Hãy Thừa Kế & Tiếp Nối Chánh Pháp ! 3 - Bát Chánh Đạo 2 (Kinh Thành Ấp)
Kinh Nikāya Giảng Giải
HÃY THỪA KẾ & TIẾP NỐI CHÁNH PHÁP! 3
BÁT CHÁNH ĐẠO 2 (KINH THÀNH ẤP)
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Cội nguồn sanh tử PAGEREF _Toc114582226 \h 1
II.Vô thượng Phật đạo PAGEREF _Toc114582227 \h 6
III.Quả báu ác khẩu PAGEREF _Toc114582228 \h 9
IV.Tu tập Chánh ngữ PAGEREF _Toc114582229 \h 16
Cội nguồn sanh tử
Chúng ta đang tìm hiểu tổng quát về Bát Thánh Đạo hay còn được gọi là Thánh đạo tám ngành. Để làm sáng tỏ ý nghĩa, giá trị, tầm quan trọng của đạo lộ bậc Thánh thì hôm nay chúng ta liên hệ đến bài kinh “Thành ấp”:
"...Tại Sàvatthi.
-- Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: 'Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly khỏi già và chết'".
Sự đau đớn, khổ sầu trong tất cả sự khổ là không biết con đường thoát ra, không ai chỉ, không ai dạy, không ai nói, không ai trình bày, tuyên thuyết, khai thị, không biết con đường xuất ly ra khỏi già nua, bệnh, tật và chết chóc. Đó là lúc còn là Bồ-tát ngài đã chánh tư duy, ngài như lý tác ý, ngài chiêm nghiệm như vậy, cả thế giới bị vây hãm trong sanh, già, bệnh, chết, trong khổ sầu, nhưng cái đau đớn là không biết được lối thoát ra khỏi sự tái sanh, sự già nua, bệnh, chết chóc, khổ sở này.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì, già chết sanh khởi?'".
Vì đâu có ra sự già nua, chết chóc này? Tại sao có ra sự già nua, chết chóc này? Do cái gì mà già, chết sanh khởi? Tại sao có già, tại sao có bệnh, có chết.
"Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do sanh có mặt nên già chết hiện hữu. Do duyên sanh, nên già chết sanh khởi'".
Nếu không có sanh thì làm gì có già, không có già thì làm gì có bệnh, không bệnh thì làm sao có chết. Như vậy với một sự suy tư đúng sự thật, nhờ trí tuệ ngài phát sanh ra một cái thấy biết xác quyết, cụ thể, rõ ràng gọi là minh kiến, không còn nghi ngờ gì nữa, do có sanh nên mới có già và chết, vì có sanh nên mới có tử.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu? Ái hiện hữu? Thọ hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?'
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi'.
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi'.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, thức hiện hữu. Do duyên cái gì, thức sanh khởi?'
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau : 'Do danh sắc có mặt nên thức hiện hữu. Do duyên danh sắc nên thức sanh khởi'".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Hữu chính là hiện hữu, hữu ái là sự yêu thích hiện hữu, có chỗ giải thích là nghiệp nhưng chữ “hữu” trong kinh Nikāya giải thích rất thâm sâu, hữu ái chính là sự yêu thích hiện hữu. Do chúng sanh muốn được sanh ra, muốn được có mặt, muốn hiện hữu, yêu cái hiện hữu, ham hiện hữu, hoan hỉ với hiện hữu thì đương nhiên động cơ chính là từ những cái nghiệp trong quá khứ, thói quen trong quá khứ. Sau khi suy xét đúng như sự thật bằng trí tuệ thì ngài thấy chính xác do sự nắm giữ nên hữu có mặt, nói rộng ra thủ chính là năm thủ uẩn, là sự chấp thủ trong năm uẩn, tức là sự nắm giữ trong những cảm giác, hình hài, nghĩ tưởng này. Tại sao lại có sự nắm chặt, nắm cứng? Là do sự yêu thích, đây là những trí huệ thâm sâu
Đức Phật nói ngài như lý tư duy, phát sanh minh kiến nghĩa là ngài truy tìm nguồn cội của sanh tử, những mắc xích, nguyên nhân, lý do, dữ kiện, yếu tố làm sanh khởi ra dòng sống chết này, dòng sanh, già, bệnh, chết này. Chúng ta nên nhớ lý do đầu tiên Bồ-tát phát tâm đi xuất gia là ngài muốn vượt thoát sanh tử, những gì ngài tu là nhằm phục vụ cho trí tuệ nhìn vào trong sanh tử, đây chính là cội gốc của đạo Phật nên cần nắm thật vững ngay đây. Ngài nhìn thấy có sự nắm giữ trong năm uẩn, trong hình hài, trong những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là do yêu thích nên ái hiện hữu, do yêu thích hình sắc, hình hài mà chúng ta đang mang đây, yêu thích cảm giác trong hình hài này, yêu thích những hình bóng trong tâm. Tất cả mọi thứ đều đặt nền tảng trên năm uẩn, đây là pháp tánh, pháp tướng và cũng là pháp hành, pháp tu, pháp chứng.
Cái gì sanh ra, cái gì bệnh và cái gì chết? Năm uẩn sanh ra nên năm uẩn già đi, năm uẩn bệnh và năm uẩn chết, nắm được nguyên lý này mới giải mã tất cả pháp trong tạng kinh Nikāya. Đối với hữu cũng là năm uẩn hiện hữu, thủ cũng là nắm chặt trong năm uẩn, yêu thích (ái) trong năm uẩn. Đây là tổng cương lĩnh trong kinh tạng Nikāya, tất cả pháp học, pháp hành, pháp thành, pháp chứng đều quy nạp về năm thủ uẩn.
Vì sao lại yêu thích? Vì có cảm giác êm ái, dễ chịu, cảm giác khoan khoái, ưa thích, sung sướng, do có những cảm giác này nên mới khoái, cảm giác này có là từ sự tiếp xúc, chính vì vậy chúng ta có sáu thọ: Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Như vậy sáu cảm thọ này có đều từ sự tiếp xúc của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đây chính là sáu xứ, sáu căn, cho nên trong kinh Nikāya thường quán chiếu về sáu xứ, năm uẩn, mười tám giới. Vì thế cơ sở của xúc là từ sáu căn, sáu xứ, tiếp xúc ở con mắt là nhìn thấy, tiếp xúc ở tai là nghe ngóng rồi sanh ra cảm thọ êm ái hoặc là bực bội, bản ngã, sân hận, tiếp xúc ở mũi là mùi, tiếp xúc ở lưỡi, tiếp xúc ở thân hay là tiếp xúc sâu sắc trong ý là những thọ; tưởng; hành, tất cả đều là do tiếp xúc và những sự tiếp xúc đó đặt nền tảng trên sáu xứ: mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Sáu xứ này có là nhờ danh sắc, danh là tâm hay còn gọi là thọ; tưởng; tư; xúc; tác ý và sắc là thân, chính là tứ đại, tức là phần tâm có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, sự tiếp xúc và tác ý, nói gọn là thọ; tưởng; hành; thức.
Đi sâu hơn bước nữa, sở dĩ có danh sắc là do có thức, cái thức này được an trú, trói cột, chấp thủ vào trong năm thủ uẩn cho nên thức thọ sanh, thức tái sanh mới dẫn mình đi trong luân hồi, từ tái sanh mới có ra hình hài, có ra sáu căn, từ sáu căn mới có tiếp xúc, từ tiếp xúc mới có ra cảm thọ, có cảm thọ mới yêu thích, có yêu thích mới nắm giữ, từ sự nắm giữ mới có hiện hữu, có hiện hữu nên có sanh, có sanh thì đương nhiên sẽ có già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Mình suy xét thêm các hành ở đây chính là thân hành, khẩu hành, ý hành, những lời nói, suy nghĩ, hành động này xuất phát từ vô minh. Vì không thấy không biết (vô minh) sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không thấy không biết pháp duyên sanh, pháp cấu tạo, pháp vô thường, biến đổi, hoại diệt, không nhận rõ, không thành tựu tri, thành tựu kiến, thành tựu minh cho nên trong một cái tâm hôn mê như vậy thì những suy nghĩ, lời nói, hành động chỉ làm trong tham ái, chấp thủ và tạo nghiệp. Từ một cái tâm tối tăm, mù mịt, không sáng suốt rồi phát khởi ra những suy nghĩ, lời nói, hành động rồi tạo ra nghiệp, nghiệp này cộng với tâm thức hôn mê tạo ra danh sắc có đủ thân và tâm, từ đó hiển lộ ra sáu căn, đứa nhỏ mới sanh ra thích cầm nắm, đụng chạm, đó là sự tiếp xúc, khi tiếp xúc sẽ sanh ra cảm thọ, khi có cảm giác, cảm xúc sẽ sanh ra sự yêu thích, có yêu thích mới có nắm giữ, từ sự nắm chặt, nắm giữ mới có ra hiện hữu, có hiện hữu thì có sanh, có sanh thì có già, bệnh, chết, sầu, bi, ưu, não. Đây là cả một chuỗi vận hành của sanh tử từ quá khứ, hiện tại cho đến tương lai.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: 'Thức này trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Xa đến như vậy, chúng ta bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, bị tái sanh, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi..'. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi".
Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này được tập hợp và sanh khởi, đó là Thế Tôn quán đến thức.
"'Tập khởi, tập khởi'. Này các Tỳ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên".
Đây là lúc ngài chứng ngộ, nghĩa là lúc biết ra những thứ mà từ trước đến nay chưa từng biết, con mắt trí tuệ mở ra, trí mở ra, tuệ khởi lên, ánh sáng mở ra, quang, minh khởi lên.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu? Do cái gì diệt, già chết diệt?'
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do sanh không có mặt, nên già chết không hiện hữu. Do sanh diệt, nên già chết diệt'.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?'
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì diệt, nên thức diệt?
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: Do danh sắc không có mặt, thức không hiện hữu. Do danh sắc diệt nên thức diệt".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Đức Phật thuật lại quá trình ngài chứng ngộ cho chúng ta biết, trên đây là chiều ngược lại những điều đã nói ở trên. Tức là sanh không có nên già, chết không có. Hữu không có thì sanh không có. Sự nắm giữ không có thì không có hữu; yêu thích không có thì nắm giữ không có; không yêu thích thì không thể nắm giữ, do không có cảm giác nên không yêu thích. Nếu không có xúc thì không có thọ. Vì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý có nên mới có cơ sở để tiếp xúc, có danh sắc, có thân tâm, có thức. Cái thức chấp thủ này là từ thân hành, khẩu hành, ý hành. Sở dĩ các hành này có ra là từ tâm vô minh, cho nên những hành động đó mang tính chất tham, sân, si. Đđi sâu hơn nữa vô minh có ra là từ lậu hoặc.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Ta đã chứng đắc con đường này đưa đến giác ngộ, tức là do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. ..(như trên)...Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Đọc đến đây chúng ta mới thấy không phải Đức Phật ngồi im dưới cội Bồ-đề là bừng lên chứng ngộ, mà là ngài thấy ra được từng pháp, sáng ra hết tất cả vấn đề chứ không phải tu là ngồi im rồi tự động bừng lên chứng ngộ. Nguồn cơn của sanh tử, từng mắc xích, từng sự vận hành trong thân tâm đều được ngài thấy, đều được ngài biết, đều được soi sáng từng ngõ ngách, từng khía cạnh, nhãn sanh, trí sanh, quang sanh, minh sanh. Cho nên không nương theo pháp học này thì không thể nào đi vào pháp hành đúng theo Thánh đạo, từ đó sẽ không có Thánh quả, mình hoàn toàn không biết gì cả, bị vô minh bao trùm thì làm sao đi ra khỏi sanh tử.
Vô thượng Phật đạo
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Thứ nhất là thấy rõ được sự thật của già chết là như thế nào. Thông thường, chúng ta cứ chối bỏ cái già bảo rằng mình vẫn còn khỏe, không chịu già tức là già mà không nhận thì làm sao thấy được bản chất của cái già. Chết cũng vậy, nằm trên giường bệnh như đèn treo trước gió, như chỉ mành treo chuông mà ai nói đến chết là không đồng ý, không muốn nói đến từ chết. Đừng nghĩ rằng già chết là vấn đề đơn giản, ai ai cũng biết. Thế nhưng, nếu không thành tựu cái thấy biết chân xác, rõ ràng, chánh kiến thì mình không biết thật sự về già chết, thế nên, mình chống đối già chết, muốn triệt tiêu cái già chết, mình tránh né, che đậy hoặc không chấp nhận nó. Vì thế:
Trí tuệ thứ nhất: thấy rõ được già chết;
Trí tuệ thứ hai: thấy rõ được nguyên nhân của già chết (gọi là già chết tập khởi);
Trí huệ thứ ba: thấy rõ được sự chấm dứt của già chết;
Trí huệ thứ tư là con đường đưa đến sự chấm dứt già chết.
Đây cũng giống như Tứ Thánh Đế, cái nào cũng lấy bốn sự thật của bậc Thánh trong Tứ Thánh Đế áp dụng vào thì pháp đó mới đi đến triệt để. Có già chết là do có thủ, hữu, ái; để già chết diệt thì những thứ này diệt, nói gọn là vô minh và tham ái diệt và con đường đưa đến chấm dứt già chết là Bát Chánh Đạo. Khi học pháp phải học kĩ càng, phải tư suy, nghiền ngẫm, nắm bắt sâu sắc.
"'Ðoạn diệt, đoạn diệt'. Này các Tỳ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
“Tập khởi" là trí về sanh, còn ở đây là "đoạn diệt, đoạn diệt" là trí về diệt, tức là ngài chứng đắc sanh diệt trí của dòng sanh tử này. Sanh là tại sao nó lại sanh ra, diệt là là thế nào để nó chấm dứt. Như vậy bài kinh này giải quyết vấn đề ngài thắc mắc trong khi ngài còn là thái tử, khi đi dạo qua bốn cửa thành ngài thấy sanh, già, bệnh, chết. Ngài đi tu là để làm thế nào thoát ra khỏi sanh, già, bệnh, chết. Khi Ngài thành đạo là thành tựu trí tuệ tại sao mình sanh ra; tại sao lại già, bệnh, chết; làm sao để sanh, già, bệnh, chết chấm dứt và ngài thấy luôn con đường, phương pháp, đạo lộ để chấm dứt sanh, già, bệnh, chết. Thấy như vậy gọi là đại thành tựu, gọi là siêu sanh thoát tử, là liễu sanh thoát tử, là đạt đến cảnh giới bất tử. Khi chứng ngộ trí tuệ này thì dòng sanh tử bị phá tan, phá vỡ, phá nát, không còn dẫn dắt ngài trong dòng sống chết, như vậy gọi là chấm dứt sanh tử, thoát ly sanh tử, đoạn tận sanh tử, giải thoát sanh tử, đạt đến cảnh giới bất tử, ý nghĩa của bài kinh sâu sắc đến như vậy.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người khi đi qua một khu rừng, một chặng núi, thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Người ấy đi theo con đường ấy, trong khi đi theo con đường ấy, người ấy thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao với thành lũy đẹp đẽ.
Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy báo cáo với vua hay vị đại thần: 'Chư tôn hãy biết, trong khi đi ngang một khu rừng, một chặng núi, tôi thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Tôi đã đi theo con đường ấy và thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao, với thành lũy đẹp đẽ. Thưa các Tôn giả, hãy xây dựng lại ngôi thành ấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vị vua hay vị đại thần cho xây dựng lại ngôi thành ấy. Và ngôi thành ấy, sau một thời gian lớn lên và trở thành một thành phố phồn vinh, thịnh vượng, đông đúc, tràn đầy người ở.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh... Ta thấy rõ hữu... Ta thấy rõ thủ... Ta thấy rõ ái... Ta thấy rõ thọ... Ta thấy rõ xúc... Ta thấy rõ sáu xứ... Ta thấy rõ danh sắc... Ta thấy rõ thức...
Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Cái được ta thấy, ta biết, ta tuyên bố cho tứ chúng và cuộc sống thanh cao, trong sạch, cao thượng bằng tám đúng này đã được phồn vinh, thịnh vượng, đã được lưu bố một cách rộng rãi cho số đông, nhiều người, chư thiên và loài người được nghe, được học, được tu, được thực hành, được thực thấy, thực biết, thực chứng. Đây là ý nghĩa và giá trị vĩ đại của Bát Thánh Đạo, đây là con đường mà tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuở xưa đã đi qua và nay Đức Thế Tôn đại Mâu-ni Cồ-đàm Thích-ca văn cũng đi trên con đường ấy. Sau này tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác về sau cũng đi trên con đường Bát Thánh Đạo, không thể có con đường thứ hai, đó là đạo lộ, là đường lối, là Phật đạo, tức là đạo lộ của chư Phật, là Thánh đạo, là con đường của tất cả các bậc Thánh. Không còn con đường nào, phương pháp nào, cách thức nào hơn được con đường này nên đạo lộ này được gọi là vô thượng đạo, Đức Phật đã đi trên con đường đó thì gọi là vô thượng Phật đạo.
Chúng ta tu mà không đi theo con đường này thì đi theo con đường nào? Đối chiếu lại với Bát Chánh Đạo thì đời sống tu hành của mình được mấy chánh, được mấy cái đúng trong tám đúng? Thật sự là rất khó, rất ít và rất hiếm, ngay cả pháp học cũng đã rất khó chứ đừng nói gì đến pháp hành. Trong phần chánh kiến có trí về năm thủ uẩn, trí về vô minh, trí về đoạn diệt vô minh, trí về Bát Chánh Đạo, trí về khổ tập diệt đạo.
Chúng ta cần thực hành thường xuyên phần nhận diện năm uẩn vì nếu không nhận diện được năm uẩn thì không thấy được sự chấp thủ trong năm uẩn. Nếu không biết năm uẩn là gì thì làm sao biết sự nắm chặt năm uẩn của tâm, làm sao thấy được sự nắm chặt đó là dục tham, sân si, vô minh, bản ngã. Nếu không thấy không biết thì làm sao có thể nhiếp phục, đoạn tận và tẩy sạch nó được? Từ sự thấy biết đúng mới nghĩ đúng, từ đó xa rời ham muốn, nóng giận, ác ý với người khác, dần dần hướng đến nói đúng, làm đúng, sống đúng, quán đúng, siêng đúng, định đúng.
Quả báu ác khẩu
Nói đúng là từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác và từ bỏ nói lời phù phiếm, đọc thì đơn giản nhưng thực hành không hề dễ dàng. Chúng ta rất dễ rơi vào sự nói dối, nói chơi cũng thành nói dối. Để thực hành cái này đến mức độ đầy đủ, viên mãn thì phải tỉnh giác và chánh niệm một cách tột độ trong khi nói chuyện. Nói dối là chuyện không nói có, chuyện có nói không, chuyện phải nói quấy, chuyện quấy nói phải, thấy thì nói không thấy, không thấy thì nói không thấy. Nói hai lưỡi là có mặt người thì nói vầy, không có mặt người thì nói khác. Nói lời độc ác là nói những lời làm cho người ta khổ sở, nói lời nặng nề, cay cú, ác nghiệt. Nói phù phiếm là nói không đâu vào đâu, nói từ sáng đến chiều nhưng toàn nói chuyện phiếm, tán gẫu,
"Tại Sàvatthi.
Rồi Tỳ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối.
Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỳ-kheo Kokàlika:
-- Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái.
Lần thứ hai, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn đáng tin tưởng, rất đáng tin cậy; nhưng Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Tỳ-kheo Kokalika:
-- Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái.
Lần thứ ba, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:
-- ... Họ bị ác dục chi phối.
Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo Kokàlika:
-- ... Sariputta và Moggallàna thật là hòa ái.
Rồi Tỳ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra đi.
Tỳ-kheo Kokàlika ra đi không được bao lâu, toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalàya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột amala (a-ma-la quả). Từ quả amala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ.
Rồi Tỳ-kheo Kokàlika do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỳ-kheo Kokàlika sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna.
Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, sau khi mệnh chung Tỳ-kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna.
Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, hồi hôm, Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ kheo, Phạm thiên Sahampati bạch với Ta: 'Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Và bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika sau khi mệnh chung đã sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm thù hận đối với Tôn giả Sàriputta và Moggattàna'. Này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
Ðược nghe nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bao nhiêu lâu là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng?
-- Thật dài, này Tỳ-kheo, là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng. Không dễ gì tính được là bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm năm, bao nhiêu ngàn năm, bao nhiêu trăm ngàn năm.
-- Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng một ví dụ?
Thế Tôn đáp:
-- Có thể được, này Tỳ-kheo. Này Tỳ-kheo, ví như có một bao hột đậu mè, nặng hai mươi khàrika, theo đo lường ở nước Kosala. Ví dụ sau một trăm năm, một người lấy ra một lần một hột mè. Này Tỳ-kheo, còn mau hơn là bao hột mè, nặng hai mươi khàrika ấy, theo đo lường của nước Kosala, đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do phương tiện ấy, so sánh (với tuổi thọ) ở địa ngục Abhuda. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Abhuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa. Này-Tỷ kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ababa bằng một tuổi thọ ở địa ngục Atata. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Atata bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ahaha. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng một tuổi thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen xanh). Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala bằng một tuổi thọ ở địa ngục Pundarika (Sen trắng). Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sen trắng bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sen hồng. Này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Kokàlika sanh tại địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với tôn giả Sàriputta và Moggallàna.
Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ lại nói thêm:
Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do nơi miệng của mình,
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc rủi may,
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen.
Lớn hơn sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình.
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,
Sẽ sa đọa địa ngục".
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Kokàlika)
Ác dục là sự tham muốn xấu ác. Đức Phật nói rằng khi con người sanh ra là sanh với búa trong miệng cho nên tu khẩu hành là cả một vấn đề chứ không phải chuyện đơn giản. Gần đây Minh Thành phát hiện ra bài kinh “Diệu hạnh”,trong bốn đức hạnh của chư Tăng có ghi: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời".
"Này các Tỳ-kheo, có bốn lời thiện hành này. Thế nào là bốn?
Nói thật, không nói hai lưỡi, nói lời nhu nhuyến, nói lời thông tuệ.
Này các Tỳ-kheo, có bốn lời thiện hành này". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XXIII. Phẩm Diệu Hạnh, (I). Diệu Hạnh)
Diệu hạnh là sự giữ gìn miệng lưỡi của mình, đây là một trong bốn lời thiện hành trong bài kinh Diệu hạnh. Đối với Tỳ-kheo Kokàlika lúc ấy đang bị bệnh thì có một vị Bích-chi Phạm thiên Tudu quen biết với vị Tỳ-kheo này đã xuống khuyên bảo đừng nói xấu hai vị tôn giả Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất thì Tỳ-kheo Kokàlika hỏi vị Bích-chi này đã chứng Bất lai thì còn xuống nhân gian để làm gì nữa, Bích-chi Phạm thiên có lòng tốt khuyên bảo nhưng vị Tỳ-kheo này không nghe nên cuối cùng rơi xuống địa ngục.
"Tại Sàvatthi.
Lúc bấy giờ Tỳ-kheo Kokàlika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Rồi Bích-chi Phạm thiên Tudu khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Tỳ-kheo Kokàlika.
Sau khi đến, vị ấy đứng trên hư không, và nói với Tỳ-kheo Kokàlika:
-- Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa nhã.
-- Ông là ai, này Hiền giả?
-- Ta là Bích-chi Phạm thiên Tudu.
-- Này Hiền giả, phải chăng Ông đã được Thế Tôn nói là đã chứng quả Bất lai. Vậy Ông đến ở đời này làm gì? Ông có thấy lỗi lầm của Ông như thế nào?
Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do chính miệng của mình;
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc,
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc rủi may,
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen!
Lớn hơn, sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình!
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn, nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,
Sẽ sa đọa địa ngục".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất IX. Tudubrahmà)
Qua bài kinh này chúng ta thấy khi một tâm đã sân hận, thù hận thì vô cùng khủng khiếp, vì thế cần phải ít nói, nếu có nói thì hãy nói pháp.
Tu tập Chánh ngữ
Có hai điều cực kì quan trọng mà Đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo là im lặng của bậc Thánh tức là thiền định và đàm luận pháp.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh".
