Bậc Tháng Giác Ngộ - Yếu Nghĩa 1
Bậc Tháng Giác Ngộ - Yếu Nghĩa 1
(Văn bản. Diệu Quang)
Cái chánh là học Đại chánh đại luận, để làm tiền phương tiện nếu huynh đệ đi thẳng vào Đại trí đạo luận mình không có một nền tảng sâu sắc nên Minh Thành giới thiệu cho huynh đệ hồi cuối năm vừa rồi, bộ này là bộ thánh điển Phật giáo của thế giới, Bồ đề đạo thứ đạo luận, Minh Thành đem từ chùa Tịnh Luật Mỹ quốc và quyển này quyết định của tạng truyền của Phật giáo từ Ấn Độ Nepan Tây tạng Mông cổ các nước tạng truyền Phật giáo đều phải học quyển nà,y đây là một trong những quyển thánh điển của Phật giáo mà nó có quyền uy trên Phật giáo thế giới, hiện nay Đài loan, Trung Quốc học rất nhiều. Để cho huynh đệ trong một năm cuối của cao đẳng Phật học Minh Thành cố gắng giới thiệu cho huynh đệ ba bộ, ba bộ này là ba bộ dữ dội gọi là ba báu vật của Phật giáo thế giới.
Bộ thứ nhất là bộ Bậc thanh giác ngộ sẽ làm tiền phương tiện, Bộ chánh là Đạo trí đại luận ở chánh giữa nếu chúng ta học nghiêm túc có thể tiếp thu Minh Thành sẽ giới thiệu bộ Tôn giả hộ Pháp của nước Việt Nam một vị đại Cao tăng của Nguyên thủy bộ đó có tên là Trí tuệ thiền tuệ, chúng ta có một báu vật của Phật giáo Nguyên Thủy mà có lẽ ở đây mình ít biết, Ngài Hộ Phát được gọi là một trong ba báu vật của Phật giáo Nguyên Thủy, tùy theo tông phái học tập sự ưa thích cần cầu pháp của huynh đệ mà chúng ta học được hoặc trọn ba bộ hoặc hai bộ hoặc một bộ tùy tâm thái cầu học của huynh đệ. Chúng ta không có nhiều thời gian nên chúng ta học tổng luận, mình sẽ tóm thâu những yếu nghĩa nhất của bộ này. Bồ đề đạo thứ bộ luận của Ngài A-tiết-sa bộ này là Ngài tóm thâu tam tạng thánh giáo hiển mật, tất cả kinh luật luận từ nghĩa lý căn bản nền tảng cho đến trung thừa hay thượng thừa đều gói gọn hết trong quyển này.
(Trang 41) “Quy kính tụng, kính lễ dưới chân các bậc trí Tôn chánh sĩ đầy đủ tâm đại bi, xin cuối lạy giáo chủ ta bà bậc Bổ xứ Từ Tôn Di Lạc, bậc cha lành trí tuệ văn thù, bậc Long tượng Long thọ Vô trước của hai tông thâm quán quảng hạnh cùng các bậc Tổ sư truyền thừa vì muốn quảng luận được dễ hiểu nay xin giảng lại thuật sơ lược”.
Đầu tiên huyng đệ thấy chỗ này là những bậc giác ngộ, bậc Cao tăng luôn luôn ở đầu đề của những bản luận lớn đều là quy kính Tam bảo, luôn luôn tôn kính và hướng về Tam bảo cho nên Pháp này là pháp quyêt định tâm tôn kính là tâm đứng đầu của ba đời mười phương Chư Phật nếu mình học Phật thiếu tâm này coi như là không có gì hết con số không, tất cả những cái mình làm đều chỉ là lâu đài trên bãi cát, tâm cung kính là nền tảng quyết định sự nghiệp vĩ đại của người xuất gia cũng như người cư sĩ. Bài quy kính này là kính lễ dưới chân các bậc trí Tôn chánh sĩ đầy đủ đại bi tâm mấy chữ này rất mắc.
Thứ nhất trí tôn không phải con người hay sinh mạng hay quyền uy, Trí tôn là trí tuệ trí tôn, trí huệ đạt tới chỗ tận cùng được cả thế gian tôn quý được gọi là Thế Tôn, thế là thế gian, tôn là tôn kính nên được khắp thế gian tôn kính người ta gọi là bậc Thế Tôn, Thế gian ở đây không phải loài người không mà cả loài trời tất cả các loài trong tam giới, Chánh sĩ là những bậc chân chánh chỉ cho các bậc Bồ-tát và Phật, Hiền thánh tăng, ở đây Chánh sĩ chỉ cho bậc Bồ-tát với Phật cho nên mới đầy đủ đại bi tâm đại bi tâm, đại bi tâm là cái tâm thương khắp tất cả muôn loài. Câu đầu lễ giáo chủ tà bà là đức Thế Tôn Mâu Ni, thứ hai bậc Bổ sứ từ tôn bậc cha lành trí huệ Văn Thù, bên bậc giáo tạng truyền rất quan trọng Ngài Văn Thù Sư Lợi cực kỳ quan trọng nên, Ngũ đài sơn làm Văn thù Bồ-tát là theo phong cách tạng truyền Phật giáo, Văn Thù Sư lợi gọi là Tam thế Như lai như đạo sư là bậc thầy dẫn đường của ba đời Chư Phật, quá khứ, hiện tại và vĩ lai nên Văn Thù Sư Lợi là một biểu tượng, biểu tượng cho trí huệ cứu cánh cùng cực để thấu triệt tất cả Pháp Vô ngã tánh không nên lễ Bồ-tát Văn Thù là lạy trí huệ đó hướng tới trí huệ đó để sống với trí huệ đó. Bậc Long tượng và Lòng thọ Vô trước là hai Ngài biểu trưng nói lên hai cái hướng tu tập là thâm quán và quảng hạnh. Chú thích: đây là cách chia tông theo tri kiến nói rộng là dòng có tri kiến thiền định thâm sâu gọi là thâm quán và dòng có đại kiến và hạnh nghiệp rộng lớn gọi là quảng hạnh. Ngài Long thọ Bồ-tát là Ngài thống nhiếp giữa thông quán và quảng hạnh, tức là về quán chiếu thâm sâu cùng cực nói tới tánh không sau này chúng ta học sẽ hiểu, quảng hạnh là người ta nói lục ba la mật, thập ba la mật mình vào Đạo trí đạo luận sẽ thấy quảng hạnh tuy thấy tánh không rất sâu nhưng làm rất rộng để lợi lạc chúng sanh chứ không phải thấy tánh không là không làm gì nghỉ cho khỏe không phải nên học Vô thường để thấy mạng sống này mong manh tạm bợ để mình nỗ lực tinh tấn không cho nó hoang phí thời gian, chứ không phải học Vô thường để chờ chết học Vô ngã để thấy tất cả pháp không có chủ thể không có cốt lõi, không có bền chắc để mình phá tan cái tôi và cái của tôi để mình có thể Vô ngã vị tha lợi lạc cho muôn loài chứ không phải học Vô ngã để mình ngã vô, học vô ngã để mình biết trí huệ vô ngã người kia không biết, không phải, học tánh không để từ tánh không đó để phụng sự phục vụ làm trâu làm ngựa cho chúng sanh trước khi làm Phật môn long tượng thì hãy làm trâu ngựa cho chúng sanh (Tinh Vân Đại sư), thấy được tánh không là để không mình, không ta, không tôi để vì mọi người chứ không phải thấy tánh không để mình dựa tánh không đó không thèm nỗ lực cố gắng phấn đấu đó là thâm quán quảng hạnh của Bồ-tát, cùng các bậc mà Sư tổ truyền thừa vì muốn cho quảng luận là bộ luận lớn đễ hiểu, đây là bậc Cao tăng, Thánh tăng có công đức rất lớn ở Phật giáo Ấn Độ cũng như Tây tạng để soạn ra bộ này chứ không phải bậc học giả kiến thức ngồi tưởng tưởng chấp vá để ra cuốn sách mà bậc thành tựu giả, bậc đại đạo sư Thánh tăng để soạn ra bộ này cho chúng ta học.
