mới trải rộng ra thương những người mình thương: cha mẹ , anh chị em, vợ chồng, con cái, những người bạn của mình. Họ cũng là nạn nhân của phiền não, phải gánh hậu quả của vô minh và tham ái. Những người này rất đáng thương, họ là những người mình phải thương, mình cần thương những người ân nghĩa nhất của mình: cha mẹ, anh chị em, bà con, cô bác. Mình lan tỏa tình thương tới những chỗ đó.
Từ thương những người thân mới mở rộng ra thương thêm những người xa lạ mình nhìn trên đường phố đó: người Việt, người Anh, người Mỹ, người Hàn, hay Châu Phi,… thì họ cũng là những nạn nhân của vô minh, cũng là những người đáng thương, không có ai trên cuộc đời này là người đáng ghét hết. Trải tâm của quý vị đến những người xa lạ, cảm thấy đồng cảm, họ cũng giống như mình vậy thôi, đó là bắt đầu lan rộng tâm từ.
Khi quán được như vậy thì bắt đầu từ từ quý vị mới trải đến những người hơi hơi khó thương. Phải trải từ từ. “Ủa tại sao người ta ghét mình? Tại sao mình lại đi ghét người ta? Có phải người ghét mình cũng bị sân làm cho đau khổ và mình ghét người đó có phải mình cũng bị cơn sân làm cho đau khổ không? Như vậy tất cả hai chúng ta đều là nạn nhân của sân hận, si mê, chấp ngã.” Khi thấy được vậy, mình cảm thấy: “Cũng tội nghiệp quá, đáng tội nghiệp, đáng thương. Tại sao như vậy mà mình không chịu thương, mình còn giận người ta ?Như vậy có phải cùng nhau làm khổ nhau không? Thôi tha thứ đi, bây giờ bấu vào là khổ, siết vào là đau, buộc vào là sầu, bi, ưu, não. Thôi kệ, tội nghiệp, thương đi.” Từ từ quý vị mở rộng ra đến những người thù mình, khởi từ từ như vậy. Tâm mình lúc đầu nó không có chấp nhận nhưng mình trải từ từ.
Thật ra câu hỏi lúc nãy của Phật tử là ý hành đang nói chứ không có gì hết. Ý hành không muốn mình trải tâm từ, nó muốn bám chặt vào bản ngã, nó muốn làm cho hả dạ cái sân chứ nó không có muốn xóa bỏ. Mình biết được đây chỉ là một ý hành, không nghe theo nó, điều này rất quan trọng. Mình không thấy được bản mặt, tên gọi, tính tình của ý hành là mình chết với nó. Lời nói thầm đó nguy hiểm vô cùng, chính cái đó làm mình tu không thành công. Ý hành sẽ xen vào tất cả mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi khắc. Nó không muốn cho mình hướng thượng, không muốn cho mình đi lên, không muốn mình giải thoát. Nó muốn mình ở chơi với nó cho vui, khổ cho nó vui. Khổ mà cho nó vui mới chết chứ! Ý hành không chịu tu, lúc đầu nó chống cự lắm. Ngay cả khi Quán Bất Tịnh, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Tử Thi nó cũng chống cự, nó kêu: “Đừng có quán, ghê lắm. Quán làm chi, quán này làm gì có lợi ích gì đâu, quán biết có được không mà quán?” Khi nó chống cự thì quý vị phải biết đây là ý hành, nó không cho mình tu. Lúc đó để việc Quán Bất Tịnh qua một bên, mình trị nó trước: “Mày xúi giục tao phải không? Mày là ma, là mày bạch cốt tinh phải không? Mày dụ dỗ ta không cho ta đi ra dục phải không? Chính mày là tên đã hại ta vô lượng kiếp khổ đau. Ta đã đi tìm dục, đang đi tìm dục rồi mày kêu sẽ đi tìm dục nữa để khổ nữa hay sao? Đi chỗ khác chơi, chính mi là thủ phạm, ta đập tan mi, ta biết được cái mặt mi rồi đừng có đi theo bám ta nữa.” Mình đánh nó tới chừng nào tan thì mình quay lại Quán Bất Tịnh tiếp.
Từ bi cũng vậy, mở rộng tâm từ ra từ từ thì quý vị sẽ thấy dần dần quen. Lúc đầu sẽ có cảm giác chống cự khó chịu lắm nhưng dần dần cũng sẽ thấy bình thường, rồi từ từ thấy thật. “Những người này đáng thương thật, họ đang giận, họ đang khổ, họ đâu có vui, vậy mà mình giận thì mình cũng đâu có vui. Mình đang đi tu là muốn hết khổ, tại sao mình lại nhào tới cái khổ này? Tại sao mình đang dệt cái khổ này? Tại sao mình làm tăng trưởng, phát triển cái khổ này?” Khi đó bằng trí tuệ mình thấy được cái khổ, điều này rất quan trọng. Đó là con mắt tuệ của quý vị bắt đầu mở, tự thấy trong nội tâm mình chứ không phải nghe người ta nói nữa. Như vậy dần dần mỗi khi quý vị làm gì, sẽ bắt đầu có cảm giác xót thương thật sự. Nó sanh khởi ít thôi, từ từ nhiều nhiều. Tại vì bên trong đã nuôi lớn dần cảm giác từ, cảm giác bi, cảm giác bao dung, tha thứ, cho nên lúc quý vị gặp người đó thì những cảm giác ấy thể hiện ra một cách tự nhiên, không gắng gượng nhiều nữa thì người kia sẽ tiếp nhận được. Thay vì bên kia nóng mà bên này lửa nữa thì sẽ phựt, bây giờ bên kia nóng mà bên này mát thì đâu có phựt. Rồi từ từ bên kia cảm nhận được tâm từ chân thật của quý vị. Như vậy là quý vị tu thiệt tu chứ đâu phải tu giả, thương bằng lòng thương thật thì người kia cảm nhận được. Điều này chính bản thân Minh Thành thực tập có hiệu quả. Bằng chứng nghiệm của bản thân là chuyển hóa người thù hận, người ghét mình. Làm cho họ thương mình luôn mà không có cố gắng nhiều. Mình chỉ lo trải cái tâm từ chứ không cần người ta phải như thế nào. Chỉ cần lo cho tâm của mình thực sự tha thứ, bao dung và trải tâm từ được là mình thành công. Cuối cùng những người đó trở lại thương mến mình.
Muốn được như vậy thì đầu tiên mình cần phải có niềm tin. Mới bắt đầu vào tu nhưng nghĩ rằng mình làm không được là xong, như vậy sẽ không được gì cả. Cái Tín không có thì làm sao có Tấn. Cho nên Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ là năm sức mạnh, là năm cơ sở y cứ, năm căn cứ địa để mình tu. Tín là có lòng tin Pháp và tin mình phải làm được. Rồi mình nỗ lực, nhớ về Pháp hoài để thực hành chuyên chú vào trong đó, mình thấy rõ được là mình đi tới nơi. Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ: bắt đầu là tin (Tín); rồi nỗ lực, tinh tấn (Tấn), chuyên chú nhớ Pháp và tu hoài (Niệm); chuyên chú và tâm mình an trú vào đó (Định); khi an trú vào định, mình sẽ thấy rõ pháp vận hành (Tuệ), như vậy là mình thành công. Từ Ngũ Căn thành Ngũ Lực, thành năm sức mạnh và năm sức mạnh tột cùng đó là A-la-hán quả, chứ không phải bình thường.
Quý vị khi trở về nhớ nghe kĩ những bài giảng để nắm được chìa khóa mở tạng kinh Nikāya. Mấy chú sẽ gửi cho quý vị bộ phân loại kinh Nikāya, có từng chủ đề. Không cần Minh Thành nói nhiều, đọc trong đó rồi thực tập thì quý vị sẽ thấy hiệu quả ngay nơi thân tâm. Ngay những lúc mình tham, sân, si khởi lên mình thấy lạ lắm, kỳ tích sẽ xuất hiện, kỳ diệu sẽ xuất hiện. Nhưng kỳ lạ ở trong chỗ rất là bình thường và bình thường ở trong chỗ kỳ diệu. Hiệu quả rõ ràng, không có xa vời, ngay lúc ngồi tu, ngay lúc nghe pháp, ngay lúc làm công tác, ngay lúc những cảm giác sanh khởi, mình sẽ thấy rõ hết tất cả. Hôm nay Minh Thành chia sẻ với quý vị đến đây, chúng ta đã có một buổi uống trà, gọi là “trà đạo” chứ không phải uống “trà quạo”. Mình đã chia sẻ được những nỗi niềm, những tâm sự, những khó khăn trong sự tu tập. Minh Thành mong quý vị vững niềm tin sâu sắc, vững chắc, chuyên chú trong tạng kinh Nikāya để thực tập và nếm được hương vị của nó.
./.
TRÀ ĐẠO - MỞ KHO BÁU 1 - THẾ NÀO LÀ CHÂN TU
−Thích Minh Thành−
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Phật tử chia sẻ PAGEREF _Toc104290969 \h 1
II.Tạng kinh Nikāya tối thượng PAGEREF _Toc104290970 \h 3
III.Trí tuệ năm uẩn PAGEREF _Toc104290971 \h 7
IV.Con đường xuất ly PAGEREF _Toc104290972 \h 12
V.Tu tập tâm từ PAGEREF _Toc104290973 \h 17
Phật tử chia sẻ
Hôm nay chúng ta uống trà đàm đạo trong tinh thần thân thiện, nhẹ nhàng. Mọi người có thể bộc bạch, chia sẻ hết những điều mình nghi ngờ, thắc mắc trong sự tu học, hoặc những trở ngại trên bước đường thực tập giáo pháp. Vì vậy, xin mời tất cả quý vị cứ trải lòng, mở rộng tâm của mình và có thể chia sẻ được hết tất cả những gì mà mình muốn chia sẻ với quý thầy.
