Trí Tuệ Hiền Thiện Cứu Thế Gian & Trình Pháp
Tinh Hoa Nikāya
Trí Tuệ Hiền Thiện Cứu Thế Gian & Trình Pháp
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trải tâm từ PAGEREF _Toc191220892 \h 1
II. Tầm quan trọng của trí tuệ PAGEREF _Toc191220893 \h 1
III. Quán vô thường và tâm hiền PAGEREF _Toc191220894 \h 2
IV. Hạnh nhẫn PAGEREF _Toc191220895 \h 4
V. Thử thách trong tu tập PAGEREF _Toc191220896 \h 12
VI. Nội quán và thay đổi nội tâm PAGEREF _Toc191220897 \h 13
VII. Trình pháp PAGEREF _Toc191220898 \h 17
Cô Diệu Chánh PAGEREF _Toc191220899 \h 17
Cô Phật tử PAGEREF _Toc191220900 \h 18
VIII. Giữ tâm ban đầu và tâm hiền PAGEREF _Toc191220901 \h 19
I. Trải tâm từ
Thầy Thiện Huệ: Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này.
Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần và dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân và yêu thương muôn loài.
Mong tất cả có được trí tuệ thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hiền trí, sáng nay đại chúng ta tiếp tục an trú tâm hiền thiện để chúng ta có cách nhìn nhiều phương diện về khía cạnh, về góc độ trong việc chúng ta hành trì cũng như tu tập tâm hiền. Con kính mời bên bộ phận âm thanh mở bài sư phụ thuyết giảng cho đại chúng nghe.
II. Tầm quan trọng của trí tuệ
Sư Phụ: Kính thưa đại chúng, người tu chúng ta đã đầy đủ bi trí và dũng, trí tuệ, từ bi và dũng mãnh. Trí tuệ vẫn là người đi đầu, nếu không có trí tuệ thì tình thương chúng ta chưa phải là từ bi thật sự, nếu không có trí tuệ thì cái sự dũng mãnh, mạnh mẽ đó chưa phải là đại hùng đại lực. Trí tuệ là gì? Là sự phá diệt vô minh, phá vô minh thì có trí tuệ. Vô minh là gì? Không biết mắt là vô thường, không biết cái lỗ tai này là biến hoại, không biết lỗ mũi này là khổ đau, không biết cái miệng này là tội lỗi, bệnh tật, vô minh là không biết cái thân này là ổ vi trùng, ổ virus, không biết cái thân này là chỗ chất chứa các bệnh tật, không biết thân này là bất tịnh, là mong manh, là tan rã, không biết tâm thức này, thọ, tưởng, hành là pháp duyên sanh, là pháp hữu vi, là pháp biến diệt, cho nó là tôi, cho nó là của tôi, cho nó là tự ngã của tôi.
Từ vô minh mà sinh ra tham ái, khát ái, si ái, dục ái, từ ái mà có ra sân hận, tức giận, ác hại, giết hại lẫn nhau. Thật sự là sống trên đời này mà không có trí tuệ thì không cái gì đau khổ cho bằng, không có gì hạnh phúc cho bằng sống trên đời này mà có được trí tuệ. Chúng ta từ bỏ cha mẹ, thân quyến, từ bỏ sự nghiệp, tình thương, từ bỏ thú vui của cuộc đời thật sự là tìm cầu trí tuệ, là tìm cầu tuệ giác. Nếu chúng ta không được cái tuệ giác này, không được trí tuệ này, không được cái minh kiến này thì uổng lắm, càng ngày chúng ta phải thấy trí tuệ này nó lớn mạnh trong ta, cái thấy biết này nó trong sáng hơn, rõ ràng hơn, nó minh bạch hơn, sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn, lớn mạnh hơn, nó viên mãn hơn.
III. Quán vô thường và tâm hiền
Mọi ý nghĩ của mình, mọi cảm giác của mình, mọi hình bóng trong tâm mình làm cho sanh khởi cái tuệ giác này, con mắt này vô thường, lỗ tai này bệnh tật, cái mũi này biến hoại, gương mặt này rồi sẽ nhăn nheo, sẽ tàn lụn, sẽ héo mòn, thân xác này rồi sụp xuống, đổ xuống, ngã xuống và nằm dài bất động. Tác ý thường xuyên mỗi khi nó dục tham, nó sân hận, nó ta đây, mỗi khi nó hơn thua, nó vênh váo, nó ganh tị, mỗi khi nó cống cao, nó ngã mạn, phải đem những hình ảnh đó, đem những suy nghĩ đó, những sự quán chiếu đó chất chứa vào trong tâm thường xuyên, nuôi dưỡng tác ý, quán chiếu, thiền tư, tư duy và mình chất đầy ở trong tâm mình trở thành một cái kho của trí tuệ, làm cho những cái suy nghĩ về vô thường, khổ, vô ngã đó được lập tới lập lui thường xuyên liên tục, được chất chứa, được tích tập, làm cho sung mãn đầy đủ thánh tuệ uẩn, là một đống trí tuệ lớn của bậc thánh. Cần phải suy nghĩ thường xuyên, tác ý thường xuyên, tư duy thường xuyên, thấy cái gì, nghe cái gì, cảm xúc cái gì cũng đem cái trí tuệ đó ra đối chiếu, đặt cái trí tuệ đó vào.
Thật sự hình ảnh một người đến siêu thị mà bị nhắc mang khẩu trang mà họ cầm súng nã vào nhân viên siêu thị đó là một cái bài pháp vĩ đại, một lời nhắc đeo khẩu trang vì tình thương, vì sự quan tâm cho bản thân người đó, cho cộng đồng mà hậu quả là mất mạng, một người chết, hai người bị thương. Một bài học hết sức là vĩ đại, nói lên tâm hiền, tâm từ, tâm bi, lòng thương xót là cứu độ thế giới này, Minh Thành mong muốn đại chúng mỗi một tuần là có bốn buổi thiền tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, cố định như vậy mỗi một tuần là có bốn buổi thiền định, thiền quán tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả. Tâm bi thật sự là tâm thương xót, chữ bi là thương xót, nhưng trước hết nền tảng là tâm hiền cho nên trong kinh tạng Nikāya chúng ta thấy dùng từ bậc hiền trí, hết sức là quan trọng bậc hiền trí trong Phật giáo, mình phải nhớ nhắc mình hoài, chữ hiền nó đã bao gồm từ bi, trí tức là tuệ giác.
Một người có trí tuệ thì người đó sẽ có hùng lực, sẽ có dũng mãnh, chính cái trí tuệ đó nó dẫn đường cho nên chữ hiền này, cái tâm hiền này, cái tánh hiền này, sự thực tập hiền lành này tuyệt đối, tuyệt đối, tuyệt đối, tuyệt đối quan trọng. Nhắc cái tâm mình hiền nha, lành nha, thiện nha, hòa ái nha, lắng dịu, an tịnh nha, nói không nghe lời tức là không có hiền, là bên trong một cái tâm chống đối, một cái tâm bản ngã, nói mà cãi lại liền tức là không hiền dù biết cái đó là đúng. Thầy của mình, sư huynh mình, các vị lớn có trách nhiệm nhắc nhở mình là mình cãi lại liền thì cái đó là cái tâm không có hiền, lời nói không có hiền, không có tu tập tâm hiền mới vậy. Nếu mà mình không có tu tập tâm hiền này thì dù cho mình tu bảy năm, mười năm hoặc ở trong chùa tới chết cũng không thành tựu những cái pháp cao thượng hơn, người ta ngồi chỗ này là mình nhảy chỗ khác, mình muốn ngồi theo ý mình, không vô hàng vô lối gì hết, người ta làm cái này mình làm kia, chứng tỏ bên trong là một cái tâm cứng đầu, ngang bướng, ương ngạnh, chống đối nhưng mình không tu ngũ uẩn nên mình không thấy, mình tưởng chuyện đó hết sức bình thường nhưng mà đó là một cái tâm ngã mạn, cứng đầu, khó dạy, khó bảo, khó nghe, tâm đó thời gian ngắn là xuống núi, không ở đây được đâu.
Tự động cái pháp loại ra, nó đào thải mình ra, chúng ta thấy nó vi tế lắm cho nên mình tu tâm hiền là an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, dễ nghe, dễ nói, dễ dạy, dễ bảo, dễ học, dễ tu, dễ sống, dễ nuôi… rất là nhiều trong kinh Nikāya, đó là tâm hiền. Còn nói cái này là mình nói là cái kia, kêu làm cái này là mình làm ra cái khác, kêu mình cái này là mình chống đối, thấy thì giống như nó nhẹ nhàng nhưng mà bên trong là một cái tâm ương ngạnh, cái đó mà mình không nhìn thấy thì làm sao mình tu tâm hiền. Tâm hiền ở đây thật sự lúc đầu chính bản thân Minh Thành cũng bị sốc, mình nghĩ mình không hiền hay sao nà phải tu tâm hiền nhưng tới bây giờ rồi mình thấy mình chưa hiền, hiền chính là bậc hiền trí tức là bậc từ hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu chứ không phải bình thường đâu. Cho đến khi nào thọ; tưởng; hành của mình an tịnh, lắng dịu, gặp hoàn cảnh nếu là thiện pháp, pháp lành, dù có nói nặng nói nhẹ, chỉ trích, thậm chí có chửi mắng nhưng mà cái tâm mà nó vẫn an tịnh, lắng dịu, trú ở trong thiện pháp thì cái đó mới là hiền, mình có bị hủy nhục, có bị vu khống, vu oan thì lúc đó cái tâm mình vẫn an tịnh, lắng dịu, lành thiện thì cái đó mới là tâm hiền.
IV. Hạnh nhẫn
Chúng ta nhớ ngài Phú-lâu-na, ngài muốn đi qua vùng đó để giáo hóa, tu tập và muốn san sẻ thiện pháp cho người vùng đó thì Đức Thế Tôn hỏi ông qua đó dân ở đó dữ lắm, hung hăng, hung dữ lắm, chửi ông thì sao, nếu họ mắng chửi con thì con thấy còn đỡ vì họ chưa dùng đá, dùng gậy để đánh con. Thế Tôn hỏi nếu họ dùng đá, dùng tay chân, gậy gộc đánh thì sao, ông nói vẫn còn đỡ vì họ chưa có ác tâm hủy hoại sinh mạng con. Thế Tôn lại hỏi nếu họ hủy hoại sinh mạng ông thì sao, ông nói các Tỳ-kheo khi đã quán bất tịnh thâm sâu, nhàm chán cái thân này, thấy nó dơ bẩn, thấy nó đáng ghê tởm, bây giờ có người giải thoát cái thân hôi hám, bất tịnh này cho con thì con cảm ơn họ vì con được giải thoát khỏi thân tứ đại vô thường, bất tịnh này. Thế Tôn nói vậy là được rồi, ông hãy đi đi, ngài đi đến đó trong vòng ba tháng an cư kiết hạ đã giáo hóa năm trăm vị, sau mùa an cư ngài nhập Niết-bàn ngay tại vùng đó.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh" (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Đó là bậc hiền trí, bậc hiền thánh, mình xem tâm mình hiện giờ nhiều khi tu học còn chống cự chứ đừng nói chi ở ngoài, mình đã thấy nó hiền chưa? Ở trong thiện pháp, trong chánh pháp mà còn chống cự là bên trong còn hung dữ lắm, còn sôi sục lắm, còn sừng sộ lắm, còn phừng phựt lắm, còn nhiệt não, nó còn những cái nổi loạn, cái tâm phản trắc, những cái tâm lật lọng, cái tâm gian trá, xảo quyệt, ganh tị, đố kỵ, hơn thua, những cái tâm hiếu thắng, cái tâm hung hăng là hết sức nguy hiểm, phải nhìn ra hết được những cái tâm đó. Ngài Mục-kiền-liên giảng những bài kinh mà chúng ta đọc vô là rùng rợn lắm, nổi da gà bởi những cái tâm thức rất là khủng khiếp. Nếu mình không nhìn ra được những cái tâm đó thì mình không có tu được tâm hiền, bởi vì cái tâm đó mình không thấy, không biết thì làm sao nhiếp phục, nếu không nhiếp phục, không chế ngự được nó thì làm sao mình có thể triệt hạ nó, diệt tận nó, còn nuôi dưỡng nó, còn chứa chất đó, còn bao che cho nó, còn bao bọc nó thì mình còn nguy hiểm, còn tai họa, còn những mầm mống của phản phúc, phản trắc, lật lọng, những mầm mống của vô ơn, bội nghĩa, vong ơn, những mầm mống của bất kính, vô lễ, những mầm móng của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, của những loài bàng sanh.
