Giới Hạnh Người Xuất Gia 1
GIỚI HẠNH NGƯỜI XUẤT GIA
THÍCH MINH THÀNH
Con xin thưa đại chúng, người xuất gia chúng ta có 3 môn học tuyệt đối quan trọng: Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Đây là 3 môn thực tập không thể không có của người xuất gia. Nếu một người xuất gia nào không để tâm, không cố gắng, không tăng trưởng, phát triển 3 sự thực tập tu học này thì đó không phải là người xuất gia, dù cho hình thức là người tu sĩ.
Có ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học.
Thế nào là tăng thượng giới học? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo giữ giới ... chấp nhận, học tập trong các học giới. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tăng thượng giới học (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 88.- Học Giới).
Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò", nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo". Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo".
Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 81.- Sa Môn).
Con lừa đi sau lưng đàn bò, nó nghĩ rằng mình cũng là con bò nhưng nó không có màu sắc của con bò, nó không có âm thanh, đôi chân của con bò. Cũng vậy, người xuất gia mà trong lòng không có tha thiết, ước muốn tiếp nhận, giữ gìn, phát huy giới hạnh, đạo đức, đạo hạnh thì không phải là người xuất gia. Giữ giới là sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, giới hạnh đầy đủ, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa Môn Quả). Đây là phần giới hạnh của đạo Phật chứ không phải chỉ có bao nhiêu giới khi mình thọ giới. Khi mình thực tập được giới hạnh thì đẹp tuyệt vời, lúc con chưa vào lớp với khi con vào rồi và nhắc nhở đại chúng giống như giữa đỉnh núi và vực thẳm, nó khác nhau hoàn toàn. Bất ngờ có người bước vào thấy đại chúng im lặng của bậc thánh là người ta sẽ lạy, lặng người cung kính. Còn hình ảnh trước đó thì khác xa, đó là sự khác biệt của tăng thượng giới học và không có tăng thượng giới học.
Con chỉ là hạt cát trong đời này, các sư cô ở đây là sa mạc, là một đại chúng lớn. Mỗi người phải biết giữ gìn cho Tăng đoàn của mình, chỉ cần một người không chánh niệm tỉnh giác, mất oai nghi, không hộ trì các căn thì những người khác cũng giống vậy, cuối cùng chỉ còn sự hỗn loạn, đó là đại chúng cặn bã chứ không phải là đại chúng tinh ba. Trong kinh Nikāya sẽ chỉ cho chúng ta tất cả những phương pháp làm cho mình trở thành con người thanh cao, thanh tịnh, tu học trong từng cái nhỏ nhiệm. Khi đại chúng nhiếp niệm ngồi thiền tỉnh tâm trong mấy phút thôi nhưng sự im lặng đó thật hùng tráng mạnh mẽ, đó là nét đẹp của người tu và người tu phải như vậy, chứ không mình sẽ trở thành con lừa đi phía sau đàn bò, phải là một người tu chân chánh, phải thật sự là người tu chứ không phải chỉ là hình thức, tên gọi, bên trong mình phải có chất liệu thật sự của người xuất gia, phải là một người chân tu thật học chứ đừng làm người tu giả dối, lừa gạt cha mẹ, lừa gạt Đàn-na tín thí cúng dường cho mình. Không được dối trá, gạt người ta mà phải tu học một cách chân thành, tha thiết bằng tất cả trái tim, tất lòng của mình. Mỗi ngày, mỗi giờ phải luôn tìm cách tăng thượng giới hạnh, làm cho đời sống của mình càng được thanh bạch, thanh tịnh. Đó là ước muốn sắc bén, mãnh liệt trong mỗi suy nghĩ, mình không chấp nhận vị trí trong hiện tại mà phải có sự hướng thượng. Khả năng hướng thượng là tính chất của pháp, nếu một người cứ trơ ra thì người đó không có an trú vào pháp, không có thực tập pháp, người đó ở ngoài pháp vì nếu ở trong pháp thì người đó có khả năng hướng thượng, tăng thượng, tăng tiến trong giới hạnh. Giới hạnh căn cứ từ thân và miệng để định tội. Phải tha thiết, chân thành, chân thật trong sự tu học chứ không phải cạo đầu, đắp y vào là xong việc, không khéo tấm vải đó sau này trở thành dòng sắc cháy đỏ bọc mình trong địa ngục, tấm áo Cà sa đó sau này trở thành dòng lửa cháy đỏ bao bọc cơ thể thiêu đốt trong ngàn vạn tỷ kiếp trong địa ngục. Không phải dễ đắp tấm y đó.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỳ-kheo đi giữa hư không.
Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, là một ác Tỳ-kheo trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Tỷ Kheo).
Không phải bao thư của Phật tử quỳ đáng tuổi ông bà, cha mẹ dâng lên cho mình mà dễ nhận. Trong bao thư đó là gông cùm vĩnh kiếp trong ngạ quỷ, phải quán sát và phải biết sợ hãi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mang lông đội sừng làm trâu bò, chó ngựa để đền trả món nợ mà mình gạt người ta, gạt cha mẹ, gạt ông bà, gạt Đàn-na tín thí vì nói là mình tu nhưng mình lại không tu. Chính mình lại lừa dối trong tâm mình, mình bị lòng dục, lòng ái tham dẫn dắt, mình bị sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng đó làm cho bản ngã tăng trưởng và phát triển, mình bị đời sống trong tự viện nhàn nhã, ẩn dương nương Phật, sống qua ngày đoạn tháng làm chết đi cái tâm cầu giác ngộ, ý chí buổi ban đầu bị giết chết bởi cuộc sống nhàn nhã nơi tự viện. Ở ngoài đời trong mỗi một ngày người ta phải tranh đấu để kiếm miếng cơm manh áo, chỗ ở của người ta là một gánh nặng vì mỗi tháng phải trả tiền nhà trọ, mỗi khi dùng thùng nước phải cân đo đong đếm, tiền điện và tiền xăng cũng như vậy. Còn mình đồ ăn, chỗ ở, y áo có sẵn, tất cả đều sẵn sàng nhưng không phải đơn giản, tất cả những cái này là vay nóng còn hơn của xã hội đen. Mỗi bữa cơm của mình, mỗi thùng nước mình dùng, mỗi y áo mình mặc tiền lãi vay là khủng khiếp, gấp ngàn lần của xã hội đen. Đừng tưởng tu sẽ nhàn nhã, gánh nặng của thiện pháp không được từ bỏ. Gánh nặng của thiện pháp là tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học. Hôm nay chúng ta nói về tăng thượng giới học.
