Tu Là Thanh Lọc Tâm Uế Nhiễm
Tinh Hoa NikᾹya
TU LÀ THANH LỌC TÂM UẾ NHIỄM
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình pháp PAGEREF _Toc114412999 \h 1
II. Ba pháp PAGEREF _Toc114413000 \h 4
III. Phương pháp tẩy rửa nội tâm PAGEREF _Toc114413001 \h 7
IV. Pháp cấu nhiễm PAGEREF _Toc114413002 \h 10
V. Trình pháp PAGEREF _Toc114413003 \h 14
I. Trình pháp
Hôm nay là 29 Tết năm Canh Tý. Giờ phút này chúng ta đang ngồi ở Viễn Ly Xứ quây quần bên nhau trong ngọn lửa, xung quanh là tiếng gà gáy báo sáng sớm, không gian bình an thênh thang và tĩnh lặng trong không khí ấm áp, hòa kính và an lạc. Chúng ta chia sẻ những điều tu học theo tinh thần nguyên chất Đức Phật đã truyền trao, con xin mời các sư cô cảm nhận những gì trong sự tu học hoặc còn gì chưa rõ thì hãy chia sẻ.
Sư cô A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con đến đây đã 3 ngày và hôm nay con sẽ xuống núi, con đã học được pháp nơi đây, cùng thực hành và được lắng nghe sự chia sẻ của quý thầy, quý sư cô và đại chúng nên con cảm nhận như được trở về ngôi nhà Chánh Pháp, cảm nhận được an lạc trong từng hơi thở, từng thân hành, khẩu hành và ý hành. Con vẫn chưa rõ lắm về pháp hành nên trong lúc ngồi thiền vẫn bị hôn trầm, vọng tưởng khởi lên nhưng con vẫn cảm nhận được sự an lạc trong tâm. Con mong nhận được kinh nghiệm tu tập từ sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng để thực hành pháp một cách rốt ráo và cảm nhận được sự an lạc khi thực hành pháp.
Sư Phụ: Con mời cô nhận diện ngũ uẩn trong lúc này.
Sư cô A: Kính bạch trên thầy, con xin được nhận diện ngũ uẩn ngay lúc này. Sắc uẩn, thân tứ đại con, về tâm có cảm thọ hỷ, tưởng là con nhìn thấy hình ảnh của thầy, quý sư cô và đại chúng nơi đây, hành là con nhớ lời dạy của thầy, thức là con rõ biết được sắc; thọ; tưởng. Kính bạch trên thầy, quý sư cô và đại chúng, hiện tại con cảm nhận được như vậy, mong mọi người chỉ dạy thêm.
Sư Phụ: Cô có thể trình bày nhận diện ngũ uẩn trong lúc tụng kinh Nikāya khi nãy không?
Sư cô A: Kính bạch trên thầy, ngũ uẩn trong lúc tụng kinh Nikāya là về sắc uẩn, tứ đại thì con cảm giác hỷ, tưởng là những hình ảnh của quý thầy, quý sư cô cúng dường Pháp Bảo, hành là con suy nghĩ những lời dạy của Đức Phật trong kinh Nikāya, thức thì con rõ biết thọ; tưởng; hành.
Sư Phụ: Khi tụng kinh Nikāya thì trong tâm cô có hình ảnh của Đức Phật và các thầy Tỳ-kheo thuở xưa không?
Sư cô A: Dạ, thưa thầy có ạ.
Sư Phụ: Nghĩa là mình đừng lẫn lộn giữa sắc và tưởng. Hiện tại mình thấy đại chúng ngồi đây là sắc, tưởng là hình bóng trong tâm. Con mời vị tiếp theo.
Sư cô B: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Đã từ lâu con rất thích nghiên cứu kinh Nikāya, đây là lần đầu con đến môi trường được thực hành kinh Nikāya, tụng kinh và nghe pháp của kinh Nikāya. Con thật sự rất hạnh phúc đã tìm được nơi mà trong tâm đã ao ước bấy lâu nay, con có duyên lành được gặp thầy hai lần ở Học viện, nghe thầy chia sẻ quán bất tịnh và một bài kinh trong Trung Bộ kinh, lúc đó con rất ấn tượng về pháp hành và muốn thực hành nhưng không có cách và không biết thực hành chi tiết nên chỉ biết đọc kinh và xem thêm trên mạng. Nhân duyên lành có sư cô giới thiệu con đến đây nên con rất hạnh phúc, mỗi ngày được tụng kinh, nghe giảng con cảm thấy đáp ứng được mong ước con bấy lâu nay. Con rất tri ân trên thầy, công đức phước lành vô lượng của thầy đã tạo dựng môi trường tu tập thế này vừa có pháp học lẫn pháp hành cho chúng con. Con cảm nhận từng giây từng phút, vì thời gian ở đây của con rất ít nên con nguyện sau này xuống núi cũng sẽ tiếp tục nghe giảnh và thực hành nhiều hơn những lời thầy đã chỉ dạy. Mặc dù sự thực hành những ngày ở đây chưa tinh cần và chưa được sâu sắc nhưng đó là nền tảng, ngọn lửa nổi lên trong tâm để đi đến đâu con cũng có pháp hành. Con xin tri ân trên thầy, quý thầy, quý sư cô và những vị Phật tử ở đây, những ngày tháng qua con cảm nhận được sự bình yên của núi rừng, sự khinh an của thân tâm, tình huynh đệ, sự quan tâm chia sẻ những lúc chúng con ốm đau, từng bữa ăn, giấc ngủ của mọi người đều làm con xúc động, tất cả đều có công đức của thầy. Nhờ có lời dạy của thầy mà huynh đệ ở đây sống khiêm nhường, hòa hợp, cung kính lẫn nhau, những ngày ở đây con học hỏi được rất nhiều. Con kính chúc trên thầy thật nhiều an lạc, thật nhiều sức khỏe để hoằng dương Chánh Pháp, đi đến đâu cũng là chỗ nương dựa cho chúng con. Con cũng kính chúc quý thầy, quý sư cô và Phật tử ở lại đây tinh tấn tu học, có nhiều sức khỏe, đi đúng con đường Chánh Pháp làm lợi ích cho mọi người.
Sư Phụ: Cô có thể nhận diện năm uẩn ngay lúc này không?
Sư cô B: Mô Phật, sắc thân tứ đại con có cảm thọ an lạc và ấm ấp, thân thì sự hỷ lạc sanh khởi, sự xúc động khi con niệm ân trên thầy và đại chúng ở đây. Dù con không nhìn lên thầy nhưng hình bóng của thầy hiện lên trong tâm con, tiếng gà đang gáy cũng hiện lên trong tâm con. Hành lúc này là sự suy nghĩ về năm uẩn, sự sắp xếp những lời nói thầm trong tâm để nói về năm uẩn. Thức là con rõ biết nhãn căn, con biết con đang ngồi, biết rõ và thấy rõ trước mặt con là những viên đá nhỏ, ngọn lửa giữa mọi người, nhĩ thức con nghe rõ biết gà gáy, tiếng dế kêu, tiếng con đang nói, tiếng lửa đang bốc cháy, con cảm nhận mùi không khí trong lành nơi đây, thiệt thức là con cảm nhận vị lạt ở lưỡi do nước bọt tiết ra, thân thức con rõ biết thân đang ngồi, đang xúc chạm về khăn, y áo, mông đang chạm vào tọa cụ, chân phải đặt lên chân trái, lưỡi đang chạm vào răng, ý thức con rõ biết thọ; tưởng; hành. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Sự thực tập của con còn yếu kém, chưa được sâu sắc. Xin được mọi người chỉ dạy thêm cho con.
II. Ba pháp
Sư Phụ: Trước khi quý sư cô xuống núi, Minh Thành xin nhắc lại những trình tự tu học cho mọi người cũng như những người mới nắm vững được các bước thực tập căn bản. Tất cả mọi người về đây tu cần nắm vững hai pháp tuyệt đối quan trọng là thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn. Dù ở đây bao lâu đi nữa mà không nắm vững được hai pháp này thì cũng như không vì toàn bộ sự tu hành của chúng ta là sự thanh lọc tâm cấu nhiễm. Con nhắc lại toàn bộ sự tu hành của chúng ta là sự thanh lọc tâm cấu nhiễm lậu hoặc dơ bẩn, toàn bộ sự tu hành của chúng ta là công trình thanh lọc tâm cấu nhiễm, cái tâm dơ bẩn đầy lậu hoặc. Mình muốn thanh lọc tâm dơ bẩn này thì trước hết phải biết được nó dơ bẩn như thế nào, tại sao nó dơ bẩn, tình trạng nhiễm ô của nó thế nào.
Muốn biết sự dơ bẩn này thì phải biết tâm là gì, không biết tâm là gì thì làm sao biết sự dơ bẩn của tâm, muốn biết tâm là gì thì Đức Phật dạy chúng ta phải nhìn thấy được năm uẩn, chính là tự thân tự tâm chúng ta. Muốn nhìn thấy năm uẩn phải dừng lại sự hướng ngoại, sự buông lung phóng dật theo ngoại cảnh. Cho nên đường lối tu tập theo Đức Phật dạy rất trình tự, có hệ thống, thứ bậc, như vậy muốn nhìn thấy thân tâm một cách đúng đắn, chính xác, trọn vẹn, đầy đủ thì phải có sự hướng nội, nhìn vào trong nội tâm, ba pháp chúng ta đang thực tập chính là cách thức để nhìn vào trong, để trở về nội tâm.
Nếu không rõ biết trước mặt, con mắt nhìn hết cái này tới cái kia, tức là hướng ngoại mà hướng ngoại thì không thấy được thân tâm, vì thế mỗi pháp Đức Phật dạy đều có mục đích của nó. Đầu tiên phải rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt không chỉ trong giờ ngồi thiền mà trong mọi lúc mọi nơi. Có sự rõ biết trước mặt để hộ trì căn, thu tầm mắt đang hướng ngoại trở về thân tâm, còn nếu không rõ biết trước mặt thì ánh nhìn đó là hướng ngoại, thả lỏng, buông lung, với ánh nhìn như thế thì làm sao quay trở về tự thân chính mình được? Vì thế bước đầu tiên là rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt đã là một bước hộ trì căn quay về tự thân, chúng ta phải hiểu được tại sao mình thực tập điều này và thực tập với mục đích gì, nắm vững mới thấy giá trị quý báu của ba pháp mà mình đang thực hành. Lúc đầu thực thành rất dễ quên nên phải thường xuyên nhắc nhở bản thân.