Cho nên hai chữ tâm hiền đó mà mình học suốt đời, tâm hiền mà thành tựu là thành bậc hiền trí cũng là bậc hiền thánh trong Phật giáo. Thành ra phải nhìn ra được hết những cái tâm, tất cả mọi cử chỉ, hành vi, ngôn ngữ, lời nói, thậm chí tiếng nói chuyện trong điện thoại hay cách nhắn tin cũng phải tu tập cái tâm hiền. Những cái này là những cái hạnh nhỏ mà rất là quan trọng, cho nên mình thấy những vị đức độ, ngay cả những vị hòa thượng mà mình đọc tin nhắn mình không có ngờ, ngài dạ, ngài thưa, cái đức càng lớn thì cái hạnh càng khiêm cung thành ra chúng ta phải cẩn thận, những cái tâm ghê gớm nhất là những cái tâm phản phúc, những cái tâm lật lọng, những cái tâm vô ơn bội nghĩa đó là phải diệt tận, diệt tận, diệt tận, không cho nó xanh khởi một suy nghĩ lên.
Chính vì vậy cho nên tại sao hiền mà lại bi, trí, dũng? Tại sao cái tâm hiền mà lại có trí tuệ, có cái sự dũng mãnh trong đó? Chính là cái diệt tận đó là dũng lực, hùng lực. Nếu mà không có sức mạnh ở bên trong làm sao mình diệt được những cái đó? Nếu không diệt những cái đó thì làm sao thành tựu tâm hiền, thành tựu tâm từ, thành tựu một cái tâm khả ái, dễ thương? Trong kinh Nikāya thường sử dụng một Tỳ-kheo khả ái, hiền hòa, từ ái cho nên cái như lý tác ý đó là một cái thần lực, một sự dũng mãnh của người tu là phải mạnh mẽ, oai hùng, phải hung hăng, dữ tợn, ở trong tâm mình phải là một sức mạnh thẳng tay sát phạt những cái suy nghĩ ác và bất thiện pháp đó, những cái dục, bản ngã, hướng ngoại là phải diệt tận, thẳng tay sát phạt nó không có thương tiếc, chặt nó, chém nó, bằm nó ra, nghiền nát nó ra thành tro, thành bụi, thành mây, thành khói, thành hư không thì từ từ mới trở thành con người hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền đức, cho tới một mức là tự động ở trong những cái suy nghĩ là hiền lành, không thể suy nghĩ những cái suy nghĩ hung ác được.
Mình được nuôi dưỡng, được huân tập, được huấn luyện, được giáo dục, được dạy dỗ trong từng ý nghĩ, từng cảm thọ, từng suy tư, bằng không còn những cái mầm móng trong đó thì bữa nào nó lật ngược lại, thầy trò thành kẻ thù, huynh đệ trở thành oan gia. Chúng ta thấy không, ngoài đời cha con, mẹ con xử với nhau, vợ chồng giết hại lẫn nhau, phân xác nhau. Khủng khiếp không? Đó chính là tâm hiền thiện nó mất đạo đức nhân nghĩa, nó tan vỡ và chính hơn bao giờ hết trong cái giai đoạn này là cái giai đoạn mình đề xướng, mình tuyên truyền, thuyết giảng, phổ biến, khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn, học tập, thực tập cái tâm hiền thiện này mới cứu rỗi được thế giới, cứu rỗi được hành tinh, cứu rỗi được trái đất. Mất đi cái tâm hiền thiện nên bây giờ tràn ngập thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, cướp giật.
Bây giờ ở thành phố người ta sống trong lo sợ, trong hoảng sợ, không phải dịch bệnh không mà bây giờ nó dùng những cái đạn sắt bắn những cái nhà kính. Bây giờ tao sống hồi hộp không phải một chỗ rất là nhiều chỗ, cái gì cũng bị giật hết, ngồi ngay trước nhà cầm điện thoại mà nó chạy ngang giật, rồi nó lôi nó kéo, rồi đập đầu xuống, nó không còn nhân nghĩa đạo đức, nó không còn lương tâm, nó không còn một cái gì nữa hết, đó là những cái tiếng báo động vĩ đại to lớn. Chúng ta tu tập, thuyết giảng, chia sẻ rộng rãi, khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn tu học cái tâm hiền thiện này, tâm hiền lành này mới có thể cứu mình, cứu người, cứu rỗi hành tinh, thế giới, nhân loại, chúng sanh. Thật sự là lo lắng!
Ngay cả người tu mà không có hiền thì cái người không tu thì làm sao? Những người xuất gia mà không có hiền thiện thì những người tại gia, những người không biết tu thì sao? Người xuất gia mà không có cái tâm lành, không có cái tâm từ thì những cái người thế gian như thế nào? Nó sẽ đẩy thiên hạ đến đại loạn, năm giới không còn, ác pháp sẽ sung mãn, nó bao trùm hết thế giới này, chúng sanh chìm ngập ở trong cái khổ hận, trong những cái ác tâm, những hại tâm, những cái tâm sát hại, hung dữ, tàn độc, tàn ác.
Cho nên chúng ta phải tu tập tâm hiền, tu tập tâm từ, tu tập tâm bi, không phải chỉ nghe có một lần là xong, không phải mở bài tâm từ nghe là tu rồi mà hằng ngày, hằng giờ, hằng tuần, hằng tháng, hằng nhiều tháng, hằng nhiều nằm nhìn trong cái suy nghĩ của coi nó hiền chưa, nó còn dữ dằn không, nó còn sôi sục không, nó còn sừng sộ không, còn làm loạn trong đó không, nó nổi loạn trong đó không, có còn muốn hất tung, đổ văng hết không, hủy diệt không, cái tâm hung hăng, hung dữ, bản ngã sanh khởi lên là phải nhìn thấy là phải sợ hãi, là phải lo lắng, phải lo âu để nhiếp phục. Thật ra mình nhìn sâu nó nhiều lắm, nó vi tế lắm, mình ăn to nói lớn thì cái đó cũng không hiền, cảm giác bên trong không an tịnh, hiền thiện nên mới phát ra khẩu hành như vậy.
Chẳng hạn như giờ mình lại mình lấy cái chén, cái tô mà nó rổn rảng là nó không có tâm hiền, không có thực tập tâm thiện, không có thực tập an tịnh, lắng dịu. Mình làm một cái hành vi mà nó thô tháo đóng cửa cái rầm là không có tâm hiền, nói từng cái nhỏ nhiệm để mình nhìn thấy chứ không phải nói hiền đúng giờ lên ngồi đó rồi mở bài tâm hiền lên lúc đó mới tu tập tâm hiền. Mình đóng cửa cái rầm tức là không có an tịnh, không có lắng dịu, không có quán chiếu cảm thọ, những cái suy nghĩ trong đó coi nó có hiền không. Chẳng hạn như giờ sư huynh, hay là sư phụ, hay là quý thầy, hay là sư tỷ lo cho mình nên kêu mình đi tu mà lúc đó trong lòng mình chống đối "tôi tu tự tôi biết chứ nhắc nhở tôi làm gì" thì cái đó coi nó có hiền không, đó là kêu cái pháp lành. Được nhắc tưởng nhắc đi tu mà lúc đó rồi trong đầu mình có thấy thương sư tỷ, thương sư huynh, hay là thương sư phụ không, hay là đó mình bực?
Chẳng hạn như giờ mình đang buông lung phóng dật rồi sư phụ hay sư huynh, sư tỷ lại nhắc mình thì lúc đó mình coi mình có hiền ngoan, có biết ơn người nhắc mình không, hay lúc đó mình bực bội, bản ngã lên. Mình nhìn thấy từng cái nhỏ nhiệm, từng cử chỉ, hành vi, từng cái ngôn ngữ, hành động, từng cái suy nghĩ, ăn uống, đi đứng. Người có tâm hiền đi khác, người không có tâm hiền thì tướng khác, trong đó là một cái tướng đi bề thế, nghênh ngang, ta đây, tỏ dáng ra là một ông thầy, một sư cô, tỏ ra tướng đi ta là người ở đây lâu năm, ngược lại tướng đi khiêm hạ, khiêm cung, hiền thiện, nhu hòa là có tâm hiền trong đó.
Từ cái ăn uống, từ cái nói năng, từ cái đi đứng, từ cái cách hành xử, từ một cái câu kinh mình đọc thể hiện ra được cái cảm thọ mình trong đó. Đây là cái căn bản pháp, đây là cơ bản pháp, đây là nền tảng pháp, đây là gốc rễ của pháp nên mình thấy rõ ràng những người kế bên cạnh mình, đi làm việc chung, họ mới vừa sanh khởi những cái tâm sân hận lên, không có tâm từ tâm gì hết thì lập tức tai họa tới liền. Một cái tâm sân khởi lên là chướng nạn liền, tai họa tới liền, một cái tâm hung hăng, hung dữ sanh khởi lên là lập tức có chướng ngại, tai họa, trở ngại, nghiệp báo sanh khởi, nghiệp chướng sanh khởi, nghiệp quả sanh khởi. Chẳng hạn như sáng nay bất thình lình cho đại chúng ra ngoài trời ngồi thì mình có xem trong thọ; tưởng; hành của mình có chấp nhận học pháp không, có nghĩ sư phụ lúc nào cũng lo cho mình hết, sư phụ muốn cho mình được thay đổi, có hứng thú trong sự tu học, quan tâm tới đại chúng hay là mình suy nghĩ "giờ lại bắt ra ngoài phơi sương, phơi gió, phơi nắng nữa", đó là cái tâm hung dữ, cái tâm bất thiện, mình nhìn thấy nó.
Chính những cái nhận diện cảm thọ, những cái tưởng đó là nó nói lên trạng thái tâm của mình đang thường trú, thường trực ở trong cái trạng thái nào. Tại đây cái tâm thiền này nó vi tế, nó nhỏ nhiệm mình biết trú trên tâm hiền này nó tuyệt vời lắm, hoàn cảnh nào mình cũng bình an hết, trong trường hợp nào mình cũng cảm thấy thoải mái, nhẹ nhàng hết. Chẳng hạn như bây giờ tu bình thường chỉ có một tiếng hoặc một tiếng rưỡi thôi mà hôm nay nghe tu tới ba tiếng, nếu mà người không tu tâm hiền thì trong đó sợ hãi, bực bội "làm gì bắt ngồi dữ vậy? Bắt ngồi dữ vậy? Tu gì dữ vậy? Mệt mỏi quá rồi, vừa phải thôi", còn nếu mà người có tâm hiền thì "hôm nay may mắn quá vì được tu thêm".
Lang thang trong sanh tử,
Lành dữ chẳng tỏ tường,
Mượn nghiệp hiền, nghiệp thiện
Làm chỗ để náo nương
"Hôm nay mình có chỗ nương náo, nhờ thầy, nhờ sư huynh, nhờ sư tỷ, mình nương náo thêm được một tiếng đồng hồ trong các pháp lành, trong chánh pháp, trong thánh pháp", tác ý như vậy thì tự nhiên mình ngồi đó mà mình vui, thí dụ không vui đi nữa cũng không có bực, không có sân, không có chống đối, không có nổi loạn, không có bức xúc, không có cọc cằn, không có bực bội, không có nực nội, không có bức bối, đó cũng là tâm hiền. Cho nên có tâm hiền này rất tuyệt vời, trong hoàn cảnh nào cũng bình an, trong hoàn cảnh nào cũng dễ chịu, bây giờ nắng chiếu mà nó cũng vẫn hoan hỉ, đây là thiện pháp mà mình tập được rồi từ từ mình mới tập với cái pháp không thiện không ác. Khi mình tập được cái pháp không thiện không ác thì tới cái pháp ác bất thiện mình vẫn tập được, nó phải đi qua từng bước vậy đó.
