Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Niềm Tin Chân Chánh

2026-03-03 00:55:56
NIỀM TIN CHÂN CHÁNH

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trưởng dưỡng chánh tín PAGEREF _Toc78185029 \h 1

II.Chánh Pháp hiệu quả tức thời PAGEREF _Toc78185030 \h 4

1.Trí tuệ về cảm giác PAGEREF _Toc78185031 \h 5

2.Bốn sự tinh cần PAGEREF _Toc78185032 \h 8

III.Bốn niềm tin bất động PAGEREF _Toc78185033 \h 10

Trưởng dưỡng chánh tín

Trước khi tìm hiểu về sức mạnh của đạo Phật, đầu tiên chúng ta phải hiểu Đức Thế Tôn là một con người như thế nào? Phải hiểu Phật một cách chân chánh, một cách chính xác, một cách trọn vẹn thì mình mới thành tựu được căn bản thứ nhất, sức mạnh thứ nhất của người tu. Cụ thể, ngũ căn, ngũ lực là năm điều căn bản, cốt lõi, nền tảng, từ năm điều này mới hình thành được người tu học theo Phật Pháp chân chánh. Ngũ căn tức là năm cái căn bản, chính năm căn bản này làm cho mình có lên một sức mạnh gọi là ngũ lực. Cho nên đây là một trong ba mươi bảy phần giác ngộ mà người tu học theo Phật phải nắm thật vững. Ngũ căn, ngũ lực là: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, đây là năm pháp chủ, đây là năm pháp căn bản, đây là năm pháp nền tảng và từ năm pháp này làm mình trở thành một người Phật tử có chân đứng vào pháp và luật của Đức Phật.

Đầu tiên, chúng ta phải có niềm tin vào Đức Phật, muốn tin chánh tín thì mình phải hiểu, còn tin mà không hiểu là mê tín, thế nên, mình phải hiểu Đức Phật. Đức Phật không phải là một vị thần linh ban phước giáng họa, nếu không khéo, dù đi tu thật lâu, đi chùa thật nhiều, quy y mấy chục năm mà mình nhìn Đức Phật như một vị thần linh. Tức là mình vào chùa cầu xin đủ thứ, đó là tín ngưỡng của những người mới đầu đi chùa. Còn những ai đã tu học lâu, đã dự vào những khóa tu thì làm sao phải có hiểu biết về Đức Phật. Quý vị phải nhớ rằng, Phật không phải thần linh mà Phật là vị thấu suốt được sự thật tự thân tự tâm của Ngài và thấu suốt được sự thật của tất cả chúng sanh trong thế giới. Phật thấy rõ tại sao con người khổ đau; Phật thấy rõ nguyên nhân vì sao con người đau khổ; Phật chứng đạt được cảnh giới chấm dứt tất cả khổ và Phật có phương pháp để thực hiện điều đó.

Như vậy, Đức Phật là một đạo sư, là một vị thầy chỉ đường cho mình. Ví dụ bây giờ có người chỉ cho mình đường đi lên Linh Quy Pháp Ấn (Cổng trời), họ hướng dẫn đi khoảng 220 cây số, tới Linh Quy Pháp Ấn phải lên cái dốc, đi thẳng lên rồi quẹo lên Quán Chiếu Đường ngắm bình minh, mây bay giữa đại ngàn mênh mông, vô tận. Có người chỉ rõ như vậy nhưng mình muốn tới phải leo lên xe, hỏi kỹ mới đi tới được. Đức Phật cũng vậy, Ngài chỉ cho mình con đường, chỉ cho mình phương pháp, mình không chịu đi theo mà lên cầu nguyện “Phật độ cho con để cho con đi được”, như vậy là mê tín. Cho nên, chúng ta phải thực hành phương pháp Phật dạy, phải hiểu Đức Phật thì mới thành tựu niềm tin bất động đối với Phật, bất động là không còn dao động. Minh Thành thấy có nhiều Phật từ vào chùa “cầu cho con mua may bán đắt, cầu cho con khỏe mạnh, cầu cho con thi đậu”, đó cũng là mê tín chưa phải thành tựu những chánh tín đối với Đức Phật. Thành tựu chánh tín là phải thấy Đức Phật là vị thầy chỉ đường là, vị thầy thuốc khám bệnh bắt mạch, cho toa thuốc. Cụ thể, giáo pháp là toa thuốc, đưa thuốc rồi không uống thì không hết bệnh.