Phật Tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con bạch thầy, con thưa quý thầy con thưa tất cả hội chúng. Con không biết là do âm thanh của bài nhạc, không khí hay là tất cả năng lượng từ tất cả đại chúng và tất cả cây cối ở đây, mà có một cảm xúc trào dâng không ngăn lại được. Con tự thấy mình chắc trong nhiều kiếp trước phải tạo nhiều duyên lành lắm nên giờ phút con được như vậy. Con muốn cảm tạ chư Phật, chư Bồ Tát ở trong nhiều kiếp trước đã giảng dạy cho con để kiếp này con được như bây giờ. Thứ hai là khi cầm tách trà trên tay con thấy mình chưa đủ công đức, chưa đủ đức độ, phẩm hạnh để nhận được tách trà. Thứ hai là con thấy tách trà này thơm ngọt nhưng sau khi nó vào người nó sẽ ra một thứ khác. Thật sự tự nhiên con ước muốn có một cái thân, một bộ máy nào đó có thể chuyển thành hóa những thứ thơm tho của trời đất, thành những thứ thơm tho hơn, con tự nhiên ước như thế. Con xin hết thưa thầy.
Phật Tử 2:
Trước hết là con không biết thủ tục nhưng con biết phải chào Phật, chào thầy, chào quý vị, tất cả mọi người. Như bữa trước con có tới chùa Bửu Liên trình bày là tại sao con tới gặp thầy. Đó là nhờ vợ con đã tìm ra được clip Chiến thuật tâm linh của Phật, bài giảng này chỉ ra cái chỗ tụi con bị kẹt mà tụi con không biết. Lúc đó con đã trình bày với thầy, nhưng cái thức và cái hành của con nó lặn mà con không biết. Ngày hôm sau con nghĩ ra là đã quên cảm ơn thầy. Con bị kẹt từ 1994, nhưng nhờ có thầy mà sẽ không vướng kẹt trong mấy chục năm. Lúc đó tự nhiên con thấy khác lạ lắm, nổi lên sự cảm ơn thầy, thành ra hôm nay nhân đây con xin cảm ơn thầy.
Phật Tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính quý thầy cùng quý vị Phật tử. Con cũng có cảm xúc như bạn đây (Phật tử 1) nhưng mà con rõ ràng có hai cảm xúc. Thứ nhất là do âm thanh của âm nhạc, do không khí này và do trước mắt chúng con là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, trước mắt chúng con là chư Tăng, chư Tôn Đức hết sức tôn nghiêm và rất là thanh tịnh. Cho nên những cảnh ấy, những âm thanh ấy đã tác động đến tâm thức của chúng con khiến cho ở đây ai cũng xúc động. Qua vài phút thôi nhưng con thấy được rằng từ vô lượng kiếp cho đến nay chúng con quá tệ, cho nên bây giờ vẫn ngồi đây nhưng vô minh vẫn còn dày đặc tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến vẫn còn đầy ắp trong lòng. Mặc dù chúng con lâu nay theo pháp môn niệm Phật, đạo tràng của chúng con đã mười mấy, hai mươi năm rồi, trình độ niệm Phật, trình độ định tâm qua câu Phật hiệu của mỗi cá nhân có lẽ cũng có một ít tiến bộ. Nhưng bên cạnh đó, cái tham, sân, si, những cái tiêu cực trong tâm vẫn còn tồn tại và thậm chí còn rất nhiều; nó đi lên theo chiều cao chứ không phải chiều ngang cũng như là không thể đi xuống được nữa. Và điều đó làm cho con rất đau lòng, con thắc mắc như vậy thì mình tu theo pháp môn này sai rồi sao? Như vậy thì Chư Tổ đã dạy mình như thế nào, mình ứng dụng ra sao và bây giờ tình trạng lại như thế. Rõ ràng là Chư Tổ dạy câu Phật hiệu ấy làm cho tâm của chúng sanh bớt ô nhiễm, được thanh tịnh đi cũng giống như thiền định vậy. Nhưng tại sao chúng con lại tu không khéo như thế này?
Điều thứ hai, tự bản thân con thấy rằng là lâu nay mình đi tìm một vị chân sư để có thể kèm cặp việc tu tập của mình, kèm cặp từng lời ăn tiếng nói, từng sự rèn luyện để tâm thức của mình được định tĩnh, có những điều tích cực hơn, thanh tịnh hơn; tham, sân, si, mạn, nghi bớt đi. Có thể gặp chân sư nhưng do ác nghiệp của mình quá nhiều, cho nên gặp nhiều chướng ngại giống như không gặp được hoặc nhận được sự dạy dỗ của chân sư nhưng mà mình không có ứng dụng được. Nhiều chướng ngại từ trong bản thân cho nên không nhận được sự tiến bộ tích cực trong quá trình tu đạo giải thoát của mình. Điều cơ bản nhất là đối xử giữa người với người với nhau, bạn với nhau, những quan hệ trong gia đình, hay bên ngoài bạn bè với đồng nghiệp, với xã hội… nhưng dù thấy con đường đó, biết con đường đó mà khi thực tập từng chi tiết, từng manh múng đều vẫn còn là rất tệ. Cho nên không khí này, âm thanh này khiến cho chúng con cảm thấy hết sức xúc động. Chúng con mong chờ được sự dạy dỗ của thầy sao cho tất cả những điều tiêu cực của chúng con nhờ bài pháp hôm nay và nhờ sự tu tập trong mấy ngày qua ít nhiều được giảm bớt. Chúng con mong có được kiến thức căn bản để chúng con có được phương pháp cụ thể, thiết thực nhất, biết đường mà đi để chúng con tiêu diệt tham, sân, si, mạn, nghi. Sau đó chúng con sẽ tiếp tục theo dõi, học lại những bài pháp thầy đã giảng trên youtube để chúng con thực hành, để cho câu Phật hiệu kết hợp với sự rèn luyện tâm sẽ có hiệu quả hơn. Chúng con sẽ đem kết quả ấy ít nhiều cúng dường lên Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật và đền ơn các vị chân sư cũng như quý thầy.
Tạng kinh Nikāya tối thượng
Từ lâu, Minh Thành nhìn nhận, thấy được chung chung người tu học bây giờ thường thích những gì cao siêu, rộng lớn. Mọi người dễ bị những ngôn từ hoa mỹ làm cho không thấy được thực pháp, không thấy được thực tế, sự thật. Cộng thêm một điều rất là quan trọng là giáo pháp của Đức Phật trải qua một thời gian dài nên có rất nhiều sự truyền thừa. Có nhiều vị cao tăng, danh tăng phát huy theo căn cơ, theo duyên của những vị đó, cho nên bây giờ giáo pháp muôn màu muôn vẻ. Khi tu học mình thấy vẻ nào cũng thích, vẻ nào cũng đẹp. Nếu nói ra thì có nhiều vấn đề lắm, nên bây giờ mình chỉ điểm vào những trọng điểm, để mình tìm ra mấu chốt vấn đề ở đâu? Tại sao mình tu học với những lý tưởng, mục đích rất là cao siêu nhưng trong đời sống bình thường, cách đối nhân xử thế giữa con người với con người, giữa tình người, tình thương, giữa tình bạn đạo với nhau, những đạo lý rất căn bản để làm người có khi cũng bị thiếu xót, có lúc mình mất niềm tin và hụt hẫng?
Điểm thứ nhất là mình học nhưng không đi lên từ nền tảng. Mình phải đi từ tiểu học, rồi trung học, đến đại học, rồi mới lên sau đại học. Còn mình thấy đại học hay quá, muốn vô chuyên ngành luôn, mình cứ nghiên cứu thẳng vô lĩnh vực đó rồi bỏ qua hết những kiến thức nền, những kiến thức căn bản. Cho nên khi mình nói, mình chia sẻ, mình hiểu biết thì giống như là gần gần với pháp nhưng trong đời sống thực tế, nhất là va chạm với nhau trong sinh hoạt thường ngày thì lúc đó mình mới thấy thực tế khác với những gì mình đã học, đã hiểu và khác với những gì mình nghe, mình nói. Đức Phật dạy trong tạng kinh rất rõ, nhưng nhiều lí do, có khi là mình thấy những điều đó bình thường quá: năm giới, tam quy bình thường quá; biết ơn, nhớ ơn và đền ơn cũng quá bình thường, nhưng không ngờ những điều này rất là quan trọng ở trong đời sống.
Thật ra trong tất cả các đường lối tu, nếu không thành tựu Chánh Tri Kiến trong tạng kinh Nikāya thì mình không ra khỏi bàn tay của Như Lai Phật Tổ trong Tây Du Kí. Bàn tay đó là năm uẩn và mình không đi ra khỏi được. Trong sự tu tập của mình, ngồi tu mà tưởng mai mốt sẽ được cái này, được cái kia, mai mốt chết rồi mình sẽ thế này thế nọ,… tất cả những cái này là ảo tưởng, là vọng tưởng. Trong khi thực tế ngay cái chỗ mình muốn chính là dục, tham, ái, bản ngã nhưng mình không thấy. Mình còn muốn thấy hình ảnh mai mốt mình ngon lắm, mọi người quý kính – danh trong đó nhưng cũng không thấy. Ngay chỗ đó nhưng mình không thấy thật pháp, mình sống toàn với tưởng, với hành. Tức là bao nhiêu hình bóng, bao nhiêu lời nói thầm thầm vẽ ra, vạch định ra những chương trình, những kế hoạch, những dự tính, bao nhiêu bản vẽ nó vẽ ra rồi ngồi đó mình ăn bánh vẽ. Rồi khi mình gặp chuyện sân si nổi lên, tham dục nổi lên, bản ngã nổi lên rồi cuối cùng mình tu nhưng không được gì hết.