Tức là bây giờ ngay khi ngồi nghe pháp, ngay khi ngồi thiền, ngay khi ngồi tu mà mình chịu không nổi, mình tập cái tâm hiền không được thì lúc bình thường là làm sao mình tu? Làm sao tập được tâm hiền? Lúc bình thường không tập tâm hiền thì tới lúc trái ý nghịch lòng, bị chỉ trích, bị mắng chửi, bị những hoàn cảnh bất thình lình, những cái tai họa, tai nạn thì làm sao mình an tịnh, lắng dịu? Chúng ta thấy nó có trình tự không? Cho nên nhiều khi lâu lâu Minh Thành muốn có những bài tập cho đại chúng chứ không phải tự nhiên đâu, không phải Minh Thành không biết rằng ngày đó là ngày nghỉ nhưng mà coi cái tâm hiền tới đâu, coi sức kham nhẫn tới đâu, coi cái tâm cầu đạo vì pháp tới đâu chứ không phải là tự nhiên đâu. Không lẽ giờ thầy bị gì rồi sao, đó là bài tập để đo lường cái tâm của người tu học ở mức độ nào, cái độ cung kính, kính pháp, cái độ vì pháp, cái độ quên thân, cái độ hiền thiện, cái độ lắng dịu, cái độ chấp nhận học pháp, tùy thuận pháp ở mức độ nào.
V. Thử thách trong tu tập
Bây giờ nắng chút chịu không nổi, lạnh chút chịu không nổi rồi làm sao tu? Làm sao gọi là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, xả ngã để chứng nhập vô ngã? Cho nên những người không biết tu vô bếp làm một hồi là bực lên, quạu quọ lên, tuy là họ thích làm nhưng làm mệt lên ai vô nói gì là họ sực lại, đó là họ không có tu tâm hiền. Bây giờ mình người tu cũng vậy, làm việc nhiều là mình quạu, mình phải khác, mình phải rèn luyện cái tâm của mình, người đời làm gì một chút là họ lăng xăng, luýnh quýnh hết lên rồi mình cũng vậy hay sao. Đó là những cái đo lường đó, những cái khác thường đó, những cái thành tựu của người tu là trong chỗ rộn ràng mình tập sống không rộn ràng, trong cái chỗ bực bội mình sống với cái tâm mát dịu, trong cái chỗ hoảng loạn mình sống với tâm định tĩnh, trong cái chỗ bất an mình sống với tâm bình an, trong cái chỗ mà mọi người chống đối, phản loạn mình sống với cái tâm hiền hòa.
Nhưng mà đâu phải làm hoài đâu, lâu lâu thì mình mới tập tới, thí dụ mình luyện công sáu ngày hay năm ngày thì mình được nghỉ năm-sáu ngày chứ đâu phải làm luôn một tháng đâu. Bây giờ có làm luôn một tháng đi nữa mình cảm ơn vì trong khóa tu là mình học sáng học chiều, còn cái này chỉ học có một buổi thôi. Giả sử như được như vậy thì ngày nào cũng là khóa tu hết thì mình dập đầu lạy thầy quản chúng, lạy những người tạo ra cơ hội cho mình được tu học nhiều chứ tại sao lại bực? Người ta thương mình, người ta giúp cho mình được tu học nhiều thì tại sao mình lại khó chịu? Đây là cái tâm cứng đầu phải không? Nếu mà mình không có huấn luyện, không có mạnh tay như vậy thì xin thưa với đại chúng là không bao giờ thay đổi lớn được đâu, phải có một cái cuộc cách mạng nội tâm, phải có một cuộc lật đổ các tập khí cứng đầu cứng cổ, ươn ngạnh, phải có một cái cuộc thay đổi lớn ở trong tâm mình, phải thẳng tay với nó, mạnh tay với nó, hạ sát, truy sát, thậm chí là những cái gì nhỏ nhỏ mình phải moi móc ra, tại sao nó suy nghĩ như vậy.
Giờ thiền của mình là giờ giải phẫu chứ không phải ngồi đó nhắm mắt thở vô thở ra là xong, mình phải xem thầm ý tại sao lại nghĩ như vậy, mình xem sâu sắc ở dưới cái cảm thọ gì vậy, cái tưởng gì vậy, mình moi từ từ ra để xử nó. Như vậy mới đào bới cái gốc rễ, còn không là cứ phất phất ở trên mặt rồi suốt đời của mình là buông lung phóng dật, là bản ngã, là ta đây, là hơn thua, là cống cao, là ngã mạn, là hưởng nhàn, là muốn cho êm ái, là muốn đi theo cái ái, cái dục, cái gì có cảm thọ khó chịu một chút là không chịu, muốn chống đối, muốn được yên thân, muốn cho nó êm ái, muốn cho nó nhàn hạ, muốn cho sống qua ngày đoạn tháng. Thái tử Tất-đạt-đa ngày xưa là một bậc cao quý mà ngài bỏ hết đi vào rừng ở thì làm sao chịu đựng nổi? Không có cơm ăn mà ăn trái cây, ăn hạt mè cho đến chạm tới đâu trên người đều đụng vào xương với da, nếu không có một sự quyết tâm mạnh mẽ để quay trở lại thanh lọc, để triệt hạ, để làm một cuộc cách mạng thay đổi vĩ đại ở bên trong thì làm sao chúng ta tu tiến được, làm sao tăng thượng đạo đức, tăng thượng tâm tánh, tăng thượng thiền định, tăng thượng sự an tịnh tăng thượng, cái trí tuệ cái thấy biết của mình.
VI. Nội quán và thay đổi nội tâm
Phải làm cho nó nhức nhói, phải cắt ra, xẻ ra, móc ra, nó đau nhức cũng phải dám, nước mắt ràng rụa đầy mặt cũng phải làm, chứ không phải sống an an ổn ổn, lơ lơ lửng lửng, sống như lục bình trôi sông qua ngày đoạn tháng thì cuộc đời tu mình tới đâu? Mình đi tìm chỗ nào yên ổn để ở đi, phải dám giải phẫu. cắt cái khối u đó ra, móc khối u đó ra thì chúng ta mới thấy được nó tuyệt vời lắm, mình thay đổi từng ngày, từng tháng, từng năm, mình thay đổi, mình tiến bộ, mình phát triển, mình tăng thượng, mình hướng thượng thì từ từ mình có chỗ đứng ở trong pháp và luật này.
Cô Thanh Tuyền: Mô Phật, con tên là Thanh Tuyền, con kính chào thầy và đại chúng. Do đủ duyên lành con lên đây thăm cô Nhân nên con được lên đây lần đầu tiên, sau khi được tham dự các lần chung với đại chúng và sáng hôm nay con được nghe những bài pháp thoại của thầy, con vô cùng hoan hỉ. Được đến đây con thấy không cảnh nơi này, núi rừng vô cùng im ả và bình yên, con thấy rất là tuyệt vời. Ngày Hôm Qua khi mà đi lên núi, đoạn đường đi rất là khó khăn vậy mà nơi đây thầy xây được một cái tùng lâm như thế này, con vô cùng tri ân quý thầy và cuộc sống ở đây mọi người sống vô cùng an lạc. Con cảm thấy quý mến ở đây, con cũng hi vọng là đủ duyên lành con được tới đây để cùng tham gia tu tập với mọi người ở đây ạ.
Với bài pháp tâm hiền con thấy hình như là con không có hiền, con thấy hình như là mình phải vào một cái khuôn khổ nào đó để làm việc theo trình tự thì con thấy mình lại muốn làm khác đi chứ không phải mình muốn làm theo cái trình tự mình đã vạch sẵn ở trong đầu của mình. Khi làm cái việc này thì tự nhiên trong tâm mình nó lại phát khởi muốn làm cái việc khác, từ đó mình cảm thấy là mình không có tập trung với công việc của mình. Chắc con xin hết bởi vì con chưa có suy nghĩ sâu sắc hơn chắc, con xin hết thưa thầy.
Cô Hoa Sen: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con xin kính bạch sư phụ, con xin kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các vị hiền trí. Con pháp danh là Hoa Sen, kính thưa quý thầy, hôm nay có duyên lành con được nghe bài giảng pháp của sư phụ về tu tập tâm hiền, trước khi lên tu tập tại chùa thì con cũng đã tu tập nhiều năm, con nghĩ là mình cũng đã hiền lắm rồi nhưng khi con được theo sư phụ, theo các quý thầy, quý cô trên núi tu tập thì con mới biết là mình còn rất là hung dữ. Mặc dù sự biểu hiện ra bên ngoài của con thì mọi người nhìn thấy con có vẻ rất là ngoan hiền nhưng sự chống đối ở bên trong con thì thật sự là rất là hung dữ, không có ngoan hiền chút nào ạ. Hôm nay con được nghe sư phụ giảng về bài pháp tu tập tâm hiền thì con xin phép thầy và toàn thể đại chúng là con đưa ra hai ví dụ về cái tâm không hiền của con ạ.
Thưa thầy ví dụ thứ nhất là khi con lên chùa được mấy ngày thì có được sư Quý thông báo là con buổi tối đi sang bên thư viện để nghe thầy Pháp Lực dạy pháp. Khi đó con có đi qua bên đấy cùng với một số cách các vị hiền trí nghe thầy Pháp Lực dạy pháp, có quý sư cũng đi qua nhưng mà con cũng không biết đấy là quý sư mà con chỉ nghĩ chắc là một sư cô nào đó. Khi đó thì con ngồi xa xa một chút thì quý sư có nói con là ngồi gần vô cho đúng cái vòng, khi đó trong tâm con thấy hơi hơi khó chịu và con nói để từ từ, khi nào thầy đến xem thầy ngồi ở chỗ nào đã rồi mình ngồi cho đúng. Khi đấy con nghĩ là con nói như vậy là đúng, con nhìn qua quý sư thì con thấy ánh mắt của quý sư nhìn con và từ hôm đó cho tới một tuần sau mỗi một lần trong cái tưởng của con nhớ lại hình bóng ánh mắt của quý sư là con tự nhiên con thấy rất là sợ, mỗi lần con nhìn thấy quý sư là con né qua một bên, con không dám đi mà cũng không dám tới gần, cũng không dám chào quý sư một tiếng.
Sau một tuần thì có một nhân duyên là hôm đó con ngồi thọ thực cùng với đại chúng tại Ni xá, hôm đó không hiểu vì sao mọi người đều ăn xong rồi đứng dậy đi hết, chỉ còn lại mấy quý sư mà trước khi ngồi xuống thọ thực con lại nhìn thẳng về quý sư, con bắt gặp lại đúng với ánh mắt đó, hôm đó trong suốt cả buổi thọ thực là trong cái cảm thọ của con có cái cảm giác rất là lạ, nó không khó chịu mà cũng không dễ chịu mà nó có một cái gì đó con không nhận ra, nhưng mà sau khi mọi người đều thọ thực xong hết rồi đứng dậy đi thì còn lại con với quý sư ở ở lại, khi con không còn cảm giác sợ nữa con quyết định là con ngồi lại.
Trong cái ý hành của con có suy nghĩ là hôm nay nhất định phải dừng lại, phải ngồi lại ăn cùng với quý sư chứ mình không đứng dậy đi nữa, không sợ nữa và sau đó trong ý hành của con có lời nói thì thầm, cái suy nghĩ như vậy thì trong cảm thọ của con cảm nhận được cái tâm từ của quý sư truyền tới nơi con, trong cảm thọ có cái cảm giác rất là dễ chịu, mát mẻ. Từ hôm đó trở đi thì con nhìn thấy ánh mắt của quý sư con không còn thấy sợ nữa, con không còn né tránh quý sư nữa, khi con nhìn thấy quý sư con muốn chào quý sư, mỗi lần như vậy con rất muốn quý sư nói với con một điều gì đó hay dạy bảo con một điều gì đó. Thưa thầy là con cũng chưa nhận thức được là con đã tu được tâm hiền một chút nào chưa.
Còn ví dụ thứ hai là khi con đi khất thực, hết bình bát, không còn bình bát nào nữa thì có một sư cô nói với con là lấy cái bình bát đen. Nếu như nó không có tên của ai thì có thể mình lấy mang đi khất thực được, khi đấy con tìm một cái bình bát đen không có tên và nó bị một vết nứt ở bên trong, từ hôm đấy con mang cái bình bát đó đi khất thực thì con cũng không nghe thấy quý sư hay trong đại chúng có ai nhắc nhở gì thì con nghĩ cũng không có vấn đề gì. Nhưng được cỡ khoảng bốn năm hôm thì con đang ngồi ăn ở cũng ở dưới Tinh Xá, có bạn đồng đạo là một cô Phật tử tới nhắc nhở con là cái bình bát đó là của quý sư, tại sao mình lại lấy để ăn như vậy, không được phép như vậy thì khi đấy trong cảm thọ của con cũng có cảm giác hơi khó chịu vì tại sao không ai nhắc nhở mà bạn đồng đạo lại nhắc nhở như vậy.
