Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Sáu pháp vận hành đời sống 2

2026-03-03 00:55:57
Tinh Hoa Nikāya

SÁU PHÁP VẬN HÀNH ĐỜI SỐNG 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sáu tưởng PAGEREF _Toc68783129 \h 1

II. Ý căn, Ý thức, Ý xúc PAGEREF _Toc68783130 \h 2

III. Hỏi đáp thực hành nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc68783131 \h 6

IV. Sáu ái, sáu tầm, sáu tứ PAGEREF _Toc68783132 \h 8

V. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc68783133 \h 9

I. Sáu tưởng

Kính thưa đại chúng, qua phần Sáu Pháp chúng ta mới thấy rằng trí tuệ của Đức Phật siêu việt ngoài sức tưởng tượng của các bậc hiền Thánh. Ngài phân loại hết tất cả các pháp trong thân tâm chúng ta. Không một pháp nào mà Đức Phật không thấy, không biết. Hay không một phương diện, khía cạnh nào mà Ngài không Chánh Biến Tri, tức sự thấu biết cùng cực, cùng tột, đầy đủ, viên mãn, tròn trịa, đồng đều tất cả mọi khía cạnh của thân tâm. Như vậy gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, hay Chánh Biến Tri, tức không một khía cạnh nào của thân tâm mà Đức Phật không tường tận và thấu hiểu.

Như vậy, chúng ta thấy được điều gì? Về nhận thức của chúng ta, Đức Phật phân loại có sáu sự rõ biết, sự tiếp xúc của bộ phận trên cơ thể chúng ta Ngài phân loại ra sáu cơ sở, sáu căn cứ. Và đối tượng bên ngoài của nó Ngài phân ra làm sáu đối tượng của trần cảnh. Mà trong con số sáu đó được gom hết tất cả các cảnh, các sắc, không còn sót một cái gì.

Trong phần Sáu Pháp, nói về cảm thọ của chúng ta, Đức Phật phân loại ra thành sáu loại phát sanh từ sáu chỗ tiếp xúc, mà sự tiếp xúc đó căn cứ ở nơi sáu căn cứ địa của nó. Chúng ta thấy không, sáu căn là sáu căn cứ. Làm sao thế gian, thế giới này, nhân sinh này, con người trên trái đất này có thể phân loại được có bao nhiêu loại, tưởng?

Nhưng Đức Phật phân loại ra là sáu tưởng. Tất cả các hình bóng trong tâm mình không đi ra ngoài sáu tưởng: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Đọc thì thấy vậy, nhưng khi học, quán chiếu mình mới thấy khủng khiếp lắm, chứ không phải chuyện đơn giản đọc ro ro như vậy, không phải. Đây là cả một sự phát giác, phát hiện siêu việt, tối thượng, chánh chơn, cao tột vô thượng của trí tuệ. Chúng ta thấy không, tất cả cái tưởng, tất cả những hình bóng trong tâm của mình Đức Phật phân ra làm sáu loại.

Hình bóng về sắc, gọi là sắc tưởng. Những hình bóng về âm thanh, âm thanh đó đã qua rồi, nghe rồi, nhưng bây giờ nó vang vọng trở lại những lời thương yêu hay mắng chửi – gọi là thanh tưởng. Mùi đó mình đã ngửi qua, nhưng lâu lâu nhớ lại mùi đó – gọi là hương tưởng. Lúc nãy chúng ta có một ví dụ, mình ăn rồi mà vẫn nhớ, chẳng hạn như món bún mắm. Bây giờ cho hương tưởng, vị tưởng, làm sao cho mùi đó, vị đó xuất hiện lại, đó là hương tưởng, vị tưởng. Còn xúc tưởng là những hình bóng khi mình đụng chạm, tiếp xúc với một cái gì đó, con người nào đó. Lúc đó mình trở về rồi, nhưng hình bóng nó hiện trở lại – xúc tưởng, cái này ghê lắm, khủng khiếp lắm. Những hình bóng do sự tiếp xúc hiện khởi lại trong tâm, gọi là xúc tưởng.

Chúng ta thấy không, hình bóng trong tâm, những cái tưởng mà Đức Phật phân ra làm sáu loại, không có một người thứ hai nào trên thế giới có thể phân loại ra được tư tưởng, mà chỉ có duy nhất một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tối tôn tối thượng. Cho tất cả chúng ta, có người nào dám suy diễn ra được ngoài điều này không? Sự kiện đó không thể xảy ra, vì đây là định lý, đây là sự chứng ngộ. Thành ra những lời trong kinh Nikāya mà chúng ta học là phải tôn trọng tuyệt đối, nhất là bốn bộ: Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ và Tăng Chi Bộ.