Còn tạng kinh Nikāya, phương pháp thực hành này chỉ thẳng trực tiếp, không có một con đường nào khác. Nếu không thấy được giặc nó ở chỗ nào thì lúc đó làm sao đánh giặc, làm sao diệt giặc? Kéo binh đi đánh giặc mà hỏi giặc ở đâu thì không biết; giặc mặt mũi ra làm sao, mặc đồ gì cũng không biết, tính tình nó ra sao, nó giỏi như thế nào, nó luyện võ gì, sở trường như thế nào, cũng không biết gì hết, như vậy làm sao diệt? Vậy nên quý vị phải nghe bài “Tham sân si ở đâu?”, chứ mình không biết nó ở chỗ nào hết mà đó giờ đòi diệt nó hoài thì sao diệt được. Mỗi ngày trước Phật hãy đọc bài sám: phải từ bỏ tham, sân, si; phải diệt hết tham, sân, si; chứng giới, định, tuệ này nọ mà mình không biết nó ở đâu thì làm sao? Sự tu học như vậy rất hời hợt, không có thực tế, không có thiết thực, chính vì vậy kết quả rất mông lung. Còn tạng Nikāya dạy cho mình rất là rõ, ngay trong cảm giác bực, khó chịu vì một câu nói, một cái ánh mắt, ánh nhìn, một cái hành động là trong thân mình dâng lên, giữa thân ấm ấm, nóng lên, hất lên. Mặt bắt đầu ửng ửng lên, mắt lờ mờ, cái lỗ tai lùng bùng, mình biết sân tới rồi. Nó rõ ràng như vậy đó, mình thấy rất là rõ, nhìn cảm giác mới thấy được. Còn nếu không lúc đó mình với cơn sân đồng hóa, mình bị cuốn vô rồi vòng xoáy đó nhấn chìm mình. Tới lúc mình hay là xong hết, rồi đi vào ba cái nhà: một là nhà thương, hai là nhà tù, ba là nhà quàn (nhà tang lễ).
Hằng ngày tin tức ở ngoài liên tục, mở ra toàn là những cái vụ án hình sự, tất cả những chuyện mà thương tâm, khủng khiếp trên cuộc đời này. Mình đọc mà không tin được là nó có thật. Tất cả đều từc tham, sân, si phát tác ra. Từ cái chỗ người ta không biết nó, không biết tên tuổi nó, không biết mặt mũi nó, không biết tính tình nó nên nó xâm chiếm nội tâm mình, nó an trú, khống chế, chế ngự, điều khiển toàn bộ hết. Cho nên nếu Đức Phật không ra đời, không chỉ phương pháp cho mình thì tất cả chúng sinh chìm trong bóng đêm, vĩnh viễn trong trường dạ vô minh, đêm dài tăm tối không có ngày ra. Mình đã học Phật rồi mà lại giống đi vào rừng rậm, bát quái trận, đào hoa đảo, đi vòng vòng rồi thấy chỗ nào cũng giống, chỗ nào cũng tốt. “Con thưa thiệt với thầy, trì chú con cũng thấy hay, niệm Phật con cũng thấy êm êm lắm, mà ngồi thiền con cũng thấy được được.” Rồi cái nào cũng tu hết nhưng cuối cùng không có cái nào. Cho nên trong tinh thần tạng kinh Nikāya, đầu tiên, mình phải thường trực nhìn lại cảm giác. Minh Thành nói để quý vị thấy rằng cả năm bộ Nikāya gom lại, cuối cùng là nói năm uẩn. Từ năm uẩn gom gọn, rút gọn cuối cùng còn lại là thọ uẩn, cảm thọ, cảm giác. Vì vậy thường trực nhìn lại, để ý, theo dõi, tìm hiểu, nhìn sâu vào trong cảm giác sẽ phát hiện được tất cả những gì có mặt ở trong đó.
Khoảng 8 tháng nay Minh Thành nhất hướng vào tạng kinh Nikāya. Lúc trước thì nói chung chung để chia sẻ nhưng mà bây giờ thì Minh Thành chuyên một hướng đó. Theo những nhà nghiên cứu trên thế giới, sự nghiên cứu về Phật học đều lấy tạng kinh Nikāya, tạng Pāli làm chỗ gọi là Thánh điển để nghiên cứu, tìm hiểu, cũng như tu học Phật pháp. Tạng kinh này cho chúng ta biết rằng: thành tựu được lòng tin bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng là mình chứng Thánh quả thứ nhất – Tu-đà-hoàn. Nhiều người nghe qua sẽ thấy lạ và thắc mắc: “Thưa thầy, vậy mấy chục năm nay không lẽ con không hiểu Phật, không tin Phật, không tin Pháp, không tin Tăng sao? Vậy sao giờ này con ngồi đây”, nhưng sự thật là cái tin của mình chưa đặt nền tảng trên sự hiểu biết, thấu đáo và cặn kẽ. Cho nên niềm tin này có khi còn phiến diện, khía cạnh, thậm chí mê tín trong đó mà mình không biết. Còn nếu thành tựu niềm tin đối với Phật, Pháp, Tăng và Giới, đồng thời lòng tin đó không dao động thì tối thiểu mình Hướng Dự Lưu và Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, vĩnh viễn cắt đứt ba đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chậm nhất trong bảy đời thăng tiến tới Chánh Giác, tới bậc A-la-hán chấm dứt hết tất cả mọi phiền não.
Như vậy, cần hiểu Đức Phật như thế nào, tin Phật như thế nào; cần hiểu Pháp như thế nào, tin Pháp như thế nào, thực hành Pháp như thế nào; cần hiểu về Tăng; hiểu về Giới như thế nào? Ở đây Minh Thành chỉ giới thiệu với quý Phật tử những điểm cốt lõi, chúng ta phải có thời gian tìm hiểu, xem như chúng ta học lại từ đầu. Trước hết phải đổ móng, làm cho nền móng thật vững chắc thì sau đó mình xây bao nhiêu tầng cũng được. Bây giờ đa số những ai đi vào Phật pháp, đừng nói chi những người mới, thậm chí những người tu lâu, không những người cư sĩ, ngay cả người xuất gia thì cũng chưa chắc đã hiểu thật chính xác về Đức Phật. Cứ lạy lục, cầu xin này kia thì mình chưa có hiểu Phật. Việc cầu xin cho mình được khỏe mạnh, được sống lâu, cầu xin cho mình được mọi việc bình an – quý vị thấy điều này rất bình thường phải không? Nhưng xét sâu sắc là mình chưa hiểu thực sự về Phật và Pháp. Nếu chỉ mong muốn cho quý vị được khỏe mạnh hoài thì quý vị không tin tưởng cái lý vô thường: sinh, lão, bệnh, tử; đến chùa mà chỉ ghi cầu an hoài trong khi giáo pháp của Phật thực sự là:
Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau. (Tương Ưng Bộ - tập V, chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định)
Sâu sắc trong tâm của mình có thấy được bản chất thân này là khổ không? Có thấy được bản chất của cuộc đời này là khổ không? Hay sâu sắc thực sự bên trong mình cũng còn muốn đi tìm, muốn đi kiếm. Trong bài kinh “Có pháp môn nào”, Đức Phật nói rằng: có một pháp môn không cần phải có lòng tin, không cần phải có sự tìm hiểu để suy nghĩ tìm ra phương pháp, không cần phải có bất cứ sự tín ngưỡng gì. Pháp môn này là nội tâm đang có sân, phải biết nội tâm đang có sân. Nội tâm đang có tham, phải biết nội tâm của mình đang có tham. Nội tâm đang có si mê, phải biết nội tâm đang có si mê. Quý Phật tử nghĩ cái biết đó có cần qua một kĩ thuật, kĩ nghệ gì không? Khi tâm của mình nóng giận mình có biết không? Có biết mình đang nóng giận không? Mình có cần phải học để biết nội tâm đang nóng giận không? Hay là mình cần phải tin tưởng điều gì để biết rằng nội tâm đang nóng giận?
Chính vì vậy, Đức Phật nói pháp này là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy với mục đích trọng tâm của đạo Phật là nhiếp phục tham, sân, si đến đoạn tận tham, sân, si. Nhưng lâu nay chúng ta bị những từ hoa mỹ che mờ, tức là khi tu mình mong muốn những gì cao siêu, đẹp đẽ, huyền diệu diễn ra ở trong tưởng uẩn. Thế nên cứ tưởng tu rồi thì sẽ được đến một nơi nào đó, hay là đến một trạng thái gì đó, hay được thứ gì đó. Nhưng không ngờ rằng trí tuệ trong tạng kinh Nikāya cho biết, người thành tựu trí tuệ, thành tựu Thánh trí là người thấy được hết tất cả những cấu nhiễm, những sự nhơ bẩn khủng khiếp nhất trong nội tâm. Sự tu của mình bây giờ đại đa số là tránh né, tìm cái gì đó khỏa lấp, che đậy, mình không có trực diện, không có nhìn thẳng để mình thấy tham, sân, si. Nếu không nhìn thấy, không biết nó ở đâu, không hiểu nó như thế nào thì làm sao trị được nó? Khi nhìn lại cách thực tập của mình trong thời gian qua, chính bản thân Minh Thành cũng đã từng rơi vào những điều này. Sau khi Minh Thành phát hiện ra được tạng kinh Nikāya và thực tập sâu sắc thì thấy đúng là như vậy.
Ngày xưa, chúng ta hướng ngoại nhiều, mà không phát hiện được thực pháp ở trong nội tâm chính mình, nếu phát hiện được quý vị sẽ rất là bất ngờ. Dù bây giờ quý vị nghĩ: “Giờ con ngồi đây, con thấy an lạc mà, thanh tịnh mà” nhưng nếu Minh Thành chỉ ra là quý vị sẽ bất ngờ, vì đa số mọi người đang ngồi đây ở trong vô minh, ở trong ái dục và ở trong chấp ngã. Theo tinh thần tạng kinh Nikāya sẽ chỉ cho chúng ta thấy tại sao như vậy? Bởi lẽ, chúng ta ngồi đây và thấy có cái tôi, thấy cái của tôi, thấy cảm giác của tôi và mình thích cảm giác êm ái, nhẹ nhàng, thích thú, này. Khi thấy có một cái tôi mà mình không thấy rõ được năm uẩn, không thấy được tứ đại kết hợp thì lúc đó là vô minh.
