Hai mươi Điều chưa từng có của Thế Tôn
HAI MƯƠI ĐIỀU CHƯA TỪNG CÓ CỦA THẾ TÔN
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Hai mươi sự vi diệu của Như Lai PAGEREF _Toc71986525 \h 1
II.Tu tập Thánh trí năm uẩn PAGEREF _Toc71986526 \h 8
III.Khó thay gặp Chánh Pháp PAGEREF _Toc71986527 \h 12
IV.Ý nghĩa Phật ra đời PAGEREF _Toc71986528 \h 14
Hai mươi sự vi diệu của Như Lai
Hôm nay là mùng 8 tháng 4, cũng là ngày diễn ra Đại lễ Vesak Tam Hợp Liên Hiệp Quốc tại nước nhà chúng ta. Đây là một vinh hạnh lớn khi tất cả hàng trăm quốc gia trở về ở Chùa Tam Chúc để làm lễ tưởng niệm Đức Phật.
Hôm nay chúng ta sẽ học một bài kinh có tựa đề Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp, là bài kinh số 123 - Trung Bộ Kinh tập 3. “Hy hữu” là hiếm có, “vị tằng hữu” là chưa từng có. Chúng ta sẽ được nghe hai mươi sự hy hữu, vi diệu của Như Lai. Khi Đức Phật ra đời, có hai mươi điều hiếm có, chưa từng xuất hiện trên thế gian. Có khi quý vị làm Phật tử mấy chục năm rồi mà vẫn chưa được nghe một cách đầy đủ, chính xác từ nguồn gốc của tạng kinh. Quý vị nên nhớ đây là những điều được truyền thừa qua 2.600 năm. Đây là một tạng kinh chính xác nhất, chân thật nhất của Đức Phật. Quý vị sẽ thấy rất đặc biệt, để chúng ta có thêm lòng tôn kính sâu xa và tôn kính đúng đắn, gọi là chánh tín đối với Đức Phật.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Rồi một số rất đông Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, đang ngồi tụ họp trong thị giả đường (upatthanasala). (Thị Giả đường là nhà nơi vị thị giả ở. Thị giả của Phật là Ananda). Câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng:
– Thật hy hữu thay chư Hiền! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, là đại thần thông lực, đại uy lực của Như Lai!
Như Lai có một sức thần thông lớn lao, có một uy lực vĩ đại. Uy lực đó như thế nào?
Vì Ngài biết được chư Phật quá khứ, đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các hý luận, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt luân hồi, đã thoát ly mọi khổ: "Chư Thế Tôn ấy sanh tánh như vậy, danh tánh như vậy, tộc tánh như vậy... giới hạnh như vậy... pháp hạnh như vậy... tuệ hạnh như vậy.. trú hạnh như vậy... chư Thế Tôn ấy giải thoát như vậy".
Đức Phật thấy, biết và nói cho các đệ tử nghe: các vị Phật đó sinh ra ở đâu, tên tuổi là gì, dòng họ như thế nào rồi giới hạnh của Ngài tu ra sao, pháp hạnh của Ngài tu ra sao, Ngài tu pháp gì để thành Phật, Ngài giữ giới gì để được thành Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài tu tập trí huệ gì mà đến được Phật quả, và cuối cùng, Chư Thế Tôn đó giải thoát ra làm sao. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều nói rõ.
Khi được nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với các Tỷ-kheo ấy: "Thật hy hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!"
Và câu chuyện giữa các Tỷ-kheo ấy bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến thị giả đường, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
– Này các Tỷ-kheo, nay các Ông ngồi nói chuyện gì? Câu chuyện gì giữa các Ông bị gián đoạn?
Các vị Tỳ-kheo mới thuật lại là nãy giờ họ khen ngợi Đức Thế Tôn.
Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
– Do vậy, này Ananda, hãy nói lên nhiều nữa, những đặc tánh hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai.
Vì ngài Ananda ở bên Phật nên những gì của Đức Phật đã nói Ngài Ananda đều nhớ. Nhờ vậy chúng ta sẽ bắt đầu được nghe: Hai mươi sự vị tằng hữu, vi diệu pháp của Như Lai.
Ngài Ananda thưa: “Bạch Đức Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn.” Tức là chính con được nghe Đức Thế Tôn nói, và lúc đó có Đức Phật ngồi bên cạnh nên những điều này mình cần xác quyết tuyệt đối và tin tưởng, ngoài những điều này ra thì cần để đó xem xét lại.
Điều thứ nhất, "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng (Kaya) "Tusita". Con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu (chưa từng có) của Thế Tôn.” Phải nhớ rằng Bồ-tát là duy nhất một mình thái tử Tất-đạt-đa trước khi thành Phật, chỉ có một vị Bồ-tát đó mới thành Phật. Chứ không phải giống mình bây giờ, ai cũng kêu là Bồ-tát hết, như vậy không đúng, Bồ -tát không phải chuyện đơn giản. Như vậy, Chánh niệm tỉnh giác Bồ-tát sinh ở trong Thiên chúng là sanh ra ở trong cõi trời.
Điều thứ hai, "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita", tức là sau khi sanh ra, Ngài ở trong đó.
Điều thứ ba, "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng", Ngài ở cung trời Đâu Suất, tức là Ngài sinh ra ở đó cho đến lúc Ngài thọ mạng chung. Nên nhờ câu nào cũng có “Chánh niệm tỉnh giác” tức là làm gì Ngai cũng rõ biết. Khi sanh Ngài biết Ngài sanh lên đó, và khi thọ mạng chung Ngài biết Ngài thọ mạng chung.
Điều thứ tư, "Chánh niệm, tỉnh giác này Ananda, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai". Tức là từ trên Đâu Suất xuống, Ngài biết sẽ đi chỗ nào, biết chọn ai để đi xuống, gọi là chánh niệm tỉnh giác. Ngài chọn và Ngài đi đến chỗ nào là tự Ngài chọn, tự Ngài biết. Ngài từ Tusita (Đâu Suất Thiên), đi vào bào thai của Hoàng Hậu Maya.
Mỗi câu đều lặp lại rất kĩ, ở đây Minh Thành sẽ nói tắt những nghĩa trọng yếu. Điều thứ năm, khi nhập vào mẫu thai, “Khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các thế giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, với đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới”.
Tức là một hào quang, một ánh sáng kinh khủng, vĩ đại, không thể tưởng tượng được nó sáng đến mức độ nào. Ánh sáng đó soi hết từ trên xuống dưới và soi đến những chỗ mặt trời, mặt trăng soi không tới. Có những thế giới mặt trời, mặt trăng không soi tới và những chúng sanh đó nhờ hào quang đó mà thấy được nhau, vì họ chỉ ở trong bóng tối họ không thấy được ai khác. Trong bóng tối lâu dài, thật dài, họ tưởng chỉ có mình họ trong đó thôi, họ chịu khổ trong đó, trong những cảnh giới âm u, tăm tối, đau khổ trong đó, không có ánh sáng mà họ sống lâu dài trong đó, phải chịu đựng từng sống trong đó rất nhiều lần. Khi học kinh này sẽ thấy Đức Phật nói mình đã từng trải qua sáu nẻo luân hồi, chỗ nào cũng đã từng trải qua hết rồi. Do ánh sáng đó nên những người này mới thấy nhau, mới biết “cũng có những người khác sống ở đây sao”? Vì trước giờ họ không thấy, chỉ tưởng có một mình mình thôi.
Minh Thành đã từng ăn ở một quán ăn tên Bóng Đêm, tức là vào bên trong mọi thứ đều tối, chỉ có thể vịn lấy nhau rồi đi vào, ngồi trong đó, thức ăn mang ra cũng chỉ có thể sờ rồi ăn. Để cho chúng ta trải nghiệm được cảm giác của những người phục vụ trong đó là những người mù (người khiếm thị). Để cho mình biết nỗi khổ của một người mù như thế nào. Nhưng chỉ chịu đựng có một tiếng đồng hồ thì mình đã cảm thấy bức rức khó chịu, mà người ta phải chịu suốt một cuộc đời như vậy. Tức là mình chịu đựng bóng đêm trong một tiếng thôi đã chịu không nổi, mà người ta phải chịu suốt một đời trong bóng tối.
Vậy mà tất cả chúng ta đây mù con mắt trí huệ trong vô lượng kiếp. Thật khủng khiếp, nhưng mình không biết, cứ ăn chơi, vui giỡn, đi du lịch rồi hơn thua, ganh tị, thách đố nhau mà không biết mình đang bị mù lòa, con mắt trí huệ của mình không có mở. Mình sẽ đau khổ hoài nếu không có ánh sáng tuệ giác, chứng ngộ của Đức Phật, như vậy là có thể giờ này mình không ngồi ở đây. Đã ngồi đây, vào chùa mười mấy, hai chục năm nhưng còn tham, sân, si, còn khổ, nếu không vào chùa thì không biết còn sống không, không biết còn lành lặn, an ổn không? Hàng ngày quý vị có thấy tin tức không, có thấy chết chóc không? Vì bao nhiêu những việc đó là bóng đêm, là tăm tối, mù lòa.
Cho nên học những điều này mình thấy là sâu sắc lắm, để cho mình thức tỉnh trước ánh sáng của trí huệ. Còn hơn thua, còn ganh tị, còn tật đố, còn mi tao, nhân ngã, bỉ thử, tranh giành, khen mình chê người là còn mù. Nghĩa là còn sân hận trong từng lời nói, ánh mắt, cử chỉ, còn hơn thua từng chút là còn mù. Vì không biết cái khổ, không thấy được cái khổ. Cho nên nhờ ánh sáng trí huệ đó mà giảm bớt được một chút.
Về điều thứ sáu, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: "Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát". Khi Ngài nhập vào thai mẹ thì bốn vị hiên vương canh gác bốn phương trời. Người hay phi nhân, không phải người, không ai được phiền nhiễu mẹ của Bồ-tát và Ngài.
Điều thứ bảy, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men". Tự nhiên giữ giới một cách nhẹ nhàng, tự động giữ gìn năm giớ cho thanh tịnh, cho trong sạch vì một Thánh nhân vĩ đại đang ở bên trong. Muốn chứa đựng một bậc Đại Thánh như vậy thì một thân cấu huế không thể dung nạp được, cho nên giới phải thanh tịnh, một cách hồn nhiên giữ giới.