Ví dụ như mình từng được đi chơi, được tắm biển ở Vũng Tàu. Bây giờ mình không được đi Vũng Tàu nữa, nhưng hình bóng trong buổi tắm biển đó hiện trở lại trong mình, cảm giác khi tắm biển hiện lại. Những suy nghĩ chung quanh mình về buổi tắm biển đó khởi lại trong tâm, đó là pháp tưởng. Chúng ta thấy dễ sợ không? Nó vi tế, nhỏ nhiệm. Những hình bóng đó gọi là pháp tưởng, mà những suy nghĩ về cái đó là pháp tư. Nhớ điều này, pháp tưởng khác pháp tư. Pháp tưởng là tưởng về những hình bóng, còn pháp tư là suy nghĩ về những cảm giác nghĩ tưởng như thọ, tưởng, hành đó.

Chúng ta nhớ phân biệt hai chỗ này: pháp tưởng và pháp tư. Pháp này mà chúng ta đang học ở đây thuộc về cái gì? Thọ, tưởng, hành, nó ghê gớm lắm, tưởng lại những hình bóng, chúng ta thấy dễ sợ không? Lâu lâu mình ngồi có suy nghĩ về tuổi thơ của mình không? Đó chính là pháp tưởng, pháp tư. Hình bóng khi mình còn mười tuổi, mười mấy tuổi hiện ra, rồi những người bạn hồi nhỏ, hay những vui buồn gì đó từng trải qua, đó là pháp tưởng, pháp tư. Hình bóng đó là tưởng, suy nghĩ đó là hành, là tư; rồi những cảm giác của quá khứ đó là thọ. Mà chúng ta có buồn vui ở trong cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng đó không? Có khi khóc, đời tôi sao khổ quá, khổ quá khổ, tủi thân.

II. Ý căn, Ý thức, Ý xúc

Chúng ta mới lật ra ý Duyên sanh pháp mà hồi nãy mình chưa nói pháp tưởng, pháp tư, bây giờ chúng ta lấy ra đọc, trong ý cuối cùng.

“Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư. Ý + Thọ, Tưởng, Hành => Ý thức => Ý xúc => Thọ do ý xúc sanh + Pháp tưởng + Pháp tư”.

Niệm Duyên Sanh Pháp – Căn bản trí - Nghi thức tu học Nikāya

Tự cho một tràng pháo tay luôn, cho nên nhắc lại, chúng ta về cố gắng học thuộc, rất quan trọng. Vì mình học thuộc cái này rồi thì thiên hạ vô địch, độc cô cầu bại, độc nhất vô nhị, không có chỗ nào dạy, nhớ bí kíp này nha. Chúng ta bây giờ rõ hết chưa, cho ví dụ thẳng vô chữ này luôn. Mình để ý vô trong tâm, thì hình ảnh của dịch bệnh bên Mỹ, bên châu Âu, ở các nước hiện ra, một trăm hai mươi ba triệu người; hai triệu bảy, hai triệu tám người đã chết.

Tử thi chất trong xe đông lạnh nối thành những hàng dài và đào một cái hố bằng sân vận động. Những xác người đựng trong bao đựng rác, chở bằng xe, và họ đem đổ những bao xác người đó. Những thây chết nằm dài ngoài hành lang của bệnh viện, những người đang đi trên đường ngã xuống chết, ở Vũ Hán. Những người đang làm việc bật ngửa ra chết. Những người đang cười nói với bạn bè, đang ngồi uống cà phê quỵ xuống, gục đầu xuống chết. Có những gia đình vợ mất chồng, con mất cha, mẹ mất con, mọi người lo lắng, sợ hãi, bất an. Ở tại San Jose – bắc California, cứ hai mươi người lại có một người nhiễm bệnh.

Những hình bóng nó hiện ra trong tâm, mình có một cảm thọ đau xót, xót xa. Và mình suy nghĩ, cuộc đời này thật bất an, mong manh, tạm bợ, thật nhiều khổ đau, lo lắng, sợ hãi, ưu não. Bình thường đã là vô thường rồi, bây giờ lại càng vô thường hơn trong đại dịch toàn cầu này. Chiến tranh, ngập mặn, mất mùa, hỏa hoạn, lũ lụt, sóng thần, thiên tai… Những suy nghĩ đó mình đều rõ biết, rõ biết được mình đang suy nghĩ như vậy.

Bây giờ có mặt sự để ý, có mặt của những cảm giác nghĩ tưởng, có mặt của sự rõ biết, ba cái này là căn, trần, thức. Căn là ý căn, trần là pháp trần, ý là ý thức, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau, ra sự tiếp xúc của ý. Mình để ý lại mới thấy trong tâm mình, nếu không để ý thì mình không thấy được. Cho nên, ý căn là sự để ý lại bên trong, giống như mình đi trên núi, trong rừng, hay chỗ thôn quê mà bị cúp điện, mình mở đèn pin lên, muốn thấy chỗ nào phải lia ánh sáng của đèn pin ngay chỗ đó, thì cái gì ngay đó sẽ hiện ra. Nương vào áng sáng của đèn pin mà mình rọi, chúng ta rõ ví dụ này không ạ? Mình cầm đèn pin, muốn thấy chỗ nào mình lia ánh sáng vào chỗ đó, nếu có vật gì nó sẽ hiện ra trong.