(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Nói dông dài, lan man là có nguy cơ nói chuyện người này người kia, nói xấu người khác, mà nói xấu người khác thì rất nguy hiểm. Cũng như bàn tay ném bùn thì tự làm bẩn mình trước hoặc là ngậm máu phun người thì miệng mình dơ trước, ngược gió tung bụi thì bụi bay ngược vào mặt mình, vì thế cần cẩn trọng trong lời nói. Ngược lại khi nghe cũng cần phải có chánh niệm và tỉnh giác, vì có những lời nói sẽ làm tâm mình dao động, không tu được, nếu những lời nói đó là sự thật đi nữa thì cũng là chuyện người khác, không liên quan đến mình. Điều quan trọng là cần giữ gìn tâm, giữ cảm thọ an tịnh lắng dịu, trí tuệ sáng suốt. Thế nhưng mình không lo giữ những cái này mà suốt ngày cứ nghe ngóng, thấy chỗ đông vui thì đi đến cuối cùng chuốc lấy phiền não. Nhiều khi nghe chuyện không liên quan đến mình nhưng về tu không được, tâm trở nên bất an, lo lắng, chán nản, điều này rất vô lý, làm hoang phí thân tâm và thời gian cho nên cần chánh niệm và tỉnh giác với lời nói.
Trong kinh ghi lại có ba loại lời nói, đó là nói như mật, nói như hoa và nói như phân:
"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người nói như phân, hạng người nói như hoa, hạng người nói như mật.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như phân? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người khi đi vào hội trường, hay đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến giữa cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'. Do vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ, mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như phân.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như hoa? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người khi đi vào hội trường, hay khi đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'. Không vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như hoa.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như mật? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác ngữ. Lời nói của người ấy không hại, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói những lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người nói như mật.
Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời".
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nói Như Hoa)
Nói như phân là ai cũng tránh xa, bốc mùi khủng khiếp, nói như hoa là có mùi thơm, nói như mật là bổ dưỡng, giúp ích cho mọi người. Tại sao mình không chọn nói như hoa, như mật là lại nói như phân? Tu chánh ngữ rất tuyệt vời, phải tập luyện làm sao càng giảm bớt nói thị phi, hơn thua, nói sân si, bản ngã, chỉ nói những gì cần nói, chỉ nói những gì nên nói, đáng nói, nói ra là chia sẻ pháp cho mọi người, nếu không thì đừng nói. Trong những câu chuyện về tiền thân Bồ-tát lúc nào nói chuyện cũng bay ra mùi hoa sen vì ngài đã tu tập lời nói trong rất nhiều đời nhiều kiếp.
"Mở miệng hoa sen của Ngài, như mở hộp châu báu, đầy những hương thơm sai biệt, thơm với hương thơm chư Thiên, do uy lực nói lời chơn thực, trải vô lượng ức kiếp không gián đoạn, Thế Tôn phát ra âm thanh dịu ngọt…" (Tiểu Bộ Kinh - Tập IV. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (I), Chương Một. Phẩm Apannaka, 1. Chuyện pháp tối thượng (Tiền thân Apannaka))
Trong thanh quy đạo tràng Nikāya có ghi rõ "Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói từ tốn, nói lời có lợi ích, nói với từ tâm". Phải nói đúng thời, đúng lúc, xem lại lúc đó có nên nói hay không, có khi đó là lời tốt nhưng lại nói không đúng lúc thì lời đó trở thành xấu, người nghe sẽ sân hận, nếu nói đúng lúc thì người ta cảm ơn mình có khi suốt đời. Thứ hai là lời nói phải đúng sự thật, có khi mình chỉ mới nghe thôi đã tức giận, sân si, không kiểm soát cảm thọ do nhĩ xúc sanh, vì vậy khi nghe bất cứ lời khen, chê hay chỉ trích thì cũng phải bình tĩnh, an trú cảm giác toàn thân, quán chiếu cảm thọ trong con người mình xem lúc đó cảm giác trong cơ thể như thế nào, phải làm cho nó an tịnh, lắng dịu dù cho bị hủy nhục, khinh chê. Nếu bị người ta nói xấu thì phải kiểm tra lời nói đó đúng hay sai, nếu họ nói đúng thì mình xin lỗi, sám hối, sửa đổi, nếu không đúng thì người nói sẽ chịu nhân quả, không cần mình phải sân si lên, hơn thua, đôi chối, vấn đề ở đây là cần ít nói, tập tịnh khẩu. Nói lời từ tốn, có lợi ích nghĩa là không nói lời chia lia, phân ly, chia rẽ, nói ra để gây đau khổ, xấu hổ, phiền não cho người ta thì nói để làm gì. Nói lời từ tâm, tình thương, sớt chia, giúp đỡ lẫn nhau.
"-Người được góp ý cần nghiêm túc đón nhận lời góp ý và nghiêm túc quán xét bản thân. Ghi nhớ câu Pháp Cú 76:
"Nếu thấy bậc Hiền Trí
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng.
Hãy thân cận người trí,
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn không xấu'".
(Nghi thức tu học Nikāya)
Nếu được người hiền trí chỉ lỗi thì cần quán chiếu đang được người đó chỉ chỗ chôn vàng, phải cảm ơn họ hết mình, hết lòng và bình tĩnh quán xét. Đừng vội phản ứng, sừng sộ, phản kháng, đừng vội vàng để các cảm thọ bức xúc sanh khởi, hãy tập bình tĩnh quán xét, tư duy một cách sâu sắc khi nghe lời chê và tiếng khen. Thật ra những lời nói bên ngoài không quan trọng bằng nội tâm mình, giữ được tâm an tịnh lắng dịu mới là tối thượng.
Đức Phật dạy người cư sĩ chánh nghiệp, chánh mạng là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ năm nghề là bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán thuốc độc và bán người. Có khi chúng ta nghĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục quá dễ vì đây là của cư sĩ nhưng đừng vội nghĩ như vậy, phải chiêm nghiệm thật kĩ vì sát sanh này có rất nhiều hình thức khác nhau. Bước đi không chánh niệm vẫn có thể sát sanh, đập muỗi vẫn là sát sanh hoặc là trong ly nước có kiến mà không thấy uống vào thì vẫn là sát sanh, rửa rau củ không kỹ nấu lên có sâu trong đó thì vẫn là sát sanh.
Khi học hay thực hành cần xem thật kĩ trong pháp chứ không được xem thường rồi nghĩ rằng đây là của cư sĩ, trong từng ý nghĩ, lời nói và hành động cần cẩn trọng. Đối với tà hạnh trong các dục cũng vậy, trong suy nghĩ, cảm thọ, hành động cần quán chiếu từng chút một để thấy được thọ; tưởng; hành. Riêng phần chánh mạng của người tu thì có rất nhiều, những điều này cũng đã được ghi lại trong kinh, người xuất gia mà kinh doanh, làm ăn buôn bán là sống không đúng pháp vì chúng ta được sự bố thí, cúng dường không thiếu ăn, thiếu mặc, không thiếu chỗ ở nên mình không được kinh doanh, có những trường hợp mở ra bói toán, xem tướng này nọ cho nên nếu không khéo sẽ đi sai đường. Cho nên bây giờ hồn ai nấy giữ, ông tu thì ông đắc, bà tu thì bà đắc, còn bất tu thì bất đắc, người nào tu thật sự thì được giải thoát, còn không tu thì không được.
Chúng ta học để biết rồi ứng dụng cho tự thân, chứ không phải học để biết rồi nhìn ngó ra ngoài phán định khen chê người khác, như vậy sẽ phạm vào lỗi khen mình chê người đã được Đức Phật nói rất nhiều trong kinh Nikāya. Vì vậy, sự tu học, thấy biết của chúng ta là nhằm có được trí tuệ, có được sự nhận thức, từ đó quay lại thân tâm để kiểm soát, tẩy sạch, đoạn tận những dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, cấu uế, lậu hoặc, chứ không phải học để biết rồi nhìn ra ngoài để đánh giá người này người nọ, khen chê đúng sai. Học như vậy rất uổng phí, nó sẽ trở thành sở tri chướng, phiền não chướng trong cuộc đời tu của mình.
./.