Phải phòng hộ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình trong mọi lúc mọi nơi chứ không phải đợi lên chánh điện, lên ngồi thiền, niệm Phật. Không lẽ lên chánh điện mình mới là người tu, còn khi ra khỏi chánh điện thì không phải người tu hay sao? Cái tu của mình phải thường trực trong hơi thở, trong bước chân, trong mỗi hành động phải được giữ gìn, thọ trì chất tu tập trong đó chứ không phải chỉ tu trong chánh điện, tu trong thiền đường. Phải có ước muốn hết sức sắc bén trong tâm của mình, đó phải là một ước muốn tha thiết mãnh liệt chứ không thể chấp nhận một cái tâm đầy rẫy dục tham ái, vô minh, sân si, bản ngã của hiện tại, không chấp nhận một cái thân thô tháo, phàm phu tục tử, thấp hèn, không chấp nhận cái thân buông lung phóng dật, hôn trầm, biếng nhác. Mình phải đưa nó vào trong khuôn phép, vào giới luật, được kiểm soát trong chánh niệm tỉnh giác, trong hộ trì căn, phải huấn luyện nó như huấn luyện một con ngựa hoang. Chỉ cần mình buông lung cái tâm một chút thôi thì nó sẽ trở thành thú rừng, đây là một cái tâm hoang vu rừng rú.
Có năm tâm hoang vu này. Thế nào là năm?
Này các Tỳ-kheo, ở đây vị Tỳ-kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất.
Này các Tỳ-kheo, lại nữa, vị Tỳ-kheo nghi ngờ đối với Pháp.... (như trên...) đối với Tăng... (như trên...) đối với Học pháp... tức giận đối với các vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Tỳ-kheo, khi một vị Tỳ-kheo phẫn nộ đối với vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh thần. Như vậy gọi là tân hoang vu thứ năm.
Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận năm tâm hoang vu này... Bốn niệm xứ cần phải tu tập (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IX. Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, (IX) (71) Năm Tâm Hoang Vu).
Hoang vu tức là rừng rú, trên Linh Quy có những vùng đất bị bỏ hoang, dây leo, gai độc, rắn rết mọc đầy che hết lối đi. Cái tâm của mình cũng giống như vậy, mình bỏ hoang cái tâm là trong đó sẽ có đầy rẫy các bất thiện pháp sinh sôi nảy nở, nếu mình không có giới luật, giới pháp, giới hạnh thì cái tâm là khủng khiếp. Chỉ cần không nhìn lại cảm giác, nội tâm, không quán sát Tứ Niệm Xứ, không phòng hộ, bảo vệ là lập tức cái tâm sẽ buông lung phóng dật, mà buông lung phóng dật là một trong những kiết sử của tâm. Tâm mình bị nó chi phối thành thói quen cho nên khi mình ngồi yên sẽ rất khó chịu, ở bên trong tâm chống đối lại, nó muốn được thoải mái. Đó là một trong năm kiết sử của tâm, nếu người tu thật sự thì cái tâm càng yên người đó càng thích thú, càng hỷ lạc, đó là mới tâm của người tu. Thành ra khi nãy ngồi thiền mà người nào hỷ lạc, thích thú, thanh tịnh, trang nghiêm thì đó mới là người tu chân chánh, còn người nào có tâm chống đối thì đó là tâm của thú hoang trong rừng rú. Con ngựa chứng trong tâm không muốn bị khuất phục, có những người không thể ngồi thiền, ngồi một chút là bung chân ra, ở một mình trong thất không được vì thọ; tưởng; hành, dục tham ái, trạo cử quậy bên trong nội tâm, cho ngồi nói huyên thuyên thì không sao mà bắt ngồi yên lặng là trong tâm khó chịu, bực bội, chịu không được, không nói là chịu không nổi là tại vì kiết sử, tức là mình bị trói cột trong cái tâm đó không đi ra được, nên bây giờ mình phải dùng giới luật siết lại để huấn luyện, bắt cái tâm phải nghe lời. Đức Phật dùng hình ảnh con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì nên bị người ta đánh một trận nên thân. Bị đánh vài lần như vậy nên nó sợ, không dám ăn bậy nữa, cái nào cho ăn mới dám ăn. Người tu giống như người chăn bò.
Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.
Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.
Lần thứ hai, này các Tỳ-kheo...
Lần thứ ba, này các Tỳ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), 205. IX. Ðờn Tỳ Bà).