Thứ hai là cảm giác toàn thân, từ hơi thở cảm nhận hơi thở rồi cảm nhận cơ thể, sau đó là cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể. Từ rõ biết trước mặt thâu lại sự phóng tâm theo ngoại cảnh, vì con mắt là cửa sổ tâm hồn cho nên khi thu con mắt lại sẽ cảm nhận bên trong cơ thể. Sau khi thu nhiếp, hộ trì căn thì chúng ta bắt đầu có sự cảm nhận sâu sắc các cảm thọ trong con người mình những gì đang sanh khởi, đang có mặt bên trong thân tâm, những dòng cảm xúc đó, nhận diện các cảm thọ. Tĩnh giác trong tâm, có những hình bóng, suy nghĩ gì sanh khởi ra nếu là ác, bất thiện pháp thì đánh đuổi, nhiếp phục, trừ diệt. Đó là những cánh cửa để bước vào tự thân, tự tâm của mình, chỉ riêng ba pháp này được thực hành nhuần nhuyễn là cả một sự thành công bước đầu, con thấy những chú làm công quả vẫn chưa để tâm thực hành, phải để ý, xem các sư huynh đi trước để học hỏi chứ đừng có hình thức bên ngoài, phải thực tập cho được ba pháp này.
Vì sao phải như vậy? Vì thân tâm của mình bị kiết sử trong buông lung phóng dật, nó đã quen buông thả nên giờ bắt ép vào khuôn phép sẽ khó chịu lúc ban đầu, quen với sự yêu thích, nghiệp đã thuần thục như vậy, hễ muốn là làm chứ không có suy xét cẩn trọng xem là nên hay không nên, có lợi ích hay không có lợi ích, vì thế ba pháp này cực kì vi diệu. Những vị về đây công quả hay là những vị xuất gia về đây tu học cần phải nghe thật nhiều bài "Thực Hành Ba Pháp", "Ba Pháp Vi Diệu", "Công Năng Của Ba Pháp", kèm theo đó phải thực tập thường xuyên. Vì ái, dục, thói quen buông lung là một kiết sử trói buộc thân tâm, bây giờ nó bị kìm kẹp nên rất khó chịu, bứt rứt, mình phải thấy được điều này rồi sẽ từ từ nhiếp phục được nó.
Cho nên "nội tâm tỉnh giác" chỉ có bốn chữ nhưng phải thực tập suốt cả đời, đừng nghĩ rằng vào tu là học những gì cao siêu trong khi không thấy thọ; tưởng; hành, những cảm giác, nghĩ tưởng sanh khởi ra một cách rành rõ thì tu suốt đời cũng không đi đến đâu. Từ sự bắt đầu trở về nội tâm, nhìn thấy chính mình, nhận diện được năm uẩn thì nhìn thấy càng chi tiết, đầy đủ, trọn vẹn thân tâm, thành ra có học thêm mấy chục năm nữa cũng chỉ là nhận diện ngũ uẩn chứ không phải học vài năm nhận diện ngũ uẩn là xong, không học nữa mà nhận diện ngũ uẩn sẽ đi theo chúng ta xuyên suốt cho đến ngày thành tựu Thánh quả tối cao, nó không rời xa sự quán chiếu năm uẩn, nhìn thấy rõ năm uẩn, nhìn thấy rõ thân xác, nghĩ tưởng, sự nhận thức, rõ biết này.
Khi thấy được năm uẩn này thì "Hỡi ơi, tại sao cái tâm lại xú uế, cấu nhiễm, lậu hoặc đang rỉ chảy ngày đêm trong nội tâm", đó là một nội tâm rỉ chảy những thứ dơ bẩn, nội tâm chúng ta như một ống cống trăm ngàn năm không chùi rửa, nhìn thấy rồi sẽ bất ngờ hoàn toàn. Người nào tu mà cho rằng mình giỏi, mình hay, mình hơn mọi người thì người đó vẫn chưa thấy được nội tâm, người thấy thật sự nội tâm sẽ luôn trú trong sự tàm quý, hổ thẹn và sợ hãi, thấy được nội tâm sẽ từ từ khiêm tốn, khiêm cung vì họ thấy được chấp ngã của họ rất to lớn nên xấu hổ, người không thấy nội tâm sẽ vênh váo, ta đây, không xem ai ra gì.
Người thấy được nội tâm cấu nhiễm, đầy sự tham dục, sân hận, vô minh, chấp ngã, đầy ngã mạn, buông lung phóng dật, thị phi, dối trá, lọc lừa… thì người này hỡi ơi, lạy sám hối trong nước mắt ràng rụa, lạy sám hối trong cái tâm não nề, chán chê. Khi thấy được cái tâm như vậy thì trí huệ bắt đầu thành tựu, trí tuệ mà bậc Thánh truyền trao cho mình bắt đầu được khởi động, tỏ sáng, con mắt tâm bắt đầu mở ra.
Vì thế thông qua sự thực hành ba pháp: Chánh niệm trước mặt, nội tâm tỉnh giác, cảm giác toàn thân, thông qua sự nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, rõ biết để đi vào tự thân, tự tâm của mình rồi khi nhìn thấy được sẽ bàng hoàng, xấu hổ và nhục nhã, sợ hãi những cái tâm cấu nhiễm, dục ái ngày đêm, những tâm tham muốn, thúc giục, say mê, những tâm u mê… thấy được nó rồi sẽ ngao ngán, nhàm chán và bắt đầu công cuộc đại thanh lọc được triển khai. Đó là đường lối tu hành của kinh tạng Nikāya, với một người nhìn thấy được thân tâm của mình thì người đó nhất định sẽ khai triển công cuộc thanh lọc, làm vệ sinh, tẩy rửa. Còn khi thấy được mà không thanh lọc, tẩy rửa thì sự kiện đó không thể xảy ra. Một người mù mấy chục năm ở trong căn nhà dơ bẩn, hôi thối đã được trị liệu sáng mắt thì người này sẽ sửng sốt vì căn nhà quá xú uế, và họ nhất định sẽ dùng chổi, đồ hốt rác, lau nhà, bàn chảy chà rửa, tẩy sạch căn nhà.
III. Phương pháp tẩy rửa nội tâm
Phương pháp tẩy rửa nội tâm chính là quán bất tịnh để trừ dục tham, tu tập tâm từ bi vững chắc để tẩy sân hận, tu tập sự tinh cần, tinh tấn, trí huệ để tẩy vô minh, si ám, tu tập pháp khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, tu tập phương pháp sám hối diệt ngã, tu tập sự quán chiếu trống rỗng của tứ đại ngũ uẩn này để tẩy tâm chấp ngã, tu tập tâm chân thành, chân chánh để tẩy tâm xảo quyệt, lừa đảo, giả dối của mình. Tất cả ba mươi bảy phẩm trợ đạo được Đức Phật dạy nhằm giúp thanh lọc, tẩy rửa tâm vô minh, lậu hoặc, xú uế, cấu nhiễm, gian ngụy. Xin thưa đại chúng, cái tâm của mình rất khủng khiếp vì nếu nó đơn giản đã có không biết bao nhiêu bậc Thánh thành tựu, có biết bao người tu mà có được mấy người đắc đạo. Đắc đạo là diệt tận tham sân si, vô minh, bản ngã, đó gọi là thành đạo, chứng đạo nhưng tại sao mình không đắc đạo? Chính vì tâm gian ngụy, xảo trá, tâm mưu mô, mưu sĩ tu được chút ít là nghĩ được rồi, nhiếp phục được chút bản ngã là nghĩ tốt rồi nên lậu hoặc còn tàn dư, phiền não còn tồn đọng, đến đúng lúc nó sẽ sống lại. Câu nói được Đức Phật lập lại nhiều lần trong kinh Nikāya là chặt nó như chặt cây tala làm nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lai, cho đến khi nào dục tham ái trong nội tâm được diệt tận hoàn toàn không còn sanh khởi trở lại nữa, tự thân mình tự chứng biết thì lúc đó mới gọi là ly dục. Cho đến lúc nào cái sân được diệt tận hoàn toàn, được Đức Phật ví dụ đào gốc, chặt rễ, đốt nó đổ xuống sông thì lúc đó sân mới được diệt tận. Vô minh, bản ngã, chấp thủ cũng giống như vậy, tất cả sự tu chúng ta là đánh thẳng vào dục tham ái, vô minh, bản ngã.
“Ví như này các Tỳ-kheo, các hạt giống không thể bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn được tươi tốt, được khéo gieo. Và một người lấy lửa đốt chúng, sau khi lấy lửa đốt, làm cho chúng thành tro, sau khi làm thành tro, quạt chúng trong gió lớn, hay cho vào dòng nước sông chảy nhanh mang cuốn đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hạt giống ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm nghiệp nào được làm từ không tham ... không thể sanh khởi trong tương lai. Phàm nghiệp nào được làm từ không sân ... không thể sanh khởi trong tương lai. Phàm nghiệp nào được làm từ không si ... không thể sanh khởi trong tương lai.”
(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Sau khi nhận diện ngũ uẩn thì bước tiếp theo là thấy được tham sân si, vô minh, bản ngã. Đại chúng đã bắt đầu thấy được tham sân si, vô minh, bản ngã nhiều chưa? Xem trong gương thấy lông mày mà khởi ái lên là cạo luôn lông mày, phải mạnh mẽ, thẳng tay hạ gục dục ái như thế, phải làm dũng sĩ, chiến sĩ trong nội tâm. Các cô tập sự xuất gia đã thấy được nội tâm cấu nhiễm khủng khiếp của mình chưa? Thấy nội tâm rồi mới có cuộc thanh lọc vĩ đại, nhưng thấy được đã là một sự vĩ đại của người tu.
Chỉ sợ rằng mình không thấy thôi, chỉ sợ bị mù thôi chứ mắt đã mở ra được thì rác bẩn bao nhiêu cũng không sợ tức là không chấp nhận pháp, không học tập pháp, không nhìn nhận thân tâm một cách nghiêm túc, thận trọng, cẩn trọng, không nhìn nhận lỗi lầm một cách chân thành, tha thiết, không có trực hạnh, chơn chánh hạnh. Thấy được lỗi hoặc đã được chỉ lỗi nhưng vẫn cãi lại, không nhìn nhận lỗi lầm hoặc ngụy biện thì Phật kế bên cũng không thể cứu giúp được. Phải là người chân thành, chân chánh, chính trực, ngay thẳng nhìn nhận lỗi lầm, cái cấu uế, cấu nhiễm của mình thì người đó mới có cơ hội thanh lọc thân tâm trong sạch, tinh anh. Diệt tận hết tham sân si, vô minh, bản ngã là đạt được Thánh quả tối thượng, thành bậc A-la-hán. Chúng ta thấy trình tự tu học rất rõ mà chúng ta đang đi ở đây.