Điều thứ tám, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và mẹ Bồ-tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có nhiễm tâm". Trong thời gian Bồ-tát ở trong thai mẹ, thì người mẹ đó không khởi một thứ dục tâm nào, đối với bất cứ người nam nào hết trong suốt thời kì mười tháng ở trong thai mẹ và cũng không có bất kì người nam nào mà có nhiễm tâm. Đây chỉ nói là tâm – cái ý thôi, phải trong sạch được tới mức độ như vậy mớ chứa được Thánh thể.
Điều thứ chín, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ vị Bồ-tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ, tận hưởng trọn năm dục công đức", là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Lúc đó, mẹ của Ngài, Hoàng hậu Maya, chỉ thấy những gì đẹp, tốt lành, ngửi nếm những đồ vừa ý, thơm tho, tiếp xúc với những hiền thiện, thánh thiện, lành thiện. Trong thời gian đó, những gì tốt đẹp nhất, hay ho nhất, những cái lành nhất, thiện nhất là mẹ của Ngài được hưởng công đức của Bồ-tát, vì trái sắp sửa chín, hoa sắp sửa nở.
Điều thứ mười, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ vị Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay.” Lúc đó không có bất kì bệnh tật nào hết, đó là nói về thân. Về tâm của Bà hoan hỉ, vui vẻ, khoan khoái, nhẹ nhàng. Có một lạc thọ, một cảm giác an lạc, vui sướng và bà thấy trong bụng của mình một bào thai đầy đủ mọi bộ phận. “Ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng viên ngọc trong suốt, thanh tịnh, lấp lánh, rất đẹp đẽ”.
Điều thứ mười một, "Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Ananda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Đâu suất". Phước đức quá lớn, quá vĩ đại nên cõi Người này không đủ phước. Cho nên người bình thường hay thắc mắc làm sao sinh được một vị Bồ-tát sắp thành Phật nhưng lại mất sớm. Đó là vì có phước đức nên lên Đâu Suất Thiên để hưởng công đức, phước báu.
Điều thứ mười hai, "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, mang bào thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh".
Điều thứ mười ba, "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ- tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát". Cho nên mình mới thấy hình ảnh bà cầm nhánh cây Vô ưu.
Điều thứ mười bốn, "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài Người". Nhưng người bình thường không nhìn thấy được. Đức Phật là Thầy của Trời và Người, không sống như chúng sanh bình thường đầy nghiệp chướng, phiền não chướng, ngăn chướng.
Điều thứ mười lăm, "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: "Hoàng hậu hãy hoan hỷ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân". Tức bốn vị Thiên tử, bốn vị Trời đỡ lấy Ngài, sau đó đặt Ngài ở trước bà mẹ và thưa: Hoàng Hậu hãy vui lên, hãy hoan hỉ lên, Hoàng Hậu đã sinh một bậc đại vĩ nhân.
Điều thứ mười sáu, "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Này Ananda, ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nai cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh." Không giống như những thứ dơ bẩn giống như một đứa trẻ được sinh ra bình thường, máu mủ, chất nhớt đều không có. Hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh. Đó là điều thứ mười sáu chưa từng có, hy hữu hiếm có chưa từng có.
Điều thứ mười bảy, "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ".
Điều thứ mười tám, "Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa".
Vừa sinh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng hai chân trên mặt đất, vậy mới là hy hữu, chưa từng có. Kiếp cuối cùng của một vị Chánh Đẳng Chánh Giác, của vị Bồ-tát. Mặt hướng về hướng Bắc, bước đi bảy bước. Lọng trắng xuất hiện trên đầu là chư Thiên che cho Ngài và nhìn khắp mọi phương rồi thốt lên một tiếng vang dội như tiếng trâu chúa. Trong kinh thường ví dụ lời nói của Đức Phật, dáng của Người như dáng của sư tử, tiếng gầm như tiếng trâu chúa. Ngài đã nói :“Ta là bậc tối thượng trên đời”, tối thượng là cao nhất, không còn ai cao hơn nữa. “Ta là bậc tối tôn trên đời”, là tôn quý nhất, không còn ai cao quý, tôn kính bằng. Cho nên mình gọi là Thế Tôn, là bậc cho cả thế gian tôn kính. “Thế” là thế gian, “tôn” là tôn kính, bậc mà cả thế gian tôn kính là Đức Thích Ca Mâu Ni - Như Lai. “Ta là bậc cao nhất trên đời”, là tối cao, tối tôn, tối thượng. “Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở thế giới này nữa”. Chứng nhập cảnh giới bất tử, không còn sanh, già, bệnh, chết, khổ đau, là thoát khỏi luân hồi, chấm dứt luân hồi, đạt tới cảnh giới bất tử, không còn sanh tử nữa. Ngài đã tuyên bố một câu chấn động như vậy, mười ngàn thế giới rung động, rung chuyển, sau này mình sẽ được học bài kinh có mấy lần thế giới rung chuyển. Khi Đức Phật đản sanh, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn… đó là những lúc thế giới rung động, rung chuyển.
Điều thứ mười chín, “Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, rực sáng, soi sáng tất cả.”
Điều thứ hai mươi, điều cuối cùng này là điều tuyệt diệu trên tất cả sự tuyệt diệu. Điều này là điều quan trọng nhất trong tất cả các điều mà Đức Thế Tôn đã nói:
“Do vậy, này Ananda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ananda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ananda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai”.
Tôn giả Ananda, nói như vậy. Bậc Đạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ananda nói. ( Trung Bộ Kinh tập 3, bài kinh số 123, Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp)
Tu tập Thánh trí năm uẩn
Điều thứ hai mươi điều quan trọng mà mỗi khi giảng pháp Minh Thành đều nói, đó là mỗi một cảm giác khởi lên, Thế Tôn đều biết hết. Cảm giác, thọ uẩn, cảm thọ được biết đến chúng an trú, được biết đến chúng đi đến biến hoại, tức là khi một cảm giác sanh khởi lên, rồi cảm giác đó tồn tại, tan biến, chấm dứt lúc nào Như Lai cũng biết hết.
Phải luôn luôn nhìn lại cảm giác – Thọ Uẩn của mình. Xem cảm giác đó có sân không, có bực không, nếu có thì nhiếp phục, làm cho nó lắng dịu, dùng tâm từ, dùng lời quở trách, để cho cảm giác bực bội, nóng bức đó lắng dịu xuống, an tịnh xuống, mát mẻ trở lại. Khi cảm giác đó sanh khởi lên, an trú bao lâu, khi nó chấm dứt mình phải thấy đó là sanh diệt pháp. Cảm thọ này sanh lên một chút rồi diệt, không thật nên đừng ôm cái giận, cái buồn, cái phiền đó rồi tự mình khổ hoài. Chúng ta phải thấy được sự sanh diệt của các cảm thọ, cảm giác khi sanh khởi lên, nó ở đó một chút rồi nó chấm dứt.
Quý vị ăn thiệt ngon, khoan khoái rồi được bao lâu? Quý vị giận lên rồi giận được bao lâu? Giận mà mạnh quá là lên tăng xông luôn. Nó sanh khởi lên, ở đó một chút, rồi sẽ tan. Ham muốn cũng vậy, không khéo cứ đi theo cái thích, cái tham đó thì sẽ khổ hoài. Nhưng tất cả những cái đó là cảm giác thôi. Cứ ôm cảm giác đó sẽ khổ, ôm một chút thôi, biết nó là cảm giác thôi, chứ có gì đâu, đó là người luôn luôn Chánh Niệm.
Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Được hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỳ Kheo)
“Người luôn luôn chánh niệm – Sự sanh diệt các uẩn”, tức là mình luôn luôn nhìn lại để mình xem sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Xem những cảm giác, nghĩ tưởng luôn luôn sanh diệt. Thấy tính chất sanh diệt như vậy để nhàm chán, không bám víu, chấp thủ vào đó nữa. Mình sẽ được hoan hỉ, mình vui khi thấy được cái sanh diệt. Vì đó như bong bóng nước, bọt nước, như bẹ chuối,…có gì đâu mà tham, sân, si để khổ hoài.
Như bọt nước trôi sông,
Như lầu sò chợ bể,
Ai nhìn đời như thế,
Thần chết có hề chi.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Thế Gian)
Nhìn mọi sự, mọi việc trên đời này giống như bọt nước trôi sông, thân này là một đống bỏ, đụng vào là nát. Mình tưởng thân này chắc, cảm giác là thật, cứ bám víu vào trong đó để rồi sầu, bi, khổ, ưu, não. Cứ nói ta hay, ta giỏi lắm mà không biết rằng ta ngu, ta si, ta mê, không nhìn thấy được bản chất của những cảm giác này. Những tưởng, những hình bóng trong nội tâm sanh khởi lên, chúng tồn tại chút rồi nát ra, sanh diệt. Cứ tưởng, cứ nhớ rồi buồn, luyến tiếc quá khứ, hoan hỉ tương lai, dính mắc trong hiện tại – cả ba đều khổ.
Đức Thế Tôn dạy, người trí huệ là người tu tập Thánh trí năm uẩn, là người không luyến tiếc những cảm giác, những tưởng, những suy nghĩ của quá khứ. Không ưa thích, không hoan hỉ đối với những cảm giác, những tưởng nghĩ về tương lai. Không dính mắc, không tham đắm trong hiện tại, biết nó là vô thường, là trống rỗng. “Lầu sò chợ bể” là khi đi biển, nhìn xa xa như có một nhóm chợ bên bờ biển nhưng đó không phải, chỉ là ảo ảnh, ảo giác thôi. “Ai nhìn đời như thế - Thần chết có hề chi”. Sướng như vậy nhưng không chịu, mà cứ tưởng mọi thứ là thật nên khi thần chết tới hoảng sợ, hoảng hốt, hoảng loạn.
Cho nên phải nhìn các tưởng, các suy nghĩ trong nội tâm của mình có bản ngã không, có vì cái ta, cái tôi mà giận lên không? Đi chùa nhìn người đó, nhưng họ không nhìn lại thì giận; thầy không nhìn cũng giận; điện thoại người ta không nghe máy cũng giận. Tất cả những điều đó là bản ngã, là cái tôi, chỉ hành hạ, làm mình khổ. Điều gì cũng giận, cũng buồn làm gì khiến cho tự bản thân mình khổ. Hãy nhìn thấy được cái tưởng này là đại phù thủy, nó ở chính trong tâm mình chứ không phải đâu xa, nó giết mình. Những cảm giác, các suy nghĩ trong tâm mình chính là thủ phạm, chứ không phải bên ngoài làm mình khổ. Những thúc giục của cảm giác, những nghĩ tưởng trong nội tâm,vọng tưởng nghĩ bậy, đặt tâm sai hướng, đặt theo chiều tham, sân, si, bản ngã làm mình khổ.