Chính vì vậy, phải hiểu đúng về Đức Phật mình mới thành tựu chánh tín, đó là căn bản đầu tiên của người Phật tử. Khi hiểu được chính xác, hiểu được căn bản, hiểu được cội gốc để có được trí huệ chánh tín, chánh kiến thì lúc đó mình mới có sức mạnh, mới tin đúng theo lời Phật, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng và tin Thánh giới. Chúng ta hiểu đúng Đức Phật thì mình tin đúng pháp của Ngài, mà pháp của Ngài là phương pháp chấm dứt tất cả khổ đau. Tin Tăng là tin Hiền Thánh Tăng, bốn đôi tám chúng của Đức Phật những vị Thánh tăng đã thực hành đúng theo lời của Đức Phật dạy. Tin Thánh giới của Phật là phải có niềm tin không dao động đối với giới luật của Phật.

Ví dụ, mình có con nhỏ mới ba, bốn tuổi, nó không biết phía trước nhà có bờ sông nên chạy ra chỗ đó chơi, thấy nguy hiểm nên mình nhắc, không cho ra đó. Thậm chí mình làm hàng rào để ngăn lại. Như vậy, sự rầy la, nhắc nhở, làm hàng rào là được xuất phát từ tình thương và sự hiểu biết. Từ trí huệ hiểu biết điều đó sẽ đưa đến nguy hiểm, sẽ đưa đến tai hại, sẽ đưa đến đau khổ, thậm chí đưa đến chỗ mất mạng nên mình mới làm hàng rào, mới rầy, mới la, mới nhắc, mới cấm không được này kia, giới pháp Đức Phật có công năng như vậy.

Trong năm giới Đức Phật đưa ra, mình tin tưởng sâu sắc năm giới đó, tự nhiên mình tha thiết đảnh lễ, tôn trọng quý trọng giới của Đức Phật. Trong năm giới đó, nếu phạm một giới nào thì lúc đó mình cũng không được an ổn. Ví dụ, mình thấy đồ đẹp nên lén lấy thì tâm không được an, trong khi đến chùa mình cầu bình an. Cho nên, bí quyết của bình an là tôn kính, tôn trọng, giữ gìn Thánh giới. Điều này rất rõ, nếu không giữ giới thì làm sao mình an. Giới thứ ba Đức Phật dạy “không tà dâm, không ngoại tình, không đi lối tẻ” nếu lỡ mình đi theo con đường đó thì sẽ đau khổ, bất an. Cho nên, giữ giới là bí kiếp bình an, bí quyết cầu an, đó là phương pháp hoàn toàn giúp mình bình an. Khi thấy rõ giá trị, mục đích, ý nghĩa, lợi ích như vậy thì mình mới có niềm tin bất động đối với Thánh giới của Đức Phật. Khi tin được rồi thì lúc đó mình có cội gốc rất vững chắc và có được sức mạnh giữ được giới. Giữ được như vậy thì sẽ có được sự an ổn cho chính mình, cho người thân của mình, cho ngay tập thể công ty xí nghiệp, ngay cơ sở, ngay đạo tràng chùa chiền. Còn người nào nói dối thì sẽ không được bình an, lâu lâu nhớ lại lời nói đó thì tâm không an. Hoặc nhậu say xỉn thì cũng không an, bất an trong hiện tại và trong tương lai, ngay hiện tại đã bất an đổ vỡ, ở trong u mê si mê, chưa kể làm những chuyện lãnh hậu quả.