Đầu tiên là rõ biết trước mặt tức là hộ trì căn, thu nhiếp các căn. Cảm giác toàn thân là quán thọ trên thọ, là bước đầu để đi vào sào huyệt của lậu hoặc. Kế đó nếu những hình bóng, suy nghĩ sanh khởi, an trú, chấm dứt như thế nào đều phải biết, đó là nội tâm tỉnh giác, là nội quán, thường chiếu. Từ sự nhận diện năm uẩn đầy đủ mới phát giác, phát hiện (giác ngộ) ra tham dục, tham ái, tham đắm, sân hận, bực dọc, bực bội, ganh tị, hơn thua, giành phần thắng, phần giỏi… Phát giác, phát hiện ra tâm si ám, hôn trầm, lờ đờ, si dại, tâm bản ngã, vênh váo, cho mình là hơn, là tài. Sau đó chúng ta có những phương pháp cụ thể tương ứng, phù hợp với từng loại rác bẩn để tẩy sạch. Cái nào dùng chổi, cái nào dùng cây lau nhà, cái nào dùng thuốc tẩy, cái nào dùng bàn chải sắt, nếu cần phải tẩy rửa toàn bộ vì căn nhà nội tâm chúng ta trong vô số kiếp đã không lau chùi.
IV. Pháp cấu nhiễm
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Trong thời gian dài tâm chúng ta bị ô nhiễm bởi dục tham, sân hận, si mê, vô minh, khát ái, bản ngã. Tâm bị vô minh và khát ái trói buộc, sai khiến, bao phủ. Phải thường xuyên kiểm tra bên trong nội tâm, đống cây mới cháy phừng phực mà sắp tàn lụi, chút nữa chỉ còn là đống tro tàn, đó là sanh diệt pháp vì tất cả những gì sanh khởi đều phải đi đến chỗ diệt tận, hoại diệt. Những ngày xuân mọi người ai cũng rộn ràng, tất bật nhưng chỉ được vài ba ngày rồi cũng xong cho nên trong khi làm việc phải thấy sự sanh diệt chứ không phải đam mê, hỷ ái trong đó, làm vì trách nhiệm nhưng trong sự tu phải nhàm chán, viễn ly, ly tham, từ bỏ, làm nhưng không bị tham đắm, dính mắc trong đó vì lúc nào cũng nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong để nhiếp phục, như vậy trong tâm mình mới nở hoa bất tử còn hoa đào, hoa mai nở chỉ được vài ngày là héo tàn cho nên tu là thanh lọc tâm cấu nhiễm, tâm cấu uế, lậu hoặc.
Cái tâm này đã làm khổ, giày xéo, hành hạ, đay nghiến, sai khiến mình nhiều lắm rồi, tâm si mê đã thúc giục, đòi hỏi, chờ mong, tưởng mơ trong những thứ vô thường, sanh diệt mây khói, đuổi hình bắt bóng này. Cái tâm này là tâm ngu si, dại khờ, tâm ô nhiễm, lậu hoặc. Tâm mình bị nhiễm bởi dục, hữu, vô minh lậu. Chúng ta nhìn sâu sắc vào trong nội tâm sẽ thấy một trạng thái ngấm ngầm hoạt động của tâm nhiễm từ dục này, hết muốn cái này tới muốn cái kia, hết đòi cái này đến đòi cái nọ, hết thèm cái này đến thèm cái khác, không bao giờ hết sự tham muốn. Chúng ta phải nhìn cho sâu sắc để tu tập, ngoài đời muốn quần áo đẹp thì vào tu cũng muốn y áo vải tốt, ngoài đời muốn ăn sơn hào hải vị thì vào tu cũng muốn ăn cho ngon, ngoài đời muốn nhà đẹp thì vào tu cũng muốn chùa đẹp, chúng ta có nhìn rõ sự biến tướng của nó không?
Cái dục này có muôn hình vạn trạng, ngoài đời muốn chức vụ thì vào tu cũng muốn có địa vị trong cửa chùa, ngoài đời muốn cảnh đẹp thì vào tu cũng muốn ngao du sơn thủy, tưởng là đi tu nhưng thật chất đang chạy theo ngoại cảnh, ngoài đời tham muốn kiến thức, học cao hiểu rộng vào tu cũng muốn ôm hết kiến thức Phật học, muốn làm nhà bác học uyên thâm chứ không muốn đi tới chỗ diệt tận tham sân si, vô minh, bản ngã, đặt tâm sai hướng nên cuối cùng sự học chỉ phát huy ngã kiến, phát huy kiến chấp về bản ngã chứ không phát huy trí tuệ để diệt tận khổ đau. Chúng ta phải nhìn thấy những hình thái của sự hoạt động nhiễm dục, nhiễm tham, nhiễm ái, ngoài đời thì cha mẹ, anh em, cô bác chú dì vào tu thì sư huynh, sư muội, sư bác, không khác gì ngoài đời.
Chúng ta phải nhìn thấy những sự biến tướng muôn hình vạn trạng của dục tham ái này, cái tâm dục nhiễm làm ra những pháp như thế và làm cho mình không thể giải thoát, không thể viễn ly, xuất ly được. Cứ tham muốn hoài, đòi hỏi hoài, tìm kiếm hoài, không bao giờ hài lòng, vừa lòng, làm cho con người đau khổ, nhọc nhằn, mệt mỏi, cái dục ái nhai nghiến tất cả hành tinh này, dục nhiệt não thiêu đốt tất cả thế giới này, đó là một nội tâm bị nhiễm dục và dục chi phối tất cả suy nghĩ, lời nói, hành động đều bị dục tham ái chi phối, điều khiển, thao túng và đời sống mình chỉ là con rối để dục ái tham điều khiển.
Sống vô tư, hồn nhiên, cười giỡn không hề hay biết, đó là một đời sống mù lòa, si ám, si dại, mê muội, Đức Thế Tôn gọi là dục nhiễm, cha giết con, vợ giết con, anh chị em giết nhau vì vài tấc đất, vì những tờ giấy bạc, vì những dục ái tình cảm mà nam nữ giết nhau, nam nam giết nhau, nữ nữ giết nhau, đó là đời sống của dục nhiễm, tham nhiễm, ái nhiễm, ghét nhau nên quăng nùi giẻ tẩm xăng đốt cháy làm chết 4-5 mạng người… Có vô số những cảnh đau khổ, tai họa trên khắp hành tinh này, tất cả đều xuất phát từ tâm hôn ám, si mê, cấu nhiễm, lậu hoặc, ngu si tự hại mình hại người, giết mình giết người, làm cho sầu đau mình sầu đau người, làm cho thống khổ mình thống khổ người. Tu để thấy được cái tâm đó một cách hoàn toàn, làm cho nội tâm trong sạch, thanh tịnh, vô nhiễm.
Thứ hai là hữu nhiễm là ngấm vào trong da thịt, tủy xương, đó là một sự hoạt động lăng xăng, bày ra hết việc này đến việc kia, liên tục dao động vì không thể ở yên một chỗ. Trong chỗ vô sự lại sanh sự kiếm chuyện, ở trong chùa ngồi thiền không được mà bày việc ra làm chứ không chịu tu, đó là một nội tâm dao động, điều sâu xa là đam mê và yêu thích sự hiện hữu trong ngũ uẩn, hiện hữu trong dục tham ái, vỗ ngực tự xưng tôi đây là được cái này cái kia chứ không phải tôi đây không được.
Đó là hữu nhiễm, ưa thích sự hiện hữu, có mặt, ưa thích sự tồn tại trong sân si, nếu hiền người ta chê ngu nên phải làm dữ lên mới được, đó là hữu nhiễm. "Tôi là quản chúng ở đây mà xem tôi như vô hình hả", "Tôi là huynh trưởng ở đây mà không ai xem tôi ra gì"… đó là bản ngã, chấp vào sự hiện hữu, ưa thích, say đắm trong sự tồn tại, nắm chặt, say sưa, phiền não nhưng vẫn yêu thích sự tồn tại này. Một nội tâm bị nhiễm đủ thứ nhưng lại không biết quay lại thanh lọc, tẩy rửa, nếu càng lao ra ngoài thì càng chuốc lấy sầu đau, buồn phiền, lo rầu nhưng vẫn tiếp tục yêu cái khổ đau này mới xót xa, muốn hết khổ nhưng cứ yêu cái thứ làm ra khổ mới chết.
Chính thân xác này là cơ sở của bệnh tật, già chết, tai nạn, trong khi muốn hết khổ nhưng cứ yêu thích, bám giữ, chấp thủ thân xác này thì chừng nào hết khổ? Đó là sự si mê, vô minh, hữu nhiễm, những điều này rất thâm sâu vi diệu, đây là sự phát giác, phát hiện, sự chứng ngộ tối thượng của Đức Như Lai, bậc thấy biết cùng tột.
Cho nên sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, cái nào cũng có "thủ" trong đó, cái nào cũng bám chặt, ghì chặt, buộc chặt, nắm chắc trong năm uẩn này, trong thân xác vô thường, ung nhọt, ổ dịch bệnh này, tới chết cũng không buông bỏ thì tu đến bao giờ thành công? Tu cho đến chết trong chùa thì nước mắt vẫn tuôn ra, nếu không phá được thân kiến này, không thành tựu trí bất tịnh, không nhìn thấu triệt bản chất tứ đại này, chín giai đoạn một tử thi, ba mươi hai thể trược để phá trừ cái thấy biết yêu thích thân xác này thì tới ngày chết nước mắt vẫn lưng tròng tuôn trào vì tiếc nuối, hối hận và đau khổ. Đó là hữu nhiễm, yêu thích cảm giác đay nghiến, hành hạ, tàn phá thân tâm mình, những hình bóng, suy nghĩ nào mình cũng nhận là tôi, là của tôi. Đó là vô minh nhiễm.
Cái tâm ngu mê, si ám ăn vào xương tủy rồi, cái lầm chấp, bám chặt vào tứ đại ngũ uẩn là tôi, là của tôi là vô minh nhiễm. Chính vì vô minh nên mới có khát ái, không có vô minh sẽ không có khát ái, vô minh là không thấy bản chất ung nhọt, mũi tên, không cảm thấy sự vô thường, đầy ưu não mà cứ tưởng là vui, là sạch đẹp rồi đam mê, thèm thuồng, bám chặt vào đó. Từ vô minh nên mới có khát ái, từ khát ái mới sanh ra biết bao hệ lụy ganh tị, tật đố, hơn thua… đó là vô minh nhiễm. Cái vô minh này đã ngấm vào da thịt, tủy xương trong vô lượng vô biến kiếp, để tẩy rửa, tháo gỡ ba loại nhiễm này không phải chuyện dễ dàng, phải dọn dẹp trong từng ý nghĩ, tẩy rửa trong hình bóng, phải vệ sinh trong từng cảm giác, cảm xúc, mỗi khi cảm thọ sanh khởi lên ác bất thiện pháp tương ưng với tham sân si, bản ngã là phải diệt tận.