Cũng vậy, ý căn là mình cầm đèn pin rọi trở vô trong tâm sẽ thấy được thọ, tưởng, hành đang có mặt, đang như thế nào, lúc đó sự tiếp xúc của ý sanh khởi, gọi là ý xúc. Cảm thọ xót thương lúc nãy là khác, nhưng bây giờ, ý xúc này sanh ra thêm một cảm thọ nữa, cảm thọ thứ hai do ý xúc sanh, cảm thọ này với cảm thọ trước khác nhau. Sanh khởi ra một cảm thọ mà do tiếp xúc của ý sanh ra. Rồi khi sanh ra một cảm thọ xót thương, đau lòng, cảm thấy bất an, tạm bợ, vô thường cho cuộc đời này, đời sống này, mong manh. Lúc đó, những cảm giác nghĩ tưởng này tiếp tục sanh khởi, thọ sanh, những hình bóng tiếp tục sanh khởi dẫn đến suy nghĩ tiếp tục sanh khởi, sanh ra thọ, tưởng, hành; tiếp tục sanh ra thọ, tưởng, hành nữa… Cứ như vậy, đó là định luật, sự vận hành của tâm.

Nếu như, mình đang suy nghĩ mà bỗng nhiên có một ý nghĩ nào khác nhảy vô, lúc đó gọi là phóng tâm. Mình đang suy nghĩ điều này, đang tập trung chiêm nghiệm, quán chiếu, bỗng nhiên nghĩ: “Không biết chiều nay ăn gì? Phở hay bún riêu?”. Nếu xuất hiện ý nghĩ đó, tức là tạp niệm chen vô, mà lúc đó mình không loại bỏ tạp niệm đó, trở về an trú trong thọ, tưởng, hành này thì mình bị phóng tâm dẫn đi. Mình lo ăn, lo món gì, mình sẽ bị mất sự chú tâm và sự quán chiếu vô thường, khổ, bệnh tật này. Thành ra sự tu của chúng ta là gì? Là sự dẫn dắt thọ, tưởng, hành này đi theo chiều hướng của thiện, của trí tuệ, của minh. Còn nếu không biết tu thì những thọ, tưởng, hành này sẽ đi theo chiều vô minh, chiều tham ái, dục, sân.

Cho nên trong Chánh tư duy, mình định nghĩa là: ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, hoặc xuất ly tư duy, đây gọi là Chánh tư duy. Cho nên người tu mình tu trong suy nghĩ, chứ không phải mình lên Chánh điện ngồi mở sách ra, lúc đó mới là thời tu, nó chỉ dành cho tiểu học thôi. Còn cái tu sâu sắc: tu trong suy nghĩ, mà tu trong suy nghĩ, hễ có suy nghĩ sẽ có tưởng và thọ. Cho nên sự tu trong kinh Nikāya dạy mình là Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý đúng như chân lý. Nãy giờ chúng ta đã tác động tâm ý đúng như chân lý: vô thường, khổ, vô ngã của cuộc đời.

Mà những suy nghĩ đó khi sanh khởi được sẽ lìa tham muốn, thấy khổ quá, giờ đi đâu chơi, bệnh dịch như vậy mà đi ra ngoài mắc dịch thì làm sao? Giờ này đi máy bay để kiếm dịch sao? Ly dục tư duy: không muốn nữa, giận dỗi gì nữa, sân hận làm chi? Lo tu đi, giận làm cho mệt, ly sân, không muốn làm hại ai, muốn giải thoát ra khỏi cuộc đời sầu bi, khổ, ưu não này; thoát ra khỏi sanh, già, bệnh, chết này; thoát ra khỏi vòng cảm giác tham, sân, si, vô minh và bản ngã này. Nếu những điều này sanh khởi trong cảm giác của mình, nó thuộc về Chánh tư duy, nó sẽ đưa mình lên cao, thăng hoa, hiền thiện, thánh thiện lên, đó là Chánh tư duy. Chứ không phải tu là không suy nghĩ, không phải, suy nghĩ đúng.

Cũng như có nhiều người, làm việc hết mình, hy sinh cho công việc, quên hết mọi thứ, nhưng sân lên thì nghỉ, không thèm làm gì nữa, không phải. Làm đúng, chứ không phải làm hay không làm. Cũng như những suy nghĩ của mình, không phải là không suy nghĩ, không nghĩ sao được, bản chất của tâm mình là suy nghĩ, mà phải suy nghĩ đúng. Chúng ta chưa nói đến những tầng Chánh định, nó sẽ khác nữa, ở đây mình mới nói về bước đầu tu, nên sự tác động tâm ý của mình về suy nghĩ chân chánh của mình hết sức quan trọng – Chánh tư duy.

