Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thứ Tự Tu Tập 2 - Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ

2026-03-03 00:55:56
Kinh Nikāya Giảng Giải

Thứ Tự Tu Tập 2

Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nội quán tự thân PAGEREF _Toc183015446 \h 1

II. Quán chiếu ngũ uẩn PAGEREF _Toc183015447 \h 6

I. Nội quán tự thân

"Này Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: Hãy đến Tỳ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: 'Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn'". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Một người chân tu, một người thật sự tinh cần, tinh tấn thì người này sẽ thường xuyên nhận diện ngũ uẩn đúng theo tinh thần Đức Phật dạy. Một người tha thiết trong sự tu, có tâm hướng thượng, có ý chí cầu giải thoát thì người này luôn quay trở lại để quán sát thân tâm trong mọi lúc mọi nơi, người này không hướng ngoại cho nên cái quan trọng trong đời tu chúng ta là phải diệt tâm hướng ngoại vì nếu không diệt tâm này là tu không được. Thế nào là tâm hướng ngoại?

Là con mắt luôn tìm sắc để nhìn, lỗ tai mình luôn tìm âm thanh để nghe, mũi kiếm mùi và lưỡi kiếm vị, thân kiếm sự xúc chạm còn ý của mình luôn duyên với pháp là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác thọ; tưởng; hành, nó không chịu lắng yên. Chẳng hạn mình đang ngồi học mà nghe tiếng chó sủa là quay ra nhìn xem coi nó sủa ai thì đó là tâm hướng ngoại, còn với một người có sự định tĩnh, có sự hộ trì thì có nghe tiếng chó sủa người này vẫn ngồi bình thường, nhiếp phục, chế ngự sự dao động của các căn, không để tâm mình tự tung tự tác, có sự chế ngự trên thân tâm.

Bất thình lình nghe tiếng còi xe cấp cứu hú hay tiếng động lớn bên ngoài là lập tức mình quay ra nhìn liền thì đó là tâm hướng ngoại, không có sự nhiếp phục, chế ngự, không có thu thúc lục căn, đó là những căn bản, đức hạnh của một người xuất gia cho nên tâm hướng ngoại rất thích đi du lịch, thích đi chỗ này chỗ kia, ở yên chịu không được, thích làm cái này cái nọ mà không chịu làm cái cần làm, vì thế câu nói mang tính chất tuyên ngôn độc lập của bậc Thánh là "việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa". Việc cần làm là đoạn tận tham, sân, si, bản ngã, đoạn tận dục ái, đoạn tận vô minh, khát ái và chấp thủ đối với ngũ uẩn, đó là bổn phận sự của người xuất gia, đó là việc gốc, việc căn bản, việc quan trọng, việc phải làm, việc cần làm, việc nên làm, việc mình phải hoàn thành.

Người này diệt tâm hướng ngoại là phải nội quán, hướng nội, nội soi, nội chiếu, nội tĩnh. Người này lúc nào cũng quay trở lại nhìn thân, thọ, tâm, pháp hoặc là nhìn năm uẩn, nói đơn giản là nhìn thọ; tưởng; hành. Nhìn trong cảm thọ của mình có sự thúc giục không, có tham không, khi thấy món đồ đẹp, thấy cảnh đẹp, thấy người đẹp có ham thích không, nếu có ham thích thì nguyên nhân gì làm cho khởi lên cái tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp thì chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn.