(Trang 51) Sự thù thắng của giáo thọ là vì muốn cho chúng sanh khỏi tâm tin tưởng kính trọng những điều được giảng dạy cho nên nhấn mạnh đến sự trọng yếu của pháp, luận này vượt hẳn những bộ luận khác là vì tại sao bộ luận này quan trọng siêu việt vượt qua những bộ luận khác mà cả thế giới người ta muốn học
Thứ nhất tổng nhiếp yếu nghĩa của hai thừa hiển mật cho nên lời dạy viên mãn
Thứ hai có thể điều phục tâm ý theo thứ tự cho nên thọ trì dễ dàng
Thứ ba khéo léo trang nghiêm hai tông, tánh tông và tướng tông của các Ngài long thọ và Vô trước, Ngài Long Thọ là nói về tánh không tức là tánh tông Ngài Vô trước nói về pháp tướng tức là tướng tông, Vô trước là tổ sư của nghi thức học cho nên chúng ta thống nhất được yếu nghĩa của hai thừa hiển và mật, trước bộ luận này những vị viết sách, hiển viết hiển, mật viết mật giáo nhưng bộ này gôm được cả hai tông tất cả giáo nghĩa của hai tông.
Thứ hai có thể điều phục tâm ý theo thứ tự, điều phục tâm ý theo thứ tự ở đây người ta chia ra tam sĩ đạo, hạ sĩ đạo, trung sĩ đạo rất đặc biệt, còn mình học chung chung ở đây người ta chia ba cấp độ tu hành rất rõ.
Thứ ba có thể khéo léo trang nghiêm hai tông. Thường thường mình học dễ bị nghiêng lệnh ví dụ mình học về tánh không mình đi sâu tánh không là không muốn làm từ thiện cái này rất dễ hồi xưa Minh Thành từng đi qua mình học cái gì là đưa cái đó lên tận mây xanh ví dụ giờ pháp môn niệm Phật còn những cái kia không cái này là số một lối tắt trong lối tắt, thống nhiếp hết tất cả chỗ này cũng hay mà cũng dở tại vì Chư tổ nói phương tiện để cho người nào thích hợp với món nào họ dùng món đó, ví dụ mình thích ăn mì gói nhưng có người ta không thích ăn mì gói thích ăn mì tươi, người không thích ăn mì tươi mà thích ăn bún riêu, có người thích ăn phở hay ăn cơm, có nhiều món mình thích phở mình nói phở là số một còn những món kia dẹp hết, không được, món ăn cũng vậy còn giáo pháp là món ăn tinh thần cũng vậy nên chỗ độc đáo của bộ luận này là có thể khéo léo trang nghiêm hai tông tất cả giáo pháp thời đó bao trùm hết tánh tướng, tánh tông, tánh tông là phân tích bản chất trống rỗng của các pháp, tướng tông là đem tâm thức của mình chia sẻ ra hàng trăm pháp hàng mấy trăm pháp chia riết cuối cùng cho mình thấy là không thật, chỗ này huynh đệ phải học thuộc hai câu này.
“Thật tế lý địa bất thọ nhất trần
Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp
Khi cần thì muôn cảnh toàn bày
Buông đi thì mãi chẳng lập”
Thật tế lý địa bất thọ nhất trần
Thật đế là chỗ chân thật nó không nhận một hạt bụi nhưng trong cửa muôn hạnh không bỏ một pháp, giờ mình học tánh không thôi giờ bố thí cũng là phước báu đi trong sanh diệt nói thôi khỏi cần bố thí, mình học tánh không mới sâu chứ đừng trì giới, trì giới là tướng ngoài mình tu tâm, mình học là phải vạn hạnh môn trung không bỏ một pháp nói đơn giản phòng học của mình không phải một thứ hình thành biết bao nhiêu cái, mình tính ra là muôn vàn vạn cái, sắt, xi măng, gạch, đá cát kiếng v.v..., pháp cũng vậy, pháp bất cô khỏi trượng cảnh phương sanh, không thể tự nó thành lập được mà nó phải tự thành lập được phải nhờ những điều kiện thuộc về pháp cấu tạo lắp ráp mới biểu hiện ra được, đạo quả viên mãn cũng vậy có phước, có trí và có đức nên vạn hạnh môn trung không bỏ một pháp nói gần thập a la mật, muôn ba la mật nên vạn hạnh muôn trung không bỏ một pháp tùy nhân duyên mình buông, buông đi bụi chẳng lập, khi trở về tánh không diệt thọ tưởng định không còn cái gì khi trở ra làm lợi lạc cho chúng sanh hay cần thiết trí huệ linh hoạt diệu dụng soi cho tới chân tơ kẽ tóc chính vì thế trong kinh đại bát nhã ba la mật thiền tông hay nói câu đem một sơi tóc chẻ ra làm một trăm phần chín mươi chín phần thấy là giả còn một phần thấy là thật thì ma ha diễn không thành lập được, đem một cọng tóc chẻ ra ngàn phần, một ngàn lần chín trăm chín mươi chín phần thấy là giả còn một phần thấy thật thì trí huệ đại thừa không thành lập, nó sâu tới tận cùng trống rỗng không có gì nhưng rộng chỗ hy sinh thân mạng để vì tất cả Phật pháp chúng sanh muôn loài chỗ đó là chỗ vĩ đại của Bồ-tát còn mình bây giờ cũng là Bồ-tát mà Bồ-tát bằng đất qua sông bị rã tại vì mình chưa có thâm quán mà mình đòi quảng hạnh hai cái này bổ túc cho nhau rất quan trọng giống như con chim có hai cánh nên nhìn sâu làm rộng là thống nhiếp tất cả Phật pháp nên nhìn sâu là bậc A-la-hán làm rộng tức là Bồ-tát, hai cái này kết hợp lại nó mới trở thành cọp mọc sừng, hổ thêm cánh trở thành Long tượng. Trước mắt muốn làm Long tượng phải làm trâu ngựa cho chúng sanh mà không muốn vô chỉ muốn làm sếp nên mãi mãi làm lính, phải phụng sự phục vụ từ từ phước đức công của mình từ từ mới đưa mình lên không chịu nên có một số huynh đệ đi học bên nước ngoài về có bằng cấp cao được vào chức lớn nhưng vào thời gian một trở về nước ngoài hai là không làm cái gì nữa, chỗ này là chỗ mình chưa thông, mình phải xả thân để phụng sự phục vụ chính cái trí đức hạnh của mình, công của mình tự động nhân quả tương xứng cho nên cái xã hội ngày hôm nay tu cái này phù hợp, tại vì đa số mình bỏ hết đi vào rừng sâu núi thẳm ngồi quán chiếu rất hiếm bây giờ lăn ra nhập thế vấn thông vấn hồi buộc luôn nên hai cái này là cái trang bị rất quan trọng.