Nếu chúng ta không biết ý căn, ý thức, sự Duyên Sanh Pháp của ý là gì thì làm sao tu? Chúng ta sẽ tu trong sự mù mờ, lờ mờ, tu trong bóng đêm, tu trong sự không rành rõ các pháp trong thân tâm của mình. Sự tu đó không phải là sự tu chân chánh, minh kiến, chánh kiến. Tu mà không thấy được những pháp này là tu mù, tu trong mê lầm. Vì mình không biết thọ, tưởng, hành, ý, ý thức là gì, rồi các pháp trần là gì mình cũng không biết, nó vận hành cái gì mình cũng không biết. Hỏi gì cũng không biết, cái đó gọi là tu mù. Những chỗ này hết sức quan trọng nên chúng ta phải nắm thật kỹ những chỗ này. Đây là báu vật, là chìa khóa, là cánh cửa để bước vào pháp hành thật sự chân chánh của Đức Phật.

Từ chỗ này, chúng ta sẽ phân tích cho quý huynh đệ thấy là cái tham, sân, si của mình rất ghê gớm và vi tế. Khi nãy chúng ta nói về thiện pháp, bây giờ tới bất thiện pháp. Hình bóng dục sanh khởi trong tâm, mà người này không biết đó là tưởng uẩn, là hình bóng trong tâm. Người này nhận hình bóng đó là tâm của mình, sanh ra cảm giác ưa thích và suy nghĩ theo hình bóng đó, chạy theo cảm giác đó. Các pháp sẽ diễn ra như vậy, ý giao thoa với nhau, sanh ra thọ, thọ này là thọ dục, ái, tham (thọ do ý xúc sanh). Những cảm giác nghĩ tưởng dục, ái, tham đó tiếp tục sanh khởi; những suy nghĩ dục, ái, tham đó tiếp tục (phép tưởng) dẫn tới lời nói và hành động.

Những cái trước mới chỉ là trong ý, trong tâm, trong ý nghiệp, bây giờ nó cứ suy nghĩ như vậy hoài. Những hình bóng đó, những suy nghĩ, cảm giác đó lặp tới lặp lui, những cảm thọ sanh khởi như vậy mà người này không chặn đứng lại, không tác ý đánh đuổi và trừ diệt thì những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng này được ấp ủ, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, bành trướng quảng đại trong tâm của mình và cuối cùng từ ý nghiệp phát ra lời nói - khẩu nghiệp. Vì bên trong đã có thì nhất định phải nói ra, mà đã phát ra lời nói là không dừng lại, phải phát ra hành động và đưa đến quả báo.

Đó là nãy giờ chúng ta ví dụ hai cái, một cái là Duyên Sanh Pháp của ý theo chiều thiện, và cái còn lại theo chiều bất thiện. Chúng ta thấy rõ không ạ? Có thấy tâm mình giống như vậy không? Bây giờ cho một ví dụ bình thường, hồi nãy là một cái thiện, một cái bất thiện, vậy cái mà mình gọi là bình thường coi nó có thiện không? Bình thường ngủ dậy ăn sáng, ra quét sân hay lau chùi, chiều đi học, tối về tụng kinh… Phải không? Tới giờ ăn thì ăn, tới giờ ngủ thì ngủ, tới giờ làm thì làm, vậy là xong, được rồi.

Nhưng trong cái đó mình không biết gì hết, không biết cái nào là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không thấy được pháp vận hành, pháp duyên sanh, mà trong đó thấy rõ ràng có một cái tôi, một cái của tôi. Mà nó không có những suy nghĩ để xuất ly, hướng tới sự rời xa tham muốn, không suy nghĩ tới sự vô thường của đời sống, không suy nghĩ tới khổ đau, phiền não, không suy nghĩ tới sự thoát ra để giải thoát mà cứ đều đều, thường thường trong đó thì đó là si mê. Chúng ta thấy tâm của mình vận hành ghê gớm không? Đại chúng có câu hỏi gì không ạ? Chúng ta cảm nhận như thế nào?

III. Hỏi đáp thực hành nhận diện ngũ uẩn

Phật tử: Dạ bạch thầy cho con hỏi: thầy dạy có sáu căn, sáu trần, sáu thức và sáu xúc, sáu thọ và sáu ái và pháp tưởng, pháp tư. Vậy con thắc mắc là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà chữ pháp thầy giảng là rõ biết thọ, tưởng, hành, và qua pháp tưởng nó sẽ là thọ, tưởng, hành, và thọ, tưởng, hành đó tiếp tục sanh khởi. Nếu mình có tư duy, suy nghĩ, nó thuộc pháp tư, và từ pháp tư, suy nghĩ thêm nó sẽ sanh ra một cảm giác cũng thọ, tưởng, hành và nó tiếp tục đi như vậy. Xin thầy cho con hỏi, trong đời sống của chúng ta, có thể giống như thầy nói: buổi sáng có thể mình chấp tác như dậy nấu cơm hoặc rửa chén, quét chùa, tụng kinh thì vận hành đó bằng thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Nhưng ở đây, thầy dạy như vậy con thấy nó sanh trưởng rất vi tế. Và làm sao để chúng ta phân biệt được sắc, thọ, tưởng, hành, thức và pháp phía trên, còn ở dưới là pháp tưởng. Và làm sao để chúng ta nhận rõ được pháp tư, trong một hành động hằng ngày, để chúng ta ghi nhận nó và rõ biết để quán chiếu, hoàn thiện mình trong đời sống với bằng thân hành, khẩu hành, ý hành để mong mỗi ngày sẽ tốt đẹp hơn. Ngưỡng mong thầy chỉ dạy cho chúng con, bởi chúng con mới tiếp xúc với những tư tưởng, giáo lý này, cũng chưa hiểu sâu, hiểu rành rẽ, mong thầy hoan hỉ chỉ dạy cho chúng con. A Di Đà Phật.