Cho nên, Minh Thành thường chia sẻ là chúng ta phải thường nhìn lại cảm giác, điều này phải có sự thực tập mới thấy được. Vì giáo pháp này đòi hỏi “đến để mà thấy”, chứ không phải mình học, mình nghe, mình viết, mình chép, mình hiểu, mình nói nhưng không thấy gì hết thì không có gọi là “đến để mà thấy”, vì thấy là phải nhận diện ra luôn. Ngay ở trong cái cảm giác thích thú, vui vẻ có tham cư trú. Ngay trong cái cảm giác bực bội, khó chịu, khổ trong đó phải thấy được có sân trú ẩn. Ngay trong cảm giác đều đều, thường thường, không vui mà cũng không khổ, không có thích thú mà cũng không ghét bỏ, thì phải thấy được vô minh tùy miên ở trong đó. Lúc đó, chúng ta không thấy năm uẩn, không thấy tứ đại mà mình thấy có cái tôi.
Trí tuệ năm uẩn
Toàn bộ nội dung của tạng kinh Nikāya là giúp cho chúng ta thành tựu trí tuệ năm uẩn. Tức là ngày xưa đến bây giờ, thân tâm này giống như là một nắm tay và chúng ta chỉ thấy đây là một nắm tay, do đó cứ nắm chặt vào, nghĩa là mình nắm chặt vào năm uẩn, cho rằng đó là tôi và của tôi. Không thấy đó chỉ là năm ngón tay, năm ngón kết hợp, chứ không có cái nắm tay nào. Vậy, năm ngón đó là ngón gì?
Ngón thứ nhất là ngón sắc uẩn. Đức Phật dạy trong kinh “Thủ chuyển”, định nghĩa sắc là tứ đại, sắc do tứ đại tạo thành, mình phải thấy rõ phần sắc uẩn này. Dù cho căn nhà tranh hay là tòa nhà cao nhất thế giới thì đó cũng là sắc uẩn không hơn không kém. Thân này cũng là sắc uẩn, tứ đại tạo thành, hằng ngày mình ăn, uống, thở, phải thấy được những thứ đó là tứ đại ở bên ngoài và tứ đại ở bên trong kết hợp. Phải luôn luôn thấy, luôn luôn biết như vậy. Nhìn bằng trí tuệ đó thì bắt đầu tách từ từ ra khỏi sắc uẩn, còn nếu không là mình bám, bấu chặt vào trong đó, ai đụng tới là sân giận phát khởi, không còn bình an. Thậm chí chưa ai đụng đến, người ta mới chỉ trích chê bai thì lúc đó tâm mình đã không còn bình an. Nhưng một hồi nghe ra là do cô kia trùng tên, họ chỉ trích người kia chứ không phải nói mình. Lúc đó mình cười, mình nói mình hiểu lầm, nhưng thật ra bên trong chất chứa những cảm giác bực dọc, sân si, khó chịu tại vì đó là tên “của tôi”. Một sự nhận lầm khủng khiếp, kinh khiếp đó là mình bám chặt vô sắc uẩn. Mới nói cái sắc uẩn này thôi mà đã nhận lầm rồi. Nhận lầm cái này mà muốn an lạc, giải thoát là sự kiện không có thể xảy ra. Đây là điều Đức Phật nói tạng kinh Nikāya:
Này các Tỳ-kheo, người nào yêu thích sắc, cũng đồng nghĩa người đó thích khổ.
Sắc đó không phải là người nào khác hết mà chính là xác thân mình. Mình có yêu quý, trau chuốt, chăm chút, tô bồi, vun vén cho nó không, tại sao vậy? Tại vì mình nhận lầm, nghĩ nó là mình, tới lúc nó vô thường, biến hoại, tan nát mình bấn loạn, khủng hoảng, đau khổ. Tại vì nghĩ đó là mất mình, mình tan vỡ, nhưng mình không biết đây là sắc, sắc do duyên hội tụ, hết duyên thì tan. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thấy bằng trí tuệ, chứ không phải niệm Phật xong là thấy được sắc thân này là vô ngã. Niệm Phật là để nhiếp tâm, bớt loạn động. Mình phải dùng trí quán để nhìn sâu vào mỗi ngày, mọi lúc mọi nơi. Tập nhìn tất cả mọi thứ xung quanh là sắc pháp, sắc uẩn, tách suy nghĩ cho nó là mình và của mình ra từ từ. Chỉ có phương pháp đó, không có phương pháp nào khác nữa hết. Quý vị thấy một người lê lết đi xin ăn ở ngoài đường bị bệnh cùi, bị tàn tật, bị khuyết tật, bị mù lòa, bị nan y; người đó có khổ vì xác thân của họ không? Rồi một người giàu nhất, đẹp nhất, thành công nhất ở trên cuộc đời này; người đó có khổ vì xác thân của họ không? Hình thái thì sai biệt, nhưng bản chất của khổ không khác. Tại sao ai chạm tới là đau? Ai đụng tới là bực? Đức Phật nói có ba hạng người:
Thứ nhất: tâm giống như là vết thương. Kẻ vô văn, phàm phu có tâm giống như vết thương, ai chạm đến là đau, bật dậy, phựt dậy, phản kháng liền. Đức Phật diễn tả nó sân hận, bực bội, phản kháng, nó dùng bao nhiêu thứ để đánh trả trở lại.
Thứ hai: tâm giống như ánh chớp. Người này bắt đầu thấy được trí tuệ về năm uẩn và thấy được khổ.
Thứ ba: tâm giống như kim cương. Người này đoạn diệt hết tất cả các lậu hoặc.
(trích Tăng Chi Bộ Kinh – tập 1, bài kinh Vết thương làm mủ)
Riêng về phần sắc uẩn, Đức Phật dạy dùng sáu sự tu tập mới có thể phá vỡ được chấp về sắc uẩn. Sáu phương diện tu tập, gồm:
Thứ nhất: Niệm Hơi Thở.
Thứ hai: Niệm Oai Nghi.
Thứ ba: Niệm Hành Động.
Thứ tư: Niệm Tứ Đại.
Thứ năm: Niệm Ba Mươi Hai Thể Trược.
Thứ sáu: Niệm Chín Giai Đoạn Một Tử Thi.
Đây là sáu phương pháp để phá tan chấp thủ sai lầm vào trong sắc thủ uẩn. Quý vị nhớ chữ “thủ” này, quan trọng lắm. Chữ thủ làmình bấu chặt, bám chặt, nắm chặt, không có buông ra, gọi là Sắc Thủ Uẩn. Bây giờ thường thường ở các thiền viện trong nước ngoài nước, người ta sử dụng ba phương pháp đầu. Tức là Niệm Hơi Thở: thở ra, thở vào. Niệm Oai Nghi: Đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm. Niệm Hành Động: động, tĩnh, co, duỗi,… phải biết. Các chỗ tu thiền thường sử dụng ba pháp đầu này, nhưng ba cái sau bị thiếu, tức là thiếu Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược và Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi. Đêm hôm qua quý vị xem quán chiếu từng bộ phận, khi con mắt quý vị tiếp xúc vô những hình ảnh đó, lúc đó tâm quý vị như thế nào? Có thấy nhàm chán không? Có thấy ghê sợ không? Có thấy là không sạch sẽ, bất tịnh không? Có thấy không tham muốn, hết tham muốn không? Đó chính là “thiết thực hiện tại đến để mà thấy, không có trải qua thời gian, có hiệu quả tức thì, được người trí tự mình giác hiểu” – đây là định nghĩa về Pháp của Đức Phật.
Danh từ trong kinh Hòa thượng Minh Châu dịch là “yểm ly” tức là nhàm chán, ly tham, không có tham muốn nữa, thấy sợ. Ít nhất trong giờ phút đó quý vị phát khởi được cảm giác đó, được những suy nghĩ như vậy. Chư Tỳ-kheo thường thường mỗi ngày đều phải quán chiếu như vậy. Quán như vậy thì làm sao không bớt tham, quán như vậy làm sao không nhàm chán, quán như vậy làm sao dần dần không đưa đến từ bỏ? Không có sự kiện đó xảy ra! Quán như vậy nhất định sẽ đưa đến chỗ nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, từ đó đi đến chỗ chấm dứt sinh tử, không còn ưa thích thân vô thường, tứ đại, bất tịnh. Lúc nãy có cô Phật tử chia sẻ là không muốn có cái thân thể giống vậy nữa, khi ăn vô thì thơm, ngon nhưng khi mình bài tiết ra là nó không còn như vậy. Từ chỗ đó mình phải một cách thường trực, một cách liên tục, một cách sâu sắc, thấy sao cho đi vô trong xương tủy của mình thì cái đó là thành tựu trí quán. Cho nên quý vị nghĩ cái này là dễ hay không dễ? Không có con đường nào khác hết, đây là con đường của bậc Chánh Đẳng Giác, không có con đường thứ hai.
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ. (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Đại Niệm Xứ)
Không có con đường khác, làm gì có một cách nào khác để mà mình không còn bám chấp, không còn say đắm vào thân này ngoài cách nhìn thấy được thực chất của nó. Đó là phương pháp trực tiếp, chỉ thẳng, Đức Phật gọi đó là “tuệ tri”. Từ một thân thể chết rồi nó sình lên, chảy mủ chảy nước vàng, những con dòi ăn, rồi nó phân hủy như thế nào? Những bộ xương rải rác, đây là xương sọ, kia là xương sườn, kia là xương chân, xương ống chân. Cuối cùng nó nát ra thành bụi hết. Phải quán bằng trí quán thâm sâu, triệt để như vậy thì hắc chắn quý vị sẽ giảm bớt. Chưa nói là mình dứt được 100%, nhưng ít nhất mình cũng phải đi được 40, 50, 60%. Như vậy thì quý vị là Hiền nhân, gần tới Thánh nhân.