Mình phải huấn luyện tâm bằng việc giữ giới với đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thủ hộ các căn. Thủ là giữ, hộ là phòng hộ, nghĩa là giữ gìn và phòng hộ. Giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cũng giống như giữ đồ quý. Con mắt không biết giữ, không biết đề phòng, gặp gì cũng nhìn, thấy người ta nói cái gì cũng lại nghe rồi phiền não, lên mạng thì cái gì cũng vào xem thì làm sao ngồi thiền được? Thọ nhận những hình ảnh, âm thanh đó sẽ ám ảnh trong tâm, không tẩy xóa được. Mình đi chợ mua đồ ăn có lựa đồ không hay thấy gì mua đó? Những gì mình xem trên mạng cũng phải chọn lựa vì nó có độc tố trong đó, có những loại độc không có thuốc giải, khi nhiễm rồi nó sẽ phá hủy cả cuộc đời tu hạnh, giới hạnh sẽ bị phá vỡ, tâm yên định sẽ không còn, ý chí giải thoát bị chấm dứt, chết rồi đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phải quán chiếu như vậy để thấy sợ hãi để không có ý nghĩ tu không được thì thôi, trở về con số 0, như vậy là sai lầm, không những là con số 0 mà còn bị âm nữa, đi vào 3 đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Có người giúp cho mình ăn mặc, chỗ ở, tiền cho xài, xe cho đi nhưng để chừng nào mình thành công thì lúc đó người ta mới tính tiền, còn bây giờ ghi sổ nợ, giống như bây giờ cứ đi học, chừng nào tốt nghiệp đi làm thì trả nợ sau. Nếu cả một cuộc đời tu mà cuối cùng không có giới hạnh, thiền định, trí huệ, mình phá sản trong sự tu hành, sự nghiệp đạo hạnh không có thì người ta có để yên cho mình không? Làm gì có việc tu không được rồi trở thành số 0 mà nó sẽ trở về địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ở đợ làm trâu bò, chó ngựa để đền cái món nợ đó, chứ không đơn giản là trở về số 0. Quán chiếu như vậy là run sợ cho đời tu, đời tu của mình là một con dao 2 lưỡi, thà là ở ngoài đời đi làm cực khổ nuôi gia đình, tự đồng tiền mình làm ra để sinh sống bằng mồ hôi công sức của mình, còn giờ mình đi tu thì tất cả đều nhận sự cúng dường của Đàn-na tín thí, không những cho mà còn quỳ lạy để dâng lên nữa trong khi người ta đáng tuổi ông bà, cha mẹ mình, gọi mình bằng cô xưng con, lạy dưới chân mình trong khi mình ngồi phía trên cười nói. Thật sự là nguy hiểm vô cùng! Khủng khiếp vô cùng! Đây là sự vay nóng, nếu mình suy nghĩ kĩ sẽ thấy sợ hãi vô cùng, không đơn giản như mình nghĩ, mỗi một ngày món nợ càng dày thêm trong khi giới đức không tăng trưởng, thiền định không có vì ngồi lại thì tâm giao động, trí huệ thì mù mịt thì lấy gì đền trả người ta. Cha mẹ ở nhà mong ngóng, khóc lóc, nhớ thương, khoe với người ta con tôi đi tu học, cuối cùng sau bao năm trở về không có gì hết, nhiều khi tâm tham, bản ngã còn cao hơn khi chưa đi tu nữa. Ôi cha ơi! Đau đớn, cay đắng và xót xa tận cùng! Trong Tương Ưng Kassapa, ngài Ma-ha-ca-diếp đã nói Tỳ-kheo nào muốn đạt đến Niết-bàn là phải biết sợ hãi và phải có nhiệt tâm. Nếu một người tu mà không có sợ hãi đối với ác, bất thiện pháp. Nếu một người tu không có nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực trong giới – định – tuệ thì người tu đó không bao giờ đạt được kết quả.
Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng tin đối vói thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
Với ai, bạch Thế Tôn, có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn đối với thiện pháp, có biết sợ đối với thiện pháp, có tinh tấn đối với thiện pháp, có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn...có biết sợ... có tinh tấn... có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VII. Giáo Giới).
Phải biết sợ hãi, lo lắng, xấu hổ. Đây gọi là tàm quý lực. Tàm quý là một sự xấu hổ, nhục nhã khi mình chưa viên thành giới hạnh, khi mình chưa đạt được các tầng thiền định, khi mình chưa thành tựu thánh trí nên tất nhiên phải xấu hổ và sợ hãi. Đây là những pháp căn bản để tác thành giới hạnh của người tu, nếu không có những cái này là không bao giờ thành tựu được. Học để thấy Đức Thế Tôn của chúng ta tuyệt vời như thế nào, để thấy trí huệ của Ngài viên mãn như thế nào để dạy hàng đệ tử chứ không phải đơn giản như mình nghĩ là vào thọ giới rồi hỏi có giữ giới được không thì "Dạ, mô Phật, con giữ được" là xong. Đây là tu trên hình thức, ngoài miệng, đó là giới trên miệng, còn giới trong thân, trong sự tâm niệm của mình nữa. Nếu làm được những điều này, thực hành rồi sẽ thấy con người mình được thay đổi, chuyển hóa, đổi thay. Mình trở thành con người rất đẹp trong Phật giáo, đây là vẻ đẹp của người tu, trên Linh Quy hiện tại đang có 8-9 sư cô đang tu học trên đó. Tu học từ 4h khuya đến 9h sáng, thời khóa bình thường từ 4h đến 6h nhưng vào dịp Minh Thành về núi sẽ ra ngoài trời ngồi thiền trên đỉnh núi có mây bay dưới chân, rồi đem bộ xương ra để quán bạch cốt tưởng, cảm xúc dâng tràn và nước mắt trào ra để thấy bản chất bất tịnh của thân này. Bất tịnh quán là thời khóa thường trực của Linh Quy Pháp Ấn, ngày nào cũng quán bất tịnh và có bộ xương để trong thiền đường để nhắc nhở mình bộ xương đó là mình và mình là bộ xương đó, bộ xương đó là đối tượng mình đang nhớ nghĩ. Phải thực tập mới thấy cái hay của pháp chứ còn học lý thuyết không thì chỉ là một đống ngôn ngữ tri thức, là một sự trống rỗng. Mỗi ngày phải thiền định, phải quán chiếu.
Mọi người phải nghe bài Nhập thất chia sẻ, Soi thấu năm uẩn, Thực hành ngồi thiền mà Minh Thành đã chia sẻ để nắm được những pháp sau này. Những bài này là cánh cửa bước vào pháp hành Nikāya, nếu không nắm được thực hành 3 pháp và nhận diện năm uẩn thì không nắm được pháp. Không nắm được những điều cơ bản thì không thể đi sâu vào pháp, giai đoạn này con giúp cho đại chúng nắm được nền tảng những việc cần làm của người xuất gia, sau đó là nắm vững việc thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn. Sau khi đã nắm vững toàn bộ rồi mới vào học tạng kinh được, còn không chỉ có thể học lý thuyết.
Khi nhận diện năm uẩn thì phải biết thân mình lúc đó đang làm gì, tức là sắc. Trong 3 loại cảm giác thì mình đang có cảm giác gì thì đó là thọ. Lúc đó trong tâm đang có hình bóng gì là tưởng. Trong tâm suy nghĩ những gì là hành. Sự rõ biết những cái này là thức. Nếu chưa quen thì nhận diện 3 cái là thọ; tưởng; hành là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác. Minh Thành chia sẻ với đại chúng 2 cảm giác của thân và tâm để phân biệt, khi trên người có vết thương sẽ cảm thấy đau và khó chịu nhưng cái tâm lại dễ chịu. Mình chia ra thọ của thân và thọ của tâm, 2 cái này khác nhau. Đức Phật dạy có 3 loại cảm thọ:
Lạc thọ: Cảm giác dễ chịu.
Khổ thọ: Cảm giác khó chịu.
Bất khổ bất lạc thọ: Cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu.