Con nhận biết trong cảm thọ có cảm giác hơi khó chịu thì con cũng không nói lại gì hết, con cố ngồi ăn xong thì trong tưởng uẩn của con luôn có hình bóng bạn đồng đạo, trong cảm thọ còn cảm giác hơi khó chịu, trong tưởng uẩn còn hình bóng và lời nói của bạn đồng đạo đó, trong hành uẩn của con có suy nghĩ tại sao sư cô nói mình mang bình bát này đi không ai nói gì mà sao hôm nay bạn này mới lên mấy ngày mà nhắc mình hoài. Trong thức uẩn của con nhận thức được rõ thọ; tưởng; hành như vậy thì con dùng câu tác ý và con đã tác ý là mình lên đây để tu, mà tu là sư phụ dạy là để nhàm chán cái xác thân này, tu để được giải thoát khỏi những cái khổ này, tại sao cái tâm mình lại dính mắc vào cái bình bát này, bạn nhắc như vậy là cơ hội tốt để cho mình tu, tại sao cái tâm mình lại dính mắc bình bát này mà lại đi cảm thấy khó chịu, nổi cái tâm bực bội với bạn.
Khi con nghĩ như vậy xong thì con ăn xong thì con đứng dậy, con đi tới tìm bạn đó và con có mời bạn đó ra nói chuyện với bạn, con cũng có trình bày với bạn là cái bình bát đó là do sư cô chỉ cho con đấy dùng từ bữa đó. Trong cảm thọ của con khi con nói chuyện với bạn thì con thấy có cảm giác dễ chịu, hài hòa, không còn cảm giác khó chịu, bực bội nữa và lời nói của con khi nói cũng nhẹ nhàng hơn, con mỉm cười với bạn và bạn cũng rất là hoan hỉ với con. Những lúc sau trở đi con nhìn thấy bạn thì con không có cảm giác khó chịu, cũng không có thấy xa lánh hay là gì cả. Con xin thưa với thầy là trong cảm thọ của con như vậy và trong cái hành uẩn con suy nghĩ như vậy ạ. Con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
VII. Trình pháp
Thầy Thiện Huệ: Trong sự tu học của mình cái bước đầu căn bản phải tập được cái cảm thọ bên trong có sự an tịnh, lắng dịu và dễ chịu. Quý thầy, quý cô trên đây ai cũng dễ chịu, ai cũng hiền thiện hết, đâu có gì đâu mà mình phải sợ, nhiều khi trong cái tưởng tượng của mình nghĩ không dám nhìn quý sư cô, quý thầy vì sợ bị nói, bị la hay bị nhắc nhở gì đó cho nên bước đầu mình phải trở về thực tập mọi cái đi đứng, oai nghi của mình phải đưa tâm hiền vào hết. Từ cái nói năng, cái đi đứng, cái thao tác phải tập có cái sự lắng dịu, trầm tĩnh, bình tĩnh, an tịnh, thực tập cảm thọ cho nó điềm đạm, trầm lắng. Cái tâm mình có sự định tĩnh, có sự nhẹ nhàng thì những cái tác động bên ngoài không có ảnh hưởng mình nhiều, tại vì mình tu tập tâm hiền là để làm cho các cảm thọ khó chịu, bức xúc, bực bội lắng dịu xuống kết hợp thêm tâm mình có sức mà định tĩnh thì những cái gì bên ngoài tác động nó không đủ sức để nó quật ngược lại mình.
Cũng giống như sư phụ hay ví dụ tu cái tâm mình có sự mát mẻ giống như một cái hồ nước mà chiều dài hàng trăm mét, bề rộng, bề ngang hàng trăm, hàng ngàn km, ở trong đó là sen, nước xanh trong, sạch đẹp, mát ngọt, dù cho ai có quăng đống lửa nhỏ vô cũng không ảnh hưởng gì tới hồ nước cả. Cái tâm mình cũng vậy, cho nên đại chúng thấy Linh Quy mình có cần xài máy lạnh không? Đâu có xài máy lạnh đâu tại vì ai cũng có cái máy lạnh hết rồi, quý thầy, quý cô, đại chúng ở đây trong người ai cũng có cái máy lạnh hết, cái máy lạnh đó là cái sự nhẹ nhàng, sự an tịnh, lắng dịu, trầm lặng, rồi cái tâm hiền thiện của đại chúng. Cho nên giai đoạn đầu cô cố gắng thực tập tâm hiền cho nhiều, ứng dụng trong mọi cái oai nghi, đi đứng, nói năng, hành động của mình, thực tập cảm thọ cho nó an tịnh, lắng dịu, thời gian cô sẽ cảm nhận được rất là cái lợi lạc, lợi ích, cái tâm hiền của mình sẽ có sự tiến bộ rất là nhanh.
Cô Diệu Chánh
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính chào quý thầy, con kính thưa quý Ni sư, quý sư cô và các bạn đồng hương. Con tên là Phật tử Diệu Chánh.
Thầy Thiện Huệ: Cô cứ hít thở vào ra, hướng tâm chỗ lồng ngực tác ý kêu nó an tịnh, lắng dịu. Hôm nay cô về đây tu học được những gì?
Cô Diệu Chánh: Thưa thầy ngày đầu con bước chân lên trên đây rất là cảm động. Thấy những cảnh khác lạ với bên ngoài với nước ngoài mà con đã đi qua, con rất cố gắng cho bản thân mình để mà học hỏi theo quý thầy, quý Ni sư, những lời chỉ dạy của quý thầy con nghe, con hiểu nhưng con lại không trình bày được. Con rất giận bản thân mình, khi con ngồi thiền con bị cái chân nó nhức, tôi không ngồi yên được, con ráng cố gắng luyện những lời của thầy giảng, con học hỏi được nơi thầy rất nhiều. Lúc ngồi ở bên ngoài con không có hiểu được cái nào là tham, sân, si.
Thầy Thiện Huệ: Hôm nay cô về đây cô có nhận diện được ngũ uẩn chưa?
Cô Diệu Chánh: Dạ mô Phật, con có nhận diện được nhưng hơi chậm thưa thầy.
Thầy Thiện Huệ: Cô nhận diện ngũ uẩn ngay trong lúc này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình như thế nào?
Cô Diệu Chánh: Hình bóng quý thầy chỉ dạy cho con.
Thầy Thiện Huệ: Hình bóng là gì?
Cô Diệu Chánh: Dạ mô Phật, hình bóng là tưởng ạ. Lòng con rất cảm động khi nghe những lời pháp của quý thầy dạy.
Thầy Thiện Huệ: Dạ được rồi, con cám ơn cô. Mời cô ngồi phía sau cô Hiền Thục.
Cô Phật tử
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ. con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các bậc hiền trí. Dạ con xin trình pháp, con nghe được bài pháp sư phụ giảng sáng hôm nay, con thấy thiệt là xấu hổ, xấu hổ với hổ thẹn quá vì tâm con còn rất hung dữ, hung hăng, bản ngã, tham, sân, si, dục ái giẫy đầy. Ý hành cũng có suy nghĩ sẽ tu tập tâm hiền, nhìn lại cảm thọ, chánh niệm tỉnh giác trong từng phút giây khi ở đây và khi về nhà con nhìn cảm thọ nào nó nổi lên, con cũng có ý hành là nghe lời sư phụ là sẽ chặt nó, bằm nó, diệt tận nó, không cho nó mọc trở lại nữa. Con cũng hướng đến diệt tận nó để được an trú tâm hiền thiện, như hạnh ngài Xá-lợi-phất an trú tâm như nùi giẻ rách.
Dạ con cũng nguyện hứa sẽ làm, sẽ thực hành, sẽ đạt được đến điều đó, con xin cảm ơn sư phụ, cảm ơn quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng đã tạo dựng ngôi nhà từ bi này để con có chỗ đến đây, nhìn thấy rõ thân tâm mình và được ăn những bữa ăn trong sạch, nhìn thấy rõ được những bữa ăn của Đức Phật, không phải ăn thô tháo như người mình ăn bên ngoài, con hết sức cảm ơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
VIII. Giữ tâm ban đầu và tâm hiền
Thầy Thiện Huệ: Con kính thưa đại chúng, chúng ta đừng quên cái tâm ban đầu, nhất là những vị mới đến tu vào vòng pháp này, trong kinh Tăng Chi Bộ Đức Phật dạy chúng ta hãy sống an trú cái tâm như là một cô dâu mới về nhà chồng. Tức là cái tâm từ buổi ban đầu khi cô dâu này mới đến nhà chồng là rất là e dè, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, sợ hãi trước mặt cha chồng, sợ hãi trước mặt chồng, thậm chí cho đến những người làm công phục vụ ở trong gia đình, cô dâu này rất là sợ nhưng sau một thời gian ở gần gũi, sống chung, thân cận qua lại, cái tâm cô dâu này lờm đi, mất đi cái tâm ban đầu, quay trở lại xem thường cha mẹ chồng, xem thường chồng của mình, xem thường những người giúp việc trong gia đình "các người hãy đi đi, các người có biết được cái gì".
Qua cái hình ảnh đó nhắc nhở chúng ta phải giữ được cái tâm ban đầu khi mình gặp quý thầy, quý cô, mình đến đạo tràng cái tâm của mình lúc ban đầu như thế nào. Dù mình ở trong đạo tràng, trong chùa ba năm, năm năm, mười năm mình cũng phải vẫn giữ được cái tâm ban đầu, đó là một cái tâm cung kính, cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, cái tâm rụt rè, nhúng nhường, e dè. Hãy giữ được cái tâm đó thì đó cũng là một cái tâm hiền với một góc độ, khía cạnh của tâm hiền tại vì nội tâm mình có sự hiền thiện bên trong thì nó biểu hiện bên ngoài lúc nào mình cũng khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm nhường, khiêm hạ, hạ thấp mình xuống. Còn bên trong tâm mình hung dữ, bản ngã, ta đây thì cái tâm đó không phải là tâm hiền thiện, cái tâm nó đi đâu rồi cũng không có hòa hợp được với ai cả, chính vì mình có tâm hiền thì mình đi bất cứ đạo tràng, bất cứ nơi nào, mình ở nơi đâu, ở một tập thể nào thì mình cũng đều có một sự hòa hợp, hòa đồng, hòa ái với mọi người.
Mình đi đâu mà mình có được cái tâm hiền thiện như vậy thì ai cũng thương, ai cũng quý, ai cũng mến mình hết. Cho nên tại sao Linh Quy sư phụ hay đặt pháp danh cho các vị là hai chữ Hiền Trí, cái tâm hiền thiện và trí tuệ để nhìn lại thân tâm của mình nhiếp phục các cảm thọ tham muốn, nóng giận, bực bội, bức xúc, khó chịu, cảm giác ta đây, cống cao ngã mạn, đó là cái tâm hiền trí. Bên cạnh mình tu tâm hiền thì mình có trí tuệ nhìn lại ngũ uẩn của mình để nhiếp phục nếu có cảm giác thúc giục, nóng giận, bản ngã bên trong. Cho nên con mong đại chúng chúng ta lúc nào cũng phải nhớ giữ cái tâm ban đầu rất quan trọng, cái tâm của một cô dâu mới về nhà chồng, mình có được cái tâm đó thì mình đi đâu thầy thương bạn kính, đi đâu ai cũng giúp đỡ, ai cũng mở lòng ra với mình, mình tiếp xúc với bất kỳ ai đi nữa, cái từ trường, n năng lượng của mình nó lan tỏa ra một sự mát mẻ, người ta gần mình cảm thấy được sự cái bình an.
Mình tu phải trở thành máy điều hòa chứ đừng có trở thành cái bếp ga, nó nóng, người ta đi xa hết. Đại chúng chịu mình tu thành cái máy điều hòa không? Chịu máy điều hòa là phải tu tâm hiền, lan tỏa cái từ trường mát mẻ, ai cũng được hưởng cái từ trường mát lạnh, mát mẻ, chúng ta cố gắng lên.