Sư phụ: Xin thưa quý thầy quý cô, ở bước đầu, chúng ta cứ nắm vững thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn là được. Tại vì những cái này rất vi tế, chúng ta học với tính cách là giới thiệu, rồi từ từ mới vào sâu được, nếu không, học nhiều quá mình sẽ rối. Cho nên, Minh Thành rất mong đại chúng hợp tác, tức mỗi buổi học của Minh Thành sẽ là một buổi làm việc năng động, năng nổ, tích cực, nhiệt tâm chứ không phải chỉ ngồi nghe.

Và bất cứ lúc nào, với bất kỳ người nào, Minh Thành sẽ chỉ nhận diện năm uẩn ngay tại chỗ đó. Phải nhận diện được, ngay giây phút đó mình có cảm giác gì, có hình bóng gì trong tâm, có suy nghĩ gì, rất đơn giản. Nhưng mình phải nhuần nhuyễn vấn đề nhận diện năm uẩn trước. Sau khi nắm vững những điều đó rồi thì mấy cái này dễ, không khó. Vì sao, vì nó chỉ là tâm mình thôi, mình sử dụng nó hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây. Chẳng qua, trước đây mình chưa được học, được thực tập, còn bây giờ mình được học và thực tập, mình sẽ thấy nó rất rõ như chỉ trong lòng bàn tay, không có gì khó.

Thành ra, bây giờ mình tập, thường thường tập nhìn lại cảm giác của mình, nghĩ tưởng, hình bóng trong tâm và suy nghĩ. Nhớ, điều này cực kỳ quan trọng, thường thường để ý xem cảm giác gì đang có mặt, trong tâm mình có hình bóng gì, suy nghĩ gì. Và cái nổi cộm dễ nhất là cảm giác, nhớ coi đang có cảm giác gì, có ham thích, nóng giận, đơ đơ trong đó không. Nếu có, mình đánh đuổi những ác bất thiện pháp, tham, sân, si đó ra. Cái căn bản, hiện tại chúng ta thực tập bấy nhiêu đó là rất giỏi rồi. Làm sao mà mọi lúc mọi nơi, nhìn ra được mình đang ở trong cảm giác gì, đang có cảm giác gì trong thân tâm của mình. Nhiêu đó là chúng ta có được cái căn bản, cốt lõi trong sự tu học. Kế đó, mình coi có suy nghĩ gì, hình bóng gì, thọ, tưởng, hành dính chùm với nhau như chùm chôm chôm hay chùm nho. Hễ có thọ là có tưởng, hành. mà thấy được thọ, tưởng, hành chính là thấy được tâm của mình. Nó dễ lắm, nhanh lắm, mau lẹ lắm.

IV. Sáu ái, sáu tầm, sáu tứ

Giờ mình nói tới sáu ái, sáu tầm, sáu tứ. Chứ Tầm ở đây là sự hướng tâm, ví dụ mình muốn đi về nên nhìn đồng hồ hoài, tức tâm mình hướng tới việc đi ra, đi về. Chữ tầm đó là sự hướng tâm, nên trong kinh gọi là dục tầm, hay sân tầm, hại tầm. Tức tâm mình hướng về dục thì thường hay suy nghĩ về cái đó, lúc nó hướng về dục mình phải biết ngăn chặn nó. Đó gọi là dục tầm – một sự hướng tâm về dục. Mà dục đó có rất nhiều cái, không phải chỉ về nam nữ thôi. Ví dụ như dục tầm về ăn thì mình phải thấy, hay dục tầm về đi chơi, về quần áo, giày dép, mắt kiếng, đồng hồ, xe…

Mình phải thấy, coi tâm mình rục rịch, cục kịch, nhúc nhích, sục xịch, chiều hướng của nó mình phải thấy, đó mới gọi là tu tâm. Chúng ta thấy không, coi chiều hướng suy nghĩ của nó coi. Mình phải thấy, nếu cái nào thiện, mình cho nó sanh khởi, phát huy. Nếu cái nào là bất thiện, bây giờ buổi chiều ăn rồi, tối rồi còn có dục tầm muốn ăn nữa, chặn lại không cho, ăn chiều đã hổ thẹn rồi, bây giờ còn đòi ăn tối nữa. Mình la rầy, quở trách tâm mình, nó tập riết thành quen. Chúng ta thấy không, có những vị sư không ăn buổi chiều, thậm chí có những vị ăn một bữa thôi, mà mình ăn ngày ba bữa còn chưa đủ?