Khi con mắt tiếp xúc sanh ra thọ do nhãn xúc sanh, sau đó có sắc tưởng, sắc tư là hình bóng của đồ vật, của người, của cảnh vật mà mình tiếp xúc hiện khởi trở lại trong tâm mình gọi là sắc tưởng, mình suy nghĩ về nó gọi là sắc tư. Khi mình không còn tiếp xúc nữa mà khi trở về ở một mình trong phòng nhưng hình bóng đó cứ hiện ra là sắc tưởng, suy nghĩ về hình bóng đó là sắc tư, cái sắc tưởng, sắc tư đó vẫn xâm chiếm tâm mình, chỗ này mới ghê gớm, tức là mình không còn gặp người đó nữa, không còn thấy món đồ, cảnh vật đó nữa nhưng hình bóng của con người, món đồ, cảnh trí đó vẫn làm mình yêu thích. Chúng ta phải thấy được nguyên nhân gì mà con mắt này, lỗ tai, lỗ mũi, cái thân và ý sanh khởi lên sự yêu thích hay khó chịu, buồn bực thì mình phải chế ngự nguyên nhân đó.

Khi gặp mà sanh ra tham, sân, dục, ái là đúng rồi nhưng không gặp nữa, mình trở về trong phòng, trong chùa, trong tịnh thất, ngồi một mình mà hình bóng đó vẫn hiện khởi lên là sắc tưởng, sắc tư này xâm chiếm tâm chúng ta. Trong kinh Nikāya dùng từ xâm chiếm tâm, nó ám ảnh, áp đảo mình, ám ảnh là hình bóng đó cứ chập chờn trong tâm, do thích xe, ham xe, muốn có chiếc xe đó nên hình bóng chiếc xe cứ chập chờn trong tâm, đến nỗi khi ngủ cũng nằm chiêm bao thấy xe, nói chuyện một hồi cũng nói về xe, suy nghĩ một hồi là về cái xe cho nên bị cái xe đó ám ảnh và cái xe đó là sắc và sắc tưởng.

Bây giờ làm sao để nhiếp phục, chế ngự nó? Mình phải quán nó là tứ đại, là vô thường, là duyên sanh, là tan hoại, dùng như lý tác ý đập phá hình ảnh đó, mình giải phá hình ảnh đó, mình giải phóng hình ảnh đó khỏi tâm mình, không cho hình ảnh đó xâm chiếm tâm mình nữa, mình nói "đây là thứ vô thường, thứ tan hoại, đây là thứ làm mình mất thời gian tu học mà suốt ngày cứ nghĩ về xe, nói về xe. Mày đi chỗ khác chơi để tao tu, hình bóng xe này hãy tan biến khỏi tâm ta hoàn toàn thành mây, thành khói, thành hư không đi", đó chính là như lý tác ý, là chánh tư duy, là Thánh tư duy, là suy nghĩ đúng, là chánh quán. Đối với con người, cảnh vật cũng vậy thôi, cứ bị ám ảnh bởi hình bóng một người dưng xa lạ, thấy người ta cười rồi về nhà mình cũng cười một mình, đó là mình bị sắc ám ảnh, sau khi bị sắc ám ảnh thì về nhà mình bị sắc tưởng, sắc tư.

Mình bị ám ảnh như vậy mà mình không phát giác, phát hiện ra, không nhìn thấy tai họa và hiểm nguy của nó mà mình nhập cuộc chung với nó, mình bị cảm thọ xâm chiếm, áp đảo rồi bị sầu, bi, khổ, ưu, não, đó là mình không biết chế ngự những nguyên nhân làm cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên bên trong con người mình thì mình phải làm cho diệt tận những thứ đó. Khi con mắt thấy, lỗ tai nghe, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị đều làm cho mình ám ảnh trong đó, vài ngày sau vẫn còn thấy cái mùi đó quanh quẩn bên người thì đó là hương tưởng, mình suy nghĩ về mùi hương đó là hương tư, do vô minh, tham ái nên vẫn khoan khoái, ham thích.

Học pháp là phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những người có mắt có thể nhìn thấy sắc, mình vào toilet thải ra những thứ của mình mà còn bấm nút cho xả đi lập tức, còn nếu người khác để lại cho mình thì sân si, khó chịu lên, vậy mà cứ đam mê, khao khát, thèm khát rồi đau khổ, sầu bi, ưu não, bỏ ăn mất ngủ, tương tư rồi nhảy cầu, nhảy lầu, thắt cổ cho nên cái vô minh, tham ái, chấp thủ này rất khủng khiếp.