Kiểm tra từng ý nghĩ, nó là thiện hay bất thiện, ly tham bất hại ly dục hay tham sân si, phải tẩy sạch, diệt từ từ cái vô minh, si ám này, tẩy trừ đời sống ngu mê, sầu bi khổ ưu não này. Cuộc thanh lọc của chúng ta rất tuyệt vời, tối cao, vô thượng, thù thắng. Hãy đi trên con đường thanh lọc này, đi trên con đường tẩy sạch này, đi trên con đường thù thắng, tối thắng, vô thượng, an tịnh, đạo lộ này. Hãy đi con đường này rồi mình sẽ đến bến bờ bên kia của giác ngộ giải thoát. Xin thưa đại chúng, đống tro tàn trước mặt đây có tro cốt con trong đó, có tro cốt của cha mẹ, anh chị em mình trong đó, có tro cốt của chính mình trong những đời quá khứ trong đó, chúng ta sanh ra rồi cứ tham sân si, dục tham ái, bản ngã rồi chết, cứ lập lại như vậy trong vô tỉ kiếp mà chúng ta vẫn không nhàm chán, không biết con đường xuất ly.
Hôm nay chúng ta thật may mắn, phước báo, công đức vì đã thấy xuất ly đạo lộ, một con đường thoát ra và sự thanh lọc toàn bộ những cấu nhiễm của thân tâm này. Chúng ta hãy cố gắng vững chí, bền lòng, hãy đi từng bước rồi từ từ sẽ bước vững trên con đường tươi đẹp, hạnh phúc, vi diệu giải thoát này. Đừng sợ khó, đừng sợ dài xa mà chỉ sợ chúng ta không có sự vững tâm, quyết chí rồi chắc chắn chúng ta sẽ đến gặp Đức Thế Tôn và các bậc Thánh Tăng, chúng ta sẽ đi cùng con đường với các ngài, chúng ta sẽ đến chỗ mà các ngài đã đến. Hãy nhìn cái pháp sanh diệt đang ở trước mắt chúng ta, mới bừng sáng rồi cuối cùng cũng tàn lụi, đời sống này rồi cũng giống vậy, thân xác này rồi cũng sẽ như vậy, ngọn núi này rồi cũng vậy thôi, làm gì còn chùa Linh Quy Pháp Ấn, sẽ sụp đổ, tan hoại hết.
“Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp.”
(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
V. Trình pháp
Xin mời đại chúng chia sẻ cảm xúc tu học với nhau.
Sư cô C: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con có một thắc mắc, khi thực tập ba pháp, nhận diện năm uẩn thuần thục, khi con thấy rõ tâm mình có nhiều tham hoặc sân, con muốn áp dụng các pháp quán bất tịnh hoặc từ bi thì phải áp dụng như thế nào, trong mọi lúc mọi nơi hay chỉ áp dụng khi ngồi thiền hoặc chỉ khi dục tham sanh khởi. Chúng con phải dung hòa thiền định và thiền quán như thế nào để nuôi dưỡng chánh niệm và chánh tri kiến.
Sư Phụ: Như Minh Thành đã có chia sẻ, bước đầu tiên là thực tập ba pháp và nhận diện năm uẩn cho thuần thục, phải nắm vững những điều căn bản. Hiện tại sự nhận diện năm uẩn của các cô chưa được chính xác và rõ ràng, cho nên khi trở về phải nghe thêm các bài "Nhập Thất Chia Sẻ", trong đó có rất nhiều lần Minh Thành cho đại chúng nhận diện năm uẩn và thực hành ba pháp. Về phần quán thì phải xem mình nặng về cái nào, đương nhiên tham dục là đại chướng ngại của người tu nên quán bất tịnh phải được chú trọng tối đa, những bài đó đã có sẵn trên trang web, mở lên nghe và thực tập theo trong giai đoạn đầu. Sau giờ ngồi thiền vẫn tác ý quán cho đến khi nào pháp quán đó tương đối thuần thục, thậm chí đi đến thành tựu, những phương pháp kia là phương pháp phụ, ví dụ trải tâm từ, còn làm cùng lúc nhiều thứ sẽ không vững chắc và sẽ không đi đến thành tựu một pháp nào vì tâm bị chia ra quá nhiều. Còn đợi đến khi dục, sân sanh khởi mới quán thì không kịp, cho nên phải quán thường xuyên vào lúc bình thường không có gì cũng phải quán để thuần thục từ từ mới có năng lực nhiếp phục dục tham, các sân hận, bản ngã. Vì thế quán bất tịnh phải thực hành thường xuyên và liên tục. Ví dụ có nhiều phương pháp hỗ trợ cho phép quán, đi đại tiểu tiện cũng quán, ngoáy lỗ tai cũng khai triển để quán, học thuộc bài kinh Ung Nhọt để quán.
“Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này.”
(Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) Một Ung Nhọt)
Nghe thường xuyên bài này, những gì mình nghe đều nhằm bổ túc cho quán bất tịnh. Khi nhìn các con vật chết thì nắm bắt những việc này để làm đề mục liên hệ đến tự thân để quán, phải khéo léo tác ý thường xuyên để những cảm giác, nghĩ tưởng sanh khởi nhiều, tăng trưởng phát triển cái thấy biết đó, đó là sự nỗ lực, chuyên cần, tinh cần sẽ thấy kết quả rõ rệt. Không phải quán thời gian là thành tựu liền mà phải thâm nhập, thẩm thấu từ từ rồi mình sẽ thấy sự chuyển biến trong nhận thức về thân tâm của mình.
Câu trả lời như vậy cô đã rõ chưa ạ?
Sư cô C: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con cũng hiểu rồi ạ, con xin tri ân thầy ạ.
Sư cô D: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, kính thưa quý sư cô cùng toàn thể đại chúng, con có thắc mắc xin thầy chỉ bảo cho con ạ. Khi quán bất tịnh và cùng lúc quán tâm từ thì có trở ngại gì trong quá trình tu tập không ạ?
Sư Phụ: Hai phép quán đó rất tốt, không có gì là trở ngại cả. Đây cũng là hai pháp căn bản và là chính yếu tại Linh Quy, quán bất tịnh để trị tham dục và trải tâm từ để trị tâm sân.
Sư cô D: Khi con thấy tại nạn thì lúc đó con khởi lên tâm thương xót, khổ đau nhưng khi qua cảnh đó rồi lại khởi lên tâm khác, đó là mọi thứ đều vô thường, có cả nhân quả nghiệp báo trong đó. Như thế có bị mâu thuẫn gì không ạ?
Sư Phụ: Đó là mình suy xét về nhiều góc cạnh của một vấn đề, đó vẫn là thiện pháp nhưng không chuyên sâu vào vấn đề nào cả. Nếu muốn chuyên sâu thì hãy tập trung tâm ý vào một đề mục, còn để rộng ra thì đó vẫn là thiện pháp nhưng không đào sâu vào mục nào cả. Tùy vào sự ưa thích tu học của mình, nếu mình đặt vào một đề mục thì sự quán chiếu sẽ thâm sâu.
Sư cô D: Mô Phật, con xin tri ân trên thầy.
Sư Phụ: Thêm một điều nữa là cần phải linh động, có khi ép tâm quá cũng không được, tức là gặp trường hợp nào đó mà thấy tâm hướng về khía cạnh đó nhiều thì quán cái đó luôn. Ví dụ nếu thấy người chết chỉ còn là đống bầy nhầy vì bị xe cán mà tâm nghiêng nhiều về quán bất tịnh thì lấy đó làm đề mục, quán sâu về bất tịnh, còn lúc đó tâm hướng về vô thường thì lấy vô thường làm đề mục và quán sâu vào đó luôn. Phải xem cái thọ lúc đó hướng về pháp nào, tuy mình có đề mục để thường xuyên tu tập nhưng lúc đó tâm hướng về cái nào mạnh, cảm xúc về cái nào nhiều thì hướng về cái đó để trí huệ được sâu sắc, hoặc là vô thường, hoặc là bất tịnh, hoặc niệm tử…
Thầy Nghĩa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Buổi chia sẻ pháp sáng nay con có đi theo lời hướng dẫn của sư phụ, con Như lý tác ý thấy được nội tâm mình đang có rất nhiều rác bẩn cấu uế, dục nhiễm, hữu nhiễm và vô minh nhiễm. Con cần tu tập nhiều hơn, nếu không sẽ bị nó lôi kéo làm cản trở việc tu học, con thấy được đốm lửa dù lúc đầu chỉ là đốm lửa nhỏ nhưng nếu không nhận diện, không đào sâu thì khi trở thành đống lửa lớn sẽ khó dập tắt.
Khi đống lửa đang hừng hực cháy con thấy sự thiêu đốt của tâm mình trong đó, sự nóng bức khó chịu khi phải chịu đựng bản ngã, sân hận, những rác bẩn mình phải chịu từ lâu đời lâu kiếp. Một khi cố gắng và có sự quyết tâm thì đống lửa cũng sẽ hạ nhiệt, lụi tàn thành tro bụi, bị nước dập tắt, gió thổi bay đi, con khởi lên sự tác ý nỗ lực dập tắt những đống lửa đó nhưng hãy là một bông sen từ trong bùn vươn lên tỏa ngát hương thơm để đem lại lợi ích cho chính mình, nếu không mình sẽ mãi bị vùi lấp bởi bùn tanh hôi, sự chấp thủ bởi ngũ uẩn, bản ngã. Mặc dù thân bị đau lưng khi nghe pháp nhưng tâm rất hỷ lạc vì con cảm nhận được sự chia sẻ pháp nhiệt huyết của sư phụ cho đại chúng trong ngày cuối năm. Con thấy hạnh phúc khi giờ đây cả thế giới đang chìm sâu trong dịch bệnh mà mình được tu học với đại chúng tinh ba. Con xin tri ân trên sư phụ đã có buổi chia sẻ pháp hôm nay. Nhân dịp cuối năm con xin kính chúc sư phụ và đại chúng luôn mạnh khỏe để tu tập trong chính giáo Pháp của Đức Thế Tôn.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi đây, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, trong đó có người thân của con. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần dễ chịu, an lạc và bình yên, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện an lạc, bình yên, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.