Minh Thành ví dụ thêm những cái rất là nhỏ để cho quý vị dễ thấy. Khi đi đám cưới, dọn lên 15 món, mình thấy rất là bình thường, mình ngồi ăn bình thường. Mình nghĩ đây là ăn cơm mà có gì đâu, tu là lúc lên trên chánh điện, chứ còn ăn những thứ này thì làm gì tu. Nhưng quý vị nhìn kỹ, trong khi ăn có thúc dục không? Khi ăn nhiều, mình nhai chưa hết miếng này mà mình gắp thêm miếng tiếp tục rồi, trong đó có dục, có tham và mình có thích thích, khoái khoái đó là có ái. Kinh Nikāya mới chỉ ra hết cho mình thấy, dục, tham, ái có trong đó mà mình không thấy. Rồi đến những điều vi tế của bản ngã kinh khiếp lắm, phải có trí tuệ thường trực nhìn lại hoài mới thấy. Lời nói dù rất nhẹ nhàng thôi nhưng thể hiện bản ngã trong đó, nó lồng trong đó mà mình không thấy. Trong ánh nhìn đơn giản, một hành động, cử chỉ thôi là bản ngã biểu hiện mà mình không thấy. Mình để cho nó qua mặt, trú ẩn, lén lút, âm thầm hoạt động, trá ngụy làm đủ thứ trong đó hết. Cuối cùng toàn bộ kinh thành của mình là cái thân bị xâm chiếm hết từ đầu tới chân. Từ cảm giác, từ suy nghĩ, từ những nghĩ tưởng, từ những nhận thức, toàn bộ bị vô minh, tham ái và chấp thủ chi phối, chiếm lĩnh, nhưng mình không thấy, không biết gì hết.
Cho nên điều quan trọng nhất của Bát Chánh Đạo và cũng là cách cửa đầu tiên để đi vào Phật Giáo là Chánh Tri Kiến. Được cái này rồi thì sau đó suy nghĩ, lời nói, hành động sẽ dẫn mình đi đúng. Còn nếu không vào được cửa này, mình làm cái gì đi nữa thì cũng lẩn quẩn trong vô minh, tham ái, chấp thủ, tham, sân, si. Chánh Tri Kiến là gì? Thấy năm uẩn là năm uẩn, năm uẩn không phải là tôi, không phải là của tôi. Đó mới nói một phần sắc uẩn. Rồi mình nhìn vào cảm giác. Cái tưởng của mình có làm mình khổ nhiều không? Nói đơn giản, gộp chung lại là những hình bóng, những lời nói thầm thầm trong nội tâm có làm cho mình khổ không? Nó có quậy mình không? Nó có để cho mình ngồi yên, ngủ yên không? Khi ngồi lại hoặc nằm xuống, bao nhiêu hình bóng người này, người kia, hình người nọ hiện lên; bao nhiêu lời nói, hết nói cái này, nói cái kia,… cứ lầm thầm. “Thôi mệt quá, để ta nghỉ chút” nhưng nó không cho mình nghỉ, và chúng ta lại nhận chúng là mình: “Tôi đang suy nghĩ mà, suy nghĩ này là của tôi”, mà không biết nó là pháp duyên sanh, là vô thường.
Nếu trước đó không nghe tiếng nói ấy thì khi về mình sẽ không suy nghĩ theo câu đó. Nếu không thấy hình bóng đó thì sẽ không có suy nghĩ về hình bóng đó. “Xúc tập khởi cho nên tưởng tập khởi”, tức là do tiếp xúc cho nên mới có cảm giác do tiếp xúc. Vì vậy do tiếp xúc mới có những cái tưởng, những hình bóng, mới có suy nghĩ, nếu không tiếp xúc thì không có. Sau khi tiếp xúc rồi thì có cảm giác, sau khi có cảm giác thì thích cảm giác đó, sau khi thích rồi thì muốn bám víu cảm giác. Đó là xúc sinh thọ, thọ sinh ái, ái sinh thủ, mười hai nhân duyên này sáng, trưa, chiều, tối lúc nào cũng vận hành trong tâm nhưng mình không thấy. Mình cứ mở bài ra, học cái này, học mười hai nhân duyên, học xong đóng sách lại là hết, tu như vậy không dính dáng tới mình, đó là bài học. Còn tạng kinh Nikāya đòi hỏi mình nhận diện những cái này đang có mặt trong thân tâm, phải xem trong cái xúc có dục, có ái, có tham, có sân không? Trong thọ có cái gì? Trong tưởng có cái gì? Mình phải thấy rõ, không thể không thấy, không thể không biết. Chúng ta tu như vậy thì không có thời gian rảnh để nói chuyện với người khác, không có thời gian rảnh để để ý những cái ngoài. Tối ngày lo nhìn lại mình, cũng giống một người tối ngày ở trong nhà, lo vệ sinh sạch sẽ chỗ này, chỗ kia, sắp xếp ngăn nắp thì căn nhà đó đẹp, sạch, “nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”. Khỏi cần quảng cáo gì hết, ai bước vô cũng cảm thấy được sạch sẽ, mát mẻ, ăn cơm ngon thì đó tự độ – độ tha. Đâu cần gắn bảng hiệu, cầm micro la lên “Tôi là Bồ Tát đạo”, mình không nhìn chính mình, mình cứ nói, rồi cuối cùng Bồ Tát đâu không thấy coi chừng thấy tát, có khi là tát thiệt chứ không phải mình nói vui.
Con đường xuất ly
Bên ngoài rất nhiều trường hợp những thanh thiếu niên tự vẫn vì chuyện nam nữ, chia tay hay những chuyện về tình cảm? Tại vì họ không biết con đường nào để thoát ra, không biết phương pháp xuất ly, không biết phương pháp vượt ra. Cho nên nếu học được những cái này thì lợi ích rất là nhiều. Ít nhất, mình cũng có những vũ khí, súng đạn để khi giặc phiền não tới thì mình có những phương tiện để mình tiêu diệt, chống cự với nó, không cho nó xâm chiếm hết tất cả toàn bộ cảm giác, tư tưởng và nhận thức của mình. Cho nên cần những phương pháp để thấy được tứ đại, những phương pháp để nhìn sâu vào được ba mươi hai thể trượt từng bộ phận của cơ thể, những phương pháp để mà thấy rõ chín giai đoạn phân hủy của một thây chết. Phải nhớ lúc quán là quán cái thây của mình, chứ không phải quán thây của ai hết, thấy mình đang nằm chết. Lúc đó quý vị sẽ thấy tuyệt diệu lắm, kỳ tích xuất hiện. Tất cả những dục, tham, ái sẽ lắng dịu, an tịnh.
Khi nãy một Phật tử chia sẻ từ nửa vòng trái đất trở về đây, Phật tử này thực tập tưởng yên tịnh và hành yên tịnh. Tưởng yên tịnh là những hình bóng nội tâm không xuất hiện nữa, hành yên tịnh là những lời nói, suy nghĩ không xuất hiện, lắng dịu hết thì vị này tưởng tới đó là chân tâm Phật tánh. Nhưng không phải. Đó là có tiến bộ trong sự tu tập. Tưởng, hành lắng dịu, an tịnh, lúc đó nó an lạc lắm. Nhưng khi an lạc, tự nhiên mình khoái khoái, thích thích chỗ này: “Chỗ này ngon à nha, chỗ này êm à nha, chỗ này mình đạt được cái gì rồi đó”. Đó chính là ái, mình muốn tìm lại chỗ đó, muốn kéo dài cảm giác này ra nữa nhưng nó đã mất.
Cũng như quý vị là chủ nhà, nhưng phải đi 2-3 tháng để làm công việc ở nước ngoài, khi trở về phát hiện trong nhà có mùi rất hôi nhưng không biết xuất phát từ đâu. Quý vị tìm hiểu rồi móc bàn, ghế, giường, tủ, khiêng ra, cuối cùng phát hiện ra hai xác chết của con chuột, bị con mèo xé. Mình đi lau chỗ đó, bao nhiêu côn trùng, dòi sinh ra, dơ bẩn. Khi phát hiện mình cứ để vậy, đi ngủ, kệ nó hay hốt đống dơ đó, rồi đổ bỏ, lau chùi cho tới lúc hết mùi luôn? Minh Thành ví dụ cho quý vị nghe đơn giản Tứ Thánh Quả ở trong đó:
Thứ nhất, phát hiện ra xác chết chuột là Sơ Quả Tu-đà-hoàn;
Thứ hai, hốt đi đổ là Nhị Quả;
Thứ ba, đang lau chùi đó là Tam Quả;
Thứ tư, lau chùi đến khi không còn mùi nữa, là Tứ Quả A-la-hán.
Sự tu đơn giản như vậy. Cho nên làm sao để phát hiện ra được có một xác chết chuột ở trong hốc nhà? Mình phải đi tìm, không đi ra ngoài đường nữa, không đi chơi nữa, không đi công tác nữa mà phải ở nhà. Rồi mình phải đi mọi hốc hách, những xó kẹt, phải lôi ra, kéo đồ ra hết, đó là giai đoạn nhìn trở lại cảm giác. Nhìn hoài, tìm hoài, nhìn sâu vào thì như vậy quý vị phát hiện ra nào giờ tưởng mình ngon lắm, bây giờ đã thấy cái sân tổ bố. Nào giờ tưởng đâu mình ngon lắm ai dè tham dục đủ thứ chỗ, chỗ nào cũng thấy tham hết. Nào giờ tưởng mình sáng suốt, trí tuệ, thông minh lắm ai dè si mê, vô minh, chấp ngã quá chừng. Nào giờ tưởng tâm mình hiền thiện lắm ai dè tật đố, ganh tị, khen người khác hoài cũng khó chịu nữa.