Cho nên, chúng ta cần phải thành tựu bốn niềm tin bất động với Đức Thế tôn, đối với Giáo Pháp, đối với Thánh Tăng đối với Thánh Giới. Niềm tin bất động rất hay, đó là tín căn, tín lực. “Căn” là căn bản, là gốc rễ, là nền tảng, từ chỗ thành tựu gốc đó mới có sức mạnh cho mình đứng vững trong giáo pháp. “Tín” đây là chánh tín, mà chánh tín có được là từ chỗ chánh kiến, tức là hiểu đúng về Đức Phật và giáo pháp. Cho nên, chúng ta phải hiểu đúng về Đức Phật và phải nhớ rằng, tất cả biểu tượng của Đức Phật: Phật gỗ, Phật đồng, Phật bằng xi măng hay nhựa v.v... cũng chỉ là biểu tượng chứ không phải Phật. Nhiều khi lạy hít hà vuốt xoa tượng Phật thấy tưởng đâu hay nhưng không phải. Bởi vì, khi thấy Đức Phật là mình thấy một bậc trí tuệ. Trí tuệ này để đoạn tận: đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si và đó là mục đích của đạo Phật. Còn ai không lo đoạn tận những điều đó mà cứ vào chùa lạy Phật hoài, như vậy là mê tín. Chúng ta lạy Phật là để mình nhớ, nhớ để thực hiện theo lời Phật và thực hiện thì mới có kết quả.

Tất cả chúng ta ai cũng có bệnh, bệnh thân là đương nhiên, Đức Thế Tôn nói
có thể có một người nói rằng hoàn toàn không có bệnh thân (có thể có một người nói như vậy nhưng điều đó cũng chưa đúng), tuy nhiên, không có ai mà không bệnh tâm dù chỉ trong một giây phút. Thông thường, khi nhức đầu, sổ mũi, nhức răng, chóng mặt là mình đi bác sĩ liền, đó là trị bệnh cho thân. Chúng ta lo cho thân này vô cùng, còn trong tâm rất nhiều bệnh: bệnh lo, bệnh tham, sân, si, bệnh tôi, bệnh bản ngã… nhưng mình không chịu đi bác sĩ tâm linh. Khi chúng ta tới học giáo pháp, thực hành giáo pháp, mình tu là đang đi trị bệnh tâm. Bệnh tâm quan trọng hơn bệnh thân, vì bệnh tâm mình không trị, dù cho cái thân khỏe nhưng tâm sân hận lên thì mình mệt giống như lửa đốt ở trong. Bệnh tham cũng là bệnh khó trị, phải kiếm thuốc, kiếm thầy để chữa. Và mình tu là mình trị những căn bệnh đó.

Cho nên, không phải vật chất quyết định hạnh phúc của con người, vật chất chỉ là một phần nhỏ, mà quan trọng nhất chính là cái tâm. Có nhiều người rất giàu có nhưng vẫn khổ. Vì vậy, cái khổ không phải ở trên vật chất, vật chất chỉ một phần nhỏ, còn cái khổ thật sự là ở trong tâm. Một tòa nhà cao nhất thì vẫn có tầng cuối cùng, còn tâm tham của con người không có tầng cuối, nó cứ leo thang không chịu ngừng, chạy hoài không tới đỉnh. Chúng ta phải nhớ rõ đó chính là bệnh. Tâm sân hay tham thì dễ thấy nhưng si thì rất khó thấy. Si là ngồi một một lúc là mặt xệ xuống, người trì trệ, nặng nề, mắt thì sụp xuống nhướng lên, đến khi nhướng không nổi nữa là sụp luôn. Si đưa tới hôn trầm, lờ đờ, tỉnh không tỉnh mà ngủ không ngủ, tu xong rồi nhưng không biết gì hết, đó là trạng thái si.

Chính vì vậy, mục đích của đạo Phật là phải chấm dứt tham, sân, si thì mình mới hết khổ, muốn chấm dứt nó phải biết nó ở đâu?