Trong Tứ Niệm Xứ Đức Phật phanh phui toàn bộ cơ thể này ra, trình bày cho mọi người thấy những thứ gì trong thân thể này. Để một thân thể hoàn chỉnh thì ai nhìn cũng hoan hỉ nhưng rạch một đường từ đỉnh đầu xuống bụng, lộ ra nội tạng bên trong thì chả ai dám nhìn nữa.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tim gan, máu, thịt xương

Phủ ngoài mỗi lớp da trơn láng

Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.

Phải quán chiếu để trí huệ đó thâm nhập, chứng nhập thì mới ly tham đối với thân xác này, mới giải thoát được. Bây giờ nhìn thấy lớp da phủ lên là mình quên hết rồi si mê điên đảo trong đó, khổ đâu, sầu bi, ưu não. Khi lưỡi nếm vị ngon là tham ăn suốt cuộc đời, đến già rồi vẫn còn tham ăn, đối với các xúc còn ghê hơn nữa, tiếp xúc rồi là tù tội, phá tan sự nghiệp, tan nhà nát cửa, tán gia bại sản, thân bại danh liệt, khi đã đụng chạm, sờ mó rồi là đau khổ vô cùng vô tận, luôn ở trong trạng thái khát khao, thèm thuồng, khát ái. Phải làm mọi cách để nhìn ra được những trí tuệ đó thì mới tu được, nếu không là gốc dục, gốc ái, gốc tham không thể bứng lên được vì nó rất cứng chắc trong vô lượng vô biên kiếp sanh tử vừa qua.

"Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị.. thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Ý căn là gì?

"-Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư". (Nghi thức tu học Nikāya)

Chúng ta ngồi một mình trong phòng thì để ý lại trong tâm của mình, nhớ lại hình bóng của người mình giận thì có hình bóng người đó hiện ra, có cảm giác khó chịu, có suy nghĩ về người đó, mình thấy bản thân có giận, sân, lúc đó mình rõ biết trong tâm mình có hình bóng, có cảm giác, hình bóng về người mình đang giận chính là thức. Khi mình để ý vào trong thì hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện ra, mình nhận thức được điều đó, sự có mặt của ba pháp này gọi là ý xúc, nghĩa là sự tiếp xúc của ý. Buổi sáng cãi nhau nên khi vào ngồi thiền thấy có cảm giác khó chịu, thấy có gương mặt người cãi hiện lên, có suy nghĩ bực bội "sao người đó vô duyên vậy, suốt ngày kiếm chuyện với mình", những điều này hiện lên trong tâm mình đều biết thì đó là ý thức, sự để ý vào bên trong là ý căn, còn những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó là pháp trần.

Căn – trần – thức tạo thành ý xúc, là sự tiếp xúc của ý, giống như con mắt nhìn thấy con người, có sự rõ biết người đó, ngay đó mắt là nhãn căn, người đó là sắc trần, sanh khởi sự rõ biết là nhãn thức, ba pháp này hội tụ, giao thoa, gặp gỡ thì gọi là sự tiếp xúc của con mắt gọi là nhãn xúc, khi tiếp xúc sẽ sanh ra thọ do nhãn xúc sanh. Khi đã có cảm thọ thương hoặc ghét hoặc là không thương cũng không ghét, chỉ thấy bình thường, đây là ba loại cảm giác sẽ tương ứng với tham, sân, si. Người mình thích thì mình thấy dễ thương là tham ái, còn nhìn thấy ghét là sân, người này nhìn không thấy thương cũng không ghét là si, là ngu, ngu vì không thấy bản chất tứ đại ngũ uẩn vô thường, 32 vật bất tịnh trong đó, không thấy bộ xương, không thấy ruột, gan, phèo, phổi mà thấy một con người, một tự ngã, thấy có một con người thật thì cái thấy đó là si, không đúng với chánh pháp.