HÃY THỪA KẾ & TIẾP NỐI CHÁNH PHÁP! 3
BÁT CHÁNH ĐẠO 2 (KINH THÀNH ẤP)
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Cội nguồn sanh tử PAGEREF _Toc114582226 \h 1
II.Vô thượng Phật đạo PAGEREF _Toc114582227 \h 6
III.Quả báu ác khẩu PAGEREF _Toc114582228 \h 9
IV.Tu tập Chánh ngữ PAGEREF _Toc114582229 \h 16
Cội nguồn sanh tử
Chúng ta đang tìm hiểu tổng quát về Bát Thánh Đạo hay còn được gọi là Thánh đạo tám ngành. Để làm sáng tỏ ý nghĩa, giá trị, tầm quan trọng của đạo lộ bậc Thánh thì hôm nay chúng ta liên hệ đến bài kinh “Thành ấp”:
"...Tại Sàvatthi.
-- Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: 'Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly khỏi già và chết'".
Sự đau đớn, khổ sầu trong tất cả sự khổ là không biết con đường thoát ra, không ai chỉ, không ai dạy, không ai nói, không ai trình bày, tuyên thuyết, khai thị, không biết con đường xuất ly ra khỏi già nua, bệnh, tật và chết chóc. Đó là lúc còn là Bồ-tát ngài đã chánh tư duy, ngài như lý tác ý, ngài chiêm nghiệm như vậy, cả thế giới bị vây hãm trong sanh, già, bệnh, chết, trong khổ sầu, nhưng cái đau đớn là không biết được lối thoát ra khỏi sự tái sanh, sự già nua, bệnh, chết chóc, khổ sở này.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì, già chết sanh khởi?'".
Vì đâu có ra sự già nua, chết chóc này? Tại sao có ra sự già nua, chết chóc này? Do cái gì mà già, chết sanh khởi? Tại sao có già, tại sao có bệnh, có chết.
"Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do sanh có mặt nên già chết hiện hữu. Do duyên sanh, nên già chết sanh khởi'".
Nếu không có sanh thì làm gì có già, không có già thì làm gì có bệnh, không bệnh thì làm sao có chết. Như vậy với một sự suy tư đúng sự thật, nhờ trí tuệ ngài phát sanh ra một cái thấy biết xác quyết, cụ thể, rõ ràng gọi là minh kiến, không còn nghi ngờ gì nữa, do có sanh nên mới có già và chết, vì có sanh nên mới có tử.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu? Ái hiện hữu? Thọ hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?'
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi'.
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi'.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, thức hiện hữu. Do duyên cái gì, thức sanh khởi?'
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau : 'Do danh sắc có mặt nên thức hiện hữu. Do duyên danh sắc nên thức sanh khởi'".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Hữu chính là hiện hữu, hữu ái là sự yêu thích hiện hữu, có chỗ giải thích là nghiệp nhưng chữ “hữu” trong kinh Nikāya giải thích rất thâm sâu, hữu ái chính là sự yêu thích hiện hữu. Do chúng sanh muốn được sanh ra, muốn được có mặt, muốn hiện hữu, yêu cái hiện hữu, ham hiện hữu, hoan hỉ với hiện hữu thì đương nhiên động cơ chính là từ những cái nghiệp trong quá khứ, thói quen trong quá khứ. Sau khi suy xét đúng như sự thật bằng trí tuệ thì ngài thấy chính xác do sự nắm giữ nên hữu có mặt, nói rộng ra thủ chính là năm thủ uẩn, là sự chấp thủ trong năm uẩn, tức là sự nắm giữ trong những cảm giác, hình hài, nghĩ tưởng này. Tại sao lại có sự nắm chặt, nắm cứng? Là do sự yêu thích, đây là những trí huệ thâm sâu
Đức Phật nói ngài như lý tư duy, phát sanh minh kiến nghĩa là ngài truy tìm nguồn cội của sanh tử, những mắc xích, nguyên nhân, lý do, dữ kiện, yếu tố làm sanh khởi ra dòng sống chết này, dòng sanh, già, bệnh, chết này. Chúng ta nên nhớ lý do đầu tiên Bồ-tát phát tâm đi xuất gia là ngài muốn vượt thoát sanh tử, những gì ngài tu là nhằm phục vụ cho trí tuệ nhìn vào trong sanh tử, đây chính là cội gốc của đạo Phật nên cần nắm thật vững ngay đây. Ngài nhìn thấy có sự nắm giữ trong năm uẩn, trong hình hài, trong những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là do yêu thích nên ái hiện hữu, do yêu thích hình sắc, hình hài mà chúng ta đang mang đây, yêu thích cảm giác trong hình hài này, yêu thích những hình bóng trong tâm. Tất cả mọi thứ đều đặt nền tảng trên năm uẩn, đây là pháp tánh, pháp tướng và cũng là pháp hành, pháp tu, pháp chứng.
Cái gì sanh ra, cái gì bệnh và cái gì chết? Năm uẩn sanh ra nên năm uẩn già đi, năm uẩn bệnh và năm uẩn chết, nắm được nguyên lý này mới giải mã tất cả pháp trong tạng kinh Nikāya. Đối với hữu cũng là năm uẩn hiện hữu, thủ cũng là nắm chặt trong năm uẩn, yêu thích (ái) trong năm uẩn. Đây là tổng cương lĩnh trong kinh tạng Nikāya, tất cả pháp học, pháp hành, pháp thành, pháp chứng đều quy nạp về năm thủ uẩn.
Vì sao lại yêu thích? Vì có cảm giác êm ái, dễ chịu, cảm giác khoan khoái, ưa thích, sung sướng, do có những cảm giác này nên mới khoái, cảm giác này có là từ sự tiếp xúc, chính vì vậy chúng ta có sáu thọ: Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Như vậy sáu cảm thọ này có đều từ sự tiếp xúc của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đây chính là sáu xứ, sáu căn, cho nên trong kinh Nikāya thường quán chiếu về sáu xứ, năm uẩn, mười tám giới. Vì thế cơ sở của xúc là từ sáu căn, sáu xứ, tiếp xúc ở con mắt là nhìn thấy, tiếp xúc ở tai là nghe ngóng rồi sanh ra cảm thọ êm ái hoặc là bực bội, bản ngã, sân hận, tiếp xúc ở mũi là mùi, tiếp xúc ở lưỡi, tiếp xúc ở thân hay là tiếp xúc sâu sắc trong ý là những thọ; tưởng; hành, tất cả đều là do tiếp xúc và những sự tiếp xúc đó đặt nền tảng trên sáu xứ: mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Sáu xứ này có là nhờ danh sắc, danh là tâm hay còn gọi là thọ; tưởng; tư; xúc; tác ý và sắc là thân, chính là tứ đại, tức là phần tâm có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, sự tiếp xúc và tác ý, nói gọn là thọ; tưởng; hành; thức.
Đi sâu hơn bước nữa, sở dĩ có danh sắc là do có thức, cái thức này được an trú, trói cột, chấp thủ vào trong năm thủ uẩn cho nên thức thọ sanh, thức tái sanh mới dẫn mình đi trong luân hồi, từ tái sanh mới có ra hình hài, có ra sáu căn, từ sáu căn mới có tiếp xúc, từ tiếp xúc mới có ra cảm thọ, có cảm thọ mới yêu thích, có yêu thích mới nắm giữ, từ sự nắm giữ mới có hiện hữu, có hiện hữu nên có sanh, có sanh thì đương nhiên sẽ có già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Mình suy xét thêm các hành ở đây chính là thân hành, khẩu hành, ý hành, những lời nói, suy nghĩ, hành động này xuất phát từ vô minh. Vì không thấy không biết (vô minh) sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không thấy không biết pháp duyên sanh, pháp cấu tạo, pháp vô thường, biến đổi, hoại diệt, không nhận rõ, không thành tựu tri, thành tựu kiến, thành tựu minh cho nên trong một cái tâm hôn mê như vậy thì những suy nghĩ, lời nói, hành động chỉ làm trong tham ái, chấp thủ và tạo nghiệp. Từ một cái tâm tối tăm, mù mịt, không sáng suốt rồi phát khởi ra những suy nghĩ, lời nói, hành động rồi tạo ra nghiệp, nghiệp này cộng với tâm thức hôn mê tạo ra danh sắc có đủ thân và tâm, từ đó hiển lộ ra sáu căn, đứa nhỏ mới sanh ra thích cầm nắm, đụng chạm, đó là sự tiếp xúc, khi tiếp xúc sẽ sanh ra cảm thọ, khi có cảm giác, cảm xúc sẽ sanh ra sự yêu thích, có yêu thích mới có nắm giữ, từ sự nắm chặt, nắm giữ mới có ra hiện hữu, có hiện hữu thì có sanh, có sanh thì có già, bệnh, chết, sầu, bi, ưu, não. Đây là cả một chuỗi vận hành của sanh tử từ quá khứ, hiện tại cho đến tương lai.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: 'Thức này trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Xa đến như vậy, chúng ta bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, bị tái sanh, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi..'. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi".
Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này được tập hợp và sanh khởi, đó là Thế Tôn quán đến thức.
"'Tập khởi, tập khởi'. Này các Tỳ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên".
Đây là lúc ngài chứng ngộ, nghĩa là lúc biết ra những thứ mà từ trước đến nay chưa từng biết, con mắt trí tuệ mở ra, trí mở ra, tuệ khởi lên, ánh sáng mở ra, quang, minh khởi lên.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu? Do cái gì diệt, già chết diệt?'
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do sanh không có mặt, nên già chết không hiện hữu. Do sanh diệt, nên già chết diệt'.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?'
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì diệt, nên thức diệt?
Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: Do danh sắc không có mặt, thức không hiện hữu. Do danh sắc diệt nên thức diệt".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Đức Phật thuật lại quá trình ngài chứng ngộ cho chúng ta biết, trên đây là chiều ngược lại những điều đã nói ở trên. Tức là sanh không có nên già, chết không có. Hữu không có thì sanh không có. Sự nắm giữ không có thì không có hữu; yêu thích không có thì nắm giữ không có; không yêu thích thì không thể nắm giữ, do không có cảm giác nên không yêu thích. Nếu không có xúc thì không có thọ. Vì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý có nên mới có cơ sở để tiếp xúc, có danh sắc, có thân tâm, có thức. Cái thức chấp thủ này là từ thân hành, khẩu hành, ý hành. Sở dĩ các hành này có ra là từ tâm vô minh, cho nên những hành động đó mang tính chất tham, sân, si. Đđi sâu hơn nữa vô minh có ra là từ lậu hoặc.
"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: 'Ta đã chứng đắc con đường này đưa đến giác ngộ, tức là do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. ..(như trên)...Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Đọc đến đây chúng ta mới thấy không phải Đức Phật ngồi im dưới cội Bồ-đề là bừng lên chứng ngộ, mà là ngài thấy ra được từng pháp, sáng ra hết tất cả vấn đề chứ không phải tu là ngồi im rồi tự động bừng lên chứng ngộ. Nguồn cơn của sanh tử, từng mắc xích, từng sự vận hành trong thân tâm đều được ngài thấy, đều được ngài biết, đều được soi sáng từng ngõ ngách, từng khía cạnh, nhãn sanh, trí sanh, quang sanh, minh sanh. Cho nên không nương theo pháp học này thì không thể nào đi vào pháp hành đúng theo Thánh đạo, từ đó sẽ không có Thánh quả, mình hoàn toàn không biết gì cả, bị vô minh bao trùm thì làm sao đi ra khỏi sanh tử.
Vô thượng Phật đạo
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Thứ nhất là thấy rõ được sự thật của già chết là như thế nào. Thông thường, chúng ta cứ chối bỏ cái già bảo rằng mình vẫn còn khỏe, không chịu già tức là già mà không nhận thì làm sao thấy được bản chất của cái già. Chết cũng vậy, nằm trên giường bệnh như đèn treo trước gió, như chỉ mành treo chuông mà ai nói đến chết là không đồng ý, không muốn nói đến từ chết. Đừng nghĩ rằng già chết là vấn đề đơn giản, ai ai cũng biết. Thế nhưng, nếu không thành tựu cái thấy biết chân xác, rõ ràng, chánh kiến thì mình không biết thật sự về già chết, thế nên, mình chống đối già chết, muốn triệt tiêu cái già chết, mình tránh né, che đậy hoặc không chấp nhận nó. Vì thế:
Trí tuệ thứ nhất: thấy rõ được già chết;
Trí tuệ thứ hai: thấy rõ được nguyên nhân của già chết (gọi là già chết tập khởi);
Trí huệ thứ ba: thấy rõ được sự chấm dứt của già chết;
Trí huệ thứ tư là con đường đưa đến sự chấm dứt già chết.
Đây cũng giống như Tứ Thánh Đế, cái nào cũng lấy bốn sự thật của bậc Thánh trong Tứ Thánh Đế áp dụng vào thì pháp đó mới đi đến triệt để. Có già chết là do có thủ, hữu, ái; để già chết diệt thì những thứ này diệt, nói gọn là vô minh và tham ái diệt và con đường đưa đến chấm dứt già chết là Bát Chánh Đạo. Khi học pháp phải học kĩ càng, phải tư suy, nghiền ngẫm, nắm bắt sâu sắc.
"'Ðoạn diệt, đoạn diệt'. Này các Tỳ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
“Tập khởi" là trí về sanh, còn ở đây là "đoạn diệt, đoạn diệt" là trí về diệt, tức là ngài chứng đắc sanh diệt trí của dòng sanh tử này. Sanh là tại sao nó lại sanh ra, diệt là là thế nào để nó chấm dứt. Như vậy bài kinh này giải quyết vấn đề ngài thắc mắc trong khi ngài còn là thái tử, khi đi dạo qua bốn cửa thành ngài thấy sanh, già, bệnh, chết. Ngài đi tu là để làm thế nào thoát ra khỏi sanh, già, bệnh, chết. Khi Ngài thành đạo là thành tựu trí tuệ tại sao mình sanh ra; tại sao lại già, bệnh, chết; làm sao để sanh, già, bệnh, chết chấm dứt và ngài thấy luôn con đường, phương pháp, đạo lộ để chấm dứt sanh, già, bệnh, chết. Thấy như vậy gọi là đại thành tựu, gọi là siêu sanh thoát tử, là liễu sanh thoát tử, là đạt đến cảnh giới bất tử. Khi chứng ngộ trí tuệ này thì dòng sanh tử bị phá tan, phá vỡ, phá nát, không còn dẫn dắt ngài trong dòng sống chết, như vậy gọi là chấm dứt sanh tử, thoát ly sanh tử, đoạn tận sanh tử, giải thoát sanh tử, đạt đến cảnh giới bất tử, ý nghĩa của bài kinh sâu sắc đến như vậy.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người khi đi qua một khu rừng, một chặng núi, thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Người ấy đi theo con đường ấy, trong khi đi theo con đường ấy, người ấy thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao với thành lũy đẹp đẽ.
Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy báo cáo với vua hay vị đại thần: 'Chư tôn hãy biết, trong khi đi ngang một khu rừng, một chặng núi, tôi thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Tôi đã đi theo con đường ấy và thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao, với thành lũy đẹp đẽ. Thưa các Tôn giả, hãy xây dựng lại ngôi thành ấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vị vua hay vị đại thần cho xây dựng lại ngôi thành ấy. Và ngôi thành ấy, sau một thời gian lớn lên và trở thành một thành phố phồn vinh, thịnh vượng, đông đúc, tràn đầy người ở.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh... Ta thấy rõ hữu... Ta thấy rõ thủ... Ta thấy rõ ái... Ta thấy rõ thọ... Ta thấy rõ xúc... Ta thấy rõ sáu xứ... Ta thấy rõ danh sắc... Ta thấy rõ thức...
Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)
Cái được ta thấy, ta biết, ta tuyên bố cho tứ chúng và cuộc sống thanh cao, trong sạch, cao thượng bằng tám đúng này đã được phồn vinh, thịnh vượng, đã được lưu bố một cách rộng rãi cho số đông, nhiều người, chư thiên và loài người được nghe, được học, được tu, được thực hành, được thực thấy, thực biết, thực chứng. Đây là ý nghĩa và giá trị vĩ đại của Bát Thánh Đạo, đây là con đường mà tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuở xưa đã đi qua và nay Đức Thế Tôn đại Mâu-ni Cồ-đàm Thích-ca văn cũng đi trên con đường ấy. Sau này tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác về sau cũng đi trên con đường Bát Thánh Đạo, không thể có con đường thứ hai, đó là đạo lộ, là đường lối, là Phật đạo, tức là đạo lộ của chư Phật, là Thánh đạo, là con đường của tất cả các bậc Thánh. Không còn con đường nào, phương pháp nào, cách thức nào hơn được con đường này nên đạo lộ này được gọi là vô thượng đạo, Đức Phật đã đi trên con đường đó thì gọi là vô thượng Phật đạo.