Đến khi nào thấy được:“Ôi cha! Xác chuột chết hôi quá, những thứ này dơ bẩn quá”, bao nhiêu vi trùng khi mình phát hiện được thì nhất định phải dọn dẹp. Và khi thấy được rác bẩn là thành tựu Thánh trí thứ nhất. Lâu nay mình cứ hướng ra ngoài nên không thấy, bây giờ bắt đầu nhìn vào nên mình thấy. Khi thấy được rồi thì mình dọn dẹp, có phương pháp rõ ràng hết. Quý vị xem bài “Mục đích của Đạo Phật”, bài “Tham, sân, si ở đâu?”, bài “Mở cửa bất tử”, trong đó Minh Thành có nói: tham dùng cái gì trị, sân dùng cái gì trị, si dùng cái gì trị, bản ngã dùng cái gì trị? Những điều này là trong tạng kinh Nikāya Đức Phật dạy, không có bất cứ một ai có thể đưa ra Thánh đạo được hết trừ bậc Chánh Đẳng Giác. Tại sao mà mình đi học với thầy này, thầy kia, ông cụ này, cụ nọ,… đó là vì mình chưa thành tựu niềm tin bất động đối với Đức Thế Tôn, chỗ này rất là thâm sâu. Phật chỉ như vậy tại sao mình không làm? Rõ ràng Phật chỉ: dùng bất tịnh quán, dùng ba mươi hai thể trược, dùng chín giai đoạn một tử thi là trị tận cùng tham dục, tại sao mình không làm? Còn mấy người kia sao có thể so được với Đức Thế Tôn. Tại sao Phật mình không tin mà đi tin mấy cái khác? Có lẽ những cái đó là đơn giản, là dễ dãi, là dễ dàng, nó phù hợp với lòng tham của mình. Vả chăng là như thế?
Cho nên tạng kinh Nikāya rất là thiết thực, rất là thực tế. Khoan nói trang trí nhà cửa, đãi tiệc, thiết kế mỹ thuật, thẩm mỹ gì. Hãy dọn sạch đống hôi hám đó trước đã, cho nó sạch sẽ hết hôi đi rồi tính sau. Sau khi nhà sạch sẽ rồi, muốn làm gì thì làm. Còn cái kiểu của mình là tuyên bố “tôi là tổ chức tiệc quốc tế, tiệc toàn quốc, tôi là kiến trúc sư mỹ thuật bậc nhất”, tất cả là viển vông. Bệnh tùm lum mà la lên đòi cứu nhân độ thế, bản thân bệnh giai đoạn ung thư thời kỳ cuối rồi mà không biết, không phát hiện ra. Thành ra điều quan trọng trong tinh thần tu tập này là quay trở lại để nhìn, nhìn để thấy được ở bên trong đang có những gì? Những cái đó đang có mặt, đang sinh khởi như thế nào? Nó chi phối, an trú, xâm chiếm, quậy mình như thế nào? Mình phải thấy được rồi nhiếp phục, làm chủ, từ bỏ nó, tách ra khỏi nó từ từ.
Tu pháp này hay lắm, quý vị thực tập rồi sẽ thấy, biết tất cả. Cứ tu từ bước thứ nhất, đến bước thứ hai, qua bước thứ ba, cuối cùng là bước thứ tư, bản thân đang trải qua giai đoạn nào mình sẽ biết được. Cho nên phải thực hành ba pháp, rồi sau đó nhận diện năm uẩn. Đang ngồi thiền tưởng khởi mình phải biết đây là tưởng, lời nói khởi lên là mình phải biết đây là hành, có cái cảm giác khởi lên phải biết đây là thọ. Mình phải niệm câu: “Sắc này không phải là tôi, không phải là của tôi. Cảm giác này không phải là tôi, không phải là của tôi. Suy tưởng này không phải là tôi, không phải của tôi. Nhận thức này không phải là tôi, không phải của tôi. Đó là pháp vô thường, là pháp duyên sanh, là pháp tan nát, tan hoại, bại hoại”. “Này các Tỳ-kheo, thân thể này là do cha mẹ sinh, do cơm cháo tác thành vô thường, tan hoại, bại hoại, tan nát. Các Ông phải thực thấy, thực biết như thế để nhàm chán, đừng ham muốn nữa thì các Ông sẽ chấm dứt được sự ràng buộc ở trong sinh tử”. Bây giờ chưa chấm dứt được 100% mà quý vị thường quán như vậy thì dứt được 40 - 50% , khỏe không? Cho nên đừng có sợ nói: “Thầy ơi, con chưa có bỏ hết được đâu”, đó là ý hành nói. Mà trong ý hành có ái, tham, sân, si, bản ngã, dục… chính những thứ này không mình muốn tu. Nó nói: “Thôi tu vậy đâu còn gì đâu, tu ít ít thôi”, nó nói vậy là nó kéo mình đi xuống, không muốn mình đi lên. Cho nên nó muốn mình đi xuống, đi ngang thì sẽ dễ bị rớt xuống, nên mình phải đi lên, phải hướng Thánh đạo thì mới đi tới Thánh quả.
Một trong những phương pháp chúng ta luôn sử dùng là Như Lý Tác Ý và quán chiếu. Như Lý Tác Ý là dùng những lời nói mạnh bạo, mạnh mẽ giống như những cây roi mà quất vào con trâu vậy, không có cho nó vô ăn lúa mạ của người ta. Phải dùng sợi dây buộc cái mũi nó lại, nắm kéo nó, lôi nó, đánh nó, quất nó mạnh. Đó là Như Lý Tác Ý, là những lời nói mạnh bằng trí tuệ gọi là tuệ lực – sức mạnh của trí tuệ. Ví dụ bắt đầu khởi lên cái khó chịu, bực của sân mình mới nói: “Sướng lắm hả, giận người ta sướng lắm phải không? Ham giận lắm hả, thích giận lắm hả? Chính cái giận này đã đốt ta bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp rồi, mày đốt thiên hạ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, giờ mày còn muốn đốt nữa hay sao? Đi theo cái sân này nguy hại, nguy hiểm, tác hại như thế nào? Nó đốt cháy hết tất cả, đốt mình, đốt người, gây khổ đau cho gia đình, cho những người thân thương của mình. Mình đâu muốn người thân mình khổ, vậy tại sao nuôi dưỡng cái sân này? Dẹp đi, đi chỗ khác chơi. Ta từ bỏ ngươi, ta đoạn tận ngươi, ta chấm dứt ngươi. Ngươi tan biến thanh hư không đi, đừng đeo bám theo ta nữa.” Đó là ta dùng Như Lý Tác Ý, lúc đó sân mới lắng dịu. Còn không nó nói là mình nghe, rồi nhập cuộc với nó thì từ ý hành phát ra khẩu hành, từ lời nói phát ra thân hành, hành động, cuối cùng đi đến hậu quả tan nát hết.
Cho nên trong sự tu, mình phát hiện tham, sân, si ở trong trứng nước, nó manh nha, vừa rục rịch ở trong cảm giác là mình thấy được và nhiếp phục. Như vậy nó không bung ra, phình ra, tung ra, bật ra, phựt ra bên ngoài, cái tu đó là cái tu tuệ giác. Người ta gọi là thiền tuệ, trí tuệ của con mắt, trí tuệ của tâm mới thấy được phiền não. Nhiều khi mình cứ đợi cho nó phát ra hết rồi mới hay, lúc đó cũng như vô văn phàm phu. Người ta đâu cần tu, nhưng cũng biết cái đó là tham, sân, si. Sở dĩ mình khác người không biết tu là mình thành tựu trí tuệ. Tham, sân, si khi mới bắt đầu manh nha, nảy mầm, rục rịch thôi là mình đã thấy được, mình bóp nó trong trứng nước, như vậy mới là trí tuệ. Cho nên người tu đâu phải lúc nào cũng hiền hiền, khờ khờ hoài đâu quý vị, ở ngoài thì hiền dễ thương nhưng bên trong thì sắc bén. Đức Phật nói là sắc bén để đoạn tận, sắc bén để từ bỏ, sắc bén để chấm dứt, sắc bén để tiêu diệt tất cả phiền não, sát tặc, giết giặc, anh hùng. Đức Phật là bậc đại hùng đại lực, Mật Tông gọi là bậc chiến thắng. Bây giờ hằng ngày mình thắng hay bại, mỗi ngày như vậy mình bại bao nhiêu lần? Thành ra sự tu tập này tuyệt vời lắm!