Nếu định nghĩa si là con mới lờ đờ, buồn ngủ là phàm phu, không cần tu cũng biết, cái si đó là sơ cấp nhất. Mình đang ngồi đây nhưng vẫn có si như thường, các thầy các cô nhìn con mà thấy một con người, một tự ngã, một Thích Minh Thành, một giảng sư hoặc nhìn bản thân mình thấy có một con người thấp hơn hoặc cao hơn hoặc bằng thì cái nhìn đó là si mê, là vô minh, tà kiến và chấp ngã.

Cho nên khi giải thích si là con mắt lờ đờ, buồn ngủ là cái sơ cấp nhất, không cần tu cũng biết, cao cấp hơn là mình ăn, mình uống, mình nói chuyện bình thường nhưng lại ở trong si mê, vô minh, mình không thấy vô thường, không thấy khổ đau của ngũ uẩn này, mình không thấy bất tịnh. Bất cứ lúc nào mà mình không thấy cái thân năm uẩn này là vô thường, khổ đau, bất tịnh, vô ngã mà lại thấy có một cái tôi hiện hữu là lúc đó mình sống trong vô minh, tà kiến, chấp thủ, chấp ngã. Như vậy một ngày gần 99% mình sống trong si mê, trừ khi nào mình được nghe pháp, được tác ý về sự thật thì lúc đó mình mới nhớ một chút ngay đó thôi, còn lại mình đều quên hết.

Mình để ý vào bên trong nội tâm thì thấy có hình bóng người mình giận hiện lên, có suy nghĩ về người đó, có cảm giác khó chịu, sau đó mình rõ biết đang có thọ; tưởng; hành đó, ý tiếp xúc như vậy, có pháp tưởng, pháp tư là những cái đó sẽ vận hành trong tâm của mình. Sau khi có thọ; tưởng; hành số 1 thì sẽ có thọ; tưởng; hành số 2, số 3, số 4… trừ khi nào mình ngưng lại thì thôi, nếu không thì nó cứ tiếp tục sanh khởi như vậy cho nên gọi là chúng sanh, thọ; tưởng; hành thức cứ sanh khởi liên tục.

Nếu giận mà cứ sanh khởi liên tục thì ngày càng giận, càng thù, nếu yêu mà cứ sanh khởi những cảm thọ đó lại càng thương sâu đậm rồi đau khổ. Hận thù thì hình bóng đó cứ chập chờn ám ảnh, cảm thọ bực bội cứ tăng trưởng, những suy nghĩ sân hận cứ sanh khởi ra, mình nuôi lớn dần dần từ giận thành hận thành thù, sau đó là đánh nhau, đâm chém rồi tạo ra nghiệp, tất cả đều từ thọ; tưởng; hành. Nếu mình không biết chế ngự nó, những nguyên nhân làm sanh khởi là tham ái, sân si, ác bất thiện pháp mà không biết đoạn tận, tẩy sạch, diệt trừ nó bên trong thì nó làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não, nó tạo ra ác nghiệp, ác quả báo dị thục của nghiệp.

II. Quán chiếu ngũ uẩn

Người chân tu là lúc nào cũng quay lại nhìn thọ; tưởng; hành suốt ngày đêm, cứ để ý trong tâm đang có hình bóng gì, đang suy nghĩ cái gì, đang có hình bóng ai trong này, "mày có phải người tu hay không? Sao suốt ngày cứ nghĩ sân si, giận hờn hoài vậy? Có phải người tu hay không?" Mình hỏi như vậy, đó chính là sự tác ý cho nên đọc kinh mà không có sự giải thích thì không thể hiểu nổi cho nên con nghe Nikāya 15 năm vẫn không hiểu, có nghe sáng đêm cũng không hiểu nhưng khi gặp được bậc thành tựu trong pháp đưa cho mình chìa khóa mở cánh cửa nhận diện ngũ uẩn thì mình mới thấy, mới biết, nếu không nó vĩnh viễn là bí mật của Thánh trí huệ. Bây giờ tụng Bát Nhã tâm kinh mấy chục năm nhưng không biết được rõ ràng sắc; thọ; tưởng; hành; thức, "chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách", đọc làu làu nhưng hỏi thọ là gì, tưởng là gì, hành là gì đều không biết. Ngũ uẩn còn không biết thì làm sao chiếu kiến ngũ uẩn giai không? Mình chỉ biết tên tuổi thôi, còn mặt mũi, tánh tình, bản chất của nó mình không biết thì làm sao mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận?