TU LÀ THANH LỌC TÂM UẾ NHIỄM
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình pháp PAGEREF _Toc114412999 \h 1
II. Ba pháp PAGEREF _Toc114413000 \h 4
III. Phương pháp tẩy rửa nội tâm PAGEREF _Toc114413001 \h 7
IV. Pháp cấu nhiễm PAGEREF _Toc114413002 \h 10
V. Trình pháp PAGEREF _Toc114413003 \h 14
I. Trình pháp
Hôm nay là 29 Tết năm Canh Tý. Giờ phút này chúng ta đang ngồi ở Viễn Ly Xứ quây quần bên nhau trong ngọn lửa, xung quanh là tiếng gà gáy báo sáng sớm, không gian bình an thênh thang và tĩnh lặng trong không khí ấm áp, hòa kính và an lạc. Chúng ta chia sẻ những điều tu học theo tinh thần nguyên chất Đức Phật đã truyền trao, con xin mời các sư cô cảm nhận những gì trong sự tu học hoặc còn gì chưa rõ thì hãy chia sẻ.
Sư cô A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con đến đây đã 3 ngày và hôm nay con sẽ xuống núi, con đã học được pháp nơi đây, cùng thực hành và được lắng nghe sự chia sẻ của quý thầy, quý sư cô và đại chúng nên con cảm nhận như được trở về ngôi nhà Chánh Pháp, cảm nhận được an lạc trong từng hơi thở, từng thân hành, khẩu hành và ý hành. Con vẫn chưa rõ lắm về pháp hành nên trong lúc ngồi thiền vẫn bị hôn trầm, vọng tưởng khởi lên nhưng con vẫn cảm nhận được sự an lạc trong tâm. Con mong nhận được kinh nghiệm tu tập từ sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng để thực hành pháp một cách rốt ráo và cảm nhận được sự an lạc khi thực hành pháp.
Sư Phụ: Con mời cô nhận diện ngũ uẩn trong lúc này.
Sư cô A: Kính bạch trên thầy, con xin được nhận diện ngũ uẩn ngay lúc này. Sắc uẩn, thân tứ đại con, về tâm có cảm thọ hỷ, tưởng là con nhìn thấy hình ảnh của thầy, quý sư cô và đại chúng nơi đây, hành là con nhớ lời dạy của thầy, thức là con rõ biết được sắc; thọ; tưởng. Kính bạch trên thầy, quý sư cô và đại chúng, hiện tại con cảm nhận được như vậy, mong mọi người chỉ dạy thêm.
Sư Phụ: Cô có thể trình bày nhận diện ngũ uẩn trong lúc tụng kinh Nikāya khi nãy không?
Sư cô A: Kính bạch trên thầy, ngũ uẩn trong lúc tụng kinh Nikāya là về sắc uẩn, tứ đại thì con cảm giác hỷ, tưởng là những hình ảnh của quý thầy, quý sư cô cúng dường Pháp Bảo, hành là con suy nghĩ những lời dạy của Đức Phật trong kinh Nikāya, thức thì con rõ biết thọ; tưởng; hành.
Sư Phụ: Khi tụng kinh Nikāya thì trong tâm cô có hình ảnh của Đức Phật và các thầy Tỳ-kheo thuở xưa không?
Sư cô A: Dạ, thưa thầy có ạ.
Sư Phụ: Nghĩa là mình đừng lẫn lộn giữa sắc và tưởng. Hiện tại mình thấy đại chúng ngồi đây là sắc, tưởng là hình bóng trong tâm. Con mời vị tiếp theo.
Sư cô B: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Đã từ lâu con rất thích nghiên cứu kinh Nikāya, đây là lần đầu con đến môi trường được thực hành kinh Nikāya, tụng kinh và nghe pháp của kinh Nikāya. Con thật sự rất hạnh phúc đã tìm được nơi mà trong tâm đã ao ước bấy lâu nay, con có duyên lành được gặp thầy hai lần ở Học viện, nghe thầy chia sẻ quán bất tịnh và một bài kinh trong Trung Bộ kinh, lúc đó con rất ấn tượng về pháp hành và muốn thực hành nhưng không có cách và không biết thực hành chi tiết nên chỉ biết đọc kinh và xem thêm trên mạng. Nhân duyên lành có sư cô giới thiệu con đến đây nên con rất hạnh phúc, mỗi ngày được tụng kinh, nghe giảng con cảm thấy đáp ứng được mong ước con bấy lâu nay. Con rất tri ân trên thầy, công đức phước lành vô lượng của thầy đã tạo dựng môi trường tu tập thế này vừa có pháp học lẫn pháp hành cho chúng con. Con cảm nhận từng giây từng phút, vì thời gian ở đây của con rất ít nên con nguyện sau này xuống núi cũng sẽ tiếp tục nghe giảnh và thực hành nhiều hơn những lời thầy đã chỉ dạy. Mặc dù sự thực hành những ngày ở đây chưa tinh cần và chưa được sâu sắc nhưng đó là nền tảng, ngọn lửa nổi lên trong tâm để đi đến đâu con cũng có pháp hành. Con xin tri ân trên thầy, quý thầy, quý sư cô và những vị Phật tử ở đây, những ngày tháng qua con cảm nhận được sự bình yên của núi rừng, sự khinh an của thân tâm, tình huynh đệ, sự quan tâm chia sẻ những lúc chúng con ốm đau, từng bữa ăn, giấc ngủ của mọi người đều làm con xúc động, tất cả đều có công đức của thầy. Nhờ có lời dạy của thầy mà huynh đệ ở đây sống khiêm nhường, hòa hợp, cung kính lẫn nhau, những ngày ở đây con học hỏi được rất nhiều. Con kính chúc trên thầy thật nhiều an lạc, thật nhiều sức khỏe để hoằng dương Chánh Pháp, đi đến đâu cũng là chỗ nương dựa cho chúng con. Con cũng kính chúc quý thầy, quý sư cô và Phật tử ở lại đây tinh tấn tu học, có nhiều sức khỏe, đi đúng con đường Chánh Pháp làm lợi ích cho mọi người.
Sư Phụ: Cô có thể nhận diện năm uẩn ngay lúc này không?
Sư cô B: Mô Phật, sắc thân tứ đại con có cảm thọ an lạc và ấm ấp, thân thì sự hỷ lạc sanh khởi, sự xúc động khi con niệm ân trên thầy và đại chúng ở đây. Dù con không nhìn lên thầy nhưng hình bóng của thầy hiện lên trong tâm con, tiếng gà đang gáy cũng hiện lên trong tâm con. Hành lúc này là sự suy nghĩ về năm uẩn, sự sắp xếp những lời nói thầm trong tâm để nói về năm uẩn. Thức là con rõ biết nhãn căn, con biết con đang ngồi, biết rõ và thấy rõ trước mặt con là những viên đá nhỏ, ngọn lửa giữa mọi người, nhĩ thức con nghe rõ biết gà gáy, tiếng dế kêu, tiếng con đang nói, tiếng lửa đang bốc cháy, con cảm nhận mùi không khí trong lành nơi đây, thiệt thức là con cảm nhận vị lạt ở lưỡi do nước bọt tiết ra, thân thức con rõ biết thân đang ngồi, đang xúc chạm về khăn, y áo, mông đang chạm vào tọa cụ, chân phải đặt lên chân trái, lưỡi đang chạm vào răng, ý thức con rõ biết thọ; tưởng; hành. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Sự thực tập của con còn yếu kém, chưa được sâu sắc. Xin được mọi người chỉ dạy thêm cho con.
II. Ba pháp
Sư Phụ: Trước khi quý sư cô xuống núi, Minh Thành xin nhắc lại những trình tự tu học cho mọi người cũng như những người mới nắm vững được các bước thực tập căn bản. Tất cả mọi người về đây tu cần nắm vững hai pháp tuyệt đối quan trọng là thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn. Dù ở đây bao lâu đi nữa mà không nắm vững được hai pháp này thì cũng như không vì toàn bộ sự tu hành của chúng ta là sự thanh lọc tâm cấu nhiễm. Con nhắc lại toàn bộ sự tu hành của chúng ta là sự thanh lọc tâm cấu nhiễm lậu hoặc dơ bẩn, toàn bộ sự tu hành của chúng ta là công trình thanh lọc tâm cấu nhiễm, cái tâm dơ bẩn đầy lậu hoặc. Mình muốn thanh lọc tâm dơ bẩn này thì trước hết phải biết được nó dơ bẩn như thế nào, tại sao nó dơ bẩn, tình trạng nhiễm ô của nó thế nào.
Muốn biết sự dơ bẩn này thì phải biết tâm là gì, không biết tâm là gì thì làm sao biết sự dơ bẩn của tâm, muốn biết tâm là gì thì Đức Phật dạy chúng ta phải nhìn thấy được năm uẩn, chính là tự thân tự tâm chúng ta. Muốn nhìn thấy năm uẩn phải dừng lại sự hướng ngoại, sự buông lung phóng dật theo ngoại cảnh. Cho nên đường lối tu tập theo Đức Phật dạy rất trình tự, có hệ thống, thứ bậc, như vậy muốn nhìn thấy thân tâm một cách đúng đắn, chính xác, trọn vẹn, đầy đủ thì phải có sự hướng nội, nhìn vào trong nội tâm, ba pháp chúng ta đang thực tập chính là cách thức để nhìn vào trong, để trở về nội tâm.
Nếu không rõ biết trước mặt, con mắt nhìn hết cái này tới cái kia, tức là hướng ngoại mà hướng ngoại thì không thấy được thân tâm, vì thế mỗi pháp Đức Phật dạy đều có mục đích của nó. Đầu tiên phải rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt không chỉ trong giờ ngồi thiền mà trong mọi lúc mọi nơi. Có sự rõ biết trước mặt để hộ trì căn, thu tầm mắt đang hướng ngoại trở về thân tâm, còn nếu không rõ biết trước mặt thì ánh nhìn đó là hướng ngoại, thả lỏng, buông lung, với ánh nhìn như thế thì làm sao quay trở về tự thân chính mình được? Vì thế bước đầu tiên là rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt đã là một bước hộ trì căn quay về tự thân, chúng ta phải hiểu được tại sao mình thực tập điều này và thực tập với mục đích gì, nắm vững mới thấy giá trị quý báu của ba pháp mà mình đang thực hành. Lúc đầu thực thành rất dễ quên nên phải thường xuyên nhắc nhở bản thân.