Bồ đề thứ đại luận này chia làm bốn phần để giải thích.
Thứ nhất sự thù thắng của việc hội thông những kinh điển đức Phật đã thuyết giảng, chỗ thù thắng đây là chỗ đặc biệt là chỗ hội thông kinh điển chỗ viên dung, hội thông, dung hóa làm cho nó nhất quán còn không mình làm cái này cái kia khác nhau nên tất cả những gì đức Phật dạy đều là con đường thành Phật cho mỗi chúng sanh, những lời dạy này tùy theo trường hợp trở thành phần cốt yếu hoặc trở nên phần phụ thuộc những điều Bồ-tát cầu học đều muốn lợi ích thế gian nhiếp thọ tất cả ba loại chủng tánh cho nên đối với những đạo phẩm mỗi loại Bồ-tát đều phải nên tu học, ở đây nói đức Phật đã đoạn trừ tất cả lỗi lầm chứ không phải chỉ đoạn trừ một phần
Thứ hai đức Phật đầy đủ tất cả công đức chứ không phải chỉ thành tựu một phần, bậc thượng sĩ phát tâm chí cầu quả Phật cũng phải diệt trừ tất cả điều ác tu tập tất cả pháp lành, tất cả công đức, đoạn phiền não chứng chơn như của các thừa khác đều được bao hàm trong đại thừa nên bậc thượng sĩ đều phải nên tu học, ở trong kinh Kim cương đãnh nói dù cho mất thân mạng cũng không xả bỏ Bồ đề tâm lại nói sáu pháp ba la mật không được xả bỏ một pháp nào.
Thứ nhất đức Phật đoạn trừ tất cả lỗi lầm chứ không phải đoạn trừ một phần đầy đủ tất cả các công đức đầy đủ một phần nhỏ nên Chư Bồ -tát tu tập, bậc thượng sĩ đạo trong đây đưa ra là phải viên mãn tất cả công đức, muốn viên mãn tất cả công đức đầu tiên như Kinh kim cương đỉnh nói cho chúng ta dù mất thân mạng cũng không xả bỏ Bồ-đề tâm, đây là một trong những giáo lý đặc sắc của Phật giáo tạng truyền dấu nghĩa của Bồ đề tâm này các vị tổ sư của Tây tạng nói rằng tám mươi bốn ngàn pháp môn lấy cái tinh túy của nó gom lại gom lại gom lại chắt lọc cuối cùng là Bồ đề tâm là tinh túy nhất của toàn bồ giáo pháp giống như một người mù đi ở bên đống rác mà vô tình trên đống rác đó lượm được một viên kim cưng hột xoàng lớn trở thành giàu nhất hành tinh, giáo lý Bồ đề tâm cũng giống như vậy tại sao người mù ở bên đống rác mà lượm được viên kim cương rất lạ, đống rác chỉ cho thân mình, thân mình không khác đống rác huynh đệ nghĩ cho rằng mình vào nhà hàng bưng món này món kia ra thơm ngon, mình ăn rất ngon nhưng giờ mình lấy hết những đồ ăn đó mình trộn để cỡ khoảng ba tiếng đồng hồ sau còn có thể ăn được nhưng để nước cốt dừa chung với canh đồ kho để ba ngày thì không ăn nổi nhưng bao tử của mình để trong đó mấy chục năm, mình thấy những cái nào không được thì bày tiết ra bày tiết ra chính của mình mà còn thấy gớm nên Minh Thành tâm đắc, ví dụ Quán âm tự duyên mà con bất hiếu ông Hòa thượng lại hóa độ mà nó chưa phục tùng nó gài cửa bước vào sụp luôn thùng phân lên đầu, ông để vậy đi ra ngoài đường ai cũng đi theo nhìn ôi hôi dơ quá, Hòa thượng mới nói cái thùng phân lớn đội thùng phân nhỏ chứ có gì đâu lạ mà nhìn, tại vì thùng phân nhỏ đó từ thùng phân lớn ra, thân của mình là thùng phân lớn, thùng phân lớn mới có ra thùng phân nhỏ, không có thùng phân lớn làm sao có thùng phân nhỏ, mình xét cho kỹ mình thấy nhà nào cũng làm cái phòng nhỏ để thân này bài tiết ra để bỏ thùng phân đó bỏ, nói đống rác là nói còn nhẹ nói nặng là nói thùng phân, ngay chỗ nhơ nhớp thân này cuối cùng cũng cuốn chiếu quang bây giờ mù tức là vô minh không thấy được chánh lý, không có trí huệ, không có chánh kiến si mê vô minh không thấy được nên người mù ở bên đống rác mà lượm được hột xoàng viên kim cương là Bồ đề tâm, Bồ đề tâm là tâm tha thiết mong cầu giác ngộ, thấu suốt bản chất của cuộc đời của thân tâm mình, muốn giúp cho hết tất cả muôn loài tâm đó rất quý nên Bồ tát Tịch thiên nhập Bồ-tát hạnh mới nói rằng, con cuối đầu có ông có bà có cô chú bác nào phát Bồ đề tâm chăng nếu có con xin sẵn sàng quỳ dưới chân các Ngài ở trong thế giới đầy dãy sự tư lợi ích kỹ mà có một người phát tâm hết muôn loài, con đãnh lễ dưới chân của các Ngài bậc Bồ tát của trái tim vĩ đại, thọ giới Bồ tát thọ rần rần nhưng không sống với tâm Bồ-tát nhiều khi giới còn quên nên thật sự chân chân chách chánh mà phát được tâm Bồ đề này là người đó lượm được viên kim cương lớn bằng ngón chân cái giàu nhất hành tinh nên mất thân mạng không bỏ hạt xoàng đó, hột này vô cùng quý giá, người tu thật sự nhận thức được sự quý báu của Bồ đề tâm thì cũng phải giống vậy thà chết chứ không bỏ tâm Bồ đề, tâm vì chúng sanh tâm để tha thiết tìm cầu chân lý giác ngộ, tâm để thấu triệt bản chất của ngũ uẫn của danh sắc, của thân tâm, tâm đó không có cái gì trên thế gian này mà so sánh được, trong đây giáo nghĩa này sẽ nói về tâm đó