Trong công việc, gia đình, vợ chồng, con cái, anh chị em, bạn đạo, phải kiểm soát cảm giác của mình mỗi khi tiếp xúc. Xem trong đó có dục, có tham, có ái không? Dục của trí huệ sâu sắc lắm, không chỉ là phần thô về nam nữ. Dục là sự thúc giục bên trong, muốn tìm cái này, rồi tới cái kia. Thích thích là ái. Muốn thêm nữa là tham. Thí dụ khi ăn, thấy món ngon quá muốn thêm nữa, trong khi phần ăn của ai cũng đều nhau, mà mình muốn thêm nữa, không được thêm thì giận, vì nghĩ mình là người đặc biệt chứ không phải bình thường. Cứ vậy rồi ôm một bản ngã chình ình.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là năm cái núi Ngũ Hành đè mình, rất khổ. Một đống sắc; một đống thọ - cảm thọ; một đống tưởng; một đống hành, suy nghĩ – hành uẩn; một đống thức – kiến thức. Một đống thức đè mình: “Tôi học cao nha, ngày xưa chức lớn, tuy là về hưu nhưng không được giỡn chơi với tôi đâu nha”. Năm đống chình ình đè năm trăm năm, năm ngàn năm, năm chục ngàn năm, năm tỉ năm… không biết bao giờ mới xuất ra khỏi được ngọn núi Ngũ Hành đó. Chỉ có Thánh trí năm uẩn mới phá tung, phá vỡ, phá tan, phá nát chúng. Cho nên Ngộ Không mới phá núi, gỡ lá bùa “chấp mê bất ngộ”. Không chịu tu, ứng dụng mà chỉ biết gặp thầy chỉ biết than thì một trăm năm nữa cũng vậy thôi. Cho nên phải tu, phải quán các thọ, tưởng, hành, thức.
“Các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại”. Tầm là suy tầm, suy tầm, suy tư, những lời nói thì thầm trong tâm mình là Hành Uẩn. Phải biết phải đọc những lời đó, đừng ham nhìn người ta mà lo suy nghĩ của mình. Xem trong suy nghĩ đó là gì, có sân hận không, có tôi, cái bản ngã không? Suy nghĩ này có đưa trí huệ vào để suy nghĩ không hay là nghĩ theo chiều mê, chiều nào khác? Hãy nhìn thấy để thanh tẩy những suy nghĩ bất thiện, chà rửa những cái tưởng ác, không đúng đắn, tẩy sạch hết những cái ác bất thiện pháp trong nội tâm. Có những suy nghĩ, lời nói, tưởng xấu về người ta thì hãy tẩy sạch, quét dọn sạch sẽ, lau chùi bóng loáng, nhà sạch thì mát, mà mát là thanh lương, là Niết-bàn.
“Này Ananda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai”. Như Lai ở trong trí năm uẩn này nếu mình học theo mình cũng được hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai, không chỉ một mình Như Lai mới có thôi. Nếu như thực tập, mình sẽ có được trí huệ này. Mình có thấy được trong tâm đang tưởng điều gì không? Có biết mình đang suy nghĩ điều gì không? Đang có cảm giác thoải mái hay bực bội mình có biết không? Tập biết những thứ đó là pháp vị tằng hữu, hy hữu, vị tằng hữu, hiếm có của Đức Phật. Tập biết để mình tháo gỡ, đừng để ý dòm người ta nhiều, hãy lo nhìn chính mình!
Khó thay gặp Chánh Pháp
Quý Phật tử phải thấy rằng, việc mình đang ngồi đây, tu học theo Phật pháp, theo Chánh Pháp, theo tạng kinh Nikāya là một tỉ tỉ năm chưa chắc có một lần được học, chưa chắc được thực tập Thánh trí năm uẩn, chưa chắc biết được nghĩa lý vô ngã. Vì vậy quý vị đang ngồi đây cũng là hy hữu, vi diệu. Mọi người phải ráng có mặt đầy đủ vào các ngày tu, không được bỏ. Mình còn đi được thì nên đi, chừng nào lết không nổi nữa mới ở nhà. Về nhà mở những bài kinh Nikāya giảng giải của Minh Thành để nghe và ứng dụng tu học.
Thời kỳ Chánh Pháp của Đức Phật tồn tại 500 năm, lúc đó thuần túy còn tạng kinh Nikāya rõ ràng, những người tu chứng có kết quả. Sau 500 năm trở đi, nghĩa là hơn 2.000 năm sau, là thời kì tượng pháp, “tượng” là mường tượng, là giống giống, không chính xác. Cho nên bây giờ mình học là chỉ giống giống, có khi đi xa, trật hết nhưng mình không biết, cứ tưởng đó là đúng. Ngày nào còn người bám sát tạng kinh này để tu hành thì còn cơ hội đi vào hánh đạo, Thánh quả. Nếu lìa bộ kinh Nikāya này ra thì không có Thánh đạo, Thánh quả, chỉ có phước thiện thôi, không có người chứng đắc đạo quả. Bộ kinh này được truyền trì gần 3.000 năm ở các nước Phật Giáo Nguyên Thủy. Các vị đó học thuộc lòng hết trên ba mươi lăm ngàn trang A4. Tam Tạng Pháp Sư là quốc bảo, nhà nước đài thọ hết đất đai, chùa chiền, xe cộ, đi đâu bằng máy bay đều được trả tiền hết. Duy nhất chỉ có Myanmar mới có các vị Tam Tạng Pháp Sư.
Trong thời kỳ Chánh Pháp, có hai tạng là: tạng Kinh và tạng Luận. Tạng Luận sau này luận giải thêm, hiện tại người ta đi theo tạng Luận nhiều hơn nhưng Minh Thành chỉ bám sát với tạng Kinh. Phải sống chết với tạng Kinh này, thầy tu gần ba mươi năm mới học được điều này, mới đào được mỏ kim cương. Lần này Phật Đản để thấy được chân diện mục của Đức Thế Tôn. Chứ không phải mình nghĩ Phật cũng như mình, rồi ai cũng kêu là Phật được. Phật không phải là chuyện mà mình muốn nói là mình nói, là Đấng tối tôn, tối thượng của Tam giới, duy nhất chỉ có một người thôi, không phải là chuyện đơn giản. Bồ-tát duy nhất chỉ có một mình Thái tử Tất-Đạt-Đa. Sau này, 5.000 năm Chánh Pháp sẽ không còn ai biết bất cứ một danh từ gì về Phật, Pháp, Tăng. Sau đó tuổi thọ con người cứ 100 năm sẽ giảm dần dần, do nghiệp ác nhiều, sẽ giảm riết chỉ còn mười tuổi thôi. Lúc đó, con người cầm gì vào cũng trở thành vũ khí, hung ác, tàn bạo, khủng khiếp. Còn những người hiền, lương, thiện thì người ta trốn lên núi, lên rừng hết.
Nói thật chính vì Minh Thành đọc được bài kinh này nên Minh Thành mới lên núi. Minh Thành nghĩ rằng, ít nhất 100 năm nữa mới có những chuyện như bây giờ mình thấy trên báo, nhưng không ngờ lên núi mới hơn 10 năm thôi là xảy ra hết rồi, tức là nó diễn ra nhanh gấp 10 lần mình suy nghĩ. Cầm điện thoại đâu là bị giật đó, bóp, túi xách cũng bị giật; ở nhà thì bị cướp vào giết. Tất cả là vì tham, sân, si tàn bạo, mãnh liệt, hung ác thì tuổi thọ con người sẽ giảm. Bây giờ chỉ mười mấy tuổi, hai mươi tuổi đã đi giết người, cướp của và bị ở tù. Do mê game, ma túy đá, cỏ mỹ, ngáo đá, quăng con từ nóc nhà xuống, giết bà ngoại, giết mẹ, giết dì. Tất cả những điều đó trong kinh đã nói trước hết rồi. Minh Thành nghĩ một trăm năm sau mình mới chết nhưng giờ chỉ có mười năm thôi. Tâm địa con người ngày càng hung ác, nghiệp sát mạnh mẽ, tham, sân, si, tham dục… đó là một sự kinh khủng, khủng khiếp, là những báo động để mình cố gắng nỗ lực, tu tập. Cứ sân hận là đâm, chém, giết, vô cùng đáng sợ, nên phải lo tu.
Sau này, Linh Quy mà đông người, nhưng không lo tu, thì Minh Thành cũng không ở đó nữa. Minh Thành đi chỗ khác, yên tịnh hơn, không phải luôn chắc chắn có trên Linh Quy. Chỗ nào có người tu thì Minh Thành ở, còn không tu nữa thì Minh Thành đi. Vì mục đích thật sự của cuộc đời này là gì ngoài tu tập? Nếu không tu tập, không tìm tòi trí huệ để giác ngộ thì khi mình chết có còn được gì không? Đem chùa theo, đem nhà theo, đem két sắt hay sao? Cho nên học thì phải ứng dụng, ứng dụng thật sự vì nguy hiểm đã tới rồi.
Có hai vợ chồng đang ngủ trong nhà, 3-4h giờ đêm xe tông vào làm chết tại chỗ, nhưng đứa con còn sống. Chỉ là ngủ trong nhà thôi, không biết chuyện gì, đó là chết oan, rất khó siêu thoát, vì còn không biết mình chết. Thế nên bình thường, nếu quý vị không chịu bố thí, cúng dường; không từ, bi, hỷ, xả, nhẫn nhục; không chịu từ thiện giúp người mà quý vị chỉ biết giữ riêng mình thì cuối cùng, giống như quý vị “đem két sắt” theo, đốt xuống đó. Nếu như bất thình lình cái chết đến với mình như vậy thì sao? Hãy sợ, hãy lo, hãy chuẩn bị. Bậc tối tôn, tối thượng đã chỉ cho thì mình phải thực tập, thực tập bằng sự chân thành, tha thiết, bằng tất cả tấm lòng, chứ không phải nghe xong vui, cười rồi trở về thì y chang như cũ. Tai nạn liên tục như máy bay rơi, tai nạn xe, ung thư, ngộ độc thức ăn…rất nhiều chuyện khác nữa. Hồi xưa, mình đâu có nghe những sản phẩm như là “rau sạch”, vì tất cả đều sạch, còn bây giờ đồ bẩn nhiều nên phải có thêm chữ sạch. Mà đồ sạch khi xét kĩ lại chưa chắc gì nó sạch. Đức Phật chỉ ngay thân mình là bất tịnh, là không sạch. Chỉ là một cục thịt, một đống thịt nhưng cứ mê, tham, sân, si với đống thịt này hoài, cứ đau khổ với nó hoài.