Nhưng một khi làm chủ được ngũ uẩn là làm chủ được thân tâm, đó là sự tác ý đánh tan sự buồn ngủ, dã dượi, si mê, qua đây chúng ta thấy được Thánh trí huệ của Đức Phật không đơn giản như mình hiểu, chúng ta cũng thấy được sự chứng ngộ của Đức Phật thâm sâu đến mức độ nào. Đức Phật trình bày rõ ràng nó vận hành, an trú, sanh khởi ra sao, mô típ, cấu trúc, định lý của nó sanh khởi và đoạn diệt thế nào, ngài trình bày đầy đủ hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không phải đơn sơ như mình hiểu cứ lên đọc xong là tu rồi.

Mình chỉ đọc trong sự tưởng tượng chứ không thể thấy được thân tâm, mình không thấy được tham sanh khởi ra sao, nó cư trú ở đâu, nó hoạt động thế nào, sân sanh khởi thế nào, hang ổ của nó ở đâu, nó hoạt động, xâm chiếm, áp đảo thân tâm mình thế nào, nó làm cho mình đau khổ thế nào, mình cũng không biết si ra sao, nó cư trú ở đâu. Đây là tam độc, là ba con rắn độc, nó đã làm mình chết tức chết tưởi, chết trong vô lượng vô biên kiếp nhưng mình lại không biết nó nằm ở đâu. Phải truy nguyên nguồn gốc, tìm ra những gì làm cho mình đau khổ, mình phải vạch mặt tham, sân, si ra.

Bây giờ đi đánh giặc mà không biết giặc ở đâu thì làm sao đánh? Tham, sân, si là kẻ thù nội tâm trong vô lượng kiếp của mình vậy mà mình không biết nó ở đâu, mình chỉ mới biết tên tuổi của nó, ngoài ra mặt mũi, tánh tình, cơ cấu hoạt động của nó mình đều không biết thì làm sao mình có thể nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch hoàn toàn ba con rắn ác độc này? Học kinh Nikāya rất hứng thú, còn bình thường mình cứ bảo tham, sân, si là bình thường, làm sao diệt được tham, sân, si, nó không có hình tướng, nó là huyễn làm sao diệt thì đó là tà kiến. Nếu nó là huyễn thì tại sao nó xâm chiếm thân tâm mình? Nó là huyễn thì tại sao mình lại điên đảo, si mê với nó?

Mình nói rằng mình không dính mắc gì cả thì cái học đó không đúng chánh pháp cho nên mình không có khả năng nhìn thấy đúng được sự thật để diệt tận nguồn gốc của khổ đau, mình học nói lý không thôi, cái gì cũng không hết nhưng thấy tiền lại tham, thấy đẹp thì khoái, chúng ta phải học cho thực tế, rõ ràng, cụ thể, phải học thành thực, chân thật, chân chánh, chỉ có người chân chánh mới thể nhập được chánh pháp, người tà không bao giờ thể nhập được cái pháp chánh, người chân thành mới tiếp nhận được pháp chân chánh, người chân thật mới học được chân pháp, Thánh pháp thật sự của Đức Phật.