Sáu pháp ba la mật không được xả bỏ pháp nào đây là quan trọng, nhiều khi mình học thiền hay quá tối ngày chỉ học thiền, nói tới bố thí thôi cái đó ở bên ngoài nói làm từ thiên đôi khi mình xem cái đó là thấp mình ngồi yên như vậy mới là cao chỗ đó là chỗ thất bại, trong sáu ba la mật không bỏ được một pháp nào, đừng nói đâu xa, ông bạn ở chung mình huynh đệ hay ông ngồi kế bên nay cái viết của ông tự nhiên hết mực mà mình có dư cây viết, ông đang hết mực quay qua hỏi mà lơ không muốn cho không nghe, chăm chú viết bài bỏn xỉn không giúp đỡ, ví dụ trong chùa có hai huynh đệ bữa này xe hư bữa nay mình đi học người kia xin đi nhờ xe nói nay tôi bận công chuyện những cái nhỏ nhỏ đó mình xem kỹ có khi mình vẫn bị dính mắc trong đó nên cái bố thí này mình phải tập bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, tinh tấn, trí huệ, mỗi ngày mình đều xoay quanh sáu pháp tới bờ kia mình tu tập được bao nhiêu, xem giới mình, xem sức chịu đựng nhẫn nại của mình hay mình gặp khó vạn sự khởi đầu nan gian nan bắt đầu nản, mình coi sự nỗ lực tinh tấn phấn đấu của mình ở mức độ nào, tâm thiền tâm chánh niệm tỉnh giác nó có hay không, phát triển trí huệ quán chiếu về tam tướng để xả ly như thế nào, thành ra sáu pháp này nếu bậc thượng sĩ phát Bồ đề tâm phải để ý pháp này để thực tập trong mỗi ngày đó là sự thù thắng thứ nhất là việc hội thông kinh điển
Thứ hai là sự nêu rõ tất cả kinh điển đều là giáo thọ. Bồ đề bảo nói trong quyển nói “người thâm nhập kinh giáo không bao giờ y cứ vào một số ít kinh điển mà vội phán đoán quyết định nên biết tất cả lời dạy của Phật đều là giáo thọ” chỗ này mình cần xét, người gọi là tham nhập giáo pháp thì không bao giờ y cứ một số ít kinh điển cho nên vấn đề lấy một bộ kinh để tu phải coi lại, thậm chí bao nhiêu pháp đó chọn một pháp này cái đó là không được, tất cả kinh điển phải y cứ cho đầy đủ ví dụ ba mươi bảy phẩm trợ đạo phải nắm rõ, tánh chung chung của con người mình nhất là thời này thích gì đơn giản dễ, giải đãi lười biếng chứ không chịu khó nhẫn ba la mật cái này quan trọng, nhẫn này là chịu khó, nhẫn nại mình học được chút chộp vào đó là thất bại lớn cho nên không được vội vàng phán đoán hay quyết định trong khi mình chỉ y cứ một số rất kinh lận kinh điển phải có sự nghiên cứu sâu sắc rộng lớn.
“Nếu như sau này mình học nhiều kinh điển mình lại đi tìm những pháp tu ở nơi khác ngoài kinh điển đây là một điều vô cùng lầm lẫn” giờ có một số quý Thầy trong giáo pháp dạy không chịu làm đi học với ông ở đâu pháp nào đó lạ đem về cho nó lạ, làm cho thu hút Phật tử cái này nguy hiểm vô cùng, ngoại pháp không là phải ngoại pháp không thành cái gì nên chỗ này mình phải nắm cho thật vững, mình phải lấy kinh điểnn những hành trì của Phật để chỗ làm chỗ y cứ không được vộ vàng phán quyết phán đoán một cách võ đoán phải cầu học cho sâu sắc rộng lớn chỗ cầu học bác đại tinh thâm mình mới có được cái thấy viên mãn, đại khai viên giải mình mở ra được cái thấy biết tròn vẹn sâu sắc rộng lớn.
Thứ ba sự thù thắng của việc lãnh hội dễ dàng mật ý của Phật. Ở đây người ta nêu ra cho mình thấy rõ chỗ nào là chỗ sâu kín của đức Phật, đức Phật nói để mình thấy
Sự thù thắng thứ tư là tự mình có thể trừ diệt được những hành vi cực ác. mình có thể trừ được những cái hành vi cực ác ở trong Tam muội dương kinh nói “giả xử hủy hoại tất cả chùa tháp ở cõi diên bồ đề so với tội báng pháp vẫn chưa bằng một phần rất nhỏ, giả như một lúc giết chết vô sô bậc A-la-hán so với tội phỉ báng chánh pháp vẫn chưa bằng một phần rất nhỏ, nói tóm lại nhân duyên phỉ báng pháp có rất nhiều nhưng không biết nói càng là điều dễ phạm nhất” chỗ này là chỗ quan trọng, mình có thể diệt được hành vi cực ác tại vì mình học trong đây rồi mình sẽ biết cái nào là ác, cái nào là sai mà trong tất cả tội lỗi nêu ra cái lỗi lớn nhất là phỉ báng chánh pháp. Tại sao có lỗi phỉ báng chánh pháp là tại vì không biết mà nói càn nguy hiểm và cực kỳ, cực kỳ quan trọng mình phải nghiên cứu Phật pháp cho thâm sâu nắm vững được yếu chỉ tu hành của đức Phật, sau đó mình mới hướng dẫn chia sẻ còn bằng không hiểu sơ sơ nói đại nói bừa nói càn thì ở đây nêu ra hủy hoại tất cả chùa tháp, giết vô số bậc A-la-hán nhưng tội không bằng phỉ báng chánh pháp cho nên chúng ta phải thấy rõ được giá trị của giáo pháp rồi mình mới biết nó quý như thế nào.