Chánh Pháp hiệu quả tức thời

Minh Thành sẽ nói định nghĩa về chữ Pháp trong đạo Phật:

“Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Này các Tỳ-kheo đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, nguồn hạnh phúc, nguồn an lạc”(Tăng Chi Bộ I, bài kinh Nguồn Sanh Phước 2).

Giáo pháp của Phật thiết thực hiện tại, không có thời gian không phải đợi tới lúc nào đó mới thấy, mà thấy liền ngay tại chỗ, phải đến để mà thấy, có khả năng giúp cho mình đi lên cao. Khi ai nói câu gì sốc hông, nói câu gì chạm đến cái tôi của mình, lúc đó mình thấy cảm giác khó chịu, nóng giận, cái sân nằm trong cảm giác. Người tu thường phải nhìn lại cảm giác của mình để phát hiện ra chỗ cư trú của tham, sân, si, căn cứ địa của phiền não là nằm trong cảm giác. Cho nên, Đức Phật dạy rằng, tu là luôn luôn nhìn lại cảm giác của mình, gọi là quán thọ, quán là nhìn lại, thọ là cảm thọ, cảm giác, tức là luôn luôn phải nhìn lại cảm giác của mình.

Trí tuệ về cảm giác

Có ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác khó chịu thường thường có sân, bực đi theo; cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú, vui sướng thì có tham đi theo. Như vậy, tham đi theo cảm giác dễ chịu; sân đi theo cảm giác khó chịu; cảm giác không dễ chịu không khó chịu cảm giác si đi theo. Trì trệ ,trơ trơ giống như khúc cây, cục bột đó là si, si là sự không linh hoạt, không minh mẫn, không sáng tạo.

Chúng ta tu là nhìn ra được căn cứ địa của phiền não. Ví dụ, đi ngoài nắng trưa 38 ºC, lúc đó khó chịu, cảm giác đó là bình thường. Đức Phật hay các vị A-la-hán cũng cảm giác khó chịu giống mình, cũng cảm giác khó chịu nhưng khác chúng ta. Trong cái khó chịu của mình có bực, cái bực đó là sân, dù sân nhưng trời cũng không hết nắng nóng. Lúc đó mình bực lên thêm nên mình không có tín, tấn, niệm, định, tuệ – năm sức mạnh của người tu, năm nền tảng căn bản. Còn khi hiểu rõ pháp, mình tinh tấn thực hành, luôn luôn có chánh niệm. Chánh niệm là thường thường nhìn lại cảm giác, luôn luôn nhìn xem bây giờ đang có cảm giác gì và rõ biết cảm giác này không phải mình, nó chỉ là cảm giác. Cảm giác luôn luôn biến đổi, vô thường, vì vậy, chúng ta phải thường thường nhớ, thường thường nhìn lại cảm giác. Đừng để cảm giác đánh lừa, đừng để cảm giác nhận chìm, đừng để cảm giác hoàn toàn làm chủ mình mà mình phải làm chủ cảm xúc, thấy rõ cảm giác. Như vậy là mình niệm, khi có niệm thì mình được bình tĩnh là định, khi bình tĩnh thì được sáng suốt là huệ. Đó là chỗ mình nhiếp phục được tham, sân, si.

Lúc mình nóng lên thì không biết đang có cảm giác khó chịu, sân đang xuất hiện, lửa đang đốt. Hỏa hoạn bên ngoài chưa bằng ngọn lửa sân hận trong tâm mình, ngọn lửa trong tâm mới là ngọn lửa kinh khiếp nhất. Nó đốt cháy mình, làm cho mình tiều tụy, làm cho mình hao mòn, làm cho mình sống trong sự buồn tủi, tiếc than, nhớ nhung, lo lắng, sợ hãi, tức giận. Bao nhiêu chuyện đã qua mình cứ ngồi nhớ hoài, đó là đang đắm chìm vào cảm giác của quá khứ, cái đó không có thật. Bây giờ mình chánh niệm là quay trở về, ngồi là biết mình đang ngồi, ăn biết đang ăn, đang gắp biết rõ đang gắp. Luôn luôn tỉnh thức, chánh niệm, có cảm giác gì cũng đều thấy rõ nó thuộc về cảm giác tham, sân hay si.