Ba loại này bao hàm hết tất cả cảm thọ, nhưng trong này lại được Đức Phật chia ra thêm 2 cái nhỏ nữa là cảm thọ của thân và cảm thọ của tâm, 2 cái thọ này khác nhau. Cho nên khi có vết thương trên người thì có cảm giác khó chịu ở nơi thân nhưng tâm lại dễ chịu, hoan hỷ trong pháp. Như vậy cảm thọ của thân khó chịu nhưng cảm thọ của tâm lại dễ chịu. Ví dụ ngồi xe từ đây tới trên núi Linh Quy 5 tiếng bị mỏi lưng và mệt, uể oải, đi khuya còn bị mất ngủ, ráng đi để lên núi lúc 5h để săn mây. Khi lên tới nơi thì thân mệt mỏi nhưng khi mặt trời chuẩn bị mọc thì lại hào hứng đi ra đón biển mây để chụp hình, như vậy là cái tâm không mệt trái lại còn thích, còn cái thân lại mệt. Tức là cảm giác của thân và cảm giác của tâm là khác nhau. Nếu không tu học Tứ Niệm Xứ, không tu học trí năm uẩn sẽ không biết được những cái này. Sau đây là ví dụ thể hiện thọ thân xâm chiếm thọ tâm: Khi ở chùa tinh thần thoải mái, nhẹ nhàng nhưng chạy xe ngoài đường trời nắng gắt, tự nhiên thấy khó chịu. Chạy xe mệt mà còn gặp người chạy trước chen ngang thì mình thấy sân vì vừa mệt, vừa nắng. Tức là cảm thọ của thân xâm chiếm cảm thọ tâm, làm cho cảm giác của tâm đi theo cảm giác của thân, cho nên người làm mệt hay nổi quạu, cau có. Vì vậy nhận diện năm uẩn để nhận biết rõ ràng cái nào ra cái đó, không bị lấn sân nhau, một người tu khéo léo về quán thọ thì sau này khi gặp những chuyện nguy hiểm xảy đến cho thân, thậm chí có bệnh thì thân khổ nhưng tâm không khổ vì tâm an trú được trong pháp, không bị cảm thọ thân lấn sân qua cảm thọ tâm, không bị cảm giác của thân xâm chiếm qua cảm giác của tâm. Đây chính là quán thọ trên thọ, kiểm soát được cảm giác, cảm xúc. Còn người không biết tu là kẻ vô văn phàm phu vì không biết gì về thọ; tưởng; hành; thức, ngay cả người xuất gia nếu không học năm uẩn cũng sẽ không biết. Chỉ thấy có một phần là bản ngã, là cái tôi chứ không thấy được năm phần, năm uẩn. Mình phải để ý thân khổ nhưng tâm không khổ, thân đau nhưng tâm không đau vì sự tu tập được sâu sắc về quán cảm thọ, sau này tu tới mức thuần thục thân bị hoại diệt nhưng tâm bất động, đó là thành tựu đại định của các bậc thánh, tức là cảm thọ của thân không thể xâm chiếm qua tâm được nữa, tu tới mức như vậy.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy cùng chư huynh đệ, cho phép con được hỏi một câu: Thầy có nói về cảm thọ của thân có thể lấn qua cảm thọ của tâm nếu mình không biết ranh giới và không biết phân biệt rạch ròi, dễ bị nó chi phối. Nếu vậy cảm thọ thường trực của tâm là như thế nào thưa thầy?
Con được biết cảm thọ được chia làm 3: Thọ khổ, thọ lạc và thọ không khổ không lạc. Chia làm 5 sẽ có thêm thọ ưu và thọ hỷ. Con hiểu đó là thọ của tâm, vậy nếu thân mình đau mà mình để cho cảm thọ của thân lấn qua cảm thọ của tâm nhưng mình cứ nghĩ đến cái đau thì lúc đó cả thân là tâm đều có cảm thọ đau, nhưng con thường thực hành mình đau nơi thân nhưng không đau nơi tâm thì mình chụp nhận như vậy và mình không bị chi phối, đối với cảm giác kham nhẫn về cái lạnh, con không chịu lạnh được nhưng khi lạnh quá thì con không nghĩ đến cái lạnh và để cho mình thông thả trong sự ra vào hơi thở. Con quan sát nhận diện sự ra vào hơi thở thì con có thể cảm nhận mình không lạnh đến mức phải mặc thêm áo, nhưng hôm nay con nghe vậy thì con cũng không có sự rạch ròi về cảm thọ của thân. Vậy còn cảm thọ nơi tâm thì như thế nào thưa thầy?
Bây giờ cô đang có cảm thọ gì?
Bây giờ con cảm thấy không khổ không vui, thưa thầy.
Vậy là được rồi. Làm gì có cái thường trực? Thường tức là nó thường, nó là vô thường. Không có cảm thọ thường trực của tâm, cảm thọ của tâm là sanh diệt.
Minh Thành chưa đi sâu vào pháp, thực tế ở đây có thêm 2 cảm thọ nữa là hỷ thọ và ưu thọ. Có khi Đức Phật nói 2 thọ là khổ và lạc, có khi Đức Phật nói 3 thọ là ngoài khổ và lạc thì có thêm bất khổ bất lạc thọ, có khi Đức Phật nói 5 thọ là ngoài 3 cái trên thì có thêm hỷ thọ và ưu thọ. Hỷ là cảm giác vui trong tâm, vậy là thuộc về cảm thọ của tâm. Ưu là buồn lo, thuộc về thọ tâm. Khi phân tích thì ưu thọ và khổ thọ tùy theo trường hợp mà giải thích nhưng thường thì 3 thọ là đơn giản, dễ hiểu nhất còn phân ra nhiều quá sẽ bị rối. Chúng ta không có cảm giác thường trực của tâm vì cảm giác là sanh diệt thì làm sao có cái thường được? Cảm giác luôn luôn sanh diệt, khi ngồi học như nhau nhưng cảm giác của mỗi người là khác nhau chứ không phải ai cũng như ai, có người hân hoan hỷ lạc, có người sợ lo nhưng đó lại là thiện pháp, có người trong tâm lại chống đối vì ý hành hiện lên các suy nghĩ "làm gì mà khó dữ vậy?". Mọi người phải nhìn ra được hết các loại cảm giác này và tác ý đánh đuổi cái chống đối đó ra khỏi thân tâm, còn nếu mình thọ nhận cảm giác đó là chống đối pháp, nếu vậy sẽ không thể nào thể nhập được thánh pháp.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
THÍCH MINH THÀNH
Con xin thưa đại chúng, người xuất gia chúng ta có 3 môn học tuyệt đối quan trọng: Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Đây là 3 môn thực tập không thể không có của người xuất gia. Nếu một người xuất gia nào không để tâm, không cố gắng, không tăng trưởng, phát triển 3 sự thực tập tu học này thì đó không phải là người xuất gia, dù cho hình thức là người tu sĩ.
