Ước Nguyện 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
ƯỚC NGUYỆN 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ước nguyện của người tu: PAGEREF _Toc75444696 \h 1
II.Bài kinh “Samôn”: PAGEREF _Toc75444697 \h 1
1.Định nghĩa ước muốn sắc bén: PAGEREF _Toc75444698 \h 1
2.Ví dụ đàn bò – con lừa: PAGEREF _Toc75444699 \h 2
3.Tu tập ước muốn sắc bén: PAGEREF _Toc75444700 \h 3
III.Bài kinh “Ước Nguyện”: PAGEREF _Toc75444701 \h 4
1.Ước nguyện thứ nhất: PAGEREF _Toc75444702 \h 4
2.Ước nguyện thứ hai: PAGEREF _Toc75444703 \h 6
3.Ước nguyện thứ thứ ba: PAGEREF _Toc75444704 \h 6
4.Ước nguyện thứ tư: PAGEREF _Toc75444705 \h 7
a)Ước nguyện biết đủ: PAGEREF _Toc75444706 \h 7
b)Lợi ích khi tu tập sự biết đủ: PAGEREF _Toc75444707 \h 7
5.Ước nguyện thứ năm: PAGEREF _Toc75444708 \h 11
IV.Bí mật pháp môn: PAGEREF _Toc75444709 \h 13
Ước nguyện của người tu:
Hôm nay chúng ta sẽ nghe Đức Phật nói cho chúng ta biết về ước nguyện, ước muốn của người tu. Trong chùa hay có phần phục nguyện cho chúng ta tụng niệm hàng ngày, nhưng đến khi được học tạng kinh Nikāya, mình mới biết được cái phục nguyện thực sự là như thế nào. Vậy, ước nguyện thực sự của một người tu là như thế nào? Ước nguyện chân chánh, sự mong muốn chánh đáng, hợp pháp đúng theo lời Đức Phật dạy mới thực sự là phục nguyện, là ước nguyện, là tâm nguyện, là sự cầu nguyện của người tu. Ta sẽ nghe Đức Phật dạy người tu ước nguyện như thế nào, mong muốn những gì qua bài kinh “Samôn”, Tăng Chi Bộ tập 1 và bài kinh “Ước Nguyện”, Tăng Chi Bộ tập 4 – hai bài kinh này có nói rất đầy đủ.
Bài kinh “Samôn”:
Minh Thành sẽ khái quát bài kinh “Sa môn” trong Tăng Chi Bộ tập 1, chúng ta thấy ước nguyện ở đây nó cao đẹp lắm. Ước nguyện này liên hệ đến mục đích chứ không giống như phục nguyện thông thường:
Định nghĩa ước muốn sắc bén:
Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học,
Thọ trì tăng thượng tâm học,
Thọ trì tăng thượng tuệ học.
Đây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm của Sa-môn.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. (Tăng Chi Bộ Kinh 1, 3. Chương Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, bài kinh Samôn)
Chữ “sắc bén” ở đây là được dịch theo ngữ pháp của nước ngoài, diễn theo tiếng Việt cho dễ hiểu nghĩa là ước muốn thật sự của người tu phải làm sao cho thật sắc bén. Tức là phải mạnh mẽ, nhiệt huyết, nóng bỏng, thiết tha, khao khát để làm sao cho mình có thể tiếp nhận, giữ gìn, làm cho Giới học trong tự thân tâm được tăng thêm và được phát triển lên. Chúng ta phải ước muốn một cách hết sức sắc bén, mạnh mẽ, nhiệt thành, tha thiết, chân thành, làm sao để tiếp nhận và giữ gìn được Định học và làm cho cái Định học trong nội tâm được lớn thêm lên và Tuệ học cũng như vậy. Đó chính là ước muốn chân chánh nhất của người tu.
Ví dụ đàn bò – con lừa:
Đức Phật ví dụ: “Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng đàn bò nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò", nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò".