Cho nên, chúng ta phải hiểu và thấy được giá trị cao quý trong tu học.
Ý nghĩa Phật ra đời
Qua bài kinh này, mình học được Đức Thế Tôn là một bậc tích tụ vô lượng, vô biên thiện pháp, công đức, trí huệ. Cho nên sự sinh ra của Ngài không giống như một người bình thường, mà luôn luôn là trong Chánh Niệm Tỉnh Giác, trong trí đức, trong giới đức và hạnh đức của Ngài. Bao nhiêu đời Ngài giữ giới hạnh, nên các tướng của Ngài biểu hiện ra tuyệt vời, kì diệu, thù thắng. Những đạo hạnh, đức độ của Ngài cho nên rọi vào Người, vua Trời, Tứ Thiên Vương bốn góc canh giữ, bảo vệ sự xuất hiện của một chúng sanh vĩ đại. Ngài cũng là một con người giống như chúng ta, nhưng từ một con người lại tu hành đến được chỗ cùng cực, đến Thánh quả tối thượng, tối cao như thế. Vậy tại sao cũng là một con người mà mình lại âm trì? Là tại vì mình mê, mình không chịu tỉnh. Bây giờ ánh sáng trí huệ đã soi sáng, Thánh chuông vang dội rồi, nên từ bây giờ phải nỗ lực tích tụ thiện pháp, phước báo, công đức, trí huệ, giới hạnh, thiền định, để mình tu.
Điều thâm sâu nhất, đặc biệt nhất mà Đức Như Lai nói là Thánh trí năm uẩn. Hãy luôn luôn nhìn lại thân xác vô thường, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này để nhìn thấy bản chất trống rỗng, trống trơn. Nghệ sĩ Giang Châu trong Ngao, sò, ốc, hến mới qua đời. Đó là cả một thời tuổi thơ, mà hôm nay đã vĩnh viễn không còn gặp. Có rất nhiều trường hợp chết bất ngờ, bàng hoàng, nhưng tại sao mình thấy, mình nghe như vậy vẫn không tỉnh mà lại quên? Thấy tội nghiệp người ta rồi ai tội nghiệp mình? Hãy thức tỉnh sắc uẩn này, nó thật sự là hàng dễ vỡ. Thật sự không có gì đáng giá, không có gì chắc chắn, nó mong manh, tạm bợ vô cùng. Mỗi lần Minh Thành xuống núi là Minh Thành viết di chúc ở trên núi, lần nào cũng vậy, đừng tin rằng Minh Thành sẽ trở về được, đó là sự thật trong lòng. Có một lần đi, mà chứng kiến ba vụ tai nạn giao thông trên một đoạn đường. Đừng nói chi tới việc lên máy bay. Đừng nói chi đến việc vào toilet, lớn tuổi đi trợt té là chúi nhũi. Vừa rồi, có một chú Phật tử lên Minh Thành tâm sự. Chú còn trẻ lắm, cỡ 40 tuổi, bước vào toilet, đầu óc bỗng choáng váng, quay vòng vòng, sụm xuống, tay chống vào lavabo – bồn rửa mặt, không ngờ nó bể, quẹt vào tay chảy máu, chú té nằm đó nhưng tỉnh dậy. Có ông dược sĩ đi chung, nói đó là may, chảy máu vậy mới tỉnh. Nếu không chảy máu, mà đột quỵ bất tử, thì chết trong đó không ai hay. Chú này làm phước rất nhiều, Minh Thành nói là nhờ phước cứu chú, trong họa có phúc. Chú này trước đó không bao lâu lên Pháp Ấn tự động phát tâm sơn hết những cây cột gỗ ở chùa, không ai kêu hết.
Phải quán chiếu sắc uẩn này, đừng tin tưởng nó, nó gạt, nó dối lừa mình. Đống thịt này tên lừa đảo số một trên thế giới. Đừng nghĩ là ai lừa mình mà là đống thịt khốn nạn, khốn khổ, hoạn nạn, bệnh hoạn này là mình chết với nó. Nó xúi giục mình đủ thứ, suốt ngày phải cung phục nó, rồi mình đam mê trong và sa đọa. Phải thật tỉnh táo, thật sáng suốt trước đống thịt này. Phải thật tỉnh táo, sáng suốt đối với tất cả cảm giác, nghĩ tưởng trong nội tâm mình. Xem có tham, sân, si thì phải tẩy sạch, diệt trừ, làm cỏ đo ván, hạ gục, đánh sập nó. Không nuôi dưỡng những nguyên nhân đưa đến khốn khổ, hoạn nạn, tai nạn, nguy hiểm. Lửa cháy là phải dập tắt những nguyên nhân đó, không cho nó khuếch tán lên. Khi đó mới là một người thật sự thông minh, trí huệ, thật sự thương mình. Còn nếu không, một khi bó chiếu, cuốn chiếu, người ta quấn chiếu rồi thì thật sự không biết dùng lời gì diễn tả cảnh mình ra đi trong bóng đêm, mình hoàn toàn không biết bất cứ cái gì trong Chánh Niệm Tỉnh Giác. Cả một bóng đêm trùm phủ vào nghiệp ác của mình. Những ác nghiệp, cảm giác, nghĩ tưởng ập về, những nghiệp hiện ra, đẩy mình đi. Quý vị có thể tưởng tượng được cảnh như vậy, nhưng tại sao mình không lo sợ? Ngày nào cũng phải niệm tử để xả bỏ những mê chấp, phàm tình của cuộc đời này. Hãy xóa bỏ, đừng chạy hoài để lo kiếm tiền, kiếm bạc, bây giờ đầu tóc bạc phơ hết rồi, đi kiếm hoài để làm gì? Chỉ có nghe pháp, quán chiếu, thành tựu trí huệ thì mới cứu được quý vị và những người thân thương nhất trong gia đình của mình. Còn bằng không thật sự là một chung cuộc thê thảm.
Ngày nào Minh Thành cũng lo sợ cho mình và những người quanh mình. Suốt ngày tham, sân, si bản ngã làm họ đau khổ vô cùng. Ở Nha Trang, 5-6 người cùng nhau ăn phở cười vui, một vách tường 10 thước bỗng nhiên sập xuống đè chết hết. Lúc họ ăn, họ cười vui thì đâu có biết chuyện gì sắp xảy đến. Tất cả sự sống của chúng ta giống y như vậy. Bất cứ lúc nào, ở chỗ nào, thời gian, thời điểm nào, bức tường cũng có thể sập xuống đè mình. Ngay bây giờ không cẩn thận, không dòm ngó, không chuẩn bị thì một khi nó đến thì làm sao mình chống đỡ nổi. Đầu bạc hết rồi, phải ngồi và tưởng tượng cảnh khi mình nằm đó chết. Phải tưởng, phải quán. Một trong những pháp quán đưa mình đến chánh trí giác ngộ minh phần là luôn luôn an trú trong tưởng chết. Có tưởng đó quý vị mới biết đây là thần diệu, diệu dược. Khi giận ai, oán ai thì nó sẽ làm tan biến ngay lập tức. Những người ủy nhục, khinh khi mình, thì mình phải cảm ơn họ vô cùng. Chính nhờ họ giúp mình thành tựu trí huệ của cuộc đời này, bản chất cuộc đời này là vậy. Cảm ơn hết tất cả để cho mình thấy được Khổ Thánh Đế. Cho nên những người trong gia đình hay bất cứ ai làm cho quý vị khổ, mình cảm ơn. Nhờ thiện tri thức, ân nhân, những con người này để mình thấy được bộ mặt thật sự của ngũ uẩn. Bộ mặt thật sự của nó là một sự phũ phàng, trống rỗng, không có gì hết. Chỉ cần bức tường sập xuống thì còn gì nữa mà thương với sầu, mà hơn với thua, mà giận với ghét? Bây giờ phải tha thiết, quyết liệt, mãnh liệt, mỗi ngày phải mở pháp lên nghe ít nhất một thời, nhiều nhất là bốn hay tám thời. Nghe xong là thiền quán, chuẩn bị hành trang để ngừa bức tường sẽ sập, không để cho nó đè, đó là mình thể nhập cảnh giới bất tử.
Minh Thành muốn ngồi đây để tâm sự với quý vị suốt đời. Trời đất cũng sẽ sụp đổ trong nay mai, chứ nói chi tấm thân như con kiến này, nó chẳng là gì trên quả đất này. Đừng ảo tưởng mà nghĩ rằng ta đây, hãy buông xả những chấp ngã đó ra, hãy buông bỏ những tham dục, sân hận, si mê, tật đố đó ra. Hãy phá vỡ, phá tan, phá tung, phá sập chúng để cho trí huệ bừng sáng, để cho những gì Đức Phật đã truyền trao mình sẽ được tiếp nhận một cách trọn vẹn. Hôm nay là ngày Đản sanh của Đức Phật, Minh Thành muốn truyền trao lại những trí huệ Thánh pháp mà Đức Phật ban cho mình. Minh Thành muốn trao lại cho tất cả quý vị. Hãy nhớ thật kĩ, tự mình hãy cứu lấy mình, không ai có thể cứu mình hết. Một ngày nào đó, quý vị không còn gặp Minh Thành nữa, đừng tưởng nửa tháng nào về rồi mình sẽ gặp nhau như vậy. Đừng mộng mơ, đừng ảo tưởng. Mình như những quả chín rụng lộp độp, nó không phải Thánh quả mà nó là Tử quả. Hãy cố gắng đạt cho được Thánh quả, Thánh trí, Thánh pháp, khi đó mới thấy một niềm an lạc kì diệu giữa cuộc đời này. Không tranh giành với ai nữa hết, ai muốn hơn thua, muốn gì cứ mặc người ta. Mình chỉ là một nùi giẻ rách để cho người ta dậm chân. Mình chỉ là những hạt cát để người ta dẫm đạp lên chơi nhà chòi. Mình là những giọt nước dưới biển ai muốn quăng gì xuống thì quăng và mình không là cái gì hết trong cuộc đời này. Bình an với một tình thương bao la, rộng lớn. Một tình thương vì tất cả đều khổ, mình khổ, người khổ, nhưng người ta không biết là họ đang khổ. Thương thật là thương!