Nếu mang cái tâm tham ái, vô minh, bản ngã sẽ chống đối lại Thánh pháp của Đức Phật "tu gì khổ vậy", "tu gì mà khó quá vậy", "tu gì mà gắt gao quá vậy", có suy nghĩ như vậy là chống đối với pháp nhưng chúng ta phải nhìn ra được điều này cho nên tu Nikāya này thì bước đầu tiên quan trọng nhất là diệt tâm chống đối vì vô lượng vô số kiếp mình đã ở trong vô minh, tham ái, chấp thủ, đến khi Đức Phật ra đời ngài đánh thẳng vào những cái mình thích cho nên mình sẽ có tâm chống đối.

Ví dụ khi cho quán bất tịnh, xem giải phẫu cơ thể thì bỏ chạy, sợ hãi hoặc là sân lên thì đó là tâm chống đối với pháp vì tâm tham ái không chấp nhận sự thật được phơi bày, nếu mình không diệt tâm chống đối thì mình không tu được. Mình rất yêu thích cái thân, mình nuông chiều tấm thân này dữ lắm, mình o bế, nâng niu nó lắm, mình tô bồi, trang điểm, chăm sóc, yêu thương, chấp thủ mà bây giờ mình bị phá sự yêu thích đó là mình không chịu, cũng như con nít yêu thích món đồ chơi đó mà bị lấy đi là nó khóc, Đức Phật nói sức mạnh của đứa con nít là tiếng khóc.

"- Này các Tỳ-kheo, có tám sức mạnh này. Thế nào là tám ?

Này các Tỳ-kheo,

Sức mạnh của con nít là khóc.

Sức mạnh của con đàn bà là phẫn nộ.

Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí.

Sức mạnh của các vua chúa là uy quyền.

Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo.

Sức mạnh của bậc Hiền trí là cảm hóa.

Sức mạnh của vị nghe nhiều là thẩm sát.

Sức mạnh của Sa-môn, Bà-la-môn là nhẫn nhục.

Này các Tỳ-kheo, đây là tám sức mạnh". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (VII). Sức Mạnh (1))

Người tu lấy gì làm sức mạnh? Chính là sự nhẫn nhục, những gì mình đọc trong Nikāya là định lý chuẩn tắc của Thánh trí huệ, không thay đổi thì mới là lời của bậc Chánh Đẳng Giác, còn mình lúc trước thì nói vậy nhưng sau đó lại nói khác, đó là phàm phu, còn Đức Phật chứng ngộ rồi là nói gì là vĩnh viễn không thay đổi, cho nên Như Lai từ Bồ-đề đạo tràng khi đầu tiên vận chuyển Thánh pháp luân cho đến ngày cuối cùng nhập Niết-bàn tại Tala song thọ thì tất cả những lời của Như Lai nói ra là chân ngữ, là thật ngữ, không bao giờ đổi khác.

Nếu mình không có con mắt tròng vàng của Tôn Ngộ Không là mình không thấy gì hết, mình học kinh giả mà mình không biết cho nên Ngô Thừa Ân rất sâu sắc trong Tây Du Kí, đi thỉnh kinh giả cho đến khi đem cái bát bằng vàng ra đổi thì mới đưa kinh thật nghĩa là chỉ cho cái tâm bằng tất cả tấm lòng, tất cả trái tim vàng đá thì mới nhận được chân pháp, chân truyền của Đức Phật, phải đem hết tất cả tấm lòng, trái tim, sinh mạng để đánh đổi thì mới nhận được Thánh trí huệ của Đức Thế Tôn chứ không phải đơn giản mà nhận được.

Học như vậy mới sung sướng còn mình vào học nhìn mặt lờ đờ, trơ trơ, còn Thế Tôn khi thuyết pháp thường làm cho người nghe phấn khởi, hân hoan, hoan hỉ với pháp. Khi học chúng ta phải có trạch pháp giác chi, trạch là biện biệt đúng sai, thật giả, chánh tà, là sự giãn trạch rạch ròi cái nào là lời Phật dạy, cái nào không phải lời Phật dạy, vì mình vô minh, tham ái, chấp thủ nên cái nào nói trúng cái tham ái của mình là mình khoái, vuốt ve, khen ngợi là mình thích, nếu nói với tâm từ thì tốt nhưng nói mà có dụng ý khác là không tốt.