Thứ hai là cảm giác toàn thân, từ hơi thở cảm nhận hơi thở rồi cảm nhận cơ thể, sau đó là cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể. Từ rõ biết trước mặt thâu lại sự phóng tâm theo ngoại cảnh, vì con mắt là cửa sổ tâm hồn cho nên khi thu con mắt lại sẽ cảm nhận bên trong cơ thể. Sau khi thu nhiếp, hộ trì căn thì chúng ta bắt đầu có sự cảm nhận sâu sắc các cảm thọ trong con người mình những gì đang sanh khởi, đang có mặt bên trong thân tâm, những dòng cảm xúc đó, nhận diện các cảm thọ. Tĩnh giác trong tâm, có những hình bóng, suy nghĩ gì sanh khởi ra nếu là ác, bất thiện pháp thì đánh đuổi, nhiếp phục, trừ diệt. Đó là những cánh cửa để bước vào tự thân, tự tâm của mình, chỉ riêng ba pháp này được thực hành nhuần nhuyễn là cả một sự thành công bước đầu, con thấy những chú làm công quả vẫn chưa để tâm thực hành, phải để ý, xem các sư huynh đi trước để học hỏi chứ đừng có hình thức bên ngoài, phải thực tập cho được ba pháp này.
Vì sao phải như vậy? Vì thân tâm của mình bị kiết sử trong buông lung phóng dật, nó đã quen buông thả nên giờ bắt ép vào khuôn phép sẽ khó chịu lúc ban đầu, quen với sự yêu thích, nghiệp đã thuần thục như vậy, hễ muốn là làm chứ không có suy xét cẩn trọng xem là nên hay không nên, có lợi ích hay không có lợi ích, vì thế ba pháp này cực kì vi diệu. Những vị về đây công quả hay là những vị xuất gia về đây tu học cần phải nghe thật nhiều bài "Thực Hành Ba Pháp", "Ba Pháp Vi Diệu", "Công Năng Của Ba Pháp", kèm theo đó phải thực tập thường xuyên. Vì ái, dục, thói quen buông lung là một kiết sử trói buộc thân tâm, bây giờ nó bị kìm kẹp nên rất khó chịu, bứt rứt, mình phải thấy được điều này rồi sẽ từ từ nhiếp phục được nó.
Cho nên "nội tâm tỉnh giác" chỉ có bốn chữ nhưng phải thực tập suốt cả đời, đừng nghĩ rằng vào tu là học những gì cao siêu trong khi không thấy thọ; tưởng; hành, những cảm giác, nghĩ tưởng sanh khởi ra một cách rành rõ thì tu suốt đời cũng không đi đến đâu. Từ sự bắt đầu trở về nội tâm, nhìn thấy chính mình, nhận diện được năm uẩn thì nhìn thấy càng chi tiết, đầy đủ, trọn vẹn thân tâm, thành ra có học thêm mấy chục năm nữa cũng chỉ là nhận diện ngũ uẩn chứ không phải học vài năm nhận diện ngũ uẩn là xong, không học nữa mà nhận diện ngũ uẩn sẽ đi theo chúng ta xuyên suốt cho đến ngày thành tựu Thánh quả tối cao, nó không rời xa sự quán chiếu năm uẩn, nhìn thấy rõ năm uẩn, nhìn thấy rõ thân xác, nghĩ tưởng, sự nhận thức, rõ biết này.
Khi thấy được năm uẩn này thì "Hỡi ơi, tại sao cái tâm lại xú uế, cấu nhiễm, lậu hoặc đang rỉ chảy ngày đêm trong nội tâm", đó là một nội tâm rỉ chảy những thứ dơ bẩn, nội tâm chúng ta như một ống cống trăm ngàn năm không chùi rửa, nhìn thấy rồi sẽ bất ngờ hoàn toàn. Người nào tu mà cho rằng mình giỏi, mình hay, mình hơn mọi người thì người đó vẫn chưa thấy được nội tâm, người thấy thật sự nội tâm sẽ luôn trú trong sự tàm quý, hổ thẹn và sợ hãi, thấy được nội tâm sẽ từ từ khiêm tốn, khiêm cung vì họ thấy được chấp ngã của họ rất to lớn nên xấu hổ, người không thấy nội tâm sẽ vênh váo, ta đây, không xem ai ra gì.
Người thấy được nội tâm cấu nhiễm, đầy sự tham dục, sân hận, vô minh, chấp ngã, đầy ngã mạn, buông lung phóng dật, thị phi, dối trá, lọc lừa… thì người này hỡi ơi, lạy sám hối trong nước mắt ràng rụa, lạy sám hối trong cái tâm não nề, chán chê. Khi thấy được cái tâm như vậy thì trí huệ bắt đầu thành tựu, trí tuệ mà bậc Thánh truyền trao cho mình bắt đầu được khởi động, tỏ sáng, con mắt tâm bắt đầu mở ra.
Vì thế thông qua sự thực hành ba pháp: Chánh niệm trước mặt, nội tâm tỉnh giác, cảm giác toàn thân, thông qua sự nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, rõ biết để đi vào tự thân, tự tâm của mình rồi khi nhìn thấy được sẽ bàng hoàng, xấu hổ và nhục nhã, sợ hãi những cái tâm cấu nhiễm, dục ái ngày đêm, những tâm tham muốn, thúc giục, say mê, những tâm u mê… thấy được nó rồi sẽ ngao ngán, nhàm chán và bắt đầu công cuộc đại thanh lọc được triển khai. Đó là đường lối tu hành của kinh tạng Nikāya, với một người nhìn thấy được thân tâm của mình thì người đó nhất định sẽ khai triển công cuộc thanh lọc, làm vệ sinh, tẩy rửa. Còn khi thấy được mà không thanh lọc, tẩy rửa thì sự kiện đó không thể xảy ra. Một người mù mấy chục năm ở trong căn nhà dơ bẩn, hôi thối đã được trị liệu sáng mắt thì người này sẽ sửng sốt vì căn nhà quá xú uế, và họ nhất định sẽ dùng chổi, đồ hốt rác, lau nhà, bàn chảy chà rửa, tẩy sạch căn nhà.
III. Phương pháp tẩy rửa nội tâm
Phương pháp tẩy rửa nội tâm chính là quán bất tịnh để trừ dục tham, tu tập tâm từ bi vững chắc để tẩy sân hận, tu tập sự tinh cần, tinh tấn, trí huệ để tẩy vô minh, si ám, tu tập pháp khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, tu tập phương pháp sám hối diệt ngã, tu tập sự quán chiếu trống rỗng của tứ đại ngũ uẩn này để tẩy tâm chấp ngã, tu tập tâm chân thành, chân chánh để tẩy tâm xảo quyệt, lừa đảo, giả dối của mình. Tất cả ba mươi bảy phẩm trợ đạo được Đức Phật dạy nhằm giúp thanh lọc, tẩy rửa tâm vô minh, lậu hoặc, xú uế, cấu nhiễm, gian ngụy. Xin thưa đại chúng, cái tâm của mình rất khủng khiếp vì nếu nó đơn giản đã có không biết bao nhiêu bậc Thánh thành tựu, có biết bao người tu mà có được mấy người đắc đạo. Đắc đạo là diệt tận tham sân si, vô minh, bản ngã, đó gọi là thành đạo, chứng đạo nhưng tại sao mình không đắc đạo? Chính vì tâm gian ngụy, xảo trá, tâm mưu mô, mưu sĩ tu được chút ít là nghĩ được rồi, nhiếp phục được chút bản ngã là nghĩ tốt rồi nên lậu hoặc còn tàn dư, phiền não còn tồn đọng, đến đúng lúc nó sẽ sống lại. Câu nói được Đức Phật lập lại nhiều lần trong kinh Nikāya là chặt nó như chặt cây tala làm nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lai, cho đến khi nào dục tham ái trong nội tâm được diệt tận hoàn toàn không còn sanh khởi trở lại nữa, tự thân mình tự chứng biết thì lúc đó mới gọi là ly dục. Cho đến lúc nào cái sân được diệt tận hoàn toàn, được Đức Phật ví dụ đào gốc, chặt rễ, đốt nó đổ xuống sông thì lúc đó sân mới được diệt tận. Vô minh, bản ngã, chấp thủ cũng giống như vậy, tất cả sự tu chúng ta là đánh thẳng vào dục tham ái, vô minh, bản ngã.
“Ví như này các Tỳ-kheo, các hạt giống không thể bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn được tươi tốt, được khéo gieo. Và một người lấy lửa đốt chúng, sau khi lấy lửa đốt, làm cho chúng thành tro, sau khi làm thành tro, quạt chúng trong gió lớn, hay cho vào dòng nước sông chảy nhanh mang cuốn đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hạt giống ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm nghiệp nào được làm từ không tham ... không thể sanh khởi trong tương lai. Phàm nghiệp nào được làm từ không sân ... không thể sanh khởi trong tương lai. Phàm nghiệp nào được làm từ không si ... không thể sanh khởi trong tương lai.”
(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân).
Sau khi nhận diện ngũ uẩn thì bước tiếp theo là thấy được tham sân si, vô minh, bản ngã. Đại chúng đã bắt đầu thấy được tham sân si, vô minh, bản ngã nhiều chưa? Xem trong gương thấy lông mày mà khởi ái lên là cạo luôn lông mày, phải mạnh mẽ, thẳng tay hạ gục dục ái như thế, phải làm dũng sĩ, chiến sĩ trong nội tâm. Các cô tập sự xuất gia đã thấy được nội tâm cấu nhiễm khủng khiếp của mình chưa? Thấy nội tâm rồi mới có cuộc thanh lọc vĩ đại, nhưng thấy được đã là một sự vĩ đại của người tu.
Chỉ sợ rằng mình không thấy thôi, chỉ sợ bị mù thôi chứ mắt đã mở ra được thì rác bẩn bao nhiêu cũng không sợ tức là không chấp nhận pháp, không học tập pháp, không nhìn nhận thân tâm một cách nghiêm túc, thận trọng, cẩn trọng, không nhìn nhận lỗi lầm một cách chân thành, tha thiết, không có trực hạnh, chơn chánh hạnh. Thấy được lỗi hoặc đã được chỉ lỗi nhưng vẫn cãi lại, không nhìn nhận lỗi lầm hoặc ngụy biện thì Phật kế bên cũng không thể cứu giúp được. Phải là người chân thành, chân chánh, chính trực, ngay thẳng nhìn nhận lỗi lầm, cái cấu uế, cấu nhiễm của mình thì người đó mới có cơ hội thanh lọc thân tâm trong sạch, tinh anh. Diệt tận hết tham sân si, vô minh, bản ngã là đạt được Thánh quả tối thượng, thành bậc A-la-hán. Chúng ta thấy trình tự tu học rất rõ mà chúng ta đang đi ở đây.