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Hai mươi sự vi diệu của Như Lai PAGEREF _Toc71986525 \h 1
II.Tu tập Thánh trí năm uẩn PAGEREF _Toc71986526 \h 8
III.Khó thay gặp Chánh Pháp PAGEREF _Toc71986527 \h 12
IV.Ý nghĩa Phật ra đời PAGEREF _Toc71986528 \h 14
Hai mươi sự vi diệu của Như Lai
Hôm nay là mùng 8 tháng 4, cũng là ngày diễn ra Đại lễ Vesak Tam Hợp Liên Hiệp Quốc tại nước nhà chúng ta. Đây là một vinh hạnh lớn khi tất cả hàng trăm quốc gia trở về ở Chùa Tam Chúc để làm lễ tưởng niệm Đức Phật.
Hôm nay chúng ta sẽ học một bài kinh có tựa đề Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp, là bài kinh số 123 - Trung Bộ Kinh tập 3. “Hy hữu” là hiếm có, “vị tằng hữu” là chưa từng có. Chúng ta sẽ được nghe hai mươi sự hy hữu, vi diệu của Như Lai. Khi Đức Phật ra đời, có hai mươi điều hiếm có, chưa từng xuất hiện trên thế gian. Có khi quý vị làm Phật tử mấy chục năm rồi mà vẫn chưa được nghe một cách đầy đủ, chính xác từ nguồn gốc của tạng kinh. Quý vị nên nhớ đây là những điều được truyền thừa qua 2.600 năm. Đây là một tạng kinh chính xác nhất, chân thật nhất của Đức Phật. Quý vị sẽ thấy rất đặc biệt, để chúng ta có thêm lòng tôn kính sâu xa và tôn kính đúng đắn, gọi là chánh tín đối với Đức Phật.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Rồi một số rất đông Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, đang ngồi tụ họp trong thị giả đường (upatthanasala). (Thị Giả đường là nhà nơi vị thị giả ở. Thị giả của Phật là Ananda). Câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng:
– Thật hy hữu thay chư Hiền! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, là đại thần thông lực, đại uy lực của Như Lai!
Như Lai có một sức thần thông lớn lao, có một uy lực vĩ đại. Uy lực đó như thế nào?
Vì Ngài biết được chư Phật quá khứ, đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các hý luận, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt luân hồi, đã thoát ly mọi khổ: "Chư Thế Tôn ấy sanh tánh như vậy, danh tánh như vậy, tộc tánh như vậy... giới hạnh như vậy... pháp hạnh như vậy... tuệ hạnh như vậy.. trú hạnh như vậy... chư Thế Tôn ấy giải thoát như vậy".
Đức Phật thấy, biết và nói cho các đệ tử nghe: các vị Phật đó sinh ra ở đâu, tên tuổi là gì, dòng họ như thế nào rồi giới hạnh của Ngài tu ra sao, pháp hạnh của Ngài tu ra sao, Ngài tu pháp gì để thành Phật, Ngài giữ giới gì để được thành Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài tu tập trí huệ gì mà đến được Phật quả, và cuối cùng, Chư Thế Tôn đó giải thoát ra làm sao. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều nói rõ.
Khi được nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với các Tỷ-kheo ấy: "Thật hy hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!"
Và câu chuyện giữa các Tỷ-kheo ấy bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến thị giả đường, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
– Này các Tỷ-kheo, nay các Ông ngồi nói chuyện gì? Câu chuyện gì giữa các Ông bị gián đoạn?
Các vị Tỳ-kheo mới thuật lại là nãy giờ họ khen ngợi Đức Thế Tôn.
Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
– Do vậy, này Ananda, hãy nói lên nhiều nữa, những đặc tánh hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai.
Vì ngài Ananda ở bên Phật nên những gì của Đức Phật đã nói Ngài Ananda đều nhớ. Nhờ vậy chúng ta sẽ bắt đầu được nghe: Hai mươi sự vị tằng hữu, vi diệu pháp của Như Lai.
Ngài Ananda thưa: “Bạch Đức Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn.” Tức là chính con được nghe Đức Thế Tôn nói, và lúc đó có Đức Phật ngồi bên cạnh nên những điều này mình cần xác quyết tuyệt đối và tin tưởng, ngoài những điều này ra thì cần để đó xem xét lại.
Điều thứ nhất, "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng (Kaya) "Tusita". Con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu (chưa từng có) của Thế Tôn.” Phải nhớ rằng Bồ-tát là duy nhất một mình thái tử Tất-đạt-đa trước khi thành Phật, chỉ có một vị Bồ-tát đó mới thành Phật. Chứ không phải giống mình bây giờ, ai cũng kêu là Bồ-tát hết, như vậy không đúng, Bồ -tát không phải chuyện đơn giản. Như vậy, Chánh niệm tỉnh giác Bồ-tát sinh ở trong Thiên chúng là sanh ra ở trong cõi trời.
Điều thứ hai, "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita", tức là sau khi sanh ra, Ngài ở trong đó.
Điều thứ ba, "Chánh niệm tỉnh giác, này Ananda, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng", Ngài ở cung trời Đâu Suất, tức là Ngài sinh ra ở đó cho đến lúc Ngài thọ mạng chung. Nên nhờ câu nào cũng có “Chánh niệm tỉnh giác” tức là làm gì Ngai cũng rõ biết. Khi sanh Ngài biết Ngài sanh lên đó, và khi thọ mạng chung Ngài biết Ngài thọ mạng chung.
Điều thứ tư, "Chánh niệm, tỉnh giác này Ananda, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai". Tức là từ trên Đâu Suất xuống, Ngài biết sẽ đi chỗ nào, biết chọn ai để đi xuống, gọi là chánh niệm tỉnh giác. Ngài chọn và Ngài đi đến chỗ nào là tự Ngài chọn, tự Ngài biết. Ngài từ Tusita (Đâu Suất Thiên), đi vào bào thai của Hoàng Hậu Maya.
Mỗi câu đều lặp lại rất kĩ, ở đây Minh Thành sẽ nói tắt những nghĩa trọng yếu. Điều thứ năm, khi nhập vào mẫu thai, “Khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các thế giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, với đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới”.
Tức là một hào quang, một ánh sáng kinh khủng, vĩ đại, không thể tưởng tượng được nó sáng đến mức độ nào. Ánh sáng đó soi hết từ trên xuống dưới và soi đến những chỗ mặt trời, mặt trăng soi không tới. Có những thế giới mặt trời, mặt trăng không soi tới và những chúng sanh đó nhờ hào quang đó mà thấy được nhau, vì họ chỉ ở trong bóng tối họ không thấy được ai khác. Trong bóng tối lâu dài, thật dài, họ tưởng chỉ có mình họ trong đó thôi, họ chịu khổ trong đó, trong những cảnh giới âm u, tăm tối, đau khổ trong đó, không có ánh sáng mà họ sống lâu dài trong đó, phải chịu đựng từng sống trong đó rất nhiều lần. Khi học kinh này sẽ thấy Đức Phật nói mình đã từng trải qua sáu nẻo luân hồi, chỗ nào cũng đã từng trải qua hết rồi. Do ánh sáng đó nên những người này mới thấy nhau, mới biết “cũng có những người khác sống ở đây sao”? Vì trước giờ họ không thấy, chỉ tưởng có một mình mình thôi.
Minh Thành đã từng ăn ở một quán ăn tên Bóng Đêm, tức là vào bên trong mọi thứ đều tối, chỉ có thể vịn lấy nhau rồi đi vào, ngồi trong đó, thức ăn mang ra cũng chỉ có thể sờ rồi ăn. Để cho chúng ta trải nghiệm được cảm giác của những người phục vụ trong đó là những người mù (người khiếm thị). Để cho mình biết nỗi khổ của một người mù như thế nào. Nhưng chỉ chịu đựng có một tiếng đồng hồ thì mình đã cảm thấy bức rức khó chịu, mà người ta phải chịu suốt một cuộc đời như vậy. Tức là mình chịu đựng bóng đêm trong một tiếng thôi đã chịu không nổi, mà người ta phải chịu suốt một đời trong bóng tối.
Vậy mà tất cả chúng ta đây mù con mắt trí huệ trong vô lượng kiếp. Thật khủng khiếp, nhưng mình không biết, cứ ăn chơi, vui giỡn, đi du lịch rồi hơn thua, ganh tị, thách đố nhau mà không biết mình đang bị mù lòa, con mắt trí huệ của mình không có mở. Mình sẽ đau khổ hoài nếu không có ánh sáng tuệ giác, chứng ngộ của Đức Phật, như vậy là có thể giờ này mình không ngồi ở đây. Đã ngồi đây, vào chùa mười mấy, hai chục năm nhưng còn tham, sân, si, còn khổ, nếu không vào chùa thì không biết còn sống không, không biết còn lành lặn, an ổn không? Hàng ngày quý vị có thấy tin tức không, có thấy chết chóc không? Vì bao nhiêu những việc đó là bóng đêm, là tăm tối, mù lòa.
Cho nên học những điều này mình thấy là sâu sắc lắm, để cho mình thức tỉnh trước ánh sáng của trí huệ. Còn hơn thua, còn ganh tị, còn tật đố, còn mi tao, nhân ngã, bỉ thử, tranh giành, khen mình chê người là còn mù. Nghĩa là còn sân hận trong từng lời nói, ánh mắt, cử chỉ, còn hơn thua từng chút là còn mù. Vì không biết cái khổ, không thấy được cái khổ. Cho nên nhờ ánh sáng trí huệ đó mà giảm bớt được một chút.
Về điều thứ sáu, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: "Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát". Khi Ngài nhập vào thai mẹ thì bốn vị hiên vương canh gác bốn phương trời. Người hay phi nhân, không phải người, không ai được phiền nhiễu mẹ của Bồ-tát và Ngài.
Điều thứ bảy, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men". Tự nhiên giữ giới một cách nhẹ nhàng, tự động giữ gìn năm giớ cho thanh tịnh, cho trong sạch vì một Thánh nhân vĩ đại đang ở bên trong. Muốn chứa đựng một bậc Đại Thánh như vậy thì một thân cấu huế không thể dung nạp được, cho nên giới phải thanh tịnh, một cách hồn nhiên giữ giới.