Ngoài ra, có những phương pháp làm cho mình rất vui trong sự tu. Đó là tu tập: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm, đây là những phương pháp mình phải thực tập. Ví dụ suy nghĩ: “Ủa sao chán chán quá, nhợt nhạt quá. Giờ này bạn bè đi chơi, người ta rủ nhau đi du lịch. Tự nhiên mình lên Linh Quy Pháp Ấn, khuya 4 giờ thức dậy, ngồi đây bùn ngủ.” Lúc đó mình phải làm gì? Khi ấy gọi là Phi Như Lý Tác Ý, nó nghĩ sai, không có đúng với Chánh Pháp, không có đúng với sự thật. Phải làm cho nó Như Lý Tác Ý, mình quay ngược suy nghĩ đó lại, mình nói: “Tỉnh dậy đi, tỉnh đi! Những người bạn của mình bây giờ đầu tắt mặt tối lo cho mấy đứa con. Những người cỡ tuổi mình đang nằm liệt giường liệt chiếu một chỗ. Ngay cái giờ phút này những người đang mất chồng mất con mất cha mất mẹ. Những người bây giờ trong trại tâm thần điên loạn thống khổ. Những loài chúng sinh bây giờ, trong loài ngạ quỷ khốn khổ, trong các loài súc sanh ăn nuốt lẫn nhau. Những người bạn bằng tuổi mình lo hốt tiền, lo suy nghĩ làm sao kiếm tiền mà mình bỏ được hết tất cả những cái này, mình ngồi trên đỉnh Linh Quy, vững thế trên bồ đoàn, lúc này tâm mình tỉnh giác, sáng tỏ, có Phật, có Pháp, có Tăng, được thực tập Chánh Pháp tối thượng. Hoan hỷ lên chứ, vui lên. Đây là hi hữu, đây là hiếm có, đây là đặc biệt, đây là hạnh phúc nhất, tuyệt vời nhất của cuộc đời mình. Mỉm cười hoan hỷ lên!” Mình làm cho sinh ra pháp hỷ, pháp lạc. Điều này cần phải biết cách tác ý. Phương pháp tác ý này rất quan trọng, nếu không biết cái này thì tu buồn chán lắm, có những lúc nó kéo mình ra khỏi sự tu. Cho nên cần phải biết khéo tác ý.
“Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, đây là Đức Phật nói trong tạng kinh Nikāya. Tác ý là dẫn đầu, nếu mình không khéo Như Lý Tác Ý, mình tác ý sai thì giống như cầm dao nhưng cầm vào lưỡi, đứt tay, cho nên, phải cầm ngay cán. Tất cả những suy nghĩ của mình phải được điều khiển, phải hướng đặt cho đúng hướng. Có một bài kinh Đức Phật gọi là “Đặt tâm đúng hướng” trong Tăng Chi bộ kinh. Cũng như có một loại lúa, những cái lá, những loại cỏ, loại cây bén lắm, mình cầm đúng chiều thì không đứt tay, nếu cầm ngược chiều mà bóp mạnh thì nó làm mình đứt tay. Đức Phật nói cũng vậy, tâm mình đặt sai hướng thì không đi đến kết quả an lạc mà phát triển mạnh thêm tham, sân, si. Nếu tâm đặt đúng hướng thì sẽ đi đến an tịnh Thánh trí, chứng ngộ Niết-bàn.
Tu tập tâm từ
Bên canh đó, chúng ta cần tu tập Bốn Tâm Vô Lượng và đặc biệt Từ Tâm là rất quan trọng.
Mỗi ngày phải thực tập trải tâm từ và làm cho phát sanh ra một cái cảm thọ. Chính cảm thọ này sẽ đưa mình vào tham, sân, si, bản ngã, vô minh, đau khổ mà cũng chính cảm thọ này đưa mình đến từ bi, hỷ xả, an lạc, giải thoát. Cho nên tu là phải phát sanh được cảm thọ, chứ không phải tu mà ngồi trơ trơ, cười mỉm mà mỉm không nổi, như vậy là mình không khéo tác ý. Mình không làm nó phát sinh cảm thọ thì lúc đó không hề hấn gì hết. Cho nên khi Quán Bất Tịnh hay Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Một Tử Thi là phát sanh cảm giác rùng rợn, nước mắt chảy ròng ròng. Phải phát sinh một cảm giác ghê gớm, rùng rợn, cảm giác sợ và thậm chí bay mùi hôi lên mình nghe được luôn. Phát sanh ra cảm giác đó và nó mới đánh cảm giác dục, tham, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Đó là sự tẩy rửa, giống như gặp ánh sáng xanh thì bóng tối phải tan; giống như mình đang nóng, uống nước mát vào thì dịu lại. Những cảm thọ này sẽ đánh đuổi những cảm thọ kia, cho nên mình phải làm cho sinh cảm thọ mới được. Nếu quán tâm từ mà mình trơ trơ, thì không có từ. Quán tâm từ thì phải dào dạt một cảm giác thương yêu, cảm giác tha thứ, cảm giác bao dung, từ ái lan tỏa ra khắp không gian, khắp Vân Thủy Đường, khắp cả ngọn núi này. Trải ra một cảm giác tình thương rộng lớn mới là thành công.
Quán sao cho mình muốn hỷ là hỷ sanh, mình muốn từ là từ sanh, mình muốn xả là xả sanh, được như vậy là khéo tu tập. Phải tập từ từ rồi quý vị thấy sử dụng cái tâm của mình giống như là đang xài trên internet, trên hệ điều hành, trên laptop của mình vậy. Mình muốn cái nào khởi là cái đó nó khởi, đó là mình khéo tu tập tâm. Còn bây giờ hoàn toàn không làm chủ tâm mình được. Sân sanh khởi, dù mình làm đủ mọi cách mà nó vẫn sân thì không được, phải huấn luyện tâm của mình. Phải tu tập, điều khiển, làm chủ cái tâm của mình. Mình muốn hỷ là hỷ sanh, thậm chí mình muốn nó 3 tiếng là 3 tiếng, mình muốn 6 tiếng là hỷ vô lượng tâm của mình 6 tiếng. Thậm chí mình muốn hỷ suốt ngày, trú trong hỷ vô lượng tâm từ sáng tới chiều mình vẫn làm được. Điều này đòi hỏi mình phải có thực tập, thực tập được cái này hay lắm. Chưa vô lượng tâm nhưng mà ít nhất cũng bự cỡ chừng ngọn núi này thôi cũng được, hoan hỷ lên!
Quý vị phải thực tập Tâm Từ, thực tập tâm từ hay lắm. Tâm từ tẩy rửa, gội rửa hết tất cả những cảm giác về sân, những cảm giác về hại. Chánh Tư Duy trong Bát Chánh Đạo là: Ly Dục Tư Duy, Ly Sân Tư Duy, Ly Hại Tư Duy – những suy nghĩ giúp cho mình lìa khỏi cái tham muốn, lìa khỏi sự bực tức, lìa khỏi những ý muốn hại người, những suy nghĩ đó là Chân Chánh Tư Duy. Cái từ ái này sẽ tẩy rửa, gội rửa hết những suy nghĩ hại đó. Giống như không những chùi chỗ dơ trong nhà, mà quý vị còn xịt đồ thơm lên. Mình để lá dứa hay quý vị lấy vỏ của trái thơm sau khi móc ruột, để đèn vào trong cho nó tỏa hương thơm, đó là xông ướp hương. Cho nên từ tâm, bi tâm, hỷ tâm, xả vô lượng tâm này quan trọng lắm. Phải thực tập để làm cho tâm linh của mình thăng hoa, thanh cao, cao thượng, rộng lớn, bao dung, độ lượng thì rất tuyệt vời. Chúng ta thấy tâm mình màu nhiệm, vi diệu lắm, còn hơn đào trúng mỏ kim cương. Đừng bỏ tâm của mình, uổng lắm.
Trong đời sống thông thường, người ta chỉ biết vật chất, tài sản ở bên ngoài, họ không biết thật ra những điều bên ngoài chỉ là một phần nhỏ của cuộc sống. Điều quan trọng nhất của mình là đời sống tâm linh. Tâm biết tu tập là điều rất quan trọng, giống như Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, Ta chưa thấy một pháp nào đem lại lợi lạc lớn, lợi ích lớn, đem lại an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn giống như tâm của tu tập”. Cho nên phải biết nhìn lại, biết quán chiếu, biết khai thác, biết huấn luyện, biết tu tập tâm. Khi biết mở rộng tâm mình ra thì giống như mở kho báu. Quý vị muốn cho từ là từ, muốn bi là bi, muốn hỷ là hỷ. Khi gặp phải nhiều vấn đề, mình trú vào xả vô lượng tâm, thì sẽ ngon lành, nhã hết ra, buông xuống, được khỏe liền. Xả không được thì mình phải tập, thực tập quen thì mới được, cái gì cũng vậy, nhuần nhuyễn là được. Còn mình không thực tập tới chừng muốn xả mà xả không được, nắm vô hoài, muốn buông ra mà không chịu buông, nắm hoài, tâm mình không nghe lời nữa. Đó là cái tâm khó dạy, cứng cỏi, cang cường. Tâm không tu tập thì mình nói nó không có nghe, còn tâm đã được huấn luyện thuần thục thì tuyệt vời lắm. Phật dùng hình ảnh “điều ngự” tức là huấn luyện voi, huấn luyện ngựa. Tức là những con ngựa, những con voi thuần thục cho nhà vua cưỡi, chúng biết nghe, dễ nghe, dễ điều phục thì tâm mình điều phục giống vậy.
Quý vị về nhớ để ý thực tập điều phục tâm của mình. Thực tập trong giờ ngồi thiền. Nhất là khi còn ở đây, trong lúc thực tập, có gì thắc mắc quý vị cứ hỏi, quý thầy, mấy chú sẽ chia sẻ. Thực tập và nắm được phương pháp này rồi thì đây là cả một cái gia tài tinh thần, tài sản tâm linh, quý vị xài hoài không hết. Bình thường mình thực tập, tới lúc có chuyện chạm tới mình mới thấy kỳ tích xuất hiện. Những chuyện đáng lẽ làm mình sân hận nhưng tâm mình không bị tác động nhiều, nó gợn nhẹ lên một chút vậy thôi. Những chuyện đáng lẽ làm cho mình khổ đau, quằn quại lắm, nhưng nhờ có tu tập nên thấy nó cũng thường. Ngày nào mình cũng quán chiếu, nên đã thấy hết rồi, mọi chuyện xảy ra đều là lẽ đương nhiên thôi.
Phật Tử:
“Thưa thầy cho con hỏi, mình tập trải tâm từ nhưng mình không có thương người đó, mà mình nói mình trải tâm từ vì thương họ và mong họ sẽ được những cái điều tốt hơn trong khi mình đang ghét. Vậy có phải mình nói dối không thầy?”