(Văn bản. Diệu Quang)
Cái chánh là học Đại chánh đại luận, để làm tiền phương tiện nếu huynh đệ đi thẳng vào Đại trí đạo luận mình không có một nền tảng sâu sắc nên Minh Thành giới thiệu cho huynh đệ hồi cuối năm vừa rồi, bộ này là bộ thánh điển Phật giáo của thế giới, Bồ đề đạo thứ đạo luận, Minh Thành đem từ chùa Tịnh Luật Mỹ quốc và quyển này quyết định của tạng truyền của Phật giáo từ Ấn Độ Nepan Tây tạng Mông cổ các nước tạng truyền Phật giáo đều phải học quyển nà,y đây là một trong những quyển thánh điển của Phật giáo mà nó có quyền uy trên Phật giáo thế giới, hiện nay Đài loan, Trung Quốc học rất nhiều. Để cho huynh đệ trong một năm cuối của cao đẳng Phật học Minh Thành cố gắng giới thiệu cho huynh đệ ba bộ, ba bộ này là ba bộ dữ dội gọi là ba báu vật của Phật giáo thế giới.
Bộ thứ nhất là bộ Bậc thanh giác ngộ sẽ làm tiền phương tiện, Bộ chánh là Đạo trí đại luận ở chánh giữa nếu chúng ta học nghiêm túc có thể tiếp thu Minh Thành sẽ giới thiệu bộ Tôn giả hộ Pháp của nước Việt Nam một vị đại Cao tăng của Nguyên thủy bộ đó có tên là Trí tuệ thiền tuệ, chúng ta có một báu vật của Phật giáo Nguyên Thủy mà có lẽ ở đây mình ít biết, Ngài Hộ Phát được gọi là một trong ba báu vật của Phật giáo Nguyên Thủy, tùy theo tông phái học tập sự ưa thích cần cầu pháp của huynh đệ mà chúng ta học được hoặc trọn ba bộ hoặc hai bộ hoặc một bộ tùy tâm thái cầu học của huynh đệ. Chúng ta không có nhiều thời gian nên chúng ta học tổng luận, mình sẽ tóm thâu những yếu nghĩa nhất của bộ này. Bồ đề đạo thứ bộ luận của Ngài A-tiết-sa bộ này là Ngài tóm thâu tam tạng thánh giáo hiển mật, tất cả kinh luật luận từ nghĩa lý căn bản nền tảng cho đến trung thừa hay thượng thừa đều gói gọn hết trong quyển này.
(Trang 41) “Quy kính tụng, kính lễ dưới chân các bậc trí Tôn chánh sĩ đầy đủ tâm đại bi, xin cuối lạy giáo chủ ta bà bậc Bổ xứ Từ Tôn Di Lạc, bậc cha lành trí tuệ văn thù, bậc Long tượng Long thọ Vô trước của hai tông thâm quán quảng hạnh cùng các bậc Tổ sư truyền thừa vì muốn quảng luận được dễ hiểu nay xin giảng lại thuật sơ lược”.
Đầu tiên huyng đệ thấy chỗ này là những bậc giác ngộ, bậc Cao tăng luôn luôn ở đầu đề của những bản luận lớn đều là quy kính Tam bảo, luôn luôn tôn kính và hướng về Tam bảo cho nên Pháp này là pháp quyêt định tâm tôn kính là tâm đứng đầu của ba đời mười phương Chư Phật nếu mình học Phật thiếu tâm này coi như là không có gì hết con số không, tất cả những cái mình làm đều chỉ là lâu đài trên bãi cát, tâm cung kính là nền tảng quyết định sự nghiệp vĩ đại của người xuất gia cũng như người cư sĩ. Bài quy kính này là kính lễ dưới chân các bậc trí Tôn chánh sĩ đầy đủ đại bi tâm mấy chữ này rất mắc.
Thứ nhất trí tôn không phải con người hay sinh mạng hay quyền uy, Trí tôn là trí tuệ trí tôn, trí huệ đạt tới chỗ tận cùng được cả thế gian tôn quý được gọi là Thế Tôn, thế là thế gian, tôn là tôn kính nên được khắp thế gian tôn kính người ta gọi là bậc Thế Tôn, Thế gian ở đây không phải loài người không mà cả loài trời tất cả các loài trong tam giới, Chánh sĩ là những bậc chân chánh chỉ cho các bậc Bồ-tát và Phật, Hiền thánh tăng, ở đây Chánh sĩ chỉ cho bậc Bồ-tát với Phật cho nên mới đầy đủ đại bi tâm đại bi tâm, đại bi tâm là cái tâm thương khắp tất cả muôn loài. Câu đầu lễ giáo chủ tà bà là đức Thế Tôn Mâu Ni, thứ hai bậc Bổ sứ từ tôn bậc cha lành trí huệ Văn Thù, bên bậc giáo tạng truyền rất quan trọng Ngài Văn Thù Sư Lợi cực kỳ quan trọng nên, Ngũ đài sơn làm Văn thù Bồ-tát là theo phong cách tạng truyền Phật giáo, Văn Thù Sư lợi gọi là Tam thế Như lai như đạo sư là bậc thầy dẫn đường của ba đời Chư Phật, quá khứ, hiện tại và vĩ lai nên Văn Thù Sư Lợi là một biểu tượng, biểu tượng cho trí huệ cứu cánh cùng cực để thấu triệt tất cả Pháp Vô ngã tánh không nên lễ Bồ-tát Văn Thù là lạy trí huệ đó hướng tới trí huệ đó để sống với trí huệ đó. Bậc Long tượng và Lòng thọ Vô trước là hai Ngài biểu trưng nói lên hai cái hướng tu tập là thâm quán và quảng hạnh. Chú thích: đây là cách chia tông theo tri kiến nói rộng là dòng có tri kiến thiền định thâm sâu gọi là thâm quán và dòng có đại kiến và hạnh nghiệp rộng lớn gọi là quảng hạnh. Ngài Long thọ Bồ-tát là Ngài thống nhiếp giữa thông quán và quảng hạnh, tức là về quán chiếu thâm sâu cùng cực nói tới tánh không sau này chúng ta học sẽ hiểu, quảng hạnh là người ta nói lục ba la mật, thập ba la mật mình vào Đạo trí đạo luận sẽ thấy quảng hạnh tuy thấy tánh không rất sâu nhưng làm rất rộng để lợi lạc chúng sanh chứ không phải thấy tánh không là không làm gì nghỉ cho khỏe không phải nên học Vô thường để thấy mạng sống này mong manh tạm bợ để mình nỗ lực tinh tấn không cho nó hoang phí thời gian, chứ không phải học Vô thường để chờ chết học Vô ngã để thấy tất cả pháp không có chủ thể không có cốt lõi, không có bền chắc để mình phá tan cái tôi và cái của tôi để mình có thể Vô ngã vị tha lợi lạc cho muôn loài chứ không phải học Vô ngã để mình ngã vô, học vô ngã để mình biết trí huệ vô ngã người kia không biết, không phải, học tánh không để từ tánh không đó để phụng sự phục vụ làm trâu làm ngựa cho chúng sanh trước khi làm Phật môn long tượng thì hãy làm trâu ngựa cho chúng sanh (Tinh Vân Đại sư), thấy được tánh không là để không mình, không ta, không tôi để vì mọi người chứ không phải thấy tánh không để mình dựa tánh không đó không thèm nỗ lực cố gắng phấn đấu đó là thâm quán quảng hạnh của Bồ-tát, cùng các bậc mà Sư tổ truyền thừa vì muốn cho quảng luận là bộ luận lớn đễ hiểu, đây là bậc Cao tăng, Thánh tăng có công đức rất lớn ở Phật giáo Ấn Độ cũng như Tây tạng để soạn ra bộ này chứ không phải bậc học giả kiến thức ngồi tưởng tưởng chấp vá để ra cuốn sách mà bậc thành tựu giả, bậc đại đạo sư Thánh tăng để soạn ra bộ này cho chúng ta học.