Tâm hiền này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm hiền này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Trí Tuệ Hiền Thiện Cứu Thế Gian & Trình Pháp
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trải tâm từ PAGEREF _Toc191220892 \h 1
II. Tầm quan trọng của trí tuệ PAGEREF _Toc191220893 \h 1
III. Quán vô thường và tâm hiền PAGEREF _Toc191220894 \h 2
IV. Hạnh nhẫn PAGEREF _Toc191220895 \h 4
V. Thử thách trong tu tập PAGEREF _Toc191220896 \h 12
VI. Nội quán và thay đổi nội tâm PAGEREF _Toc191220897 \h 13
VII. Trình pháp PAGEREF _Toc191220898 \h 17
Cô Diệu Chánh PAGEREF _Toc191220899 \h 17
Cô Phật tử PAGEREF _Toc191220900 \h 18
VIII. Giữ tâm ban đầu và tâm hiền PAGEREF _Toc191220901 \h 19
I. Trải tâm từ
Thầy Thiện Huệ: Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này.
Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần và dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân và yêu thương muôn loài.
Mong tất cả có được trí tuệ thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hiền trí, sáng nay đại chúng ta tiếp tục an trú tâm hiền thiện để chúng ta có cách nhìn nhiều phương diện về khía cạnh, về góc độ trong việc chúng ta hành trì cũng như tu tập tâm hiền. Con kính mời bên bộ phận âm thanh mở bài sư phụ thuyết giảng cho đại chúng nghe.
II. Tầm quan trọng của trí tuệ
Sư Phụ: Kính thưa đại chúng, người tu chúng ta đã đầy đủ bi trí và dũng, trí tuệ, từ bi và dũng mãnh. Trí tuệ vẫn là người đi đầu, nếu không có trí tuệ thì tình thương chúng ta chưa phải là từ bi thật sự, nếu không có trí tuệ thì cái sự dũng mãnh, mạnh mẽ đó chưa phải là đại hùng đại lực. Trí tuệ là gì? Là sự phá diệt vô minh, phá vô minh thì có trí tuệ. Vô minh là gì? Không biết mắt là vô thường, không biết cái lỗ tai này là biến hoại, không biết lỗ mũi này là khổ đau, không biết cái miệng này là tội lỗi, bệnh tật, vô minh là không biết cái thân này là ổ vi trùng, ổ virus, không biết cái thân này là chỗ chất chứa các bệnh tật, không biết thân này là bất tịnh, là mong manh, là tan rã, không biết tâm thức này, thọ, tưởng, hành là pháp duyên sanh, là pháp hữu vi, là pháp biến diệt, cho nó là tôi, cho nó là của tôi, cho nó là tự ngã của tôi.
Từ vô minh mà sinh ra tham ái, khát ái, si ái, dục ái, từ ái mà có ra sân hận, tức giận, ác hại, giết hại lẫn nhau. Thật sự là sống trên đời này mà không có trí tuệ thì không cái gì đau khổ cho bằng, không có gì hạnh phúc cho bằng sống trên đời này mà có được trí tuệ. Chúng ta từ bỏ cha mẹ, thân quyến, từ bỏ sự nghiệp, tình thương, từ bỏ thú vui của cuộc đời thật sự là tìm cầu trí tuệ, là tìm cầu tuệ giác. Nếu chúng ta không được cái tuệ giác này, không được trí tuệ này, không được cái minh kiến này thì uổng lắm, càng ngày chúng ta phải thấy trí tuệ này nó lớn mạnh trong ta, cái thấy biết này nó trong sáng hơn, rõ ràng hơn, nó minh bạch hơn, sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn, lớn mạnh hơn, nó viên mãn hơn.
III. Quán vô thường và tâm hiền
Mọi ý nghĩ của mình, mọi cảm giác của mình, mọi hình bóng trong tâm mình làm cho sanh khởi cái tuệ giác này, con mắt này vô thường, lỗ tai này bệnh tật, cái mũi này biến hoại, gương mặt này rồi sẽ nhăn nheo, sẽ tàn lụn, sẽ héo mòn, thân xác này rồi sụp xuống, đổ xuống, ngã xuống và nằm dài bất động. Tác ý thường xuyên mỗi khi nó dục tham, nó sân hận, nó ta đây, mỗi khi nó hơn thua, nó vênh váo, nó ganh tị, mỗi khi nó cống cao, nó ngã mạn, phải đem những hình ảnh đó, đem những suy nghĩ đó, những sự quán chiếu đó chất chứa vào trong tâm thường xuyên, nuôi dưỡng tác ý, quán chiếu, thiền tư, tư duy và mình chất đầy ở trong tâm mình trở thành một cái kho của trí tuệ, làm cho những cái suy nghĩ về vô thường, khổ, vô ngã đó được lập tới lập lui thường xuyên liên tục, được chất chứa, được tích tập, làm cho sung mãn đầy đủ thánh tuệ uẩn, là một đống trí tuệ lớn của bậc thánh. Cần phải suy nghĩ thường xuyên, tác ý thường xuyên, tư duy thường xuyên, thấy cái gì, nghe cái gì, cảm xúc cái gì cũng đem cái trí tuệ đó ra đối chiếu, đặt cái trí tuệ đó vào.
Thật sự hình ảnh một người đến siêu thị mà bị nhắc mang khẩu trang mà họ cầm súng nã vào nhân viên siêu thị đó là một cái bài pháp vĩ đại, một lời nhắc đeo khẩu trang vì tình thương, vì sự quan tâm cho bản thân người đó, cho cộng đồng mà hậu quả là mất mạng, một người chết, hai người bị thương. Một bài học hết sức là vĩ đại, nói lên tâm hiền, tâm từ, tâm bi, lòng thương xót là cứu độ thế giới này, Minh Thành mong muốn đại chúng mỗi một tuần là có bốn buổi thiền tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, cố định như vậy mỗi một tuần là có bốn buổi thiền định, thiền quán tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả. Tâm bi thật sự là tâm thương xót, chữ bi là thương xót, nhưng trước hết nền tảng là tâm hiền cho nên trong kinh tạng Nikāya chúng ta thấy dùng từ bậc hiền trí, hết sức là quan trọng bậc hiền trí trong Phật giáo, mình phải nhớ nhắc mình hoài, chữ hiền nó đã bao gồm từ bi, trí tức là tuệ giác.
Một người có trí tuệ thì người đó sẽ có hùng lực, sẽ có dũng mãnh, chính cái trí tuệ đó nó dẫn đường cho nên chữ hiền này, cái tâm hiền này, cái tánh hiền này, sự thực tập hiền lành này tuyệt đối, tuyệt đối, tuyệt đối, tuyệt đối quan trọng. Nhắc cái tâm mình hiền nha, lành nha, thiện nha, hòa ái nha, lắng dịu, an tịnh nha, nói không nghe lời tức là không có hiền, là bên trong một cái tâm chống đối, một cái tâm bản ngã, nói mà cãi lại liền tức là không hiền dù biết cái đó là đúng. Thầy của mình, sư huynh mình, các vị lớn có trách nhiệm nhắc nhở mình là mình cãi lại liền thì cái đó là cái tâm không có hiền, lời nói không có hiền, không có tu tập tâm hiền mới vậy. Nếu mà mình không có tu tập tâm hiền này thì dù cho mình tu bảy năm, mười năm hoặc ở trong chùa tới chết cũng không thành tựu những cái pháp cao thượng hơn, người ta ngồi chỗ này là mình nhảy chỗ khác, mình muốn ngồi theo ý mình, không vô hàng vô lối gì hết, người ta làm cái này mình làm kia, chứng tỏ bên trong là một cái tâm cứng đầu, ngang bướng, ương ngạnh, chống đối nhưng mình không tu ngũ uẩn nên mình không thấy, mình tưởng chuyện đó hết sức bình thường nhưng mà đó là một cái tâm ngã mạn, cứng đầu, khó dạy, khó bảo, khó nghe, tâm đó thời gian ngắn là xuống núi, không ở đây được đâu.
Tự động cái pháp loại ra, nó đào thải mình ra, chúng ta thấy nó vi tế lắm cho nên mình tu tâm hiền là an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, dễ nghe, dễ nói, dễ dạy, dễ bảo, dễ học, dễ tu, dễ sống, dễ nuôi… rất là nhiều trong kinh Nikāya, đó là tâm hiền. Còn nói cái này là mình nói là cái kia, kêu làm cái này là mình làm ra cái khác, kêu mình cái này là mình chống đối, thấy thì giống như nó nhẹ nhàng nhưng mà bên trong là một cái tâm ương ngạnh, cái đó mà mình không nhìn thấy thì làm sao mình tu tâm hiền. Tâm hiền ở đây thật sự lúc đầu chính bản thân Minh Thành cũng bị sốc, mình nghĩ mình không hiền hay sao nà phải tu tâm hiền nhưng tới bây giờ rồi mình thấy mình chưa hiền, hiền chính là bậc hiền trí tức là bậc từ hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu chứ không phải bình thường đâu. Cho đến khi nào thọ; tưởng; hành của mình an tịnh, lắng dịu, gặp hoàn cảnh nếu là thiện pháp, pháp lành, dù có nói nặng nói nhẹ, chỉ trích, thậm chí có chửi mắng nhưng mà cái tâm mà nó vẫn an tịnh, lắng dịu, trú ở trong thiện pháp thì cái đó mới là hiền, mình có bị hủy nhục, có bị vu khống, vu oan thì lúc đó cái tâm mình vẫn an tịnh, lắng dịu, lành thiện thì cái đó mới là tâm hiền.
IV. Hạnh nhẫn
Chúng ta nhớ ngài Phú-lâu-na, ngài muốn đi qua vùng đó để giáo hóa, tu tập và muốn san sẻ thiện pháp cho người vùng đó thì Đức Thế Tôn hỏi ông qua đó dân ở đó dữ lắm, hung hăng, hung dữ lắm, chửi ông thì sao, nếu họ mắng chửi con thì con thấy còn đỡ vì họ chưa dùng đá, dùng gậy để đánh con. Thế Tôn hỏi nếu họ dùng đá, dùng tay chân, gậy gộc đánh thì sao, ông nói vẫn còn đỡ vì họ chưa có ác tâm hủy hoại sinh mạng con. Thế Tôn lại hỏi nếu họ hủy hoại sinh mạng ông thì sao, ông nói các Tỳ-kheo khi đã quán bất tịnh thâm sâu, nhàm chán cái thân này, thấy nó dơ bẩn, thấy nó đáng ghê tởm, bây giờ có người giải thoát cái thân hôi hám, bất tịnh này cho con thì con cảm ơn họ vì con được giải thoát khỏi thân tứ đại vô thường, bất tịnh này. Thế Tôn nói vậy là được rồi, ông hãy đi đi, ngài đi đến đó trong vòng ba tháng an cư kiết hạ đã giáo hóa năm trăm vị, sau mùa an cư ngài nhập Niết-bàn ngay tại vùng đó.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh" (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Đó là bậc hiền trí, bậc hiền thánh, mình xem tâm mình hiện giờ nhiều khi tu học còn chống cự chứ đừng nói chi ở ngoài, mình đã thấy nó hiền chưa? Ở trong thiện pháp, trong chánh pháp mà còn chống cự là bên trong còn hung dữ lắm, còn sôi sục lắm, còn sừng sộ lắm, còn phừng phựt lắm, còn nhiệt não, nó còn những cái nổi loạn, cái tâm phản trắc, những cái tâm lật lọng, cái tâm gian trá, xảo quyệt, ganh tị, đố kỵ, hơn thua, những cái tâm hiếu thắng, cái tâm hung hăng là hết sức nguy hiểm, phải nhìn ra hết được những cái tâm đó. Ngài Mục-kiền-liên giảng những bài kinh mà chúng ta đọc vô là rùng rợn lắm, nổi da gà bởi những cái tâm thức rất là khủng khiếp. Nếu mình không nhìn ra được những cái tâm đó thì mình không có tu được tâm hiền, bởi vì cái tâm đó mình không thấy, không biết thì làm sao nhiếp phục, nếu không nhiếp phục, không chế ngự được nó thì làm sao mình có thể triệt hạ nó, diệt tận nó, còn nuôi dưỡng nó, còn chứa chất đó, còn bao che cho nó, còn bao bọc nó thì mình còn nguy hiểm, còn tai họa, còn những mầm mống của phản phúc, phản trắc, lật lọng, những mầm mống của vô ơn, bội nghĩa, vong ơn, những mầm mống của bất kính, vô lễ, những mầm móng của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, của những loài bàng sanh.