Trở lại vấn đề phải nhìn thấy thọ; tưởng; hành trong nội tâm mình, nếu không thấy là không tu được, phải đọc được đang có hình bóng gì, đang có cảm giác, suy nghĩ gì, phải lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ trong từng giây ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoàn cảnh, phải kiểm tra xem có vô minh không nhìn thấy được lậu hoặc, rác bẩn không, không nhìn thấy được cái thân phiền não, có nhàm chán, ly tham, từ bỏ không hay đồng hóa, chấp thủ với nó. Những nguyên nhân gì làm cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên thì vị Tỳ-kheo chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn, giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Phải để ý đi, đứng, ngồi, nằm, để ý những oai nghi, cử chỉ của mình, sau đó mới để ý đến cái nhìn, cái nghe, cái ngửi, cái nếm hay sự tiếp xúc của thân.

"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'.

Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)

Căn nhà đó giết người, miếng đất đó giết người, chiếc xe đó giết người, ngôi chùa đó giết người vì bị dính mắc vào đó là không thể tu giải thoát được, cứ suốt ngày chăm chút cho ngôi chùa, chức vụ đó giết người, cảm giác dễ chịu, khoan khoái, ngọt ngào, êm ái là lạc thọ đó sẽ giết mình chết, cảm giác sân si, hận thù cũng giết mình chết, anh em ruột giết nhau, vợ chồng giết nhau, cha con giết nhau cũng vì tiền tài, vật chất, nhà cửa, đất đai, xe cộ, ruộng vườn, vợ mới chết là cha con đưa nhau ra tòa vì tranh chấp tiền bạc cho nên trí tuệ của Đức Phật là siêu khủng.

Cái khổ không đơn giản như mình hiểu là bệnh là khổ, nghèo thì khổ, chết là khổ, cái đó chỉ là một phần rất nhỏ còn Đức Phật chỉ ra tất cả con mắt này là khổ, các sắc là đối tượng của con mắt là khổ, nhãn thức là khổ, sự tiếp xúc của ba pháp giao thoa là khổ, cảm thọ sanh ra sau khi tiếp xúc là khổ, tâm tham ái là khổ, tâm sân hận là khổ, tâm si mê, vô minh không biết gì cả cũng là khổ, như vậy cái khổ bao trùm căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn – xúc – thọ – ái. Học cái này rồi là rung động toàn thân gọi là lông tóc dựng đứng, nước mắt đầy mặt, chấn động thân tâm, rung chuyển đất trời, bài kinh Thủ chuyển nghĩa là năm thủ uẩn của mình đều rung chuyển khi được nghe Thánh trí huệ của Đức Phật xoay chuyển pháp luân.

Tại sao lại có bệnh viện mắt? Vì mình có con mắt. Tại sao lại có bệnh viện tim mạch? Vì mình có tim mạch cho nên thân này là một thứ khổ, không phải nói rằng tâm không chấp gì cả là khỏe, tâm không chấp nhưng thân có bệnh, thân có già, thân này sẽ chết cho nên bản chất của sắc uẩn này là khổ đau, từ sắc trong, sắc ngoài, nội ngoại, thô tế, thắng liệt, xa gần, quá khứ, hiện tại hay vị lại thì tất cả các sắc đều cần phải chánh quán với chánh trí tuệ nó là khổ đau, là tan hoại, hoại diệt, là sầu, bi, khổ, ưu, não vì vậy phải sống nhiều với sự nhàm chán các sắc, ai sống nhiều với sự nhàm chán các sắc thì người đó sẽ biến tri sắc, tức là người nào sống nhiều với sự nhàm chán các sắc thì người đó sẽ thấy biết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ về vô thường, khổ não, bất an của sắc và người giải nhàm chán các sắc thì người đó sẽ giải thoát khỏi sắc.