Có ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học.
Thế nào là tăng thượng giới học? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo giữ giới ... chấp nhận, học tập trong các học giới. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tăng thượng giới học (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 88.- Học Giới).
Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò", nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo". Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo".
Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 81.- Sa Môn).
Con lừa đi sau lưng đàn bò, nó nghĩ rằng mình cũng là con bò nhưng nó không có màu sắc của con bò, nó không có âm thanh, đôi chân của con bò. Cũng vậy, người xuất gia mà trong lòng không có tha thiết, ước muốn tiếp nhận, giữ gìn, phát huy giới hạnh, đạo đức, đạo hạnh thì không phải là người xuất gia. Giữ giới là sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, giới hạnh đầy đủ, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa Môn Quả). Đây là phần giới hạnh của đạo Phật chứ không phải chỉ có bao nhiêu giới khi mình thọ giới. Khi mình thực tập được giới hạnh thì đẹp tuyệt vời, lúc con chưa vào lớp với khi con vào rồi và nhắc nhở đại chúng giống như giữa đỉnh núi và vực thẳm, nó khác nhau hoàn toàn. Bất ngờ có người bước vào thấy đại chúng im lặng của bậc thánh là người ta sẽ lạy, lặng người cung kính. Còn hình ảnh trước đó thì khác xa, đó là sự khác biệt của tăng thượng giới học và không có tăng thượng giới học.
Con chỉ là hạt cát trong đời này, các sư cô ở đây là sa mạc, là một đại chúng lớn. Mỗi người phải biết giữ gìn cho Tăng đoàn của mình, chỉ cần một người không chánh niệm tỉnh giác, mất oai nghi, không hộ trì các căn thì những người khác cũng giống vậy, cuối cùng chỉ còn sự hỗn loạn, đó là đại chúng cặn bã chứ không phải là đại chúng tinh ba. Trong kinh Nikāya sẽ chỉ cho chúng ta tất cả những phương pháp làm cho mình trở thành con người thanh cao, thanh tịnh, tu học trong từng cái nhỏ nhiệm. Khi đại chúng nhiếp niệm ngồi thiền tỉnh tâm trong mấy phút thôi nhưng sự im lặng đó thật hùng tráng mạnh mẽ, đó là nét đẹp của người tu và người tu phải như vậy, chứ không mình sẽ trở thành con lừa đi phía sau đàn bò, phải là một người tu chân chánh, phải thật sự là người tu chứ không phải chỉ là hình thức, tên gọi, bên trong mình phải có chất liệu thật sự của người xuất gia, phải là một người chân tu thật học chứ đừng làm người tu giả dối, lừa gạt cha mẹ, lừa gạt Đàn-na tín thí cúng dường cho mình. Không được dối trá, gạt người ta mà phải tu học một cách chân thành, tha thiết bằng tất cả trái tim, tất lòng của mình. Mỗi ngày, mỗi giờ phải luôn tìm cách tăng thượng giới hạnh, làm cho đời sống của mình càng được thanh bạch, thanh tịnh. Đó là ước muốn sắc bén, mãnh liệt trong mỗi suy nghĩ, mình không chấp nhận vị trí trong hiện tại mà phải có sự hướng thượng. Khả năng hướng thượng là tính chất của pháp, nếu một người cứ trơ ra thì người đó không có an trú vào pháp, không có thực tập pháp, người đó ở ngoài pháp vì nếu ở trong pháp thì người đó có khả năng hướng thượng, tăng thượng, tăng tiến trong giới hạnh. Giới hạnh căn cứ từ thân và miệng để định tội. Phải tha thiết, chân thành, chân thật trong sự tu học chứ không phải cạo đầu, đắp y vào là xong việc, không khéo tấm vải đó sau này trở thành dòng sắc cháy đỏ bọc mình trong địa ngục, tấm áo Cà sa đó sau này trở thành dòng lửa cháy đỏ bao bọc cơ thể thiêu đốt trong ngàn vạn tỷ kiếp trong địa ngục. Không phải dễ đắp tấm y đó.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỳ-kheo đi giữa hư không.
Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, là một ác Tỳ-kheo trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Tỷ Kheo).
Không phải bao thư của Phật tử quỳ đáng tuổi ông bà, cha mẹ dâng lên cho mình mà dễ nhận. Trong bao thư đó là gông cùm vĩnh kiếp trong ngạ quỷ, phải quán sát và phải biết sợ hãi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mang lông đội sừng làm trâu bò, chó ngựa để đền trả món nợ mà mình gạt người ta, gạt cha mẹ, gạt ông bà, gạt Đàn-na tín thí vì nói là mình tu nhưng mình lại không tu. Chính mình lại lừa dối trong tâm mình, mình bị lòng dục, lòng ái tham dẫn dắt, mình bị sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng đó làm cho bản ngã tăng trưởng và phát triển, mình bị đời sống trong tự viện nhàn nhã, ẩn dương nương Phật, sống qua ngày đoạn tháng làm chết đi cái tâm cầu giác ngộ, ý chí buổi ban đầu bị giết chết bởi cuộc sống nhàn nhã nơi tự viện. Ở ngoài đời trong mỗi một ngày người ta phải tranh đấu để kiếm miếng cơm manh áo, chỗ ở của người ta là một gánh nặng vì mỗi tháng phải trả tiền nhà trọ, mỗi khi dùng thùng nước phải cân đo đong đếm, tiền điện và tiền xăng cũng như vậy. Còn mình đồ ăn, chỗ ở, y áo có sẵn, tất cả đều sẵn sàng nhưng không phải đơn giản, tất cả những cái này là vay nóng còn hơn của xã hội đen. Mỗi bữa cơm của mình, mỗi thùng nước mình dùng, mỗi y áo mình mặc tiền lãi vay là khủng khiếp, gấp ngàn lần của xã hội đen. Đừng tưởng tu sẽ nhàn nhã, gánh nặng của thiện pháp không được từ bỏ. Gánh nặng của thiện pháp là tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học. Hôm nay chúng ta nói về tăng thượng giới học.