Mình tác ý như vậy, quở trách, rầy la tâm mình, chặn đứng sự thúc giục, ưa thích tham ăn. Đó chính là tu, tức tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp, nó là tham dục, đứng đầu một trong Năm triền cái. Cho nên, chỗ này nói để cho các sư cô để ý, nhiều khi đi họp, ở dưới mình mời các hòa thượng, các thầy uống xong xuôi hết, giờ lên họp. Mình biết các ngài họp khoảng một tiếng đồng hồ thôi, không cần phải bưng nhiều thứ nữa. Tại vì sao, không phải lúc nào mình cũng bưng nhồi lên, bưng tới nữa, như vậy chứng tỏ trong tâm mình tham.

Nếu không khéo, những vị mà mình cúng dường hay cho, có những người thấp hơn nữa, do mình làm mà không soi xét, thì cái làm của mình, mình tưởng đó là tốt, nhưng cái đó không tốt, đó là bất thiện pháp. Chúng ta nhớ, điều này rất sâu sắc, không phải lúc nào cũng bưng hoài, hết nước này rồi tới nước kia, bánh này bánh nọ, cứ làm hoài như vậy, không tốt. Vừa phải, đúng chừng mực. Cho nên, chúng ta thấy, chân tu rất khó chứ không phải dễ, mình phải kiểm tra xem trong đó có tâm tham không.

V. Huấn luyện cảm thọ

Ví dụ như mình nấu cực khổ, làm hết rồi mà mình ra bị góp ý sao nấu món này mặn chát vậy. Lúc đó, mình không lập tức chạy theo tiếng nói của người đó mà quay ngược lại coi cảm giác trong tâm mình như thế nào. Thọ do nhĩ xúc sanh – tức cảm giác sanh khởi do tai tiếp xúc với lời nói, lúc đó coi có cảm giác gì. Chắc chắn là cảm giác khó chịu sanh khởi, lập tức tẩy sạch cảm giác đó, không để cho nó tồn tại trong tâm, sân sanh sanh khởi ra, mất hết công đức rồi, chúng ta thấy không?

Đó, bây giờ chúng ta đọc thọ do nhĩ xúc sanh, trang 108

“Do duyên có tai và các tiếng, sanh khởi Nhĩ thức (nghe rõ, rõ biết các âm thanh). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhĩ xúc. Do duyên có Nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.

Tai + Tiếng => Nhĩ thức => Nhĩ xúc => Thọ do Nhĩ xúc sanh + Thanh tưởng + Thanh tư”.

Nghi thức tu học Nikāya

Chúng ta thấy không, lúc nãy chúng ta chưa giải thích chữ “thanh tưởng, thanh tư” này. Bây giờ trở lại ví dụ về sư cô mà làm cực khổ vất vả, nấu nướng sáng lên dọn lên, xong lại có người góp ý nấu gì mà mặn chát, nấu dở quá. Mình phải tu như thế nào, coi nó vận hành như thế nào? Do có tai, có âm thanh góp ý đó, khởi lại sự rõ biết âm thanh, từ lỗ tai, âm thanh và sự rõ biết âm thanh, ba pháp này giao thoa lại, trở thành sự tiếp xúc của lỗ tai – nhĩ xúc.

Khi nó giao thoa, tiếp xúc như vậy, sanh ra cảm thọ là khổ thọ. Mà trong khổ thọ có sân tùy miên, không phải là nó có cảm giác khó chịu bực bội ngay lúc nói đó, mà khi trở về, người đó đi rồi, chiều, mai, ba ngày sau, nhưng thanh tưởng, thanh tư này vẫn vang vọng. Lời nói phê bình, chỉ trích, chê bai đó vẫn vang vang vọng vọng trong tâm, đó gọi là thanh tưởng. Chúng ta thấy ghê gớm không, hồi đó giờ mình học có chỗ nào chỉ rõ như vậy không?

Thanh tư là gì? Là sự suy nghĩ về câu nói đó, đó là thanh tưởng, thanh tư. Chúng ta thấy không? Bây giờ mình tu thì sao? Mình phải đuổi cảm thọ khó chịu, sân hận đó ra. Chắc tại mình nấu dở, nấu chưa đạt, hay đây là bài tập, coi sự tu tập của mình tới đâu. Nhiều khi thầy thử lòng mình rồi sao, nếu như sự thật thì mình chỉnh lại, còn nếu nói sai cũng coi sự tu tập của mình như thế nào? Ai, ai là tôi, tứ đại, ngũ uẩn, tham, sân, si, bản ngã, có ai là tôi đâu mà khen, mà chê, mà ngon, mà dở. Mình suy nghĩ, tác ý, tác động tâm ý, cảm giác khó chịu đó ra.