Chính vì vậy, Đức Thế Tôn nói pháp là thiết thực hiện tại đến để mà thấy. Trong tâm đang có sự tham muốn sanh khởi lên là mình phải biết, khi đó mình phải chánh niệm quán chiếu, Đức Phật gọi là Như Lý Tác Ý. Chúng ta phải nói với tâm mình rằng: “Đức Thế Tôn nói tham là mũi nhọn, tham là rắn độc, tham là hố than hừng, tham dục là hố lửa than, tham là kẻ giết người. Chính cái tham này đưa mình vào đau khổ, mình đã đau khổ vì tham, mình đang đau khổ vì tham, mình muốn sẽ đau khổ vì tham nữa hay sao? Tỉnh đi!”. Câu nói đó là tự thoại, tự mình nói với mình, đó gọi là sức mạnh của trí huệ, đó là niệm lực, tuệ lực, sức mạnh của chánh niệm, sức mạnh của trí huệ, mình tự đối thoại với tâm của mình.

Lúc sân sanh khởi, mình nói: “Giận sướng lắm hả, bộ giận sướng lắm hả? Vậy mà sao giận hoài? Giận khỏe, giận vui lắm hay sao?”. Chúng ta phải quán chiếu cơn giận nguy hiểm như thế nào, tác hại như thế nào, đưa đến chỗ nào. Giận này giống như lửa đốt cháy, làm cho nhà tan cửa nát, giận làm cho ly tán, giận này làm cho đổ vỡ, làm cho phân ly, làm cho bại hoại, làm cho mất hết tình thương, mất hết đạo nghĩa, mất hết đạo lý. Hằng ngày, mình đọc báo, xem tin tức thấy rất sợ, vì tham, sân, si phát triển tới cực điểm làm cho mình khổ, người khổ. Vì tham làm cho biết bao nhiêu người xung quanh khổ, ăn cướp, giật đồ, đập tiệm vàng, vào ngân hàng cướp. Sau đó, tham trở thành si, tham trở thành thâm, do không biết tu tập, do không biết pháp, do không biết được sự thực tập nên đưa con người đi xuống vực thẳm.

Còn khi sống với giáo pháp là mình sống thật. Bình thường chúng ta sống ảo, sân si ảo, tất cả ảo đưa mình tới chỗ ảo, cho nên, khi trở về đây ngồi tu là mình đang sống thật, đang sống tỉnh thức và chánh niệm, vì thế, phải quý sự tu tập, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không trải qua thời gian này. Giờ này nếu ở nhà là quý vị sẽ bấm điện thoại, thậm chí mê game nhưng nó chỉ là phương tiện để mình sử dụng, để phục vụ tốt cho cuộc đời, để sống cho ý nghĩa, giá trị, lợi ích chứ không phải phương tiện để mình đắm chìm, si mê, cuốn hút trong đó, cuối cùng bị tan trong mộng ảo không có thật. Vì vậy, chúng ta phải dùng tuệ lực, sức mạnh của trí huệ, sức mạnh của chánh niệm để trị si. Ví dụ tới giờ nghe pháp, tới giờ niệm Phật, tới giờ ngồi thiền thì phải cố gắng tu tập. Lúc xem đá bóng, lúc lướt web hay đi ăn uống với bạn bè thì tỉnh táo, nhiệt tình, sôi động, tới chừng vào ngồi nghe pháp thì bắt đầu buồn ngủ, tay chân nhức mỏi, lúc đó hãy nói: “Tỉnh đi, ngủ bốn chục năm rồi, ngủ năm chục năm rồi, ngủ trong vô minh lâu nay rồi, bây giờ muốn ngủ trong vô minh nữa hay sao? Tỉnh đi, tỉnh đi!”, đó là mình nói chuyện với si mê.