Chúng ta tu mà không đi theo con đường này thì đi theo con đường nào? Đối chiếu lại với Bát Chánh Đạo thì đời sống tu hành của mình được mấy chánh, được mấy cái đúng trong tám đúng? Thật sự là rất khó, rất ít và rất hiếm, ngay cả pháp học cũng đã rất khó chứ đừng nói gì đến pháp hành. Trong phần chánh kiến có trí về năm thủ uẩn, trí về vô minh, trí về đoạn diệt vô minh, trí về Bát Chánh Đạo, trí về khổ tập diệt đạo.
Chúng ta cần thực hành thường xuyên phần nhận diện năm uẩn vì nếu không nhận diện được năm uẩn thì không thấy được sự chấp thủ trong năm uẩn. Nếu không biết năm uẩn là gì thì làm sao biết sự nắm chặt năm uẩn của tâm, làm sao thấy được sự nắm chặt đó là dục tham, sân si, vô minh, bản ngã. Nếu không thấy không biết thì làm sao có thể nhiếp phục, đoạn tận và tẩy sạch nó được? Từ sự thấy biết đúng mới nghĩ đúng, từ đó xa rời ham muốn, nóng giận, ác ý với người khác, dần dần hướng đến nói đúng, làm đúng, sống đúng, quán đúng, siêng đúng, định đúng.
Quả báu ác khẩu
Nói đúng là từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác và từ bỏ nói lời phù phiếm, đọc thì đơn giản nhưng thực hành không hề dễ dàng. Chúng ta rất dễ rơi vào sự nói dối, nói chơi cũng thành nói dối. Để thực hành cái này đến mức độ đầy đủ, viên mãn thì phải tỉnh giác và chánh niệm một cách tột độ trong khi nói chuyện. Nói dối là chuyện không nói có, chuyện có nói không, chuyện phải nói quấy, chuyện quấy nói phải, thấy thì nói không thấy, không thấy thì nói không thấy. Nói hai lưỡi là có mặt người thì nói vầy, không có mặt người thì nói khác. Nói lời độc ác là nói những lời làm cho người ta khổ sở, nói lời nặng nề, cay cú, ác nghiệt. Nói phù phiếm là nói không đâu vào đâu, nói từ sáng đến chiều nhưng toàn nói chuyện phiếm, tán gẫu,
"Tại Sàvatthi.
Rồi Tỳ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối.
Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỳ-kheo Kokàlika:
-- Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái.
Lần thứ hai, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn đáng tin tưởng, rất đáng tin cậy; nhưng Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Tỳ-kheo Kokalika:
-- Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái.
Lần thứ ba, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:
-- ... Họ bị ác dục chi phối.
Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo Kokàlika:
-- ... Sariputta và Moggallàna thật là hòa ái.
Rồi Tỳ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra đi.
Tỳ-kheo Kokàlika ra đi không được bao lâu, toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalàya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột amala (a-ma-la quả). Từ quả amala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ.
Rồi Tỳ-kheo Kokàlika do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỳ-kheo Kokàlika sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna.
Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, sau khi mệnh chung Tỳ-kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna.
Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, hồi hôm, Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ kheo, Phạm thiên Sahampati bạch với Ta: 'Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Và bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika sau khi mệnh chung đã sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm thù hận đối với Tôn giả Sàriputta và Moggattàna'. Này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
Ðược nghe nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bao nhiêu lâu là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng?
-- Thật dài, này Tỳ-kheo, là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng. Không dễ gì tính được là bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm năm, bao nhiêu ngàn năm, bao nhiêu trăm ngàn năm.
-- Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng một ví dụ?
Thế Tôn đáp:
-- Có thể được, này Tỳ-kheo. Này Tỳ-kheo, ví như có một bao hột đậu mè, nặng hai mươi khàrika, theo đo lường ở nước Kosala. Ví dụ sau một trăm năm, một người lấy ra một lần một hột mè. Này Tỳ-kheo, còn mau hơn là bao hột mè, nặng hai mươi khàrika ấy, theo đo lường của nước Kosala, đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do phương tiện ấy, so sánh (với tuổi thọ) ở địa ngục Abhuda. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Abhuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa. Này-Tỷ kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ababa bằng một tuổi thọ ở địa ngục Atata. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Atata bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ahaha. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng một tuổi thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika. Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen xanh). Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala bằng một tuổi thọ ở địa ngục Pundarika (Sen trắng). Này Tỳ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sen trắng bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sen hồng. Này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Kokàlika sanh tại địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với tôn giả Sàriputta và Moggallàna.
Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ lại nói thêm:
Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do nơi miệng của mình,
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc rủi may,
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen.
Lớn hơn sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình.
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,
Sẽ sa đọa địa ngục".
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Kokàlika)
Ác dục là sự tham muốn xấu ác. Đức Phật nói rằng khi con người sanh ra là sanh với búa trong miệng cho nên tu khẩu hành là cả một vấn đề chứ không phải chuyện đơn giản. Gần đây Minh Thành phát hiện ra bài kinh “Diệu hạnh”,trong bốn đức hạnh của chư Tăng có ghi: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời".
"Này các Tỳ-kheo, có bốn lời thiện hành này. Thế nào là bốn?
Nói thật, không nói hai lưỡi, nói lời nhu nhuyến, nói lời thông tuệ.
Này các Tỳ-kheo, có bốn lời thiện hành này". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XXIII. Phẩm Diệu Hạnh, (I). Diệu Hạnh)
Diệu hạnh là sự giữ gìn miệng lưỡi của mình, đây là một trong bốn lời thiện hành trong bài kinh Diệu hạnh. Đối với Tỳ-kheo Kokàlika lúc ấy đang bị bệnh thì có một vị Bích-chi Phạm thiên Tudu quen biết với vị Tỳ-kheo này đã xuống khuyên bảo đừng nói xấu hai vị tôn giả Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất thì Tỳ-kheo Kokàlika hỏi vị Bích-chi này đã chứng Bất lai thì còn xuống nhân gian để làm gì nữa, Bích-chi Phạm thiên có lòng tốt khuyên bảo nhưng vị Tỳ-kheo này không nghe nên cuối cùng rơi xuống địa ngục.
"Tại Sàvatthi.
Lúc bấy giờ Tỳ-kheo Kokàlika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Rồi Bích-chi Phạm thiên Tudu khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Tỳ-kheo Kokàlika.
Sau khi đến, vị ấy đứng trên hư không, và nói với Tỳ-kheo Kokàlika:
-- Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa nhã.
-- Ông là ai, này Hiền giả?
-- Ta là Bích-chi Phạm thiên Tudu.
-- Này Hiền giả, phải chăng Ông đã được Thế Tôn nói là đã chứng quả Bất lai. Vậy Ông đến ở đời này làm gì? Ông có thấy lỗi lầm của Ông như thế nào?
Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do chính miệng của mình;
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc,
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc rủi may,
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen!
Lớn hơn, sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình!
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn, nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,
Sẽ sa đọa địa ngục".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất IX. Tudubrahmà)
Qua bài kinh này chúng ta thấy khi một tâm đã sân hận, thù hận thì vô cùng khủng khiếp, vì thế cần phải ít nói, nếu có nói thì hãy nói pháp.
Tu tập Chánh ngữ
Có hai điều cực kì quan trọng mà Đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo là im lặng của bậc Thánh tức là thiền định và đàm luận pháp.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh".