Hơn thua để được gì? Giận lên để được gì? Sân lên để được cái gì? Đã làm mệt rồi còn sân nữa để cho khổ thêm hay sao, cho khổ này chồng lên khổ kia hay sao? Để làm chi vậy? Khôn quá vậy đó, tự mình nói với mình như vậy, người ham giận quá phải không, thích giận quá phải không, thích sân lắm phải không? Nó thiêu đốt người vô lượng vô biên kiếp, bây giờ ngươi tiếp tục đốt nữa hay sao? Thôi, dập tắt đi, lắng dịu đi, an tịnh đi, hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi. Quét sạch cảm thọ sân hận khó chịu đó ra, và làm cho mình an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, nghe lời chị chị cưng nè, nghe không?

Mình nói chuyện với cảm thọ, cảm xúc, huấn luyện cảm giác của mình, làm cho cảm giác của mình hiền lành, ngoan ngoãn, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, mát mẻ, ngọt ngào. Đó chính là sự tu tập tối thượng, đó là tu tâm, là tu nguyên chất của Đức Phật. Mà nếu mình làm được điều đó mình sẽ hạnh phúc lắm, một khi mình chiến thắng được cảm giác sân hận, bị người ta chê là mình hạnh phúc phơi phới, hỷ lạc lắm. Hỷ lạc, vui mừng là sao? Mình nhiếp phục được cảm giác sân giận này, từ trước giờ nó đè đầu cỡi cổ mình, hành hạ mình, sai khiến mình. Mà bây giờ mình đạp nó xuống, thoát ra khỏi nó, thoát ly tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, tu tập tâm từ, trải tình thương.

Mình cũng tham, sân, si, bản ngã; họ cũng tham, sân, si, bản ngã. Tất cả chúng ta là nạn nhân của phiền não, hơn thua với nhau để làm cái gì? Khổ vậy chưa đủ hả? Mệt mỏi vậy chưa đủ hả? Tối ngày cứ sân hoài để làm gì? Bí kíp võ công đó, là Như Lý Tác Ý. Dục cũng vậy, tư tưởng về dục sanh khởi lên mình cũng la rầy, quở trách nó như vậy, mày ham thân dòi này lắm phải không? Mày ưa thích đống phân này dữ lắm phải không? Mày say mê nước tiểu này lắm hả? Mày ưa thích máu mủ này lắm phải không? Tác ý như vậy thì cái dục, tham sẽ lắng dịu xuống bớt.

Khi dục, tham, ái lên mình phải lấy Ba Mươi Hai Thể Trược cho nên phải học thuộc lòng. Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận, đàm cách mô, máu, mủ, nước tiểu, nước miếng, đàm, dãi… Phải học thuộc, mình nói chữ nào là hiện ra trước mặt mình cái đó. Ba Mươi Hai Thể Trược là bùa phép, là bửu bối, bí kíp của người xuất gia, không có cái này là dục mình không thể nào nhiếp phục được đâu. Ngày nào cũng phải móc Ba Mươi Hai Thể Trược đó ra, huấn luyện nó, dạy dỗ nó, giáo dục nó.

Chín Giai Đoạn Của Một Tử Thi là phải học thuộc lòng, bất cứ lúc nào mình cho nó chết là nó phải chết. Nó sân giận lên, leo lên giường, để bồ đoàn, tọa cụ lên, nói tao cho mày chết, mày dục đi tao cho mày chết, mày nằm xuống đây tao cho mày chết, mày dục, tham, ái vô lượng vô biên kiếp rồi, giờ này chưa tỉnh nữa hả, ngu vừa vừa phải phải thôi. Mày khổ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp rồi, chảy bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu rồi, mày tương tư vô lượng, vô biên kiếp rồi, giờ mày dục, tham, ái hoài hay sao, để mày sầu khổ hoài hay sao?

Như Lý Tác Ý, đó là tiếng nói của thần thánh, của Thánh trí tuệ, tiếng nói tối thượng của Chánh Pháp. Phải rầy, là, quở trách, mắng những tư tưởng ác và bất thiện pháp. Cho nên chúng ta nhớ Kinh Pháp cú:

“Tự mình đi đến mình

Tự mình dò xét mình

Tự mình chỉ trích mình”.

Và trong kinh Trung Bộ, Đức Phật nói: “Tự mình la lắng mình”, đó là Như Lý Tác Ý. Mình không la, không dạy, không huấn luyện nó là mình chết thôi, mình chết dài dài, chết hoài hoài, xin thì cho. Cho nên, phải làm dữ dằn với nó mới được. Phải đại hùng đại lực, những thọ, tưởng, hành ác độc này, mà Đức Phật nói là những kẻ giết người đó, không phải người bên ngoài giết, mà chính là thọ, tưởng, hành. “Làm sao mà giết được người trong mộng”? Là hình bóng ám ảnh trong tâm chứ không phải người bên ngoài.