Thật ra tham, sân, si, phiền não là một pháp trong tâm, nó không có thật, mình nói chuyện với nó là nó sợ, làm hoài như vậy, làm cho mạnh thì tự nhiên khi xuất hiện là nó rón rén, nó sợ, nó không dám hoành hành. Còn mình chấp nhận nó, nuôi dưỡng nó, để cho nó tiếp tục tăng trưởng, quảng đại, lớn mạnh trong tâm thì nó làm chủ mình. Chúng ta phải thấy rõ tham, sân, si không phải mình, phải thấy rõ cảm giác là cảm giác không phải mình, cảm giác chỉ là cảm giác, chút xíu là hết. Tất cả cảm giác đều vô thường, chóng vánh, mong manh, tạm bợ mà chúng sanh chấp chặt trong đó có mình, cho nên si mê đi tìm cảm giác rồi đau khổ vô cùng.

Đức Phật dạy chúng ta phải biết ba điều:

Thứ nhất, vị ngọt của cảm giác;

Thứ hai, sự nguy hiểm của cảm giác;

Thứ ba, sự vượt thoát ra khỏi cảm giác.

Biết được ba điều này thì mình tu tập thành công.

Thế nào vị ngọt của cảm giác? Tức là ở trong cảm giác đó mình thấy thích thú, thấy hoan hỷ, thấy đam mê, khoái trá. Ví dụ, mấy cậu thanh niên trẻ mới lớn bị bạn rủ hút thuốc, lúc đầu sặc nhiều, rồi sặc ít, sau đó hết sặc. Khi đó, cứ hít vào một hơi, phà phà nhả khói phun mây rồi tưởng đâu lên trời, mông lung thấy đã, lúc đó là vị ngọt của cảm giác, thấy thích thú, thấy đã. Nhưng sau đó, sự nguy hiểm của cảm giác là bệnh chết, chính những cảm giác đó giết chết tương lai, giết chết cuộc đời của mình. Những đứa trẻ mê chơi game là giết chết cuộc đời nó, hay đi vào nghiện ngập là giết cuộc đời nó, đi vào cướp giật là cướp chết cuộc đời, đi vào những nghề sa đọa, trị lạc là giết chết cuộc đời, tất cả những điều đó là đi tìm cảm giác mà không biết được sự nguy hiểm của cảm giác.

Thế nên, Đức Phật dạy quán chiếu vị ngọt của cảm giác và sự nguy hiểm của nó. Phải thường thường quán chiếu vị ngọt để thấy rõ, biết rõ đó là vị ngọt và vị ngọt chỉ đến đó mà thôi. Tất cả vị ngọt của cảm giác chỉ đến đó mà thôi, không có hơn nhưng vì người ta ảo tưởng từ tình ái, vật chất, quyền uy, địa vị đến bao nhiêu những thú vui, đam mê. Tất cả những thứ đó đều là cảm giác, trong đó có vị ngọt nhưng vị ngọt rất ít, rất ngắn, rất mong manh mà sự nguy hiểm rất sâu xa nếu mình không chánh niệm, không thấy được là mình chết, tự mình leo lên cầu cao rồi buộc dây nhảy xuống chết.

Có người muốn nổi tiếng nên leo lên cao rồi nhảy xuống nhưng rồi chết, đó cũng là vì cảm giác. Những người danh chính ngôn thuận phục vụ cho nhân sinh nổi tiếng thì đó là chân chánh; còn nổi tiếng không có ý nghĩa, không có trí huệ, không nhận thức rõ thì cuối cùng vì cảm giác đó mà giết chết mình. Trong gia đình, bạn bè, vợ chồng, cha mẹ, nếu mình không báo ân, tri ân, đền ân, mà chỉ lo cảm giác của mình, không lo cảm giác người thân thì rất nguy hiểm. Người ta cực khổ từ trưa đến chiều nấu cho mình ăn, tới lúc ăn thì mình chê, đó là không tôn trọng cảm giác của người khác, không biết nghĩ đến người khác, chỗ đó là thất bại.