Phải phòng hộ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình trong mọi lúc mọi nơi chứ không phải đợi lên chánh điện, lên ngồi thiền, niệm Phật. Không lẽ lên chánh điện mình mới là người tu, còn khi ra khỏi chánh điện thì không phải người tu hay sao? Cái tu của mình phải thường trực trong hơi thở, trong bước chân, trong mỗi hành động phải được giữ gìn, thọ trì chất tu tập trong đó chứ không phải chỉ tu trong chánh điện, tu trong thiền đường. Phải có ước muốn hết sức sắc bén trong tâm của mình, đó phải là một ước muốn tha thiết mãnh liệt chứ không thể chấp nhận một cái tâm đầy rẫy dục tham ái, vô minh, sân si, bản ngã của hiện tại, không chấp nhận một cái thân thô tháo, phàm phu tục tử, thấp hèn, không chấp nhận cái thân buông lung phóng dật, hôn trầm, biếng nhác. Mình phải đưa nó vào trong khuôn phép, vào giới luật, được kiểm soát trong chánh niệm tỉnh giác, trong hộ trì căn, phải huấn luyện nó như huấn luyện một con ngựa hoang. Chỉ cần mình buông lung cái tâm một chút thôi thì nó sẽ trở thành thú rừng, đây là một cái tâm hoang vu rừng rú.
Có năm tâm hoang vu này. Thế nào là năm?
Này các Tỳ-kheo, ở đây vị Tỳ-kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất.
Này các Tỳ-kheo, lại nữa, vị Tỳ-kheo nghi ngờ đối với Pháp.... (như trên...) đối với Tăng... (như trên...) đối với Học pháp... tức giận đối với các vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Tỳ-kheo, khi một vị Tỳ-kheo phẫn nộ đối với vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh thần. Như vậy gọi là tân hoang vu thứ năm.
Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận năm tâm hoang vu này... Bốn niệm xứ cần phải tu tập (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IX. Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, (IX) (71) Năm Tâm Hoang Vu).
Hoang vu tức là rừng rú, trên Linh Quy có những vùng đất bị bỏ hoang, dây leo, gai độc, rắn rết mọc đầy che hết lối đi. Cái tâm của mình cũng giống như vậy, mình bỏ hoang cái tâm là trong đó sẽ có đầy rẫy các bất thiện pháp sinh sôi nảy nở, nếu mình không có giới luật, giới pháp, giới hạnh thì cái tâm là khủng khiếp. Chỉ cần không nhìn lại cảm giác, nội tâm, không quán sát Tứ Niệm Xứ, không phòng hộ, bảo vệ là lập tức cái tâm sẽ buông lung phóng dật, mà buông lung phóng dật là một trong những kiết sử của tâm. Tâm mình bị nó chi phối thành thói quen cho nên khi mình ngồi yên sẽ rất khó chịu, ở bên trong tâm chống đối lại, nó muốn được thoải mái. Đó là một trong năm kiết sử của tâm, nếu người tu thật sự thì cái tâm càng yên người đó càng thích thú, càng hỷ lạc, đó là mới tâm của người tu. Thành ra khi nãy ngồi thiền mà người nào hỷ lạc, thích thú, thanh tịnh, trang nghiêm thì đó mới là người tu chân chánh, còn người nào có tâm chống đối thì đó là tâm của thú hoang trong rừng rú. Con ngựa chứng trong tâm không muốn bị khuất phục, có những người không thể ngồi thiền, ngồi một chút là bung chân ra, ở một mình trong thất không được vì thọ; tưởng; hành, dục tham ái, trạo cử quậy bên trong nội tâm, cho ngồi nói huyên thuyên thì không sao mà bắt ngồi yên lặng là trong tâm khó chịu, bực bội, chịu không được, không nói là chịu không nổi là tại vì kiết sử, tức là mình bị trói cột trong cái tâm đó không đi ra được, nên bây giờ mình phải dùng giới luật siết lại để huấn luyện, bắt cái tâm phải nghe lời. Đức Phật dùng hình ảnh con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì nên bị người ta đánh một trận nên thân. Bị đánh vài lần như vậy nên nó sợ, không dám ăn bậy nữa, cái nào cho ăn mới dám ăn. Người tu giống như người chăn bò.
Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.
Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.
Lần thứ hai, này các Tỳ-kheo...
Lần thứ ba, này các Tỳ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), 205. IX. Ðờn Tỳ Bà).