(Trang 51) Sự thù thắng của giáo thọ là vì muốn cho chúng sanh khỏi tâm tin tưởng kính trọng những điều được giảng dạy cho nên nhấn mạnh đến sự trọng yếu của pháp, luận này vượt hẳn những bộ luận khác là vì tại sao bộ luận này quan trọng siêu việt vượt qua những bộ luận khác mà cả thế giới người ta muốn học
Thứ nhất tổng nhiếp yếu nghĩa của hai thừa hiển mật cho nên lời dạy viên mãn
Thứ hai có thể điều phục tâm ý theo thứ tự cho nên thọ trì dễ dàng
Thứ ba khéo léo trang nghiêm hai tông, tánh tông và tướng tông của các Ngài long thọ và Vô trước, Ngài Long Thọ là nói về tánh không tức là tánh tông Ngài Vô trước nói về pháp tướng tức là tướng tông, Vô trước là tổ sư của nghi thức học cho nên chúng ta thống nhất được yếu nghĩa của hai thừa hiển và mật, trước bộ luận này những vị viết sách, hiển viết hiển, mật viết mật giáo nhưng bộ này gôm được cả hai tông tất cả giáo nghĩa của hai tông.
Thứ hai có thể điều phục tâm ý theo thứ tự, điều phục tâm ý theo thứ tự ở đây người ta chia ra tam sĩ đạo, hạ sĩ đạo, trung sĩ đạo rất đặc biệt, còn mình học chung chung ở đây người ta chia ba cấp độ tu hành rất rõ.
Thứ ba có thể khéo léo trang nghiêm hai tông. Thường thường mình học dễ bị nghiêng lệnh ví dụ mình học về tánh không mình đi sâu tánh không là không muốn làm từ thiện cái này rất dễ hồi xưa Minh Thành từng đi qua mình học cái gì là đưa cái đó lên tận mây xanh ví dụ giờ pháp môn niệm Phật còn những cái kia không cái này là số một lối tắt trong lối tắt, thống nhiếp hết tất cả chỗ này cũng hay mà cũng dở tại vì Chư tổ nói phương tiện để cho người nào thích hợp với món nào họ dùng món đó, ví dụ mình thích ăn mì gói nhưng có người ta không thích ăn mì gói thích ăn mì tươi, người không thích ăn mì tươi mà thích ăn bún riêu, có người thích ăn phở hay ăn cơm, có nhiều món mình thích phở mình nói phở là số một còn những món kia dẹp hết, không được, món ăn cũng vậy còn giáo pháp là món ăn tinh thần cũng vậy nên chỗ độc đáo của bộ luận này là có thể khéo léo trang nghiêm hai tông tất cả giáo pháp thời đó bao trùm hết tánh tướng, tánh tông, tánh tông là phân tích bản chất trống rỗng của các pháp, tướng tông là đem tâm thức của mình chia sẻ ra hàng trăm pháp hàng mấy trăm pháp chia riết cuối cùng cho mình thấy là không thật, chỗ này huynh đệ phải học thuộc hai câu này.
“Thật tế lý địa bất thọ nhất trần
Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp
Khi cần thì muôn cảnh toàn bày
Buông đi thì mãi chẳng lập”
Thật tế lý địa bất thọ nhất trần
Thật đế là chỗ chân thật nó không nhận một hạt bụi nhưng trong cửa muôn hạnh không bỏ một pháp, giờ mình học tánh không thôi giờ bố thí cũng là phước báu đi trong sanh diệt nói thôi khỏi cần bố thí, mình học tánh không mới sâu chứ đừng trì giới, trì giới là tướng ngoài mình tu tâm, mình học là phải vạn hạnh môn trung không bỏ một pháp nói đơn giản phòng học của mình không phải một thứ hình thành biết bao nhiêu cái, mình tính ra là muôn vàn vạn cái, sắt, xi măng, gạch, đá cát kiếng v.v..., pháp cũng vậy, pháp bất cô khỏi trượng cảnh phương sanh, không thể tự nó thành lập được mà nó phải tự thành lập được phải nhờ những điều kiện thuộc về pháp cấu tạo lắp ráp mới biểu hiện ra được, đạo quả viên mãn cũng vậy có phước, có trí và có đức nên vạn hạnh môn trung không bỏ một pháp nói gần thập a la mật, muôn ba la mật nên vạn hạnh muôn trung không bỏ một pháp tùy nhân duyên mình buông, buông đi bụi chẳng lập, khi trở về tánh không diệt thọ tưởng định không còn cái gì khi trở ra làm lợi lạc cho chúng sanh hay cần thiết trí huệ linh hoạt diệu dụng soi cho tới chân tơ kẽ tóc chính vì thế trong kinh đại bát nhã ba la mật thiền tông hay nói câu đem một sơi tóc chẻ ra làm một trăm phần chín mươi chín phần thấy là giả còn một phần thấy là thật thì ma ha diễn không thành lập được, đem một cọng tóc chẻ ra ngàn phần, một ngàn lần chín trăm chín mươi chín phần thấy là giả còn một phần thấy thật thì trí huệ đại thừa không thành lập, nó sâu tới tận cùng trống rỗng không có gì nhưng rộng chỗ hy sinh thân mạng để vì tất cả Phật pháp chúng sanh muôn loài chỗ đó là chỗ vĩ đại của Bồ-tát còn mình bây giờ cũng là Bồ-tát mà Bồ-tát bằng đất qua sông bị rã tại vì mình chưa có thâm quán mà mình đòi quảng hạnh hai cái này bổ túc cho nhau rất quan trọng giống như con chim có hai cánh nên nhìn sâu làm rộng là thống nhiếp tất cả Phật pháp nên nhìn sâu là bậc A-la-hán làm rộng tức là Bồ-tát, hai cái này kết hợp lại nó mới trở thành cọp mọc sừng, hổ thêm cánh trở thành Long tượng. Trước mắt muốn làm Long tượng phải làm trâu ngựa cho chúng sanh mà không muốn vô chỉ muốn làm sếp nên mãi mãi làm lính, phải phụng sự phục vụ từ từ phước đức công của mình từ từ mới đưa mình lên không chịu nên có một số huynh đệ đi học bên nước ngoài về có bằng cấp cao được vào chức lớn nhưng vào thời gian một trở về nước ngoài hai là không làm cái gì nữa, chỗ này là chỗ mình chưa thông, mình phải xả thân để phụng sự phục vụ chính cái trí đức hạnh của mình, công của mình tự động nhân quả tương xứng cho nên cái xã hội ngày hôm nay tu cái này phù hợp, tại vì đa số mình bỏ hết đi vào rừng sâu núi thẳm ngồi quán chiếu rất hiếm bây giờ lăn ra nhập thế vấn thông vấn hồi buộc luôn nên hai cái này là cái trang bị rất quan trọng.