Điều thứ tám, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và mẹ Bồ-tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có nhiễm tâm". Trong thời gian Bồ-tát ở trong thai mẹ, thì người mẹ đó không khởi một thứ dục tâm nào, đối với bất cứ người nam nào hết trong suốt thời kì mười tháng ở trong thai mẹ và cũng không có bất kì người nam nào mà có nhiễm tâm. Đây chỉ nói là tâm – cái ý thôi, phải trong sạch được tới mức độ như vậy mớ chứa được Thánh thể.
Điều thứ chín, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ vị Bồ-tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ, tận hưởng trọn năm dục công đức", là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Lúc đó, mẹ của Ngài, Hoàng hậu Maya, chỉ thấy những gì đẹp, tốt lành, ngửi nếm những đồ vừa ý, thơm tho, tiếp xúc với những hiền thiện, thánh thiện, lành thiện. Trong thời gian đó, những gì tốt đẹp nhất, hay ho nhất, những cái lành nhất, thiện nhất là mẹ của Ngài được hưởng công đức của Bồ-tát, vì trái sắp sửa chín, hoa sắp sửa nở.
Điều thứ mười, "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ vị Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay.” Lúc đó không có bất kì bệnh tật nào hết, đó là nói về thân. Về tâm của Bà hoan hỉ, vui vẻ, khoan khoái, nhẹ nhàng. Có một lạc thọ, một cảm giác an lạc, vui sướng và bà thấy trong bụng của mình một bào thai đầy đủ mọi bộ phận. “Ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng viên ngọc trong suốt, thanh tịnh, lấp lánh, rất đẹp đẽ”.
Điều thứ mười một, "Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Ananda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Đâu suất". Phước đức quá lớn, quá vĩ đại nên cõi Người này không đủ phước. Cho nên người bình thường hay thắc mắc làm sao sinh được một vị Bồ-tát sắp thành Phật nhưng lại mất sớm. Đó là vì có phước đức nên lên Đâu Suất Thiên để hưởng công đức, phước báu.
Điều thứ mười hai, "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, mang bào thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh".
Điều thứ mười ba, "Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ- tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát". Cho nên mình mới thấy hình ảnh bà cầm nhánh cây Vô ưu.
Điều thứ mười bốn, "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài Người". Nhưng người bình thường không nhìn thấy được. Đức Phật là Thầy của Trời và Người, không sống như chúng sanh bình thường đầy nghiệp chướng, phiền não chướng, ngăn chướng.
Điều thứ mười lăm, "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: "Hoàng hậu hãy hoan hỷ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân". Tức bốn vị Thiên tử, bốn vị Trời đỡ lấy Ngài, sau đó đặt Ngài ở trước bà mẹ và thưa: Hoàng Hậu hãy vui lên, hãy hoan hỉ lên, Hoàng Hậu đã sinh một bậc đại vĩ nhân.
Điều thứ mười sáu, "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Này Ananda, ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nai cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh." Không giống như những thứ dơ bẩn giống như một đứa trẻ được sinh ra bình thường, máu mủ, chất nhớt đều không có. Hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh. Đó là điều thứ mười sáu chưa từng có, hy hữu hiếm có chưa từng có.
Điều thứ mười bảy, "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ".
Điều thứ mười tám, "Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa".
Vừa sinh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng hai chân trên mặt đất, vậy mới là hy hữu, chưa từng có. Kiếp cuối cùng của một vị Chánh Đẳng Chánh Giác, của vị Bồ-tát. Mặt hướng về hướng Bắc, bước đi bảy bước. Lọng trắng xuất hiện trên đầu là chư Thiên che cho Ngài và nhìn khắp mọi phương rồi thốt lên một tiếng vang dội như tiếng trâu chúa. Trong kinh thường ví dụ lời nói của Đức Phật, dáng của Người như dáng của sư tử, tiếng gầm như tiếng trâu chúa. Ngài đã nói :“Ta là bậc tối thượng trên đời”, tối thượng là cao nhất, không còn ai cao hơn nữa. “Ta là bậc tối tôn trên đời”, là tôn quý nhất, không còn ai cao quý, tôn kính bằng. Cho nên mình gọi là Thế Tôn, là bậc cho cả thế gian tôn kính. “Thế” là thế gian, “tôn” là tôn kính, bậc mà cả thế gian tôn kính là Đức Thích Ca Mâu Ni - Như Lai. “Ta là bậc cao nhất trên đời”, là tối cao, tối tôn, tối thượng. “Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở thế giới này nữa”. Chứng nhập cảnh giới bất tử, không còn sanh, già, bệnh, chết, khổ đau, là thoát khỏi luân hồi, chấm dứt luân hồi, đạt tới cảnh giới bất tử, không còn sanh tử nữa. Ngài đã tuyên bố một câu chấn động như vậy, mười ngàn thế giới rung động, rung chuyển, sau này mình sẽ được học bài kinh có mấy lần thế giới rung chuyển. Khi Đức Phật đản sanh, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn… đó là những lúc thế giới rung động, rung chuyển.
Điều thứ mười chín, “Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, rực sáng, soi sáng tất cả.”
Điều thứ hai mươi, điều cuối cùng này là điều tuyệt diệu trên tất cả sự tuyệt diệu. Điều này là điều quan trọng nhất trong tất cả các điều mà Đức Thế Tôn đã nói:
“Do vậy, này Ananda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ananda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ananda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai”.
Tôn giả Ananda, nói như vậy. Bậc Đạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ananda nói. ( Trung Bộ Kinh tập 3, bài kinh số 123, Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp)
Tu tập Thánh trí năm uẩn
Điều thứ hai mươi điều quan trọng mà mỗi khi giảng pháp Minh Thành đều nói, đó là mỗi một cảm giác khởi lên, Thế Tôn đều biết hết. Cảm giác, thọ uẩn, cảm thọ được biết đến chúng an trú, được biết đến chúng đi đến biến hoại, tức là khi một cảm giác sanh khởi lên, rồi cảm giác đó tồn tại, tan biến, chấm dứt lúc nào Như Lai cũng biết hết.
Phải luôn luôn nhìn lại cảm giác – Thọ Uẩn của mình. Xem cảm giác đó có sân không, có bực không, nếu có thì nhiếp phục, làm cho nó lắng dịu, dùng tâm từ, dùng lời quở trách, để cho cảm giác bực bội, nóng bức đó lắng dịu xuống, an tịnh xuống, mát mẻ trở lại. Khi cảm giác đó sanh khởi lên, an trú bao lâu, khi nó chấm dứt mình phải thấy đó là sanh diệt pháp. Cảm thọ này sanh lên một chút rồi diệt, không thật nên đừng ôm cái giận, cái buồn, cái phiền đó rồi tự mình khổ hoài. Chúng ta phải thấy được sự sanh diệt của các cảm thọ, cảm giác khi sanh khởi lên, nó ở đó một chút rồi nó chấm dứt.
Quý vị ăn thiệt ngon, khoan khoái rồi được bao lâu? Quý vị giận lên rồi giận được bao lâu? Giận mà mạnh quá là lên tăng xông luôn. Nó sanh khởi lên, ở đó một chút, rồi sẽ tan. Ham muốn cũng vậy, không khéo cứ đi theo cái thích, cái tham đó thì sẽ khổ hoài. Nhưng tất cả những cái đó là cảm giác thôi. Cứ ôm cảm giác đó sẽ khổ, ôm một chút thôi, biết nó là cảm giác thôi, chứ có gì đâu, đó là người luôn luôn Chánh Niệm.
Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Được hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỳ Kheo)
“Người luôn luôn chánh niệm – Sự sanh diệt các uẩn”, tức là mình luôn luôn nhìn lại để mình xem sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Xem những cảm giác, nghĩ tưởng luôn luôn sanh diệt. Thấy tính chất sanh diệt như vậy để nhàm chán, không bám víu, chấp thủ vào đó nữa. Mình sẽ được hoan hỉ, mình vui khi thấy được cái sanh diệt. Vì đó như bong bóng nước, bọt nước, như bẹ chuối,…có gì đâu mà tham, sân, si để khổ hoài.
Như bọt nước trôi sông,
Như lầu sò chợ bể,
Ai nhìn đời như thế,
Thần chết có hề chi.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Thế Gian)
Nhìn mọi sự, mọi việc trên đời này giống như bọt nước trôi sông, thân này là một đống bỏ, đụng vào là nát. Mình tưởng thân này chắc, cảm giác là thật, cứ bám víu vào trong đó để rồi sầu, bi, khổ, ưu, não. Cứ nói ta hay, ta giỏi lắm mà không biết rằng ta ngu, ta si, ta mê, không nhìn thấy được bản chất của những cảm giác này. Những tưởng, những hình bóng trong nội tâm sanh khởi lên, chúng tồn tại chút rồi nát ra, sanh diệt. Cứ tưởng, cứ nhớ rồi buồn, luyến tiếc quá khứ, hoan hỉ tương lai, dính mắc trong hiện tại – cả ba đều khổ.
Đức Thế Tôn dạy, người trí huệ là người tu tập Thánh trí năm uẩn, là người không luyến tiếc những cảm giác, những tưởng, những suy nghĩ của quá khứ. Không ưa thích, không hoan hỉ đối với những cảm giác, những tưởng nghĩ về tương lai. Không dính mắc, không tham đắm trong hiện tại, biết nó là vô thường, là trống rỗng. “Lầu sò chợ bể” là khi đi biển, nhìn xa xa như có một nhóm chợ bên bờ biển nhưng đó không phải, chỉ là ảo ảnh, ảo giác thôi. “Ai nhìn đời như thế - Thần chết có hề chi”. Sướng như vậy nhưng không chịu, mà cứ tưởng mọi thứ là thật nên khi thần chết tới hoảng sợ, hoảng hốt, hoảng loạn.
Cho nên phải nhìn các tưởng, các suy nghĩ trong nội tâm của mình có bản ngã không, có vì cái ta, cái tôi mà giận lên không? Đi chùa nhìn người đó, nhưng họ không nhìn lại thì giận; thầy không nhìn cũng giận; điện thoại người ta không nghe máy cũng giận. Tất cả những điều đó là bản ngã, là cái tôi, chỉ hành hạ, làm mình khổ. Điều gì cũng giận, cũng buồn làm gì khiến cho tự bản thân mình khổ. Hãy nhìn thấy được cái tưởng này là đại phù thủy, nó ở chính trong tâm mình chứ không phải đâu xa, nó giết mình. Những cảm giác, các suy nghĩ trong tâm mình chính là thủ phạm, chứ không phải bên ngoài làm mình khổ. Những thúc giục của cảm giác, những nghĩ tưởng trong nội tâm,vọng tưởng nghĩ bậy, đặt tâm sai hướng, đặt theo chiều tham, sân, si, bản ngã làm mình khổ.