Đầu tiên là rõ biết trước mặt tức là hộ trì căn, thu nhiếp các căn. Cảm giác toàn thân là quán thọ trên thọ, là bước đầu để đi vào sào huyệt của lậu hoặc. Kế đó nếu những hình bóng, suy nghĩ sanh khởi, an trú, chấm dứt như thế nào đều phải biết, đó là nội tâm tỉnh giác, là nội quán, thường chiếu. Từ sự nhận diện năm uẩn đầy đủ mới phát giác, phát hiện (giác ngộ) ra tham dục, tham ái, tham đắm, sân hận, bực dọc, bực bội, ganh tị, hơn thua, giành phần thắng, phần giỏi… Phát giác, phát hiện ra tâm si ám, hôn trầm, lờ đờ, si dại, tâm bản ngã, vênh váo, cho mình là hơn, là tài. Sau đó chúng ta có những phương pháp cụ thể tương ứng, phù hợp với từng loại rác bẩn để tẩy sạch. Cái nào dùng chổi, cái nào dùng cây lau nhà, cái nào dùng thuốc tẩy, cái nào dùng bàn chải sắt, nếu cần phải tẩy rửa toàn bộ vì căn nhà nội tâm chúng ta trong vô số kiếp đã không lau chùi.
IV. Pháp cấu nhiễm
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Trong thời gian dài tâm chúng ta bị ô nhiễm bởi dục tham, sân hận, si mê, vô minh, khát ái, bản ngã. Tâm bị vô minh và khát ái trói buộc, sai khiến, bao phủ. Phải thường xuyên kiểm tra bên trong nội tâm, đống cây mới cháy phừng phực mà sắp tàn lụi, chút nữa chỉ còn là đống tro tàn, đó là sanh diệt pháp vì tất cả những gì sanh khởi đều phải đi đến chỗ diệt tận, hoại diệt. Những ngày xuân mọi người ai cũng rộn ràng, tất bật nhưng chỉ được vài ba ngày rồi cũng xong cho nên trong khi làm việc phải thấy sự sanh diệt chứ không phải đam mê, hỷ ái trong đó, làm vì trách nhiệm nhưng trong sự tu phải nhàm chán, viễn ly, ly tham, từ bỏ, làm nhưng không bị tham đắm, dính mắc trong đó vì lúc nào cũng nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong để nhiếp phục, như vậy trong tâm mình mới nở hoa bất tử còn hoa đào, hoa mai nở chỉ được vài ngày là héo tàn cho nên tu là thanh lọc tâm cấu nhiễm, tâm cấu uế, lậu hoặc.
Cái tâm này đã làm khổ, giày xéo, hành hạ, đay nghiến, sai khiến mình nhiều lắm rồi, tâm si mê đã thúc giục, đòi hỏi, chờ mong, tưởng mơ trong những thứ vô thường, sanh diệt mây khói, đuổi hình bắt bóng này. Cái tâm này là tâm ngu si, dại khờ, tâm ô nhiễm, lậu hoặc. Tâm mình bị nhiễm bởi dục, hữu, vô minh lậu. Chúng ta nhìn sâu sắc vào trong nội tâm sẽ thấy một trạng thái ngấm ngầm hoạt động của tâm nhiễm từ dục này, hết muốn cái này tới muốn cái kia, hết đòi cái này đến đòi cái nọ, hết thèm cái này đến thèm cái khác, không bao giờ hết sự tham muốn. Chúng ta phải nhìn cho sâu sắc để tu tập, ngoài đời muốn quần áo đẹp thì vào tu cũng muốn y áo vải tốt, ngoài đời muốn ăn sơn hào hải vị thì vào tu cũng muốn ăn cho ngon, ngoài đời muốn nhà đẹp thì vào tu cũng muốn chùa đẹp, chúng ta có nhìn rõ sự biến tướng của nó không?
Cái dục này có muôn hình vạn trạng, ngoài đời muốn chức vụ thì vào tu cũng muốn có địa vị trong cửa chùa, ngoài đời muốn cảnh đẹp thì vào tu cũng muốn ngao du sơn thủy, tưởng là đi tu nhưng thật chất đang chạy theo ngoại cảnh, ngoài đời tham muốn kiến thức, học cao hiểu rộng vào tu cũng muốn ôm hết kiến thức Phật học, muốn làm nhà bác học uyên thâm chứ không muốn đi tới chỗ diệt tận tham sân si, vô minh, bản ngã, đặt tâm sai hướng nên cuối cùng sự học chỉ phát huy ngã kiến, phát huy kiến chấp về bản ngã chứ không phát huy trí tuệ để diệt tận khổ đau. Chúng ta phải nhìn thấy những hình thái của sự hoạt động nhiễm dục, nhiễm tham, nhiễm ái, ngoài đời thì cha mẹ, anh em, cô bác chú dì vào tu thì sư huynh, sư muội, sư bác, không khác gì ngoài đời.
Chúng ta phải nhìn thấy những sự biến tướng muôn hình vạn trạng của dục tham ái này, cái tâm dục nhiễm làm ra những pháp như thế và làm cho mình không thể giải thoát, không thể viễn ly, xuất ly được. Cứ tham muốn hoài, đòi hỏi hoài, tìm kiếm hoài, không bao giờ hài lòng, vừa lòng, làm cho con người đau khổ, nhọc nhằn, mệt mỏi, cái dục ái nhai nghiến tất cả hành tinh này, dục nhiệt não thiêu đốt tất cả thế giới này, đó là một nội tâm bị nhiễm dục và dục chi phối tất cả suy nghĩ, lời nói, hành động đều bị dục tham ái chi phối, điều khiển, thao túng và đời sống mình chỉ là con rối để dục ái tham điều khiển.
Sống vô tư, hồn nhiên, cười giỡn không hề hay biết, đó là một đời sống mù lòa, si ám, si dại, mê muội, Đức Thế Tôn gọi là dục nhiễm, cha giết con, vợ giết con, anh chị em giết nhau vì vài tấc đất, vì những tờ giấy bạc, vì những dục ái tình cảm mà nam nữ giết nhau, nam nam giết nhau, nữ nữ giết nhau, đó là đời sống của dục nhiễm, tham nhiễm, ái nhiễm, ghét nhau nên quăng nùi giẻ tẩm xăng đốt cháy làm chết 4-5 mạng người… Có vô số những cảnh đau khổ, tai họa trên khắp hành tinh này, tất cả đều xuất phát từ tâm hôn ám, si mê, cấu nhiễm, lậu hoặc, ngu si tự hại mình hại người, giết mình giết người, làm cho sầu đau mình sầu đau người, làm cho thống khổ mình thống khổ người. Tu để thấy được cái tâm đó một cách hoàn toàn, làm cho nội tâm trong sạch, thanh tịnh, vô nhiễm.
Thứ hai là hữu nhiễm là ngấm vào trong da thịt, tủy xương, đó là một sự hoạt động lăng xăng, bày ra hết việc này đến việc kia, liên tục dao động vì không thể ở yên một chỗ. Trong chỗ vô sự lại sanh sự kiếm chuyện, ở trong chùa ngồi thiền không được mà bày việc ra làm chứ không chịu tu, đó là một nội tâm dao động, điều sâu xa là đam mê và yêu thích sự hiện hữu trong ngũ uẩn, hiện hữu trong dục tham ái, vỗ ngực tự xưng tôi đây là được cái này cái kia chứ không phải tôi đây không được.
Đó là hữu nhiễm, ưa thích sự hiện hữu, có mặt, ưa thích sự tồn tại trong sân si, nếu hiền người ta chê ngu nên phải làm dữ lên mới được, đó là hữu nhiễm. "Tôi là quản chúng ở đây mà xem tôi như vô hình hả", "Tôi là huynh trưởng ở đây mà không ai xem tôi ra gì"… đó là bản ngã, chấp vào sự hiện hữu, ưa thích, say đắm trong sự tồn tại, nắm chặt, say sưa, phiền não nhưng vẫn yêu thích sự tồn tại này. Một nội tâm bị nhiễm đủ thứ nhưng lại không biết quay lại thanh lọc, tẩy rửa, nếu càng lao ra ngoài thì càng chuốc lấy sầu đau, buồn phiền, lo rầu nhưng vẫn tiếp tục yêu cái khổ đau này mới xót xa, muốn hết khổ nhưng cứ yêu cái thứ làm ra khổ mới chết.
Chính thân xác này là cơ sở của bệnh tật, già chết, tai nạn, trong khi muốn hết khổ nhưng cứ yêu thích, bám giữ, chấp thủ thân xác này thì chừng nào hết khổ? Đó là sự si mê, vô minh, hữu nhiễm, những điều này rất thâm sâu vi diệu, đây là sự phát giác, phát hiện, sự chứng ngộ tối thượng của Đức Như Lai, bậc thấy biết cùng tột.
Cho nên sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, cái nào cũng có "thủ" trong đó, cái nào cũng bám chặt, ghì chặt, buộc chặt, nắm chắc trong năm uẩn này, trong thân xác vô thường, ung nhọt, ổ dịch bệnh này, tới chết cũng không buông bỏ thì tu đến bao giờ thành công? Tu cho đến chết trong chùa thì nước mắt vẫn tuôn ra, nếu không phá được thân kiến này, không thành tựu trí bất tịnh, không nhìn thấu triệt bản chất tứ đại này, chín giai đoạn một tử thi, ba mươi hai thể trược để phá trừ cái thấy biết yêu thích thân xác này thì tới ngày chết nước mắt vẫn lưng tròng tuôn trào vì tiếc nuối, hối hận và đau khổ. Đó là hữu nhiễm, yêu thích cảm giác đay nghiến, hành hạ, tàn phá thân tâm mình, những hình bóng, suy nghĩ nào mình cũng nhận là tôi, là của tôi. Đó là vô minh nhiễm.
Cái tâm ngu mê, si ám ăn vào xương tủy rồi, cái lầm chấp, bám chặt vào tứ đại ngũ uẩn là tôi, là của tôi là vô minh nhiễm. Chính vì vô minh nên mới có khát ái, không có vô minh sẽ không có khát ái, vô minh là không thấy bản chất ung nhọt, mũi tên, không cảm thấy sự vô thường, đầy ưu não mà cứ tưởng là vui, là sạch đẹp rồi đam mê, thèm thuồng, bám chặt vào đó. Từ vô minh nên mới có khát ái, từ khát ái mới sanh ra biết bao hệ lụy ganh tị, tật đố, hơn thua… đó là vô minh nhiễm. Cái vô minh này đã ngấm vào da thịt, tủy xương trong vô lượng vô biến kiếp, để tẩy rửa, tháo gỡ ba loại nhiễm này không phải chuyện dễ dàng, phải dọn dẹp trong từng ý nghĩ, tẩy rửa trong hình bóng, phải vệ sinh trong từng cảm giác, cảm xúc, mỗi khi cảm thọ sanh khởi lên ác bất thiện pháp tương ưng với tham sân si, bản ngã là phải diệt tận.