Bồ đề thứ đại luận này chia làm bốn phần để giải thích.
Thứ nhất sự thù thắng của việc hội thông những kinh điển đức Phật đã thuyết giảng, chỗ thù thắng đây là chỗ đặc biệt là chỗ hội thông kinh điển chỗ viên dung, hội thông, dung hóa làm cho nó nhất quán còn không mình làm cái này cái kia khác nhau nên tất cả những gì đức Phật dạy đều là con đường thành Phật cho mỗi chúng sanh, những lời dạy này tùy theo trường hợp trở thành phần cốt yếu hoặc trở nên phần phụ thuộc những điều Bồ-tát cầu học đều muốn lợi ích thế gian nhiếp thọ tất cả ba loại chủng tánh cho nên đối với những đạo phẩm mỗi loại Bồ-tát đều phải nên tu học, ở đây nói đức Phật đã đoạn trừ tất cả lỗi lầm chứ không phải chỉ đoạn trừ một phần
Thứ hai đức Phật đầy đủ tất cả công đức chứ không phải chỉ thành tựu một phần, bậc thượng sĩ phát tâm chí cầu quả Phật cũng phải diệt trừ tất cả điều ác tu tập tất cả pháp lành, tất cả công đức, đoạn phiền não chứng chơn như của các thừa khác đều được bao hàm trong đại thừa nên bậc thượng sĩ đều phải nên tu học, ở trong kinh Kim cương đãnh nói dù cho mất thân mạng cũng không xả bỏ Bồ đề tâm lại nói sáu pháp ba la mật không được xả bỏ một pháp nào.
Thứ nhất đức Phật đoạn trừ tất cả lỗi lầm chứ không phải đoạn trừ một phần đầy đủ tất cả các công đức đầy đủ một phần nhỏ nên Chư Bồ -tát tu tập, bậc thượng sĩ đạo trong đây đưa ra là phải viên mãn tất cả công đức, muốn viên mãn tất cả công đức đầu tiên như Kinh kim cương đỉnh nói cho chúng ta dù mất thân mạng cũng không xả bỏ Bồ-đề tâm, đây là một trong những giáo lý đặc sắc của Phật giáo tạng truyền dấu nghĩa của Bồ đề tâm này các vị tổ sư của Tây tạng nói rằng tám mươi bốn ngàn pháp môn lấy cái tinh túy của nó gom lại gom lại gom lại chắt lọc cuối cùng là Bồ đề tâm là tinh túy nhất của toàn bồ giáo pháp giống như một người mù đi ở bên đống rác mà vô tình trên đống rác đó lượm được một viên kim cưng hột xoàng lớn trở thành giàu nhất hành tinh, giáo lý Bồ đề tâm cũng giống như vậy tại sao người mù ở bên đống rác mà lượm được viên kim cương rất lạ, đống rác chỉ cho thân mình, thân mình không khác đống rác huynh đệ nghĩ cho rằng mình vào nhà hàng bưng món này món kia ra thơm ngon, mình ăn rất ngon nhưng giờ mình lấy hết những đồ ăn đó mình trộn để cỡ khoảng ba tiếng đồng hồ sau còn có thể ăn được nhưng để nước cốt dừa chung với canh đồ kho để ba ngày thì không ăn nổi nhưng bao tử của mình để trong đó mấy chục năm, mình thấy những cái nào không được thì bày tiết ra bày tiết ra chính của mình mà còn thấy gớm nên Minh Thành tâm đắc, ví dụ Quán âm tự duyên mà con bất hiếu ông Hòa thượng lại hóa độ mà nó chưa phục tùng nó gài cửa bước vào sụp luôn thùng phân lên đầu, ông để vậy đi ra ngoài đường ai cũng đi theo nhìn ôi hôi dơ quá, Hòa thượng mới nói cái thùng phân lớn đội thùng phân nhỏ chứ có gì đâu lạ mà nhìn, tại vì thùng phân nhỏ đó từ thùng phân lớn ra, thân của mình là thùng phân lớn, thùng phân lớn mới có ra thùng phân nhỏ, không có thùng phân lớn làm sao có thùng phân nhỏ, mình xét cho kỹ mình thấy nhà nào cũng làm cái phòng nhỏ để thân này bài tiết ra để bỏ thùng phân đó bỏ, nói đống rác là nói còn nhẹ nói nặng là nói thùng phân, ngay chỗ nhơ nhớp thân này cuối cùng cũng cuốn chiếu quang bây giờ mù tức là vô minh không thấy được chánh lý, không có trí huệ, không có chánh kiến si mê vô minh không thấy được nên người mù ở bên đống rác mà lượm được hột xoàng viên kim cương là Bồ đề tâm, Bồ đề tâm là tâm tha thiết mong cầu giác ngộ, thấu suốt bản chất của cuộc đời của thân tâm mình, muốn giúp cho hết tất cả muôn loài tâm đó rất quý nên Bồ tát Tịch thiên nhập Bồ-tát hạnh mới nói rằng, con cuối đầu có ông có bà có cô chú bác nào phát Bồ đề tâm chăng nếu có con xin sẵn sàng quỳ dưới chân các Ngài ở trong thế giới đầy dãy sự tư lợi ích kỹ mà có một người phát tâm hết muôn loài, con đãnh lễ dưới chân của các Ngài bậc Bồ tát của trái tim vĩ đại, thọ giới Bồ tát thọ rần rần nhưng không sống với tâm Bồ-tát nhiều khi giới còn quên nên thật sự chân chân chách chánh mà phát được tâm Bồ đề này là người đó lượm được viên kim cương lớn bằng ngón chân cái giàu nhất hành tinh nên mất thân mạng không bỏ hạt xoàng đó, hột này vô cùng quý giá, người tu thật sự nhận thức được sự quý báu của Bồ đề tâm thì cũng phải giống vậy thà chết chứ không bỏ tâm Bồ đề, tâm vì chúng sanh tâm để tha thiết tìm cầu chân lý giác ngộ, tâm để thấu triệt bản chất của ngũ uẫn của danh sắc, của thân tâm, tâm đó không có cái gì trên thế gian này mà so sánh được, trong đây giáo nghĩa này sẽ nói về tâm đó