Đầu tiên, trải tâm từ là trải tình thương chính mình chứ không phải bắt đầu vào là trải cho người nào mình ghét liền, đó là cấp cao, mới vào mà đòi nhảy lên đại học, tiến sĩ liền thì không được. Đầu tiên là mình trải tình thương với chính mình, mình ngồi lại quán chiếu. Mình quán chiếu thấy thương mình quá, bao nhiêu năm qua bị dục ái chi phối; bị sân hận làm khổ đau; bị si mê, vô minh, chấp ngã chi phối nhưng mình không thấy. Tất cả đều là vô thường, năm uẩn mà mình cứ bám chặt cho rằng mấy chục ký lô này là mình, cho nên mình tạo biết bao nhiêu nghiệp. Đáng thương cho mình! Đáng tội nghiệp cho mình! Đáng bi mẫn, xót xa cho chính mình! Phải làm dâng trào lên một cảm xúc thương sự si mê, vô minh, chấp ngã, phiền não của mình. Trào dâng lên một cảm xúc thương chính mình trước.
Từ sự tự thương mình một cách sâu sắc, rồi mình mới trải rộng ra thương những người mình thương: cha mẹ , anh chị em, vợ chồng, con cái, những người bạn của mình. Họ cũng là nạn nhân của phiền não, phải gánh hậu quả của vô minh và tham ái. Những người này rất đáng thương, họ là những người mình phải thương, mình cần thương những người ân nghĩa nhất của mình: cha mẹ, anh chị em, bà con, cô bác. Mình lan tỏa tình thương tới những chỗ đó.
Từ thương những người thân mới mở rộng ra thương thêm những người xa lạ mình nhìn trên đường phố đó: người Việt, người Anh, người Mỹ, người Hàn, hay Châu Phi,… thì họ cũng là những nạn nhân của vô minh, cũng là những người đáng thương, không có ai trên cuộc đời này là người đáng ghét hết. Trải tâm của quý vị đến những người xa lạ, cảm thấy đồng cảm, họ cũng giống như mình vậy thôi, đó là bắt đầu lan rộng tâm từ.
Khi quán được như vậy thì bắt đầu từ từ quý vị mới trải đến những người hơi hơi khó thương. Phải trải từ từ. “Ủa tại sao người ta ghét mình? Tại sao mình lại đi ghét người ta? Có phải người ghét mình cũng bị sân làm cho đau khổ và mình ghét người đó có phải mình cũng bị cơn sân làm cho đau khổ không? Như vậy tất cả hai chúng ta đều là nạn nhân của sân hận, si mê, chấp ngã.” Khi thấy được vậy, mình cảm thấy: “Cũng tội nghiệp quá, đáng tội nghiệp, đáng thương. Tại sao như vậy mà mình không chịu thương, mình còn giận người ta ?Như vậy có phải cùng nhau làm khổ nhau không? Thôi tha thứ đi, bây giờ bấu vào là khổ, siết vào là đau, buộc vào là sầu, bi, ưu, não. Thôi kệ, tội nghiệp, thương đi.” Từ từ quý vị mở rộng ra đến những người thù mình, khởi từ từ như vậy. Tâm mình lúc đầu nó không có chấp nhận nhưng mình trải từ từ.
Thật ra câu hỏi lúc nãy của Phật tử là ý hành đang nói chứ không có gì hết. Ý hành không muốn mình trải tâm từ, nó muốn bám chặt vào bản ngã, nó muốn làm cho hả dạ cái sân chứ nó không có muốn xóa bỏ. Mình biết được đây chỉ là một ý hành, không nghe theo nó, điều này rất quan trọng. Mình không thấy được bản mặt, tên gọi, tính tình của ý hành là mình chết với nó. Lời nói thầm đó nguy hiểm vô cùng, chính cái đó làm mình tu không thành công. Ý hành sẽ xen vào tất cả mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi khắc. Nó không muốn cho mình hướng thượng, không muốn cho mình đi lên, không muốn mình giải thoát. Nó muốn mình ở chơi với nó cho vui, khổ cho nó vui. Khổ mà cho nó vui mới chết chứ! Ý hành không chịu tu, lúc đầu nó chống cự lắm. Ngay cả khi Quán Bất Tịnh, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Tử Thi nó cũng chống cự, nó kêu: “Đừng có quán, ghê lắm. Quán làm chi, quán này làm gì có lợi ích gì đâu, quán biết có được không mà quán?” Khi nó chống cự thì quý vị phải biết đây là ý hành, nó không cho mình tu. Lúc đó để việc Quán Bất Tịnh qua một bên, mình trị nó trước: “Mày xúi giục tao phải không? Mày là ma, là mày bạch cốt tinh phải không? Mày dụ dỗ ta không cho ta đi ra dục phải không? Chính mày là tên đã hại ta vô lượng kiếp khổ đau. Ta đã đi tìm dục, đang đi tìm dục rồi mày kêu sẽ đi tìm dục nữa để khổ nữa hay sao? Đi chỗ khác chơi, chính mi là thủ phạm, ta đập tan mi, ta biết được cái mặt mi rồi đừng có đi theo bám ta nữa.” Mình đánh nó tới chừng nào tan thì mình quay lại Quán Bất Tịnh tiếp.
Từ bi cũng vậy, mở rộng tâm từ ra từ từ thì quý vị sẽ thấy dần dần quen. Lúc đầu sẽ có cảm giác chống cự khó chịu lắm nhưng dần dần cũng sẽ thấy bình thường, rồi từ từ thấy thật. “Những người này đáng thương thật, họ đang giận, họ đang khổ, họ đâu có vui, vậy mà mình giận thì mình cũng đâu có vui. Mình đang đi tu là muốn hết khổ, tại sao mình lại nhào tới cái khổ này? Tại sao mình đang dệt cái khổ này? Tại sao mình làm tăng trưởng, phát triển cái khổ này?” Khi đó bằng trí tuệ mình thấy được cái khổ, điều này rất quan trọng. Đó là con mắt tuệ của quý vị bắt đầu mở, tự thấy trong nội tâm mình chứ không phải nghe người ta nói nữa. Như vậy dần dần mỗi khi quý vị làm gì, sẽ bắt đầu có cảm giác xót thương thật sự. Nó sanh khởi ít thôi, từ từ nhiều nhiều. Tại vì bên trong đã nuôi lớn dần cảm giác từ, cảm giác bi, cảm giác bao dung, tha thứ, cho nên lúc quý vị gặp người đó thì những cảm giác ấy thể hiện ra một cách tự nhiên, không gắng gượng nhiều nữa thì người kia sẽ tiếp nhận được. Thay vì bên kia nóng mà bên này lửa nữa thì sẽ phựt, bây giờ bên kia nóng mà bên này mát thì đâu có phựt. Rồi từ từ bên kia cảm nhận được tâm từ chân thật của quý vị. Như vậy là quý vị tu thiệt tu chứ đâu phải tu giả, thương bằng lòng thương thật thì người kia cảm nhận được. Điều này chính bản thân Minh Thành thực tập có hiệu quả. Bằng chứng nghiệm của bản thân là chuyển hóa người thù hận, người ghét mình. Làm cho họ thương mình luôn mà không có cố gắng nhiều. Mình chỉ lo trải cái tâm từ chứ không cần người ta phải như thế nào. Chỉ cần lo cho tâm của mình thực sự tha thứ, bao dung và trải tâm từ được là mình thành công. Cuối cùng những người đó trở lại thương mến mình.
Muốn được như vậy thì đầu tiên mình cần phải có niềm tin. Mới bắt đầu vào tu nhưng nghĩ rằng mình làm không được là xong, như vậy sẽ không được gì cả. Cái Tín không có thì làm sao có Tấn. Cho nên Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ là năm sức mạnh, là năm cơ sở y cứ, năm căn cứ địa để mình tu. Tín là có lòng tin Pháp và tin mình phải làm được. Rồi mình nỗ lực, nhớ về Pháp hoài để thực hành chuyên chú vào trong đó, mình thấy rõ được là mình đi tới nơi. Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ: bắt đầu là tin (Tín); rồi nỗ lực, tinh tấn (Tấn), chuyên chú nhớ Pháp và tu hoài (Niệm); chuyên chú và tâm mình an trú vào đó (Định); khi an trú vào định, mình sẽ thấy rõ pháp vận hành (Tuệ), như vậy là mình thành công. Từ Ngũ Căn thành Ngũ Lực, thành năm sức mạnh và năm sức mạnh tột cùng đó là A-la-hán quả, chứ không phải bình thường.
Quý vị khi trở về nhớ nghe kĩ những bài giảng để nắm được chìa khóa mở tạng kinh Nikāya. Mấy chú sẽ gửi cho quý vị bộ phân loại kinh Nikāya, có từng chủ đề. Không cần Minh Thành nói nhiều, đọc trong đó rồi thực tập thì quý vị sẽ thấy hiệu quả ngay nơi thân tâm. Ngay những lúc mình tham, sân, si khởi lên mình thấy lạ lắm, kỳ tích sẽ xuất hiện, kỳ diệu sẽ xuất hiện. Nhưng kỳ lạ ở trong chỗ rất là bình thường và bình thường ở trong chỗ kỳ diệu. Hiệu quả rõ ràng, không có xa vời, ngay lúc ngồi tu, ngay lúc nghe pháp, ngay lúc làm công tác, ngay lúc những cảm giác sanh khởi, mình sẽ thấy rõ hết tất cả. Hôm nay Minh Thành chia sẻ với quý vị đến đây, chúng ta đã có một buổi uống trà, gọi là “trà đạo” chứ không phải uống “trà quạo”. Mình đã chia sẻ được những nỗi niềm, những tâm sự, những khó khăn trong sự tu tập. Minh Thành mong quý vị vững niềm tin sâu sắc, vững chắc, chuyên chú trong tạng kinh Nikāya để thực tập và nếm được hương vị của nó.
./.