Mình phải huấn luyện tâm bằng việc giữ giới với đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thủ hộ các căn. Thủ là giữ, hộ là phòng hộ, nghĩa là giữ gìn và phòng hộ. Giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cũng giống như giữ đồ quý. Con mắt không biết giữ, không biết đề phòng, gặp gì cũng nhìn, thấy người ta nói cái gì cũng lại nghe rồi phiền não, lên mạng thì cái gì cũng vào xem thì làm sao ngồi thiền được? Thọ nhận những hình ảnh, âm thanh đó sẽ ám ảnh trong tâm, không tẩy xóa được. Mình đi chợ mua đồ ăn có lựa đồ không hay thấy gì mua đó? Những gì mình xem trên mạng cũng phải chọn lựa vì nó có độc tố trong đó, có những loại độc không có thuốc giải, khi nhiễm rồi nó sẽ phá hủy cả cuộc đời tu hạnh, giới hạnh sẽ bị phá vỡ, tâm yên định sẽ không còn, ý chí giải thoát bị chấm dứt, chết rồi đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phải quán chiếu như vậy để thấy sợ hãi để không có ý nghĩ tu không được thì thôi, trở về con số 0, như vậy là sai lầm, không những là con số 0 mà còn bị âm nữa, đi vào 3 đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Có người giúp cho mình ăn mặc, chỗ ở, tiền cho xài, xe cho đi nhưng để chừng nào mình thành công thì lúc đó người ta mới tính tiền, còn bây giờ ghi sổ nợ, giống như bây giờ cứ đi học, chừng nào tốt nghiệp đi làm thì trả nợ sau. Nếu cả một cuộc đời tu mà cuối cùng không có giới hạnh, thiền định, trí huệ, mình phá sản trong sự tu hành, sự nghiệp đạo hạnh không có thì người ta có để yên cho mình không? Làm gì có việc tu không được rồi trở thành số 0 mà nó sẽ trở về địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ở đợ làm trâu bò, chó ngựa để đền cái món nợ đó, chứ không đơn giản là trở về số 0. Quán chiếu như vậy là run sợ cho đời tu, đời tu của mình là một con dao 2 lưỡi, thà là ở ngoài đời đi làm cực khổ nuôi gia đình, tự đồng tiền mình làm ra để sinh sống bằng mồ hôi công sức của mình, còn giờ mình đi tu thì tất cả đều nhận sự cúng dường của Đàn-na tín thí, không những cho mà còn quỳ lạy để dâng lên nữa trong khi người ta đáng tuổi ông bà, cha mẹ mình, gọi mình bằng cô xưng con, lạy dưới chân mình trong khi mình ngồi phía trên cười nói. Thật sự là nguy hiểm vô cùng! Khủng khiếp vô cùng! Đây là sự vay nóng, nếu mình suy nghĩ kĩ sẽ thấy sợ hãi vô cùng, không đơn giản như mình nghĩ, mỗi một ngày món nợ càng dày thêm trong khi giới đức không tăng trưởng, thiền định không có vì ngồi lại thì tâm giao động, trí huệ thì mù mịt thì lấy gì đền trả người ta. Cha mẹ ở nhà mong ngóng, khóc lóc, nhớ thương, khoe với người ta con tôi đi tu học, cuối cùng sau bao năm trở về không có gì hết, nhiều khi tâm tham, bản ngã còn cao hơn khi chưa đi tu nữa. Ôi cha ơi! Đau đớn, cay đắng và xót xa tận cùng! Trong Tương Ưng Kassapa, ngài Ma-ha-ca-diếp đã nói Tỳ-kheo nào muốn đạt đến Niết-bàn là phải biết sợ hãi và phải có nhiệt tâm. Nếu một người tu mà không có sợ hãi đối với ác, bất thiện pháp. Nếu một người tu không có nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực trong giới – định – tuệ thì người tu đó không bao giờ đạt được kết quả.
Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng tin đối vói thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
Với ai, bạch Thế Tôn, có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn đối với thiện pháp, có biết sợ đối với thiện pháp, có tinh tấn đối với thiện pháp, có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn...có biết sợ... có tinh tấn... có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VII. Giáo Giới).
Phải biết sợ hãi, lo lắng, xấu hổ. Đây gọi là tàm quý lực. Tàm quý là một sự xấu hổ, nhục nhã khi mình chưa viên thành giới hạnh, khi mình chưa đạt được các tầng thiền định, khi mình chưa thành tựu thánh trí nên tất nhiên phải xấu hổ và sợ hãi. Đây là những pháp căn bản để tác thành giới hạnh của người tu, nếu không có những cái này là không bao giờ thành tựu được. Học để thấy Đức Thế Tôn của chúng ta tuyệt vời như thế nào, để thấy trí huệ của Ngài viên mãn như thế nào để dạy hàng đệ tử chứ không phải đơn giản như mình nghĩ là vào thọ giới rồi hỏi có giữ giới được không thì "Dạ, mô Phật, con giữ được" là xong. Đây là tu trên hình thức, ngoài miệng, đó là giới trên miệng, còn giới trong thân, trong sự tâm niệm của mình nữa. Nếu làm được những điều này, thực hành rồi sẽ thấy con người mình được thay đổi, chuyển hóa, đổi thay. Mình trở thành con người rất đẹp trong Phật giáo, đây là vẻ đẹp của người tu, trên Linh Quy hiện tại đang có 8-9 sư cô đang tu học trên đó. Tu học từ 4h khuya đến 9h sáng, thời khóa bình thường từ 4h đến 6h nhưng vào dịp Minh Thành về núi sẽ ra ngoài trời ngồi thiền trên đỉnh núi có mây bay dưới chân, rồi đem bộ xương ra để quán bạch cốt tưởng, cảm xúc dâng tràn và nước mắt trào ra để thấy bản chất bất tịnh của thân này. Bất tịnh quán là thời khóa thường trực của Linh Quy Pháp Ấn, ngày nào cũng quán bất tịnh và có bộ xương để trong thiền đường để nhắc nhở mình bộ xương đó là mình và mình là bộ xương đó, bộ xương đó là đối tượng mình đang nhớ nghĩ. Phải thực tập mới thấy cái hay của pháp chứ còn học lý thuyết không thì chỉ là một đống ngôn ngữ tri thức, là một sự trống rỗng. Mỗi ngày phải thiền định, phải quán chiếu.
Mọi người phải nghe bài Nhập thất chia sẻ, Soi thấu năm uẩn, Thực hành ngồi thiền mà Minh Thành đã chia sẻ để nắm được những pháp sau này. Những bài này là cánh cửa bước vào pháp hành Nikāya, nếu không nắm được thực hành 3 pháp và nhận diện năm uẩn thì không nắm được pháp. Không nắm được những điều cơ bản thì không thể đi sâu vào pháp, giai đoạn này con giúp cho đại chúng nắm được nền tảng những việc cần làm của người xuất gia, sau đó là nắm vững việc thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn. Sau khi đã nắm vững toàn bộ rồi mới vào học tạng kinh được, còn không chỉ có thể học lý thuyết.
Khi nhận diện năm uẩn thì phải biết thân mình lúc đó đang làm gì, tức là sắc. Trong 3 loại cảm giác thì mình đang có cảm giác gì thì đó là thọ. Lúc đó trong tâm đang có hình bóng gì là tưởng. Trong tâm suy nghĩ những gì là hành. Sự rõ biết những cái này là thức. Nếu chưa quen thì nhận diện 3 cái là thọ; tưởng; hành là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác. Minh Thành chia sẻ với đại chúng 2 cảm giác của thân và tâm để phân biệt, khi trên người có vết thương sẽ cảm thấy đau và khó chịu nhưng cái tâm lại dễ chịu. Mình chia ra thọ của thân và thọ của tâm, 2 cái này khác nhau. Đức Phật dạy có 3 loại cảm thọ:
Lạc thọ: Cảm giác dễ chịu.
Khổ thọ: Cảm giác khó chịu.
Bất khổ bất lạc thọ: Cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu.