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo". Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo".” (Tăng Chi Bộ Kinh 1, 3. Chương Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, bài kinh Samôn)
Đây là một ví dụ làm cho chúng ta cảm thấy rất hổ thẹn, xấu hổ, tàm, quý. Nếu như chúng ta không có một ước muốn thật là sắc bén để làm cho lớn mạnh giới hạnh, thiền định và trí huệ thì chúng ta là con lừa theo sau đàn bò. Con bò ở bên Ấn Độ người ta rất quý, người Ấn Độ thờ con bò, đến bây giờ người ta còn uống nước tiểu của bò. Cho nên, hình ảnh của con bò là hình ảnh cao quý, đẹp đẽ, thiêng liêng; còn con lừa là vật tầm thường, thấp kém, chúng ta phải hiểu như vậy, không thôi mình không biết tại sao mà người ta ví dụ con bò. Cũng vậy, nếu chúng ta cũng đắp y, thọ giới và cũng ở chung với chúng Tăng mà không có sự ước muốn sắc bén, tha thiết, quyết liệt ở trong sự phát triển mạnh mẽ của giới hạnh, thiền định và trí huệ thì chẳng khác nào con lừa đi theo con bò mà cũng tự cho rằng nó là con bò.
Hôm Minh Thành đứng phía sau các huynh đệ lạy kinh Nikāya, nghe quý huynh đệ đọc bài kinh này, Minh Thành thấy hổ thẹn xấu hổ, tàm, quý cho bản thân mình lắm. Nhìn lên Đức Thế Tôn, nhớ lại các bậc A-la-hán, mình thấy nhục nhã lắm. Chúng ta có ước muốn sắc bén chưa? Ước muốn tăng trưởng, phát triển lớn mạnh giới hạnh, thiền định và trí huệ của mình có sắc bén không? Mình có tha thiết quyết liệt không? Mình có nhiệt tâm tinh cần không? Mình có đem hết tâm lực, trí lực, sức lực, nguyện lực, hạnh lực của mình để mình làm ba điều đó không? Nếu mình chưa có thì mình lẫn lộn trong hàng Tăng, không phải thật sự là Tăng bảo, không phải thật sự là ruộng phước vô thường ở đời. Cho nên cần phải có màu sắc của con bò, có hình dáng của con bò, có tiếng kêu của con bò, có chân cẳng, có cái sừng của con bò. Màu sắc, hình dáng của con bò là ví dụ cho giới hạnh, oai nghi, phong cách của người xuất gia. Tiếng kêu của con bò là ví dụ cho chánh ngữ, chân ngữ, ái ngữ, thật ngữ, pháp ngữ, Thánh chánh ngữ. Chân của con bò là ví dụ cho tùy pháp, hành pháp. Tùy pháp, hành pháp là tùy thuận theo pháp, tùy thuật theo giới học, tùy thuận theo tâm học, tùy thuận theo định học, tùy thuận theo tuệ học và luôn luôn thực hành theo con đường đó, như vậy gọi là có cái chân của con bò.
Tu tập ước muốn sắc bén:
“Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học”. Tức là ước muốn của chúng ta để tăng thượng giới học phải thật sự là sắc bén. Chữ “thọ trì” hết sức quan trọng, nghĩa là tiếp nhận và giữ gìn tăng thượng giới học. Ở đây, không phải chỉ tiếp nhận, giữ gìn thôi mà còn làm cho tăng trưởng, phát triển, quảng đại giới học trong thân tâm của mình. Hãy nhớ cho kỹ bốn chữ “Ước muốn sắc bén”, hãy khắc vào trong tim của mình bốn chữ này. Chúng ta phải ước muốn sắc bén để thọ trì tăng thượng giới học; ước muốn sắc bén để thọ trì tăng thượng định học; ước muốn sắc bén để thọ trì tăng trưởng tuệ học. Hãy thật sự là sắc bén, thật sự là chân thành, thật sự là tha thiết, thật sự là quyết liệt, thật sự mạnh mẽ trong thân tâm mỗi khi nghe về giới, nghe về định, nghe về tuệ; khi thực hành về giới, về định, về tuệ; khi tư duy, thiền quán về giới, về định, về tuệ; khi thảo luận, khi được người khác nhắc nhở, hướng dẫn, chỉ dạy, hoặc là tự thân mình khiển trách chính mình. Sử dụng phát huy sự tàm, quý, dùng tín, tấn, niệm, định, huệ, ngũ căn, ngũ lực để làm tăng trưởng, quảng đại, lớn mạnh giới, định, tuệ ở trong thân tâm của mình.