Bốn sự tinh cần

Như vậy, đầu tiên chúng ta cần có niềm tin, sau đó tinh tấn nỗ lực để tẩy trừ, chuyển hóa tham, sân, si. Phải nhìn sâu vào trong cảm giác để thấy được căn cứ địa của phiền não. Chúng ta phải tinh tấn nỗ lực lên. Phải nhớ rằng, tinh tấn nỗ lực không phải chỉ là tinh tấn trước bàn Phật tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền… đó là tinh tấn nhỏ. Tinh tấn lớn là bất cứ mọi lúc mọi nơi đều nhìn lại thân tâm mình, nếu có tham, sân, si thì tìm phương pháp hóa giải liền, vì những cái này phát khởi lên là có hại nhiều.

Mục đích của đạo Phật là chuyển hóa, đoạn tận và chấm dứt tham, sân, si vì nó làm cho mình khổ. Chính tham, sân, si làm cho mình khổ, chúng ta muốn đoạn nó thì phải tinh tấn. Đức Phật dạy có bốn sự tinh cần:

Tinh cần chế ngự;

Tinh cần đoạn tận;

Tinh cần tu tập;

Tinh cần hộ trì

Tinh cần chế ngự là luôn luôn phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lúc nào cũng giữ gìn, lúc nào cũng bảo hộ mắt, bảo hộ tai… Mắt là cửa sổ tâm hồn nếu không giữ con mắt, không chánh niệm con mắt thì dễ dẫn mình đi tới phiền não. Nếu không biết giữ gìn, khi đi ngang thấy có người liếc mình, nếu mình không phòng hộ là nguy hiểm; hay có một hành động, lời nói gì đó không hay, lỗ tai mình phải phòng hộ. Lên xe máy mình phải đội nón bảo hiểm là để bảo vệ cái đầu, trời lạnh mặc áo ấm, ra nắng phải đeo khẩu trang, đeo mắt kính để bảo vệ làn da… Tất cả cái đó là mình lo bảo vệ thân thể nhưng mình không biết một cái cực kỳ quan trọng là tâm linh mình không chịu bảo vệ. Cho nên, Đức Phật dạy hộ trì căn, “căn” là mắt tai, mũi, lưỡi, thân ý; “hộ” là bảo hộ; “trì” là giữ gìn. Chúng ta phải luôn luôn khéo giữ gìn, nếu không là dễ phiền não, nghe một câu là về ngủ không được, ăn cơm không được, rất ghê gớm.

Không biết hộ trì, không biết bảo vệ là phiền não, vì vậy, mình phải tinh tấn đoạn tận. Một người tu tinh tấn là khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm bất cứ lúc nào trong tâm sanh khởi lên dục tham, sân hận, si mê, tật đố, ngã mạn là tìm cách tẩy diệt nó, làm cho nó không còn hiện hữu, chấm dứt nó, chặt nó giống như cây cau, cây dừa, không cho nó mọc lên. Phải dùng mọi cách chặt mọi phiền não như vậy mới là người tu tinh tấn, chứ không phải lạy bao nhiêu lạy, lạy xong ra thở hết nổi, cái đó không phải, chỉ mới là ban đầu. Còn Đức Phật dạy mình nhìn lại thân tâm để chuyển hóa tham, sân, si, phiền não. Nếu mình tu không đúng Chánh Pháp không khéo là đi không vào trọng tâm. Giống như bắn cung là phải vào hồng tâm điểm đỏ, bắn không đúng là bắn ra ngoài trọng tâm, tu cũng vậy, tu phải có Chánh tín, Chánh kiến thì mới thành công, mới thấy được hiệu quả liền