Cho nên hai chữ tâm hiền đó mà mình học suốt đời, tâm hiền mà thành tựu là thành bậc hiền trí cũng là bậc hiền thánh trong Phật giáo. Thành ra phải nhìn ra được hết những cái tâm, tất cả mọi cử chỉ, hành vi, ngôn ngữ, lời nói, thậm chí tiếng nói chuyện trong điện thoại hay cách nhắn tin cũng phải tu tập cái tâm hiền. Những cái này là những cái hạnh nhỏ mà rất là quan trọng, cho nên mình thấy những vị đức độ, ngay cả những vị hòa thượng mà mình đọc tin nhắn mình không có ngờ, ngài dạ, ngài thưa, cái đức càng lớn thì cái hạnh càng khiêm cung thành ra chúng ta phải cẩn thận, những cái tâm ghê gớm nhất là những cái tâm phản phúc, những cái tâm lật lọng, những cái tâm vô ơn bội nghĩa đó là phải diệt tận, diệt tận, diệt tận, không cho nó xanh khởi một suy nghĩ lên.
Chính vì vậy cho nên tại sao hiền mà lại bi, trí, dũng? Tại sao cái tâm hiền mà lại có trí tuệ, có cái sự dũng mãnh trong đó? Chính là cái diệt tận đó là dũng lực, hùng lực. Nếu mà không có sức mạnh ở bên trong làm sao mình diệt được những cái đó? Nếu không diệt những cái đó thì làm sao thành tựu tâm hiền, thành tựu tâm từ, thành tựu một cái tâm khả ái, dễ thương? Trong kinh Nikāya thường sử dụng một Tỳ-kheo khả ái, hiền hòa, từ ái cho nên cái như lý tác ý đó là một cái thần lực, một sự dũng mãnh của người tu là phải mạnh mẽ, oai hùng, phải hung hăng, dữ tợn, ở trong tâm mình phải là một sức mạnh thẳng tay sát phạt những cái suy nghĩ ác và bất thiện pháp đó, những cái dục, bản ngã, hướng ngoại là phải diệt tận, thẳng tay sát phạt nó không có thương tiếc, chặt nó, chém nó, bằm nó ra, nghiền nát nó ra thành tro, thành bụi, thành mây, thành khói, thành hư không thì từ từ mới trở thành con người hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền đức, cho tới một mức là tự động ở trong những cái suy nghĩ là hiền lành, không thể suy nghĩ những cái suy nghĩ hung ác được.
Mình được nuôi dưỡng, được huân tập, được huấn luyện, được giáo dục, được dạy dỗ trong từng ý nghĩ, từng cảm thọ, từng suy tư, bằng không còn những cái mầm móng trong đó thì bữa nào nó lật ngược lại, thầy trò thành kẻ thù, huynh đệ trở thành oan gia. Chúng ta thấy không, ngoài đời cha con, mẹ con xử với nhau, vợ chồng giết hại lẫn nhau, phân xác nhau. Khủng khiếp không? Đó chính là tâm hiền thiện nó mất đạo đức nhân nghĩa, nó tan vỡ và chính hơn bao giờ hết trong cái giai đoạn này là cái giai đoạn mình đề xướng, mình tuyên truyền, thuyết giảng, phổ biến, khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn, học tập, thực tập cái tâm hiền thiện này mới cứu rỗi được thế giới, cứu rỗi được hành tinh, cứu rỗi được trái đất. Mất đi cái tâm hiền thiện nên bây giờ tràn ngập thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, cướp giật.
Bây giờ ở thành phố người ta sống trong lo sợ, trong hoảng sợ, không phải dịch bệnh không mà bây giờ nó dùng những cái đạn sắt bắn những cái nhà kính. Bây giờ tao sống hồi hộp không phải một chỗ rất là nhiều chỗ, cái gì cũng bị giật hết, ngồi ngay trước nhà cầm điện thoại mà nó chạy ngang giật, rồi nó lôi nó kéo, rồi đập đầu xuống, nó không còn nhân nghĩa đạo đức, nó không còn lương tâm, nó không còn một cái gì nữa hết, đó là những cái tiếng báo động vĩ đại to lớn. Chúng ta tu tập, thuyết giảng, chia sẻ rộng rãi, khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn tu học cái tâm hiền thiện này, tâm hiền lành này mới có thể cứu mình, cứu người, cứu rỗi hành tinh, thế giới, nhân loại, chúng sanh. Thật sự là lo lắng!
Ngay cả người tu mà không có hiền thì cái người không tu thì làm sao? Những người xuất gia mà không có hiền thiện thì những người tại gia, những người không biết tu thì sao? Người xuất gia mà không có cái tâm lành, không có cái tâm từ thì những cái người thế gian như thế nào? Nó sẽ đẩy thiên hạ đến đại loạn, năm giới không còn, ác pháp sẽ sung mãn, nó bao trùm hết thế giới này, chúng sanh chìm ngập ở trong cái khổ hận, trong những cái ác tâm, những hại tâm, những cái tâm sát hại, hung dữ, tàn độc, tàn ác.
Cho nên chúng ta phải tu tập tâm hiền, tu tập tâm từ, tu tập tâm bi, không phải chỉ nghe có một lần là xong, không phải mở bài tâm từ nghe là tu rồi mà hằng ngày, hằng giờ, hằng tuần, hằng tháng, hằng nhiều tháng, hằng nhiều nằm nhìn trong cái suy nghĩ của coi nó hiền chưa, nó còn dữ dằn không, nó còn sôi sục không, nó còn sừng sộ không, còn làm loạn trong đó không, nó nổi loạn trong đó không, có còn muốn hất tung, đổ văng hết không, hủy diệt không, cái tâm hung hăng, hung dữ, bản ngã sanh khởi lên là phải nhìn thấy là phải sợ hãi, là phải lo lắng, phải lo âu để nhiếp phục. Thật ra mình nhìn sâu nó nhiều lắm, nó vi tế lắm, mình ăn to nói lớn thì cái đó cũng không hiền, cảm giác bên trong không an tịnh, hiền thiện nên mới phát ra khẩu hành như vậy.
Chẳng hạn như giờ mình lại mình lấy cái chén, cái tô mà nó rổn rảng là nó không có tâm hiền, không có thực tập tâm thiện, không có thực tập an tịnh, lắng dịu. Mình làm một cái hành vi mà nó thô tháo đóng cửa cái rầm là không có tâm hiền, nói từng cái nhỏ nhiệm để mình nhìn thấy chứ không phải nói hiền đúng giờ lên ngồi đó rồi mở bài tâm hiền lên lúc đó mới tu tập tâm hiền. Mình đóng cửa cái rầm tức là không có an tịnh, không có lắng dịu, không có quán chiếu cảm thọ, những cái suy nghĩ trong đó coi nó có hiền không. Chẳng hạn như giờ sư huynh, hay là sư phụ, hay là quý thầy, hay là sư tỷ lo cho mình nên kêu mình đi tu mà lúc đó trong lòng mình chống đối "tôi tu tự tôi biết chứ nhắc nhở tôi làm gì" thì cái đó coi nó có hiền không, đó là kêu cái pháp lành. Được nhắc tưởng nhắc đi tu mà lúc đó rồi trong đầu mình có thấy thương sư tỷ, thương sư huynh, hay là thương sư phụ không, hay là đó mình bực?
Chẳng hạn như giờ mình đang buông lung phóng dật rồi sư phụ hay sư huynh, sư tỷ lại nhắc mình thì lúc đó mình coi mình có hiền ngoan, có biết ơn người nhắc mình không, hay lúc đó mình bực bội, bản ngã lên. Mình nhìn thấy từng cái nhỏ nhiệm, từng cử chỉ, hành vi, từng cái ngôn ngữ, hành động, từng cái suy nghĩ, ăn uống, đi đứng. Người có tâm hiền đi khác, người không có tâm hiền thì tướng khác, trong đó là một cái tướng đi bề thế, nghênh ngang, ta đây, tỏ dáng ra là một ông thầy, một sư cô, tỏ ra tướng đi ta là người ở đây lâu năm, ngược lại tướng đi khiêm hạ, khiêm cung, hiền thiện, nhu hòa là có tâm hiền trong đó.
Từ cái ăn uống, từ cái nói năng, từ cái đi đứng, từ cái cách hành xử, từ một cái câu kinh mình đọc thể hiện ra được cái cảm thọ mình trong đó. Đây là cái căn bản pháp, đây là cơ bản pháp, đây là nền tảng pháp, đây là gốc rễ của pháp nên mình thấy rõ ràng những người kế bên cạnh mình, đi làm việc chung, họ mới vừa sanh khởi những cái tâm sân hận lên, không có tâm từ tâm gì hết thì lập tức tai họa tới liền. Một cái tâm sân khởi lên là chướng nạn liền, tai họa tới liền, một cái tâm hung hăng, hung dữ sanh khởi lên là lập tức có chướng ngại, tai họa, trở ngại, nghiệp báo sanh khởi, nghiệp chướng sanh khởi, nghiệp quả sanh khởi. Chẳng hạn như sáng nay bất thình lình cho đại chúng ra ngoài trời ngồi thì mình có xem trong thọ; tưởng; hành của mình có chấp nhận học pháp không, có nghĩ sư phụ lúc nào cũng lo cho mình hết, sư phụ muốn cho mình được thay đổi, có hứng thú trong sự tu học, quan tâm tới đại chúng hay là mình suy nghĩ "giờ lại bắt ra ngoài phơi sương, phơi gió, phơi nắng nữa", đó là cái tâm hung dữ, cái tâm bất thiện, mình nhìn thấy nó.
Chính những cái nhận diện cảm thọ, những cái tưởng đó là nó nói lên trạng thái tâm của mình đang thường trú, thường trực ở trong cái trạng thái nào. Tại đây cái tâm thiền này nó vi tế, nó nhỏ nhiệm mình biết trú trên tâm hiền này nó tuyệt vời lắm, hoàn cảnh nào mình cũng bình an hết, trong trường hợp nào mình cũng cảm thấy thoải mái, nhẹ nhàng hết. Chẳng hạn như bây giờ tu bình thường chỉ có một tiếng hoặc một tiếng rưỡi thôi mà hôm nay nghe tu tới ba tiếng, nếu mà người không tu tâm hiền thì trong đó sợ hãi, bực bội "làm gì bắt ngồi dữ vậy? Bắt ngồi dữ vậy? Tu gì dữ vậy? Mệt mỏi quá rồi, vừa phải thôi", còn nếu mà người có tâm hiền thì "hôm nay may mắn quá vì được tu thêm".
Lang thang trong sanh tử,
Lành dữ chẳng tỏ tường,
Mượn nghiệp hiền, nghiệp thiện
Làm chỗ để náo nương
"Hôm nay mình có chỗ nương náo, nhờ thầy, nhờ sư huynh, nhờ sư tỷ, mình nương náo thêm được một tiếng đồng hồ trong các pháp lành, trong chánh pháp, trong thánh pháp", tác ý như vậy thì tự nhiên mình ngồi đó mà mình vui, thí dụ không vui đi nữa cũng không có bực, không có sân, không có chống đối, không có nổi loạn, không có bức xúc, không có cọc cằn, không có bực bội, không có nực nội, không có bức bối, đó cũng là tâm hiền. Cho nên có tâm hiền này rất tuyệt vời, trong hoàn cảnh nào cũng bình an, trong hoàn cảnh nào cũng dễ chịu, bây giờ nắng chiếu mà nó cũng vẫn hoan hỉ, đây là thiện pháp mà mình tập được rồi từ từ mình mới tập với cái pháp không thiện không ác. Khi mình tập được cái pháp không thiện không ác thì tới cái pháp ác bất thiện mình vẫn tập được, nó phải đi qua từng bước vậy đó.