Sáu pháp ba la mật không được xả bỏ pháp nào đây là quan trọng, nhiều khi mình học thiền hay quá tối ngày chỉ học thiền, nói tới bố thí thôi cái đó ở bên ngoài nói làm từ thiên đôi khi mình xem cái đó là thấp mình ngồi yên như vậy mới là cao chỗ đó là chỗ thất bại, trong sáu ba la mật không bỏ được một pháp nào, đừng nói đâu xa, ông bạn ở chung mình huynh đệ hay ông ngồi kế bên nay cái viết của ông tự nhiên hết mực mà mình có dư cây viết, ông đang hết mực quay qua hỏi mà lơ không muốn cho không nghe, chăm chú viết bài bỏn xỉn không giúp đỡ, ví dụ trong chùa có hai huynh đệ bữa này xe hư bữa nay mình đi học người kia xin đi nhờ xe nói nay tôi bận công chuyện những cái nhỏ nhỏ đó mình xem kỹ có khi mình vẫn bị dính mắc trong đó nên cái bố thí này mình phải tập bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, tinh tấn, trí huệ, mỗi ngày mình đều xoay quanh sáu pháp tới bờ kia mình tu tập được bao nhiêu, xem giới mình, xem sức chịu đựng nhẫn nại của mình hay mình gặp khó vạn sự khởi đầu nan gian nan bắt đầu nản, mình coi sự nỗ lực tinh tấn phấn đấu của mình ở mức độ nào, tâm thiền tâm chánh niệm tỉnh giác nó có hay không, phát triển trí huệ quán chiếu về tam tướng để xả ly như thế nào, thành ra sáu pháp này nếu bậc thượng sĩ phát Bồ đề tâm phải để ý pháp này để thực tập trong mỗi ngày đó là sự thù thắng thứ nhất là việc hội thông kinh điển
Thứ hai là sự nêu rõ tất cả kinh điển đều là giáo thọ. Bồ đề bảo nói trong quyển nói “người thâm nhập kinh giáo không bao giờ y cứ vào một số ít kinh điển mà vội phán đoán quyết định nên biết tất cả lời dạy của Phật đều là giáo thọ” chỗ này mình cần xét, người gọi là tham nhập giáo pháp thì không bao giờ y cứ một số ít kinh điển cho nên vấn đề lấy một bộ kinh để tu phải coi lại, thậm chí bao nhiêu pháp đó chọn một pháp này cái đó là không được, tất cả kinh điển phải y cứ cho đầy đủ ví dụ ba mươi bảy phẩm trợ đạo phải nắm rõ, tánh chung chung của con người mình nhất là thời này thích gì đơn giản dễ, giải đãi lười biếng chứ không chịu khó nhẫn ba la mật cái này quan trọng, nhẫn này là chịu khó, nhẫn nại mình học được chút chộp vào đó là thất bại lớn cho nên không được vội vàng phán đoán hay quyết định trong khi mình chỉ y cứ một số rất kinh lận kinh điển phải có sự nghiên cứu sâu sắc rộng lớn.
“Nếu như sau này mình học nhiều kinh điển mình lại đi tìm những pháp tu ở nơi khác ngoài kinh điển đây là một điều vô cùng lầm lẫn” giờ có một số quý Thầy trong giáo pháp dạy không chịu làm đi học với ông ở đâu pháp nào đó lạ đem về cho nó lạ, làm cho thu hút Phật tử cái này nguy hiểm vô cùng, ngoại pháp không là phải ngoại pháp không thành cái gì nên chỗ này mình phải nắm cho thật vững, mình phải lấy kinh điểnn những hành trì của Phật để chỗ làm chỗ y cứ không được vộ vàng phán quyết phán đoán một cách võ đoán phải cầu học cho sâu sắc rộng lớn chỗ cầu học bác đại tinh thâm mình mới có được cái thấy viên mãn, đại khai viên giải mình mở ra được cái thấy biết tròn vẹn sâu sắc rộng lớn.
Thứ ba sự thù thắng của việc lãnh hội dễ dàng mật ý của Phật. Ở đây người ta nêu ra cho mình thấy rõ chỗ nào là chỗ sâu kín của đức Phật, đức Phật nói để mình thấy
Sự thù thắng thứ tư là tự mình có thể trừ diệt được những hành vi cực ác. mình có thể trừ được những cái hành vi cực ác ở trong Tam muội dương kinh nói “giả xử hủy hoại tất cả chùa tháp ở cõi diên bồ đề so với tội báng pháp vẫn chưa bằng một phần rất nhỏ, giả như một lúc giết chết vô sô bậc A-la-hán so với tội phỉ báng chánh pháp vẫn chưa bằng một phần rất nhỏ, nói tóm lại nhân duyên phỉ báng pháp có rất nhiều nhưng không biết nói càng là điều dễ phạm nhất” chỗ này là chỗ quan trọng, mình có thể diệt được hành vi cực ác tại vì mình học trong đây rồi mình sẽ biết cái nào là ác, cái nào là sai mà trong tất cả tội lỗi nêu ra cái lỗi lớn nhất là phỉ báng chánh pháp. Tại sao có lỗi phỉ báng chánh pháp là tại vì không biết mà nói càn nguy hiểm và cực kỳ, cực kỳ quan trọng mình phải nghiên cứu Phật pháp cho thâm sâu nắm vững được yếu chỉ tu hành của đức Phật, sau đó mình mới hướng dẫn chia sẻ còn bằng không hiểu sơ sơ nói đại nói bừa nói càn thì ở đây nêu ra hủy hoại tất cả chùa tháp, giết vô số bậc A-la-hán nhưng tội không bằng phỉ báng chánh pháp cho nên chúng ta phải thấy rõ được giá trị của giáo pháp rồi mình mới biết nó quý như thế nào.