Ba loại này bao hàm hết tất cả cảm thọ, nhưng trong này lại được Đức Phật chia ra thêm 2 cái nhỏ nữa là cảm thọ của thân và cảm thọ của tâm, 2 cái thọ này khác nhau. Cho nên khi có vết thương trên người thì có cảm giác khó chịu ở nơi thân nhưng tâm lại dễ chịu, hoan hỷ trong pháp. Như vậy cảm thọ của thân khó chịu nhưng cảm thọ của tâm lại dễ chịu. Ví dụ ngồi xe từ đây tới trên núi Linh Quy 5 tiếng bị mỏi lưng và mệt, uể oải, đi khuya còn bị mất ngủ, ráng đi để lên núi lúc 5h để săn mây. Khi lên tới nơi thì thân mệt mỏi nhưng khi mặt trời chuẩn bị mọc thì lại hào hứng đi ra đón biển mây để chụp hình, như vậy là cái tâm không mệt trái lại còn thích, còn cái thân lại mệt. Tức là cảm giác của thân và cảm giác của tâm là khác nhau. Nếu không tu học Tứ Niệm Xứ, không tu học trí năm uẩn sẽ không biết được những cái này. Sau đây là ví dụ thể hiện thọ thân xâm chiếm thọ tâm: Khi ở chùa tinh thần thoải mái, nhẹ nhàng nhưng chạy xe ngoài đường trời nắng gắt, tự nhiên thấy khó chịu. Chạy xe mệt mà còn gặp người chạy trước chen ngang thì mình thấy sân vì vừa mệt, vừa nắng. Tức là cảm thọ của thân xâm chiếm cảm thọ tâm, làm cho cảm giác của tâm đi theo cảm giác của thân, cho nên người làm mệt hay nổi quạu, cau có. Vì vậy nhận diện năm uẩn để nhận biết rõ ràng cái nào ra cái đó, không bị lấn sân nhau, một người tu khéo léo về quán thọ thì sau này khi gặp những chuyện nguy hiểm xảy đến cho thân, thậm chí có bệnh thì thân khổ nhưng tâm không khổ vì tâm an trú được trong pháp, không bị cảm thọ thân lấn sân qua cảm thọ tâm, không bị cảm giác của thân xâm chiếm qua cảm giác của tâm. Đây chính là quán thọ trên thọ, kiểm soát được cảm giác, cảm xúc. Còn người không biết tu là kẻ vô văn phàm phu vì không biết gì về thọ; tưởng; hành; thức, ngay cả người xuất gia nếu không học năm uẩn cũng sẽ không biết. Chỉ thấy có một phần là bản ngã, là cái tôi chứ không thấy được năm phần, năm uẩn. Mình phải để ý thân khổ nhưng tâm không khổ, thân đau nhưng tâm không đau vì sự tu tập được sâu sắc về quán cảm thọ, sau này tu tới mức thuần thục thân bị hoại diệt nhưng tâm bất động, đó là thành tựu đại định của các bậc thánh, tức là cảm thọ của thân không thể xâm chiếm qua tâm được nữa, tu tới mức như vậy.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy cùng chư huynh đệ, cho phép con được hỏi một câu: Thầy có nói về cảm thọ của thân có thể lấn qua cảm thọ của tâm nếu mình không biết ranh giới và không biết phân biệt rạch ròi, dễ bị nó chi phối. Nếu vậy cảm thọ thường trực của tâm là như thế nào thưa thầy?
Con được biết cảm thọ được chia làm 3: Thọ khổ, thọ lạc và thọ không khổ không lạc. Chia làm 5 sẽ có thêm thọ ưu và thọ hỷ. Con hiểu đó là thọ của tâm, vậy nếu thân mình đau mà mình để cho cảm thọ của thân lấn qua cảm thọ của tâm nhưng mình cứ nghĩ đến cái đau thì lúc đó cả thân là tâm đều có cảm thọ đau, nhưng con thường thực hành mình đau nơi thân nhưng không đau nơi tâm thì mình chụp nhận như vậy và mình không bị chi phối, đối với cảm giác kham nhẫn về cái lạnh, con không chịu lạnh được nhưng khi lạnh quá thì con không nghĩ đến cái lạnh và để cho mình thông thả trong sự ra vào hơi thở. Con quan sát nhận diện sự ra vào hơi thở thì con có thể cảm nhận mình không lạnh đến mức phải mặc thêm áo, nhưng hôm nay con nghe vậy thì con cũng không có sự rạch ròi về cảm thọ của thân. Vậy còn cảm thọ nơi tâm thì như thế nào thưa thầy?
Bây giờ cô đang có cảm thọ gì?
Bây giờ con cảm thấy không khổ không vui, thưa thầy.
Vậy là được rồi. Làm gì có cái thường trực? Thường tức là nó thường, nó là vô thường. Không có cảm thọ thường trực của tâm, cảm thọ của tâm là sanh diệt.
Minh Thành chưa đi sâu vào pháp, thực tế ở đây có thêm 2 cảm thọ nữa là hỷ thọ và ưu thọ. Có khi Đức Phật nói 2 thọ là khổ và lạc, có khi Đức Phật nói 3 thọ là ngoài khổ và lạc thì có thêm bất khổ bất lạc thọ, có khi Đức Phật nói 5 thọ là ngoài 3 cái trên thì có thêm hỷ thọ và ưu thọ. Hỷ là cảm giác vui trong tâm, vậy là thuộc về cảm thọ của tâm. Ưu là buồn lo, thuộc về thọ tâm. Khi phân tích thì ưu thọ và khổ thọ tùy theo trường hợp mà giải thích nhưng thường thì 3 thọ là đơn giản, dễ hiểu nhất còn phân ra nhiều quá sẽ bị rối. Chúng ta không có cảm giác thường trực của tâm vì cảm giác là sanh diệt thì làm sao có cái thường được? Cảm giác luôn luôn sanh diệt, khi ngồi học như nhau nhưng cảm giác của mỗi người là khác nhau chứ không phải ai cũng như ai, có người hân hoan hỷ lạc, có người sợ lo nhưng đó lại là thiện pháp, có người trong tâm lại chống đối vì ý hành hiện lên các suy nghĩ "làm gì mà khó dữ vậy?". Mọi người phải nhìn ra được hết các loại cảm giác này và tác ý đánh đuổi cái chống đối đó ra khỏi thân tâm, còn nếu mình thọ nhận cảm giác đó là chống đối pháp, nếu vậy sẽ không thể nào thể nhập được thánh pháp.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.