Tức là bây giờ ngay khi ngồi nghe pháp, ngay khi ngồi thiền, ngay khi ngồi tu mà mình chịu không nổi, mình tập cái tâm hiền không được thì lúc bình thường là làm sao mình tu? Làm sao tập được tâm hiền? Lúc bình thường không tập tâm hiền thì tới lúc trái ý nghịch lòng, bị chỉ trích, bị mắng chửi, bị những hoàn cảnh bất thình lình, những cái tai họa, tai nạn thì làm sao mình an tịnh, lắng dịu? Chúng ta thấy nó có trình tự không? Cho nên nhiều khi lâu lâu Minh Thành muốn có những bài tập cho đại chúng chứ không phải tự nhiên đâu, không phải Minh Thành không biết rằng ngày đó là ngày nghỉ nhưng mà coi cái tâm hiền tới đâu, coi sức kham nhẫn tới đâu, coi cái tâm cầu đạo vì pháp tới đâu chứ không phải là tự nhiên đâu. Không lẽ giờ thầy bị gì rồi sao, đó là bài tập để đo lường cái tâm của người tu học ở mức độ nào, cái độ cung kính, kính pháp, cái độ vì pháp, cái độ quên thân, cái độ hiền thiện, cái độ lắng dịu, cái độ chấp nhận học pháp, tùy thuận pháp ở mức độ nào.
V. Thử thách trong tu tập
Bây giờ nắng chút chịu không nổi, lạnh chút chịu không nổi rồi làm sao tu? Làm sao gọi là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, xả ngã để chứng nhập vô ngã? Cho nên những người không biết tu vô bếp làm một hồi là bực lên, quạu quọ lên, tuy là họ thích làm nhưng làm mệt lên ai vô nói gì là họ sực lại, đó là họ không có tu tâm hiền. Bây giờ mình người tu cũng vậy, làm việc nhiều là mình quạu, mình phải khác, mình phải rèn luyện cái tâm của mình, người đời làm gì một chút là họ lăng xăng, luýnh quýnh hết lên rồi mình cũng vậy hay sao. Đó là những cái đo lường đó, những cái khác thường đó, những cái thành tựu của người tu là trong chỗ rộn ràng mình tập sống không rộn ràng, trong cái chỗ bực bội mình sống với cái tâm mát dịu, trong cái chỗ hoảng loạn mình sống với tâm định tĩnh, trong cái chỗ bất an mình sống với tâm bình an, trong cái chỗ mà mọi người chống đối, phản loạn mình sống với cái tâm hiền hòa.
Nhưng mà đâu phải làm hoài đâu, lâu lâu thì mình mới tập tới, thí dụ mình luyện công sáu ngày hay năm ngày thì mình được nghỉ năm-sáu ngày chứ đâu phải làm luôn một tháng đâu. Bây giờ có làm luôn một tháng đi nữa mình cảm ơn vì trong khóa tu là mình học sáng học chiều, còn cái này chỉ học có một buổi thôi. Giả sử như được như vậy thì ngày nào cũng là khóa tu hết thì mình dập đầu lạy thầy quản chúng, lạy những người tạo ra cơ hội cho mình được tu học nhiều chứ tại sao lại bực? Người ta thương mình, người ta giúp cho mình được tu học nhiều thì tại sao mình lại khó chịu? Đây là cái tâm cứng đầu phải không? Nếu mà mình không có huấn luyện, không có mạnh tay như vậy thì xin thưa với đại chúng là không bao giờ thay đổi lớn được đâu, phải có một cái cuộc cách mạng nội tâm, phải có một cuộc lật đổ các tập khí cứng đầu cứng cổ, ươn ngạnh, phải có một cái cuộc thay đổi lớn ở trong tâm mình, phải thẳng tay với nó, mạnh tay với nó, hạ sát, truy sát, thậm chí là những cái gì nhỏ nhỏ mình phải moi móc ra, tại sao nó suy nghĩ như vậy.
Giờ thiền của mình là giờ giải phẫu chứ không phải ngồi đó nhắm mắt thở vô thở ra là xong, mình phải xem thầm ý tại sao lại nghĩ như vậy, mình xem sâu sắc ở dưới cái cảm thọ gì vậy, cái tưởng gì vậy, mình moi từ từ ra để xử nó. Như vậy mới đào bới cái gốc rễ, còn không là cứ phất phất ở trên mặt rồi suốt đời của mình là buông lung phóng dật, là bản ngã, là ta đây, là hơn thua, là cống cao, là ngã mạn, là hưởng nhàn, là muốn cho êm ái, là muốn đi theo cái ái, cái dục, cái gì có cảm thọ khó chịu một chút là không chịu, muốn chống đối, muốn được yên thân, muốn cho nó êm ái, muốn cho nó nhàn hạ, muốn cho sống qua ngày đoạn tháng. Thái tử Tất-đạt-đa ngày xưa là một bậc cao quý mà ngài bỏ hết đi vào rừng ở thì làm sao chịu đựng nổi? Không có cơm ăn mà ăn trái cây, ăn hạt mè cho đến chạm tới đâu trên người đều đụng vào xương với da, nếu không có một sự quyết tâm mạnh mẽ để quay trở lại thanh lọc, để triệt hạ, để làm một cuộc cách mạng thay đổi vĩ đại ở bên trong thì làm sao chúng ta tu tiến được, làm sao tăng thượng đạo đức, tăng thượng tâm tánh, tăng thượng thiền định, tăng thượng sự an tịnh tăng thượng, cái trí tuệ cái thấy biết của mình.
VI. Nội quán và thay đổi nội tâm
Phải làm cho nó nhức nhói, phải cắt ra, xẻ ra, móc ra, nó đau nhức cũng phải dám, nước mắt ràng rụa đầy mặt cũng phải làm, chứ không phải sống an an ổn ổn, lơ lơ lửng lửng, sống như lục bình trôi sông qua ngày đoạn tháng thì cuộc đời tu mình tới đâu? Mình đi tìm chỗ nào yên ổn để ở đi, phải dám giải phẫu. cắt cái khối u đó ra, móc khối u đó ra thì chúng ta mới thấy được nó tuyệt vời lắm, mình thay đổi từng ngày, từng tháng, từng năm, mình thay đổi, mình tiến bộ, mình phát triển, mình tăng thượng, mình hướng thượng thì từ từ mình có chỗ đứng ở trong pháp và luật này.
Cô Thanh Tuyền: Mô Phật, con tên là Thanh Tuyền, con kính chào thầy và đại chúng. Do đủ duyên lành con lên đây thăm cô Nhân nên con được lên đây lần đầu tiên, sau khi được tham dự các lần chung với đại chúng và sáng hôm nay con được nghe những bài pháp thoại của thầy, con vô cùng hoan hỉ. Được đến đây con thấy không cảnh nơi này, núi rừng vô cùng im ả và bình yên, con thấy rất là tuyệt vời. Ngày Hôm Qua khi mà đi lên núi, đoạn đường đi rất là khó khăn vậy mà nơi đây thầy xây được một cái tùng lâm như thế này, con vô cùng tri ân quý thầy và cuộc sống ở đây mọi người sống vô cùng an lạc. Con cảm thấy quý mến ở đây, con cũng hi vọng là đủ duyên lành con được tới đây để cùng tham gia tu tập với mọi người ở đây ạ.
Với bài pháp tâm hiền con thấy hình như là con không có hiền, con thấy hình như là mình phải vào một cái khuôn khổ nào đó để làm việc theo trình tự thì con thấy mình lại muốn làm khác đi chứ không phải mình muốn làm theo cái trình tự mình đã vạch sẵn ở trong đầu của mình. Khi làm cái việc này thì tự nhiên trong tâm mình nó lại phát khởi muốn làm cái việc khác, từ đó mình cảm thấy là mình không có tập trung với công việc của mình. Chắc con xin hết bởi vì con chưa có suy nghĩ sâu sắc hơn chắc, con xin hết thưa thầy.
Cô Hoa Sen: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con xin kính bạch sư phụ, con xin kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các vị hiền trí. Con pháp danh là Hoa Sen, kính thưa quý thầy, hôm nay có duyên lành con được nghe bài giảng pháp của sư phụ về tu tập tâm hiền, trước khi lên tu tập tại chùa thì con cũng đã tu tập nhiều năm, con nghĩ là mình cũng đã hiền lắm rồi nhưng khi con được theo sư phụ, theo các quý thầy, quý cô trên núi tu tập thì con mới biết là mình còn rất là hung dữ. Mặc dù sự biểu hiện ra bên ngoài của con thì mọi người nhìn thấy con có vẻ rất là ngoan hiền nhưng sự chống đối ở bên trong con thì thật sự là rất là hung dữ, không có ngoan hiền chút nào ạ. Hôm nay con được nghe sư phụ giảng về bài pháp tu tập tâm hiền thì con xin phép thầy và toàn thể đại chúng là con đưa ra hai ví dụ về cái tâm không hiền của con ạ.
Thưa thầy ví dụ thứ nhất là khi con lên chùa được mấy ngày thì có được sư Quý thông báo là con buổi tối đi sang bên thư viện để nghe thầy Pháp Lực dạy pháp. Khi đó con có đi qua bên đấy cùng với một số cách các vị hiền trí nghe thầy Pháp Lực dạy pháp, có quý sư cũng đi qua nhưng mà con cũng không biết đấy là quý sư mà con chỉ nghĩ chắc là một sư cô nào đó. Khi đó thì con ngồi xa xa một chút thì quý sư có nói con là ngồi gần vô cho đúng cái vòng, khi đó trong tâm con thấy hơi hơi khó chịu và con nói để từ từ, khi nào thầy đến xem thầy ngồi ở chỗ nào đã rồi mình ngồi cho đúng. Khi đấy con nghĩ là con nói như vậy là đúng, con nhìn qua quý sư thì con thấy ánh mắt của quý sư nhìn con và từ hôm đó cho tới một tuần sau mỗi một lần trong cái tưởng của con nhớ lại hình bóng ánh mắt của quý sư là con tự nhiên con thấy rất là sợ, mỗi lần con nhìn thấy quý sư là con né qua một bên, con không dám đi mà cũng không dám tới gần, cũng không dám chào quý sư một tiếng.
Sau một tuần thì có một nhân duyên là hôm đó con ngồi thọ thực cùng với đại chúng tại Ni xá, hôm đó không hiểu vì sao mọi người đều ăn xong rồi đứng dậy đi hết, chỉ còn lại mấy quý sư mà trước khi ngồi xuống thọ thực con lại nhìn thẳng về quý sư, con bắt gặp lại đúng với ánh mắt đó, hôm đó trong suốt cả buổi thọ thực là trong cái cảm thọ của con có cái cảm giác rất là lạ, nó không khó chịu mà cũng không dễ chịu mà nó có một cái gì đó con không nhận ra, nhưng mà sau khi mọi người đều thọ thực xong hết rồi đứng dậy đi thì còn lại con với quý sư ở ở lại, khi con không còn cảm giác sợ nữa con quyết định là con ngồi lại.
Trong cái ý hành của con có suy nghĩ là hôm nay nhất định phải dừng lại, phải ngồi lại ăn cùng với quý sư chứ mình không đứng dậy đi nữa, không sợ nữa và sau đó trong ý hành của con có lời nói thì thầm, cái suy nghĩ như vậy thì trong cảm thọ của con cảm nhận được cái tâm từ của quý sư truyền tới nơi con, trong cảm thọ có cái cảm giác rất là dễ chịu, mát mẻ. Từ hôm đó trở đi thì con nhìn thấy ánh mắt của quý sư con không còn thấy sợ nữa, con không còn né tránh quý sư nữa, khi con nhìn thấy quý sư con muốn chào quý sư, mỗi lần như vậy con rất muốn quý sư nói với con một điều gì đó hay dạy bảo con một điều gì đó. Thưa thầy là con cũng chưa nhận thức được là con đã tu được tâm hiền một chút nào chưa.
Còn ví dụ thứ hai là khi con đi khất thực, hết bình bát, không còn bình bát nào nữa thì có một sư cô nói với con là lấy cái bình bát đen. Nếu như nó không có tên của ai thì có thể mình lấy mang đi khất thực được, khi đấy con tìm một cái bình bát đen không có tên và nó bị một vết nứt ở bên trong, từ hôm đấy con mang cái bình bát đó đi khất thực thì con cũng không nghe thấy quý sư hay trong đại chúng có ai nhắc nhở gì thì con nghĩ cũng không có vấn đề gì. Nhưng được cỡ khoảng bốn năm hôm thì con đang ngồi ăn ở cũng ở dưới Tinh Xá, có bạn đồng đạo là một cô Phật tử tới nhắc nhở con là cái bình bát đó là của quý sư, tại sao mình lại lấy để ăn như vậy, không được phép như vậy thì khi đấy trong cảm thọ của con cũng có cảm giác hơi khó chịu vì tại sao không ai nhắc nhở mà bạn đồng đạo lại nhắc nhở như vậy.