Kiểm tra từng ý nghĩ, nó là thiện hay bất thiện, ly tham bất hại ly dục hay tham sân si, phải tẩy sạch, diệt từ từ cái vô minh, si ám này, tẩy trừ đời sống ngu mê, sầu bi khổ ưu não này. Cuộc thanh lọc của chúng ta rất tuyệt vời, tối cao, vô thượng, thù thắng. Hãy đi trên con đường thanh lọc này, đi trên con đường tẩy sạch này, đi trên con đường thù thắng, tối thắng, vô thượng, an tịnh, đạo lộ này. Hãy đi con đường này rồi mình sẽ đến bến bờ bên kia của giác ngộ giải thoát. Xin thưa đại chúng, đống tro tàn trước mặt đây có tro cốt con trong đó, có tro cốt của cha mẹ, anh chị em mình trong đó, có tro cốt của chính mình trong những đời quá khứ trong đó, chúng ta sanh ra rồi cứ tham sân si, dục tham ái, bản ngã rồi chết, cứ lập lại như vậy trong vô tỉ kiếp mà chúng ta vẫn không nhàm chán, không biết con đường xuất ly.
Hôm nay chúng ta thật may mắn, phước báo, công đức vì đã thấy xuất ly đạo lộ, một con đường thoát ra và sự thanh lọc toàn bộ những cấu nhiễm của thân tâm này. Chúng ta hãy cố gắng vững chí, bền lòng, hãy đi từng bước rồi từ từ sẽ bước vững trên con đường tươi đẹp, hạnh phúc, vi diệu giải thoát này. Đừng sợ khó, đừng sợ dài xa mà chỉ sợ chúng ta không có sự vững tâm, quyết chí rồi chắc chắn chúng ta sẽ đến gặp Đức Thế Tôn và các bậc Thánh Tăng, chúng ta sẽ đi cùng con đường với các ngài, chúng ta sẽ đến chỗ mà các ngài đã đến. Hãy nhìn cái pháp sanh diệt đang ở trước mắt chúng ta, mới bừng sáng rồi cuối cùng cũng tàn lụi, đời sống này rồi cũng giống vậy, thân xác này rồi cũng sẽ như vậy, ngọn núi này rồi cũng vậy thôi, làm gì còn chùa Linh Quy Pháp Ấn, sẽ sụp đổ, tan hoại hết.
“Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp.”
(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
V. Trình pháp
Xin mời đại chúng chia sẻ cảm xúc tu học với nhau.
Sư cô C: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con có một thắc mắc, khi thực tập ba pháp, nhận diện năm uẩn thuần thục, khi con thấy rõ tâm mình có nhiều tham hoặc sân, con muốn áp dụng các pháp quán bất tịnh hoặc từ bi thì phải áp dụng như thế nào, trong mọi lúc mọi nơi hay chỉ áp dụng khi ngồi thiền hoặc chỉ khi dục tham sanh khởi. Chúng con phải dung hòa thiền định và thiền quán như thế nào để nuôi dưỡng chánh niệm và chánh tri kiến.
Sư Phụ: Như Minh Thành đã có chia sẻ, bước đầu tiên là thực tập ba pháp và nhận diện năm uẩn cho thuần thục, phải nắm vững những điều căn bản. Hiện tại sự nhận diện năm uẩn của các cô chưa được chính xác và rõ ràng, cho nên khi trở về phải nghe thêm các bài "Nhập Thất Chia Sẻ", trong đó có rất nhiều lần Minh Thành cho đại chúng nhận diện năm uẩn và thực hành ba pháp. Về phần quán thì phải xem mình nặng về cái nào, đương nhiên tham dục là đại chướng ngại của người tu nên quán bất tịnh phải được chú trọng tối đa, những bài đó đã có sẵn trên trang web, mở lên nghe và thực tập theo trong giai đoạn đầu. Sau giờ ngồi thiền vẫn tác ý quán cho đến khi nào pháp quán đó tương đối thuần thục, thậm chí đi đến thành tựu, những phương pháp kia là phương pháp phụ, ví dụ trải tâm từ, còn làm cùng lúc nhiều thứ sẽ không vững chắc và sẽ không đi đến thành tựu một pháp nào vì tâm bị chia ra quá nhiều. Còn đợi đến khi dục, sân sanh khởi mới quán thì không kịp, cho nên phải quán thường xuyên vào lúc bình thường không có gì cũng phải quán để thuần thục từ từ mới có năng lực nhiếp phục dục tham, các sân hận, bản ngã. Vì thế quán bất tịnh phải thực hành thường xuyên và liên tục. Ví dụ có nhiều phương pháp hỗ trợ cho phép quán, đi đại tiểu tiện cũng quán, ngoáy lỗ tai cũng khai triển để quán, học thuộc bài kinh Ung Nhọt để quán.
“Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này.”
(Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) Một Ung Nhọt)
Nghe thường xuyên bài này, những gì mình nghe đều nhằm bổ túc cho quán bất tịnh. Khi nhìn các con vật chết thì nắm bắt những việc này để làm đề mục liên hệ đến tự thân để quán, phải khéo léo tác ý thường xuyên để những cảm giác, nghĩ tưởng sanh khởi nhiều, tăng trưởng phát triển cái thấy biết đó, đó là sự nỗ lực, chuyên cần, tinh cần sẽ thấy kết quả rõ rệt. Không phải quán thời gian là thành tựu liền mà phải thâm nhập, thẩm thấu từ từ rồi mình sẽ thấy sự chuyển biến trong nhận thức về thân tâm của mình.
Câu trả lời như vậy cô đã rõ chưa ạ?
Sư cô C: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con cũng hiểu rồi ạ, con xin tri ân thầy ạ.
Sư cô D: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, kính thưa quý sư cô cùng toàn thể đại chúng, con có thắc mắc xin thầy chỉ bảo cho con ạ. Khi quán bất tịnh và cùng lúc quán tâm từ thì có trở ngại gì trong quá trình tu tập không ạ?
Sư Phụ: Hai phép quán đó rất tốt, không có gì là trở ngại cả. Đây cũng là hai pháp căn bản và là chính yếu tại Linh Quy, quán bất tịnh để trị tham dục và trải tâm từ để trị tâm sân.
Sư cô D: Khi con thấy tại nạn thì lúc đó con khởi lên tâm thương xót, khổ đau nhưng khi qua cảnh đó rồi lại khởi lên tâm khác, đó là mọi thứ đều vô thường, có cả nhân quả nghiệp báo trong đó. Như thế có bị mâu thuẫn gì không ạ?
Sư Phụ: Đó là mình suy xét về nhiều góc cạnh của một vấn đề, đó vẫn là thiện pháp nhưng không chuyên sâu vào vấn đề nào cả. Nếu muốn chuyên sâu thì hãy tập trung tâm ý vào một đề mục, còn để rộng ra thì đó vẫn là thiện pháp nhưng không đào sâu vào mục nào cả. Tùy vào sự ưa thích tu học của mình, nếu mình đặt vào một đề mục thì sự quán chiếu sẽ thâm sâu.
Sư cô D: Mô Phật, con xin tri ân trên thầy.
Sư Phụ: Thêm một điều nữa là cần phải linh động, có khi ép tâm quá cũng không được, tức là gặp trường hợp nào đó mà thấy tâm hướng về khía cạnh đó nhiều thì quán cái đó luôn. Ví dụ nếu thấy người chết chỉ còn là đống bầy nhầy vì bị xe cán mà tâm nghiêng nhiều về quán bất tịnh thì lấy đó làm đề mục, quán sâu về bất tịnh, còn lúc đó tâm hướng về vô thường thì lấy vô thường làm đề mục và quán sâu vào đó luôn. Phải xem cái thọ lúc đó hướng về pháp nào, tuy mình có đề mục để thường xuyên tu tập nhưng lúc đó tâm hướng về cái nào mạnh, cảm xúc về cái nào nhiều thì hướng về cái đó để trí huệ được sâu sắc, hoặc là vô thường, hoặc là bất tịnh, hoặc niệm tử…
Thầy Nghĩa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Buổi chia sẻ pháp sáng nay con có đi theo lời hướng dẫn của sư phụ, con Như lý tác ý thấy được nội tâm mình đang có rất nhiều rác bẩn cấu uế, dục nhiễm, hữu nhiễm và vô minh nhiễm. Con cần tu tập nhiều hơn, nếu không sẽ bị nó lôi kéo làm cản trở việc tu học, con thấy được đốm lửa dù lúc đầu chỉ là đốm lửa nhỏ nhưng nếu không nhận diện, không đào sâu thì khi trở thành đống lửa lớn sẽ khó dập tắt.
Khi đống lửa đang hừng hực cháy con thấy sự thiêu đốt của tâm mình trong đó, sự nóng bức khó chịu khi phải chịu đựng bản ngã, sân hận, những rác bẩn mình phải chịu từ lâu đời lâu kiếp. Một khi cố gắng và có sự quyết tâm thì đống lửa cũng sẽ hạ nhiệt, lụi tàn thành tro bụi, bị nước dập tắt, gió thổi bay đi, con khởi lên sự tác ý nỗ lực dập tắt những đống lửa đó nhưng hãy là một bông sen từ trong bùn vươn lên tỏa ngát hương thơm để đem lại lợi ích cho chính mình, nếu không mình sẽ mãi bị vùi lấp bởi bùn tanh hôi, sự chấp thủ bởi ngũ uẩn, bản ngã. Mặc dù thân bị đau lưng khi nghe pháp nhưng tâm rất hỷ lạc vì con cảm nhận được sự chia sẻ pháp nhiệt huyết của sư phụ cho đại chúng trong ngày cuối năm. Con thấy hạnh phúc khi giờ đây cả thế giới đang chìm sâu trong dịch bệnh mà mình được tu học với đại chúng tinh ba. Con xin tri ân trên sư phụ đã có buổi chia sẻ pháp hôm nay. Nhân dịp cuối năm con xin kính chúc sư phụ và đại chúng luôn mạnh khỏe để tu tập trong chính giáo Pháp của Đức Thế Tôn.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi đây, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, trong đó có người thân của con. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần dễ chịu, an lạc và bình yên, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện an lạc, bình yên, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.