Trong công việc, gia đình, vợ chồng, con cái, anh chị em, bạn đạo, phải kiểm soát cảm giác của mình mỗi khi tiếp xúc. Xem trong đó có dục, có tham, có ái không? Dục của trí huệ sâu sắc lắm, không chỉ là phần thô về nam nữ. Dục là sự thúc giục bên trong, muốn tìm cái này, rồi tới cái kia. Thích thích là ái. Muốn thêm nữa là tham. Thí dụ khi ăn, thấy món ngon quá muốn thêm nữa, trong khi phần ăn của ai cũng đều nhau, mà mình muốn thêm nữa, không được thêm thì giận, vì nghĩ mình là người đặc biệt chứ không phải bình thường. Cứ vậy rồi ôm một bản ngã chình ình.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là năm cái núi Ngũ Hành đè mình, rất khổ. Một đống sắc; một đống thọ - cảm thọ; một đống tưởng; một đống hành, suy nghĩ – hành uẩn; một đống thức – kiến thức. Một đống thức đè mình: “Tôi học cao nha, ngày xưa chức lớn, tuy là về hưu nhưng không được giỡn chơi với tôi đâu nha”. Năm đống chình ình đè năm trăm năm, năm ngàn năm, năm chục ngàn năm, năm tỉ năm… không biết bao giờ mới xuất ra khỏi được ngọn núi Ngũ Hành đó. Chỉ có Thánh trí năm uẩn mới phá tung, phá vỡ, phá tan, phá nát chúng. Cho nên Ngộ Không mới phá núi, gỡ lá bùa “chấp mê bất ngộ”. Không chịu tu, ứng dụng mà chỉ biết gặp thầy chỉ biết than thì một trăm năm nữa cũng vậy thôi. Cho nên phải tu, phải quán các thọ, tưởng, hành, thức.
“Các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại”. Tầm là suy tầm, suy tầm, suy tư, những lời nói thì thầm trong tâm mình là Hành Uẩn. Phải biết phải đọc những lời đó, đừng ham nhìn người ta mà lo suy nghĩ của mình. Xem trong suy nghĩ đó là gì, có sân hận không, có tôi, cái bản ngã không? Suy nghĩ này có đưa trí huệ vào để suy nghĩ không hay là nghĩ theo chiều mê, chiều nào khác? Hãy nhìn thấy để thanh tẩy những suy nghĩ bất thiện, chà rửa những cái tưởng ác, không đúng đắn, tẩy sạch hết những cái ác bất thiện pháp trong nội tâm. Có những suy nghĩ, lời nói, tưởng xấu về người ta thì hãy tẩy sạch, quét dọn sạch sẽ, lau chùi bóng loáng, nhà sạch thì mát, mà mát là thanh lương, là Niết-bàn.
“Này Ananda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai”. Như Lai ở trong trí năm uẩn này nếu mình học theo mình cũng được hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai, không chỉ một mình Như Lai mới có thôi. Nếu như thực tập, mình sẽ có được trí huệ này. Mình có thấy được trong tâm đang tưởng điều gì không? Có biết mình đang suy nghĩ điều gì không? Đang có cảm giác thoải mái hay bực bội mình có biết không? Tập biết những thứ đó là pháp vị tằng hữu, hy hữu, vị tằng hữu, hiếm có của Đức Phật. Tập biết để mình tháo gỡ, đừng để ý dòm người ta nhiều, hãy lo nhìn chính mình!
Khó thay gặp Chánh Pháp
Quý Phật tử phải thấy rằng, việc mình đang ngồi đây, tu học theo Phật pháp, theo Chánh Pháp, theo tạng kinh Nikāya là một tỉ tỉ năm chưa chắc có một lần được học, chưa chắc được thực tập Thánh trí năm uẩn, chưa chắc biết được nghĩa lý vô ngã. Vì vậy quý vị đang ngồi đây cũng là hy hữu, vi diệu. Mọi người phải ráng có mặt đầy đủ vào các ngày tu, không được bỏ. Mình còn đi được thì nên đi, chừng nào lết không nổi nữa mới ở nhà. Về nhà mở những bài kinh Nikāya giảng giải của Minh Thành để nghe và ứng dụng tu học.
Thời kỳ Chánh Pháp của Đức Phật tồn tại 500 năm, lúc đó thuần túy còn tạng kinh Nikāya rõ ràng, những người tu chứng có kết quả. Sau 500 năm trở đi, nghĩa là hơn 2.000 năm sau, là thời kì tượng pháp, “tượng” là mường tượng, là giống giống, không chính xác. Cho nên bây giờ mình học là chỉ giống giống, có khi đi xa, trật hết nhưng mình không biết, cứ tưởng đó là đúng. Ngày nào còn người bám sát tạng kinh này để tu hành thì còn cơ hội đi vào hánh đạo, Thánh quả. Nếu lìa bộ kinh Nikāya này ra thì không có Thánh đạo, Thánh quả, chỉ có phước thiện thôi, không có người chứng đắc đạo quả. Bộ kinh này được truyền trì gần 3.000 năm ở các nước Phật Giáo Nguyên Thủy. Các vị đó học thuộc lòng hết trên ba mươi lăm ngàn trang A4. Tam Tạng Pháp Sư là quốc bảo, nhà nước đài thọ hết đất đai, chùa chiền, xe cộ, đi đâu bằng máy bay đều được trả tiền hết. Duy nhất chỉ có Myanmar mới có các vị Tam Tạng Pháp Sư.
Trong thời kỳ Chánh Pháp, có hai tạng là: tạng Kinh và tạng Luận. Tạng Luận sau này luận giải thêm, hiện tại người ta đi theo tạng Luận nhiều hơn nhưng Minh Thành chỉ bám sát với tạng Kinh. Phải sống chết với tạng Kinh này, thầy tu gần ba mươi năm mới học được điều này, mới đào được mỏ kim cương. Lần này Phật Đản để thấy được chân diện mục của Đức Thế Tôn. Chứ không phải mình nghĩ Phật cũng như mình, rồi ai cũng kêu là Phật được. Phật không phải là chuyện mà mình muốn nói là mình nói, là Đấng tối tôn, tối thượng của Tam giới, duy nhất chỉ có một người thôi, không phải là chuyện đơn giản. Bồ-tát duy nhất chỉ có một mình Thái tử Tất-Đạt-Đa. Sau này, 5.000 năm Chánh Pháp sẽ không còn ai biết bất cứ một danh từ gì về Phật, Pháp, Tăng. Sau đó tuổi thọ con người cứ 100 năm sẽ giảm dần dần, do nghiệp ác nhiều, sẽ giảm riết chỉ còn mười tuổi thôi. Lúc đó, con người cầm gì vào cũng trở thành vũ khí, hung ác, tàn bạo, khủng khiếp. Còn những người hiền, lương, thiện thì người ta trốn lên núi, lên rừng hết.
Nói thật chính vì Minh Thành đọc được bài kinh này nên Minh Thành mới lên núi. Minh Thành nghĩ rằng, ít nhất 100 năm nữa mới có những chuyện như bây giờ mình thấy trên báo, nhưng không ngờ lên núi mới hơn 10 năm thôi là xảy ra hết rồi, tức là nó diễn ra nhanh gấp 10 lần mình suy nghĩ. Cầm điện thoại đâu là bị giật đó, bóp, túi xách cũng bị giật; ở nhà thì bị cướp vào giết. Tất cả là vì tham, sân, si tàn bạo, mãnh liệt, hung ác thì tuổi thọ con người sẽ giảm. Bây giờ chỉ mười mấy tuổi, hai mươi tuổi đã đi giết người, cướp của và bị ở tù. Do mê game, ma túy đá, cỏ mỹ, ngáo đá, quăng con từ nóc nhà xuống, giết bà ngoại, giết mẹ, giết dì. Tất cả những điều đó trong kinh đã nói trước hết rồi. Minh Thành nghĩ một trăm năm sau mình mới chết nhưng giờ chỉ có mười năm thôi. Tâm địa con người ngày càng hung ác, nghiệp sát mạnh mẽ, tham, sân, si, tham dục… đó là một sự kinh khủng, khủng khiếp, là những báo động để mình cố gắng nỗ lực, tu tập. Cứ sân hận là đâm, chém, giết, vô cùng đáng sợ, nên phải lo tu.
Sau này, Linh Quy mà đông người, nhưng không lo tu, thì Minh Thành cũng không ở đó nữa. Minh Thành đi chỗ khác, yên tịnh hơn, không phải luôn chắc chắn có trên Linh Quy. Chỗ nào có người tu thì Minh Thành ở, còn không tu nữa thì Minh Thành đi. Vì mục đích thật sự của cuộc đời này là gì ngoài tu tập? Nếu không tu tập, không tìm tòi trí huệ để giác ngộ thì khi mình chết có còn được gì không? Đem chùa theo, đem nhà theo, đem két sắt hay sao? Cho nên học thì phải ứng dụng, ứng dụng thật sự vì nguy hiểm đã tới rồi.
Có hai vợ chồng đang ngủ trong nhà, 3-4h giờ đêm xe tông vào làm chết tại chỗ, nhưng đứa con còn sống. Chỉ là ngủ trong nhà thôi, không biết chuyện gì, đó là chết oan, rất khó siêu thoát, vì còn không biết mình chết. Thế nên bình thường, nếu quý vị không chịu bố thí, cúng dường; không từ, bi, hỷ, xả, nhẫn nhục; không chịu từ thiện giúp người mà quý vị chỉ biết giữ riêng mình thì cuối cùng, giống như quý vị “đem két sắt” theo, đốt xuống đó. Nếu như bất thình lình cái chết đến với mình như vậy thì sao? Hãy sợ, hãy lo, hãy chuẩn bị. Bậc tối tôn, tối thượng đã chỉ cho thì mình phải thực tập, thực tập bằng sự chân thành, tha thiết, bằng tất cả tấm lòng, chứ không phải nghe xong vui, cười rồi trở về thì y chang như cũ. Tai nạn liên tục như máy bay rơi, tai nạn xe, ung thư, ngộ độc thức ăn…rất nhiều chuyện khác nữa. Hồi xưa, mình đâu có nghe những sản phẩm như là “rau sạch”, vì tất cả đều sạch, còn bây giờ đồ bẩn nhiều nên phải có thêm chữ sạch. Mà đồ sạch khi xét kĩ lại chưa chắc gì nó sạch. Đức Phật chỉ ngay thân mình là bất tịnh, là không sạch. Chỉ là một cục thịt, một đống thịt nhưng cứ mê, tham, sân, si với đống thịt này hoài, cứ đau khổ với nó hoài.