Con nhận biết trong cảm thọ có cảm giác hơi khó chịu thì con cũng không nói lại gì hết, con cố ngồi ăn xong thì trong tưởng uẩn của con luôn có hình bóng bạn đồng đạo, trong cảm thọ còn cảm giác hơi khó chịu, trong tưởng uẩn còn hình bóng và lời nói của bạn đồng đạo đó, trong hành uẩn của con có suy nghĩ tại sao sư cô nói mình mang bình bát này đi không ai nói gì mà sao hôm nay bạn này mới lên mấy ngày mà nhắc mình hoài. Trong thức uẩn của con nhận thức được rõ thọ; tưởng; hành như vậy thì con dùng câu tác ý và con đã tác ý là mình lên đây để tu, mà tu là sư phụ dạy là để nhàm chán cái xác thân này, tu để được giải thoát khỏi những cái khổ này, tại sao cái tâm mình lại dính mắc vào cái bình bát này, bạn nhắc như vậy là cơ hội tốt để cho mình tu, tại sao cái tâm mình lại dính mắc bình bát này mà lại đi cảm thấy khó chịu, nổi cái tâm bực bội với bạn.
Khi con nghĩ như vậy xong thì con ăn xong thì con đứng dậy, con đi tới tìm bạn đó và con có mời bạn đó ra nói chuyện với bạn, con cũng có trình bày với bạn là cái bình bát đó là do sư cô chỉ cho con đấy dùng từ bữa đó. Trong cảm thọ của con khi con nói chuyện với bạn thì con thấy có cảm giác dễ chịu, hài hòa, không còn cảm giác khó chịu, bực bội nữa và lời nói của con khi nói cũng nhẹ nhàng hơn, con mỉm cười với bạn và bạn cũng rất là hoan hỉ với con. Những lúc sau trở đi con nhìn thấy bạn thì con không có cảm giác khó chịu, cũng không có thấy xa lánh hay là gì cả. Con xin thưa với thầy là trong cảm thọ của con như vậy và trong cái hành uẩn con suy nghĩ như vậy ạ. Con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
VII. Trình pháp
Thầy Thiện Huệ: Trong sự tu học của mình cái bước đầu căn bản phải tập được cái cảm thọ bên trong có sự an tịnh, lắng dịu và dễ chịu. Quý thầy, quý cô trên đây ai cũng dễ chịu, ai cũng hiền thiện hết, đâu có gì đâu mà mình phải sợ, nhiều khi trong cái tưởng tượng của mình nghĩ không dám nhìn quý sư cô, quý thầy vì sợ bị nói, bị la hay bị nhắc nhở gì đó cho nên bước đầu mình phải trở về thực tập mọi cái đi đứng, oai nghi của mình phải đưa tâm hiền vào hết. Từ cái nói năng, cái đi đứng, cái thao tác phải tập có cái sự lắng dịu, trầm tĩnh, bình tĩnh, an tịnh, thực tập cảm thọ cho nó điềm đạm, trầm lắng. Cái tâm mình có sự định tĩnh, có sự nhẹ nhàng thì những cái tác động bên ngoài không có ảnh hưởng mình nhiều, tại vì mình tu tập tâm hiền là để làm cho các cảm thọ khó chịu, bức xúc, bực bội lắng dịu xuống kết hợp thêm tâm mình có sức mà định tĩnh thì những cái gì bên ngoài tác động nó không đủ sức để nó quật ngược lại mình.
Cũng giống như sư phụ hay ví dụ tu cái tâm mình có sự mát mẻ giống như một cái hồ nước mà chiều dài hàng trăm mét, bề rộng, bề ngang hàng trăm, hàng ngàn km, ở trong đó là sen, nước xanh trong, sạch đẹp, mát ngọt, dù cho ai có quăng đống lửa nhỏ vô cũng không ảnh hưởng gì tới hồ nước cả. Cái tâm mình cũng vậy, cho nên đại chúng thấy Linh Quy mình có cần xài máy lạnh không? Đâu có xài máy lạnh đâu tại vì ai cũng có cái máy lạnh hết rồi, quý thầy, quý cô, đại chúng ở đây trong người ai cũng có cái máy lạnh hết, cái máy lạnh đó là cái sự nhẹ nhàng, sự an tịnh, lắng dịu, trầm lặng, rồi cái tâm hiền thiện của đại chúng. Cho nên giai đoạn đầu cô cố gắng thực tập tâm hiền cho nhiều, ứng dụng trong mọi cái oai nghi, đi đứng, nói năng, hành động của mình, thực tập cảm thọ cho nó an tịnh, lắng dịu, thời gian cô sẽ cảm nhận được rất là cái lợi lạc, lợi ích, cái tâm hiền của mình sẽ có sự tiến bộ rất là nhanh.
Cô Diệu Chánh
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính chào quý thầy, con kính thưa quý Ni sư, quý sư cô và các bạn đồng hương. Con tên là Phật tử Diệu Chánh.
Thầy Thiện Huệ: Cô cứ hít thở vào ra, hướng tâm chỗ lồng ngực tác ý kêu nó an tịnh, lắng dịu. Hôm nay cô về đây tu học được những gì?
Cô Diệu Chánh: Thưa thầy ngày đầu con bước chân lên trên đây rất là cảm động. Thấy những cảnh khác lạ với bên ngoài với nước ngoài mà con đã đi qua, con rất cố gắng cho bản thân mình để mà học hỏi theo quý thầy, quý Ni sư, những lời chỉ dạy của quý thầy con nghe, con hiểu nhưng con lại không trình bày được. Con rất giận bản thân mình, khi con ngồi thiền con bị cái chân nó nhức, tôi không ngồi yên được, con ráng cố gắng luyện những lời của thầy giảng, con học hỏi được nơi thầy rất nhiều. Lúc ngồi ở bên ngoài con không có hiểu được cái nào là tham, sân, si.
Thầy Thiện Huệ: Hôm nay cô về đây cô có nhận diện được ngũ uẩn chưa?
Cô Diệu Chánh: Dạ mô Phật, con có nhận diện được nhưng hơi chậm thưa thầy.
Thầy Thiện Huệ: Cô nhận diện ngũ uẩn ngay trong lúc này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình như thế nào?
Cô Diệu Chánh: Hình bóng quý thầy chỉ dạy cho con.
Thầy Thiện Huệ: Hình bóng là gì?
Cô Diệu Chánh: Dạ mô Phật, hình bóng là tưởng ạ. Lòng con rất cảm động khi nghe những lời pháp của quý thầy dạy.
Thầy Thiện Huệ: Dạ được rồi, con cám ơn cô. Mời cô ngồi phía sau cô Hiền Thục.
Cô Phật tử
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ. con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các bậc hiền trí. Dạ con xin trình pháp, con nghe được bài pháp sư phụ giảng sáng hôm nay, con thấy thiệt là xấu hổ, xấu hổ với hổ thẹn quá vì tâm con còn rất hung dữ, hung hăng, bản ngã, tham, sân, si, dục ái giẫy đầy. Ý hành cũng có suy nghĩ sẽ tu tập tâm hiền, nhìn lại cảm thọ, chánh niệm tỉnh giác trong từng phút giây khi ở đây và khi về nhà con nhìn cảm thọ nào nó nổi lên, con cũng có ý hành là nghe lời sư phụ là sẽ chặt nó, bằm nó, diệt tận nó, không cho nó mọc trở lại nữa. Con cũng hướng đến diệt tận nó để được an trú tâm hiền thiện, như hạnh ngài Xá-lợi-phất an trú tâm như nùi giẻ rách.
Dạ con cũng nguyện hứa sẽ làm, sẽ thực hành, sẽ đạt được đến điều đó, con xin cảm ơn sư phụ, cảm ơn quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng đã tạo dựng ngôi nhà từ bi này để con có chỗ đến đây, nhìn thấy rõ thân tâm mình và được ăn những bữa ăn trong sạch, nhìn thấy rõ được những bữa ăn của Đức Phật, không phải ăn thô tháo như người mình ăn bên ngoài, con hết sức cảm ơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
VIII. Giữ tâm ban đầu và tâm hiền
Thầy Thiện Huệ: Con kính thưa đại chúng, chúng ta đừng quên cái tâm ban đầu, nhất là những vị mới đến tu vào vòng pháp này, trong kinh Tăng Chi Bộ Đức Phật dạy chúng ta hãy sống an trú cái tâm như là một cô dâu mới về nhà chồng. Tức là cái tâm từ buổi ban đầu khi cô dâu này mới đến nhà chồng là rất là e dè, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, sợ hãi trước mặt cha chồng, sợ hãi trước mặt chồng, thậm chí cho đến những người làm công phục vụ ở trong gia đình, cô dâu này rất là sợ nhưng sau một thời gian ở gần gũi, sống chung, thân cận qua lại, cái tâm cô dâu này lờm đi, mất đi cái tâm ban đầu, quay trở lại xem thường cha mẹ chồng, xem thường chồng của mình, xem thường những người giúp việc trong gia đình "các người hãy đi đi, các người có biết được cái gì".
Qua cái hình ảnh đó nhắc nhở chúng ta phải giữ được cái tâm ban đầu khi mình gặp quý thầy, quý cô, mình đến đạo tràng cái tâm của mình lúc ban đầu như thế nào. Dù mình ở trong đạo tràng, trong chùa ba năm, năm năm, mười năm mình cũng phải vẫn giữ được cái tâm ban đầu, đó là một cái tâm cung kính, cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, cái tâm rụt rè, nhúng nhường, e dè. Hãy giữ được cái tâm đó thì đó cũng là một cái tâm hiền với một góc độ, khía cạnh của tâm hiền tại vì nội tâm mình có sự hiền thiện bên trong thì nó biểu hiện bên ngoài lúc nào mình cũng khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm nhường, khiêm hạ, hạ thấp mình xuống. Còn bên trong tâm mình hung dữ, bản ngã, ta đây thì cái tâm đó không phải là tâm hiền thiện, cái tâm nó đi đâu rồi cũng không có hòa hợp được với ai cả, chính vì mình có tâm hiền thì mình đi bất cứ đạo tràng, bất cứ nơi nào, mình ở nơi đâu, ở một tập thể nào thì mình cũng đều có một sự hòa hợp, hòa đồng, hòa ái với mọi người.
Mình đi đâu mà mình có được cái tâm hiền thiện như vậy thì ai cũng thương, ai cũng quý, ai cũng mến mình hết. Cho nên tại sao Linh Quy sư phụ hay đặt pháp danh cho các vị là hai chữ Hiền Trí, cái tâm hiền thiện và trí tuệ để nhìn lại thân tâm của mình nhiếp phục các cảm thọ tham muốn, nóng giận, bực bội, bức xúc, khó chịu, cảm giác ta đây, cống cao ngã mạn, đó là cái tâm hiền trí. Bên cạnh mình tu tâm hiền thì mình có trí tuệ nhìn lại ngũ uẩn của mình để nhiếp phục nếu có cảm giác thúc giục, nóng giận, bản ngã bên trong. Cho nên con mong đại chúng chúng ta lúc nào cũng phải nhớ giữ cái tâm ban đầu rất quan trọng, cái tâm của một cô dâu mới về nhà chồng, mình có được cái tâm đó thì mình đi đâu thầy thương bạn kính, đi đâu ai cũng giúp đỡ, ai cũng mở lòng ra với mình, mình tiếp xúc với bất kỳ ai đi nữa, cái từ trường, n năng lượng của mình nó lan tỏa ra một sự mát mẻ, người ta gần mình cảm thấy được sự cái bình an.
Mình tu phải trở thành máy điều hòa chứ đừng có trở thành cái bếp ga, nó nóng, người ta đi xa hết. Đại chúng chịu mình tu thành cái máy điều hòa không? Chịu máy điều hòa là phải tu tâm hiền, lan tỏa cái từ trường mát mẻ, ai cũng được hưởng cái từ trường mát lạnh, mát mẻ, chúng ta cố gắng lên.
Tâm hiền này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm hiền này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.