(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Nói dông dài, lan man là có nguy cơ nói chuyện người này người kia, nói xấu người khác, mà nói xấu người khác thì rất nguy hiểm. Cũng như bàn tay ném bùn thì tự làm bẩn mình trước hoặc là ngậm máu phun người thì miệng mình dơ trước, ngược gió tung bụi thì bụi bay ngược vào mặt mình, vì thế cần cẩn trọng trong lời nói. Ngược lại khi nghe cũng cần phải có chánh niệm và tỉnh giác, vì có những lời nói sẽ làm tâm mình dao động, không tu được, nếu những lời nói đó là sự thật đi nữa thì cũng là chuyện người khác, không liên quan đến mình. Điều quan trọng là cần giữ gìn tâm, giữ cảm thọ an tịnh lắng dịu, trí tuệ sáng suốt. Thế nhưng mình không lo giữ những cái này mà suốt ngày cứ nghe ngóng, thấy chỗ đông vui thì đi đến cuối cùng chuốc lấy phiền não. Nhiều khi nghe chuyện không liên quan đến mình nhưng về tu không được, tâm trở nên bất an, lo lắng, chán nản, điều này rất vô lý, làm hoang phí thân tâm và thời gian cho nên cần chánh niệm và tỉnh giác với lời nói.
Trong kinh ghi lại có ba loại lời nói, đó là nói như mật, nói như hoa và nói như phân:
"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người nói như phân, hạng người nói như hoa, hạng người nói như mật.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như phân? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người khi đi vào hội trường, hay đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến giữa cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'. Do vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ, mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như phân.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như hoa? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người khi đi vào hội trường, hay khi đi vào hội chúng, hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay đi đến cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: 'Ngươi biết gì, hãy nói lên'. Người ấy không biết, nói rằng: 'Tôi không biết'; có biết, nói rằng: 'Tôi có biết'; không thấy, nói rằng: 'Tôi không thấy'; có thấy, nói rằng: 'Tôi có thấy'. Không vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói như hoa.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người nói như mật? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác ngữ. Lời nói của người ấy không hại, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói những lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người nói như mật.
Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời".
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nói Như Hoa)
Nói như phân là ai cũng tránh xa, bốc mùi khủng khiếp, nói như hoa là có mùi thơm, nói như mật là bổ dưỡng, giúp ích cho mọi người. Tại sao mình không chọn nói như hoa, như mật là lại nói như phân? Tu chánh ngữ rất tuyệt vời, phải tập luyện làm sao càng giảm bớt nói thị phi, hơn thua, nói sân si, bản ngã, chỉ nói những gì cần nói, chỉ nói những gì nên nói, đáng nói, nói ra là chia sẻ pháp cho mọi người, nếu không thì đừng nói. Trong những câu chuyện về tiền thân Bồ-tát lúc nào nói chuyện cũng bay ra mùi hoa sen vì ngài đã tu tập lời nói trong rất nhiều đời nhiều kiếp.
"Mở miệng hoa sen của Ngài, như mở hộp châu báu, đầy những hương thơm sai biệt, thơm với hương thơm chư Thiên, do uy lực nói lời chơn thực, trải vô lượng ức kiếp không gián đoạn, Thế Tôn phát ra âm thanh dịu ngọt…" (Tiểu Bộ Kinh - Tập IV. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (I), Chương Một. Phẩm Apannaka, 1. Chuyện pháp tối thượng (Tiền thân Apannaka))
Trong thanh quy đạo tràng Nikāya có ghi rõ "Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói từ tốn, nói lời có lợi ích, nói với từ tâm". Phải nói đúng thời, đúng lúc, xem lại lúc đó có nên nói hay không, có khi đó là lời tốt nhưng lại nói không đúng lúc thì lời đó trở thành xấu, người nghe sẽ sân hận, nếu nói đúng lúc thì người ta cảm ơn mình có khi suốt đời. Thứ hai là lời nói phải đúng sự thật, có khi mình chỉ mới nghe thôi đã tức giận, sân si, không kiểm soát cảm thọ do nhĩ xúc sanh, vì vậy khi nghe bất cứ lời khen, chê hay chỉ trích thì cũng phải bình tĩnh, an trú cảm giác toàn thân, quán chiếu cảm thọ trong con người mình xem lúc đó cảm giác trong cơ thể như thế nào, phải làm cho nó an tịnh, lắng dịu dù cho bị hủy nhục, khinh chê. Nếu bị người ta nói xấu thì phải kiểm tra lời nói đó đúng hay sai, nếu họ nói đúng thì mình xin lỗi, sám hối, sửa đổi, nếu không đúng thì người nói sẽ chịu nhân quả, không cần mình phải sân si lên, hơn thua, đôi chối, vấn đề ở đây là cần ít nói, tập tịnh khẩu. Nói lời từ tốn, có lợi ích nghĩa là không nói lời chia lia, phân ly, chia rẽ, nói ra để gây đau khổ, xấu hổ, phiền não cho người ta thì nói để làm gì. Nói lời từ tâm, tình thương, sớt chia, giúp đỡ lẫn nhau.
"-Người được góp ý cần nghiêm túc đón nhận lời góp ý và nghiêm túc quán xét bản thân. Ghi nhớ câu Pháp Cú 76:
"Nếu thấy bậc Hiền Trí
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng.
Hãy thân cận người trí,
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn không xấu'".
(Nghi thức tu học Nikāya)
Nếu được người hiền trí chỉ lỗi thì cần quán chiếu đang được người đó chỉ chỗ chôn vàng, phải cảm ơn họ hết mình, hết lòng và bình tĩnh quán xét. Đừng vội phản ứng, sừng sộ, phản kháng, đừng vội vàng để các cảm thọ bức xúc sanh khởi, hãy tập bình tĩnh quán xét, tư duy một cách sâu sắc khi nghe lời chê và tiếng khen. Thật ra những lời nói bên ngoài không quan trọng bằng nội tâm mình, giữ được tâm an tịnh lắng dịu mới là tối thượng.
Đức Phật dạy người cư sĩ chánh nghiệp, chánh mạng là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ năm nghề là bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán thuốc độc và bán người. Có khi chúng ta nghĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục quá dễ vì đây là của cư sĩ nhưng đừng vội nghĩ như vậy, phải chiêm nghiệm thật kĩ vì sát sanh này có rất nhiều hình thức khác nhau. Bước đi không chánh niệm vẫn có thể sát sanh, đập muỗi vẫn là sát sanh hoặc là trong ly nước có kiến mà không thấy uống vào thì vẫn là sát sanh, rửa rau củ không kỹ nấu lên có sâu trong đó thì vẫn là sát sanh.
Khi học hay thực hành cần xem thật kĩ trong pháp chứ không được xem thường rồi nghĩ rằng đây là của cư sĩ, trong từng ý nghĩ, lời nói và hành động cần cẩn trọng. Đối với tà hạnh trong các dục cũng vậy, trong suy nghĩ, cảm thọ, hành động cần quán chiếu từng chút một để thấy được thọ; tưởng; hành. Riêng phần chánh mạng của người tu thì có rất nhiều, những điều này cũng đã được ghi lại trong kinh, người xuất gia mà kinh doanh, làm ăn buôn bán là sống không đúng pháp vì chúng ta được sự bố thí, cúng dường không thiếu ăn, thiếu mặc, không thiếu chỗ ở nên mình không được kinh doanh, có những trường hợp mở ra bói toán, xem tướng này nọ cho nên nếu không khéo sẽ đi sai đường. Cho nên bây giờ hồn ai nấy giữ, ông tu thì ông đắc, bà tu thì bà đắc, còn bất tu thì bất đắc, người nào tu thật sự thì được giải thoát, còn không tu thì không được.
Chúng ta học để biết rồi ứng dụng cho tự thân, chứ không phải học để biết rồi nhìn ngó ra ngoài phán định khen chê người khác, như vậy sẽ phạm vào lỗi khen mình chê người đã được Đức Phật nói rất nhiều trong kinh Nikāya. Vì vậy, sự tu học, thấy biết của chúng ta là nhằm có được trí tuệ, có được sự nhận thức, từ đó quay lại thân tâm để kiểm soát, tẩy sạch, đoạn tận những dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, cấu uế, lậu hoặc, chứ không phải học để biết rồi nhìn ra ngoài để đánh giá người này người nọ, khen chê đúng sai. Học như vậy rất uổng phí, nó sẽ trở thành sở tri chướng, phiền não chướng trong cuộc đời tu của mình.
./.