Phải tinh tấn tu tập, phải chánh niệm, phải nhớ thân này là sự kết hợp của tứ đại, mỗi ngày ai cũng phải ăn uống, ăn uống là mượn, đồ ăn là từ đất mượn vào; ngồi thở là mượn gió; ánh nắng mặt trời, nhiệt độ trong cơ thể… tất cả cái đó là lửa. Chúng ta phải thường thường quán chiếu thân này là thân vô thường, chắc chắn sẽ già bệnh chết, thường thường nhớ nhất định sẽ già bệnh chết để mình có sự xả ly, không còn bám chặt vào thân này, sử dụng thân này một cách thông minh giống như mượn chiếc thuyền để mình qua bến bờ hạnh phúc, an lạc bên kia, đó là mình có trí huệ.

Tinh tấn hộ trì là giữ gìn các thiện pháp, tức là bữa nay mình nghe pháp, học được điều gì thì khi về mình phải thực tập được. Luôn luôn nhìn lại cảm giác coi chừng ba tên giặc tham, sân, si, luôn luôn phải nhìn nhớ cái này hoài. Hộ trì thiện pháp là giữ được pháp đó, mình ứng dụng, tu học tinh tấn, chánh niệm, định nhiếp tâm mình cho an định, thanh tịnh, trí huệ được tỏa sáng, thấy rõ sức mạnh của trí huệ. Đức Phật soi đường cho mình đi nên Đức Phật nói Đa văn thánh đệ tử, đệ tử của Ngài là người nghe nhiều Chánh Pháp, thấy rõ được con đường, thấy rõ được sự chuyển hóa. Nếu không nghe pháp thì mình chỉ lo nghe thấy bên ngoài, nghe thêm phiền não, nghe thêm tham, thêm sân, thêm si. Còn khi nghe Chánh Pháp thì sẽ giúp mình làm giảm bớt tham, sân, si; tăng trưởng lên niệm, định, tuệ; luôn luôn lúc nào trí huệ cũng tỏa sáng chánh niệm, tỉnh thức.

Bốn niềm tin bất động

Sự tu của chúng ta có một sức mạnh rất lớn nếu thật sự tu đúng Chánh Pháp. Sức mạnh đó xuất phát từ chỗ trí huệ, trí huệ từ chỗ mình có niềm tin, dẹp mê tín, thành tựu chánh tín.

Thành tựu chánh tín đó là tin Phật thật là sâu sắc, không còn dao động, hiểu rõ Ngài thật sự là bậc giác ngộ cứu cánh, chứ không được tin Phật là một vị thần linh. Phật là thầy chỉ đường, là bác sĩ khám bệnh và cho ra toa cho thuốc.

Tin vào Pháp vì Chánh Pháp là thuốc, pháp này thiết thực hiện tại, nhìn thấy được liền. Khi nhìn vào nội tâm tham là biết mình có tham, có nóng giận biết là có nóng giận, có si mê biết là đang có si mê và chúng ta có phương pháp chuyển hóa, chấm dứt, trừ diệt. Ngay lúc chấm dứt tham, sân, si thì mình được an vui, chúng ta thấy rất rõ điều này. Đó chính là pháp thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có khả năng giúp cho mình đi đến chỗ hướng thượng, người trí tự giác hiểu.

Tin vào Tăng vì đây là những bậc Hiền Thánh Tăng.

Tin vào Thánh Giới vì giới đem lại cho mình an lạc trong tương lai.

Như vậy, người tu phải thành tựu bất động tín đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh Giới. Người nào thành tựu được bốn niềm tin này thì người đó sẽ Nhập Lưu vào dòng Thánh thứ nhất, vào dòng trí huệ của Phật giáo, vào dòng Thánh trí. Từ niềm tin đó, chúng ta phải siêng năng nỗ lực, ghi nhớ, chuyên chú trong thực hành, làm cho tâm được yên định, sau đó trí huệ được tỏa sáng. Khi đó, chúng ta trở thành người có sức mạnh lớn, có nền tảng, có căn bản trong Phật giáo và chúng ta có thể giúp được rất nhiều người thân thương của mình.

./.