Cho nên, chúng ta phải hiểu và thấy được giá trị cao quý trong tu học.
Ý nghĩa Phật ra đời
Qua bài kinh này, mình học được Đức Thế Tôn là một bậc tích tụ vô lượng, vô biên thiện pháp, công đức, trí huệ. Cho nên sự sinh ra của Ngài không giống như một người bình thường, mà luôn luôn là trong Chánh Niệm Tỉnh Giác, trong trí đức, trong giới đức và hạnh đức của Ngài. Bao nhiêu đời Ngài giữ giới hạnh, nên các tướng của Ngài biểu hiện ra tuyệt vời, kì diệu, thù thắng. Những đạo hạnh, đức độ của Ngài cho nên rọi vào Người, vua Trời, Tứ Thiên Vương bốn góc canh giữ, bảo vệ sự xuất hiện của một chúng sanh vĩ đại. Ngài cũng là một con người giống như chúng ta, nhưng từ một con người lại tu hành đến được chỗ cùng cực, đến Thánh quả tối thượng, tối cao như thế. Vậy tại sao cũng là một con người mà mình lại âm trì? Là tại vì mình mê, mình không chịu tỉnh. Bây giờ ánh sáng trí huệ đã soi sáng, Thánh chuông vang dội rồi, nên từ bây giờ phải nỗ lực tích tụ thiện pháp, phước báo, công đức, trí huệ, giới hạnh, thiền định, để mình tu.
Điều thâm sâu nhất, đặc biệt nhất mà Đức Như Lai nói là Thánh trí năm uẩn. Hãy luôn luôn nhìn lại thân xác vô thường, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này để nhìn thấy bản chất trống rỗng, trống trơn. Nghệ sĩ Giang Châu trong Ngao, sò, ốc, hến mới qua đời. Đó là cả một thời tuổi thơ, mà hôm nay đã vĩnh viễn không còn gặp. Có rất nhiều trường hợp chết bất ngờ, bàng hoàng, nhưng tại sao mình thấy, mình nghe như vậy vẫn không tỉnh mà lại quên? Thấy tội nghiệp người ta rồi ai tội nghiệp mình? Hãy thức tỉnh sắc uẩn này, nó thật sự là hàng dễ vỡ. Thật sự không có gì đáng giá, không có gì chắc chắn, nó mong manh, tạm bợ vô cùng. Mỗi lần Minh Thành xuống núi là Minh Thành viết di chúc ở trên núi, lần nào cũng vậy, đừng tin rằng Minh Thành sẽ trở về được, đó là sự thật trong lòng. Có một lần đi, mà chứng kiến ba vụ tai nạn giao thông trên một đoạn đường. Đừng nói chi tới việc lên máy bay. Đừng nói chi đến việc vào toilet, lớn tuổi đi trợt té là chúi nhũi. Vừa rồi, có một chú Phật tử lên Minh Thành tâm sự. Chú còn trẻ lắm, cỡ 40 tuổi, bước vào toilet, đầu óc bỗng choáng váng, quay vòng vòng, sụm xuống, tay chống vào lavabo – bồn rửa mặt, không ngờ nó bể, quẹt vào tay chảy máu, chú té nằm đó nhưng tỉnh dậy. Có ông dược sĩ đi chung, nói đó là may, chảy máu vậy mới tỉnh. Nếu không chảy máu, mà đột quỵ bất tử, thì chết trong đó không ai hay. Chú này làm phước rất nhiều, Minh Thành nói là nhờ phước cứu chú, trong họa có phúc. Chú này trước đó không bao lâu lên Pháp Ấn tự động phát tâm sơn hết những cây cột gỗ ở chùa, không ai kêu hết.
Phải quán chiếu sắc uẩn này, đừng tin tưởng nó, nó gạt, nó dối lừa mình. Đống thịt này tên lừa đảo số một trên thế giới. Đừng nghĩ là ai lừa mình mà là đống thịt khốn nạn, khốn khổ, hoạn nạn, bệnh hoạn này là mình chết với nó. Nó xúi giục mình đủ thứ, suốt ngày phải cung phục nó, rồi mình đam mê trong và sa đọa. Phải thật tỉnh táo, thật sáng suốt trước đống thịt này. Phải thật tỉnh táo, sáng suốt đối với tất cả cảm giác, nghĩ tưởng trong nội tâm mình. Xem có tham, sân, si thì phải tẩy sạch, diệt trừ, làm cỏ đo ván, hạ gục, đánh sập nó. Không nuôi dưỡng những nguyên nhân đưa đến khốn khổ, hoạn nạn, tai nạn, nguy hiểm. Lửa cháy là phải dập tắt những nguyên nhân đó, không cho nó khuếch tán lên. Khi đó mới là một người thật sự thông minh, trí huệ, thật sự thương mình. Còn nếu không, một khi bó chiếu, cuốn chiếu, người ta quấn chiếu rồi thì thật sự không biết dùng lời gì diễn tả cảnh mình ra đi trong bóng đêm, mình hoàn toàn không biết bất cứ cái gì trong Chánh Niệm Tỉnh Giác. Cả một bóng đêm trùm phủ vào nghiệp ác của mình. Những ác nghiệp, cảm giác, nghĩ tưởng ập về, những nghiệp hiện ra, đẩy mình đi. Quý vị có thể tưởng tượng được cảnh như vậy, nhưng tại sao mình không lo sợ? Ngày nào cũng phải niệm tử để xả bỏ những mê chấp, phàm tình của cuộc đời này. Hãy xóa bỏ, đừng chạy hoài để lo kiếm tiền, kiếm bạc, bây giờ đầu tóc bạc phơ hết rồi, đi kiếm hoài để làm gì? Chỉ có nghe pháp, quán chiếu, thành tựu trí huệ thì mới cứu được quý vị và những người thân thương nhất trong gia đình của mình. Còn bằng không thật sự là một chung cuộc thê thảm.
Ngày nào Minh Thành cũng lo sợ cho mình và những người quanh mình. Suốt ngày tham, sân, si bản ngã làm họ đau khổ vô cùng. Ở Nha Trang, 5-6 người cùng nhau ăn phở cười vui, một vách tường 10 thước bỗng nhiên sập xuống đè chết hết. Lúc họ ăn, họ cười vui thì đâu có biết chuyện gì sắp xảy đến. Tất cả sự sống của chúng ta giống y như vậy. Bất cứ lúc nào, ở chỗ nào, thời gian, thời điểm nào, bức tường cũng có thể sập xuống đè mình. Ngay bây giờ không cẩn thận, không dòm ngó, không chuẩn bị thì một khi nó đến thì làm sao mình chống đỡ nổi. Đầu bạc hết rồi, phải ngồi và tưởng tượng cảnh khi mình nằm đó chết. Phải tưởng, phải quán. Một trong những pháp quán đưa mình đến chánh trí giác ngộ minh phần là luôn luôn an trú trong tưởng chết. Có tưởng đó quý vị mới biết đây là thần diệu, diệu dược. Khi giận ai, oán ai thì nó sẽ làm tan biến ngay lập tức. Những người ủy nhục, khinh khi mình, thì mình phải cảm ơn họ vô cùng. Chính nhờ họ giúp mình thành tựu trí huệ của cuộc đời này, bản chất cuộc đời này là vậy. Cảm ơn hết tất cả để cho mình thấy được Khổ Thánh Đế. Cho nên những người trong gia đình hay bất cứ ai làm cho quý vị khổ, mình cảm ơn. Nhờ thiện tri thức, ân nhân, những con người này để mình thấy được bộ mặt thật sự của ngũ uẩn. Bộ mặt thật sự của nó là một sự phũ phàng, trống rỗng, không có gì hết. Chỉ cần bức tường sập xuống thì còn gì nữa mà thương với sầu, mà hơn với thua, mà giận với ghét? Bây giờ phải tha thiết, quyết liệt, mãnh liệt, mỗi ngày phải mở pháp lên nghe ít nhất một thời, nhiều nhất là bốn hay tám thời. Nghe xong là thiền quán, chuẩn bị hành trang để ngừa bức tường sẽ sập, không để cho nó đè, đó là mình thể nhập cảnh giới bất tử.
Minh Thành muốn ngồi đây để tâm sự với quý vị suốt đời. Trời đất cũng sẽ sụp đổ trong nay mai, chứ nói chi tấm thân như con kiến này, nó chẳng là gì trên quả đất này. Đừng ảo tưởng mà nghĩ rằng ta đây, hãy buông xả những chấp ngã đó ra, hãy buông bỏ những tham dục, sân hận, si mê, tật đố đó ra. Hãy phá vỡ, phá tan, phá tung, phá sập chúng để cho trí huệ bừng sáng, để cho những gì Đức Phật đã truyền trao mình sẽ được tiếp nhận một cách trọn vẹn. Hôm nay là ngày Đản sanh của Đức Phật, Minh Thành muốn truyền trao lại những trí huệ Thánh pháp mà Đức Phật ban cho mình. Minh Thành muốn trao lại cho tất cả quý vị. Hãy nhớ thật kĩ, tự mình hãy cứu lấy mình, không ai có thể cứu mình hết. Một ngày nào đó, quý vị không còn gặp Minh Thành nữa, đừng tưởng nửa tháng nào về rồi mình sẽ gặp nhau như vậy. Đừng mộng mơ, đừng ảo tưởng. Mình như những quả chín rụng lộp độp, nó không phải Thánh quả mà nó là Tử quả. Hãy cố gắng đạt cho được Thánh quả, Thánh trí, Thánh pháp, khi đó mới thấy một niềm an lạc kì diệu giữa cuộc đời này. Không tranh giành với ai nữa hết, ai muốn hơn thua, muốn gì cứ mặc người ta. Mình chỉ là một nùi giẻ rách để cho người ta dậm chân. Mình chỉ là những hạt cát để người ta dẫm đạp lên chơi nhà chòi. Mình là những giọt nước dưới biển ai muốn quăng gì xuống thì quăng và mình không là cái gì hết trong cuộc đời này. Bình an với một tình thương bao la, rộng lớn. Một tình thương vì tất cả đều khổ, mình khổ, người khổ, nhưng người ta không biết là họ đang khổ. Thương thật là thương!