Chúng ta nhớ không? Cô thiên kim tiểu thư trong “Trúc Lâm dậy sóng”, nhớ bà Kỳ Duyên tái thế không? Rốt cuộc cô thiên kim tiểu thơ con quan đó lại gặp Ngọc Lâm – lúc đó đang làm hương đăng. Cổ thấy phớt qua một cô gái, mà hồi xưa nam nữ thọ thọ bất tương thân, thời phong kiến, một vị thầy tu và một cô tiểu thư thì khoảng cách xa cỡ nào. Nhưng cô này mới nhìn thấy là trở về “Làm sao giết được người trong mộng”, bệnh gần chết. Cho nên, từ từ rồi chúng ta sẽ học, thú vị, lí thú lắm.

Đức Phật dạy trong bài kinh “Tương Ưng Uẩn”, có một ví dụ: Một người tới thưa một ông chủ, thưa ngài, con sẽ đi theo ngài, cung cấp, hầu hạ, con làm thị giả, người hầu cho ngài, con rất quý mến, cung kính ngài. Người này thấy vậy tội nghiệp nên cho đi theo, người này đi theo ân cần, nghe lời, dễ dạy, dễ sai, dễ bảo, ngoan ngoãn phục vụ. Sau một thời gian, người này lấy lòng người chủ đó, mà người chủ là quan quyền, đại gia. Tới một hôm, người này thấy lấy lòng được chủ rồi, nên tới chỗ vắng người này móc dao ra đâm người chủ chết để trả thù.

Đức Phật mới dạy rằng: “Này, các Tỳ-kheo, sắc là những kẻ giết người; này, các Tỳ-kheo Này, cảm thọ là những kẻ giết người; này, các Tỳ-kheo, hình bóng trong tâm là ông kẹ, là La Sát, là kẻ giết người đó”. Hình bóng trong tâm là tưởng. “Này, các Tỳ-kheo, những suy nghĩ là kẻ giết người đó”. Nó chiều mình, ngon ngọt, nghe lời mình lắm, rồi nó đâm sau lưng mình. Nó đưa con dao, đâm thẳng vô sâu trong tim, trời ơi là trời! Tại sao con khổ như vầy? Không ai hại con hết, mà chính sắc, thọ, tưởng, hành, thức hại con, giết con, nó mê hoặc, thỏ thẻ, thầm thì, thủ thỉ, thở than, nó rù quến, dẫn dắt, dụ dỗ, lôi cuốn, sai khiến.

Và cuối cùng ông nội, bà nội, bà cố nội, ông cố ngoài mình cũng chết, cha mình, mẹ mình cũng chết. Bây giờ mình tu không khéo thì mình cũng chết với tham ái này, chết hết. Xin thưa đại chúng, đây là Minh Thành nói thiệt.

Thế Tôn nói như sau:

- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

- Ví như, này các Tỷ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: " Đây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi ". Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

Kinh Cỏ và củi – Phẩm thứ nhất – Chương IV Tương Ưng Vô Thỉ - Kinh Tương Ưng Bộ

“Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.

... các Ông chịu đựng con chết. ..

... các Ông chịu đựng con gái chết...

... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...

... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...

Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa, bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển”.

Kinh Nước mắt – Phẩm thứ nhất – Chương IV Tương Ưng Vô Thỉ - Kinh Tương Ưng Bộ

Những lời này được nghe giống như khi mình trở về thời Đức Phật và ngài trực tiếp dạy cho mình. “Này, các Tỳ-kheo, các ông đã từng lấy vợ của người ta, bị đánh ghen bể đầu, què giò, bị giết, bị đâm chết. Các cô, các bà từng lấy chồng người ta, bị đánh ghen, cạo đầu, lột quần áo ra, lôi kéo ngoài đường, bị đau khổ, thống khổ, cực khổ. Trong vô lượng vô biên kiếp đã từng tà dâm, từng tà hạnh trong các dục, từng trộm cắp, từng giết hại, từng nói dối, uống rượu, say sưa, nghiện ngập… Tất cả những điều này là chúng sanh vô thỉ, lặp tới lặp lui, xoay vần vô cùng, vô tận, vô lượng, vô biên không có ngày chấm dứt. Trái đất này, này các Tỳ-kheo, tới một thời điểm sẽ tan vỡ, hoại diệt, tan nát, hủy hoại. Nhưng Như Lai không tuyên bố có sự chấm dứt đau khổ đối với những chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. Tức là trái đất này có thể diệt tận, nhưng nỗi khổ của chúng sanh không có ngày chấm dứt”.

Khủng khiếp như vậy, ghê gớm, ngao ngán cho cuộc đời này, đầy dẫy những tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Chúng ta thấy không, cho nên phải ráng nhìn được tâm mình, còn nếu không sẽ chết. Ông cố, ông sơ, ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại, cha mẹ rồi tới mình cũng một dòng đó, đi hoài triền miên bất tận.