Đối với thọ; tưởng; hành; thức cũng vậy, hãy sống nhiều với sự nhàm chán các cảm giác, nhàm chán những suy nghĩ, hình bóng, nhận thức trong tâm, ai sống nhiều với sự nhàm chán ngũ uẩn thì người đó sẽ thấu hiểu tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ về sự thật của thọ; tưởng; hành; thức, người nào thấu hiểu được như vậy thì người đó sẽ thoát khỏi nó, người đó sẽ xuất ly khỏi ngũ uẩn, đó là bậc Thánh. Bậc Thánh là bậc nhàm chán, viễn ly, xuất ly khỏi ngũ uẩn, còn phàm là còn say sưa, mê đắm, tham lam, khao khát đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức.

Xưa nay mình học giỏi lắm là biết bỏ sắc chứ không thể biết được thọ; tưởng; hành; thức, có khi chỉ biết phớt qua nhưng khi học vô cái này thì mình sẽ thấy rõ năm nhóm, năm tổ hợp, năm sự tụ tập này cấu thành thân tâm, thế giới này và chính năm thứ này là nguồn gốc của khổ đau, nó tạo ra vô số vở tuồng để chúng sanh đau khổ không thể diễn tả được hết. Sự tiết độ trong ăn uống rất quan trọng, mình mất thời gian với việc ăn uống rất nhiều, nấu cũng mệt mà ăn vào cũng mệt vì ăn no quá không thể ngồi thiền được.

"Này Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: Hãy đến Tỳ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Không phải ăn vào để được đẹp da, mát bụng, không phải ăn vào để được bổ người rồi mập mạp lên, chúng ta chỉ thấy vị ngọt của nó mà không thấy được sự nguy hiểm và tác hại trong cái ăn đó để xuất ly. Mình không thành tựu ba loại trí huệ là vị ngọt trong món ăn, sự nguy hiểm và tác hại trong món ăn, sự xuất ly khỏi món ăn. Ăn chỉ để bảo dưỡng thân này để không ốm gầy, không suy dinh dưỡng, bệnh tật để giữ gìn được đời sống phạm hạnh của mình.

Thế nào là diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới? Ví dụ khi nói chiều nay chùa mình nấu bún riêu, phở, bún chả giò, khi nói như vậy thì mình có hình bóng, có cảm giác, suy nghĩ và có sự rõ biết những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó. Mình nhớ lại món phở ăn rất ngon, mình tưởng tượng hương vị của nó, cái sắc của nó thì cái này chính là cảm thọ cũ, nghĩa là mình có cảm giác về món mà mình đã từng ăn nó, mình hồi tưởng lại cảm giác đó thì đó là cảm thọ cũ.

Khi lên bàn ngồi chờ đọc tác bạch, cúng dường, đáp từ, tụng mãi thì có suy nghĩ "tụng lâu quá, dài quá, đói bụng rồi muốn ăn sớm cho ngon", trong tâm có sự thúc giục trong khi đó trước mắt là cà ri, lagu bánh mì, lẩu thì nuốt nước bọt. Tại sao lại nuốt nước bọt? Là vì cảm thọ cũ gợi lại lúc trước mình ăn món đó có hương vị như vậy, cảm giác như vậy, mình hồi tưởng lại cảm giác đó thì đó là cảm thọ cũ cho nên mình mới chảy nước miếng, nếu không hồi tưởng lại thì đâu có chảy nước miếng. Khi đưa món ăn chạm vào lưỡi thì sanh ra cảm thọ mới, thế là mình hoan hỉ, vui thích thì đó là cảm thọ mới nhưng mình chẳng diệt trừ gì cả, cảm thọ cũ không diệt và cảm thọ mới cũng để cho sanh khởi, cuối cùng cái dục, cái tham, cái ái trong cái ăn không giảm bớt lại còn tăng trưởng, mình không quán nhàm chán với tất cả thức ăn.

./.