Đó mới chính là ước muốn thực sự của người tu, một ước muốn tuyệt diệu, không còn ước muốn nào hơn nữa. Như vậy chúng ta mới có dung sắc của một người xuất gia, mới có âm thanh của một Tỳ-kheo, mới có đôi chân của khất sĩ, luôn luôn lúc nào cũng suy nghĩ, suy nghĩ quán chiếu và dò xét thân tâm của mình. Cần phải dò xét liên tục, thậm chí là quên ngày đêm, quên ăn uống, quên ngủ nghỉ, xem thường mấy chuyện đó. Cho nên mình tu, mình học và mình muốn phát triển tới mức tột cùng đó là phải trở thành một nhà khoa học, nhà bác học, nhà nghiên cứu. Quên ăn, bỏ ngủ, quên những chuyện thường tình, quên sinh hoạt thường ngày. Không đặt nặng chuyện ăn uống, tắm giặt, ngủ nghỉ, xem thường mấy cái đó. Phải có một ước muốn sắc bén! Rảnh là mở tạng kinh lên nghe. Rảnh là chéo chân lên ngồi thiền, không phải tới giờ mới vào ngồi thiền, còn không phải giờ thì không làm. Luôn luôn dò xét, luôn luôn chỉ trích mình, xem những suy nghĩ này chân chánh chưa? Những ham muốn này có đúng như ước muốn mà Đức Phật dạy không? Cảm giác này là thiện hay bất thiện? Mình có thọ trì có tiếp nhận giữ gìn, phát triển, tăng thượng giới, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học hay không? Ứng dụng điều này hay lắm, vui lắm, tuyệt diệu lắm!
Như vậy, Minh Thành đã nói khái quát, tổng quát về bài kinh “Samôn”.
Bài kinh “Ước Nguyện”:
Chúng ta sẽ đi vào những ước nguyện chi tiết trong bài kinh “Ước Nguyện”, Tăng Chi Bộ Kinh tập 4:
Ước nguyện thứ nhất:
Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới, đầu đủ giới bổn Pàtimokkha. Hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp.
Đức Phật luôn nói về những vấn đề hết sức thực tế, gần gũi. Khi tu, chúng ta có muốn được huynh đệ quý mến, cung kính, yêu quý không hay mình thích người ta ghét mình? Dầu cho cuộc đời không tu cũng vậy, ai cũng muốn được mọi người yêu quý, quý mến và những người thấp kém hơn cung kính, bắt chước theo mình, đây là chuyện bình thường và trong đời sống xuất gia cũng vậy. Cho nên những điều này hết sức thực tế, gần gũi trong đời sống, nhưng nhiều khi những người thế gian, người ta không biết đạo, người ta chỉ muốn suông thôi, chứ không biết phải làm sao để được như vậy. Nhưng ở đây, Đức Phật có chỉ dẫn chúng ta phải làm sao để được điều đó, đây là chỗ đặc biệt, sau đây là năm điều mà chúng ta cần phải thực hiện.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta được các đồng Phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và bắt chước". Tỷ-kheo ấy phải:
1. Thành tựu viên mãn giới luật.
2. Kiên trì nội tâm tịch tĩnh.
3. Không gián đoạn Thiền định.
4. Thành tựu quán hạnh.
5. Thích sống tại các trú xứ không tịnh. (Không tịnh tức là an tịnh, chữ “không” ở đây là trống trải, trống vắng chứ không phải không tịnh là không thanh tịnh. Câu này nghĩa là thích sống ở các trú xứ yên tịnh.) (Tăng Chi Bộ Kinh Tập 4, 10. Chương Mười Pháp, VIII. Phẩm Ước Nguyện, bài kinh Ước Nguyện)
Khi nhập thất trên rừng, lúc đọc bài kinh này Minh Thành vô cùng rúng động. Khi nghe đến câu “Kiên trì nội tâm tịch tịnh; Không giới đoạn Thiền định” thì Minh Thành đại ngộ vì trước nay mình hiểu không chính xác, không đầy đủ. Chúng ta thường quen với cái thông thường, nghĩ giờ thiền thì mới thiền, hết thiền là xả thiền là thoải mái, vừa xong thời pháp là trở lại con người phàm tục. Khi nghe pháp mọi người rất là im lặng, đó là im lặng của bậc Thánh nhưng vừa xong thời pháp là tập khí bung ra, thói quen bày hiện ra, thả lỏng các căn, cho nên cần phải “Không giới đoạn Thiền định”. “Thành tựu viên mãn giới luật” – một câu này thôi là khiếp lắm, đạt được như vậy là bậc Hiền Tăng rồi đó. Nếu trong thời Đức Phật đạt được viên mãn là bước vào hàng Thánh Tăng rồi, tại vì thời Đức Phật đại đa số ai cũng thành tựu Chánh tri kiến. “Kiên trì nội tâm tịch tĩnh”, kiên trì là giữ chặt, tức là giữ chặt sự lặng lẽ, yên tĩnh ở bên trong. Phải kiên trì nội tâm tịch tịnh, không gián đoạn thiền định. Thiền định mà Đức Phật dạy mình là không gián đoạn, chứ không phải dạy là có giờ thiền. Nhưng vì chúng ta lười biếng, buông lung, thả lỏng các căn cho nên phải có giờ bắt vào ngồi thiền, vậy mà nhiều người còn trốn không ngồi, hoặc lên ngồi mà không có thiền. Thiền mà đúng như Đức Phật dạy để thành tựu Thánh quả, bước trên Thánh đạo là không gián đoạn thiền định, luôn luôn thực hành Tứ Niệm Xứ, luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và sự vận hành của các pháp ở bên trong. “Thành tựu quán hạnh – Thích sống tại các trú xứ không tịnh”, tức là thành tựu quán hạnh những pháp quán và thích sống ở chỗ vắng lặng, vắng vẻ yên tịnh, còn sống ở những chỗ ồn ào, phố thị, cảnh sắc thì mình không thiền được vì âm thanh là gai nhọn của thiền định.
Ước nguyện thứ hai:
Phần trên là phần khái quát, phần tiếp theo Đức Thế Tôn nói từng chi tiết. Những ước nguyện trong bài kinh này tuyệt diệu lắm!
“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta được các vật dụng như y phục, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh”, những ước nguyện này là từ thấp nâng lên cao, ở đây Tỳ-khoe muốn được cúng dường những vật dụng như quần áo, thức ăn, thức uống, giường chõng, thuốc men... thì Tỷ-kheo cũng phải tu sao cho giới luật viên mãn, kiên trì nội tâm tịch tịnh, không gián đoạn nội tâm thiền tịnh, thành tựu quán hạnh và thích sống ở các trú xứ yên tịnh. Như vậy, muốn đạt được ước nguyện thứ hai, tức là có được những phương tiện sử dụng trong sinh hoạt đời sống thì phải tu tập năm pháp trên.
Ước nguyện thứ thứ ba:
Tiến thêm bước nữa, ước nguyện thứ ba: “Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta hưởng thọ các vật dụng như y áo, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh. Mong rằng hành động của những vị tạo ra các vật dụng ấy được quả báo lớn, được lợi ích lớn", Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng những bà con huyết thống với ta, khi họ chết và mệnh chung nghĩ (đến ta) với tâm hoan hỷ, (và nhờ vậy) được quả báo lớn, được lợi ích lớn". Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh”. Tức là ước nguyện những người cung kính cúng dường cho mình sẽ được quả báo lớn, lợi ích lớn; bà con huyết thống, cha mẹ, ông bà, cô bác, cậu mợ, chú dì của mình khi chết hoặc khi sắp chết họ sẽ nghĩ đến mình với một tâm hoan hỷ và nhờ đó nên họ được quả báo lớn, lợi ích lớn. Để được như vậy thì chúng ta cần phải tu tập năm pháp nói trên, tức là, dù ước điều gì thì mình cũng phải tu tập giới, định, tuệ và ở chỗ a lan nhã, nói gọn là vậy. Như vậy, nếu muốn cho những người đàn na tín thí có tín tâm cúng dường có phước báu, muốn cho ông bà, cha mẹ, cô bác, dòng họ, thân tộc, huyết thống nương nhờ nơi mình khi họ bệnh hoạn gần chết, hoặc sau khi họ chết họ chỉ cần nghĩ đến mình thôi họ sẽ hoan hỷ và nhờ phước báu đó mà được công đức lớn, lợi ích lớn thì mình phải tu tập tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thượng tuệ. Muốn thành tựu được ba điều này là phải ở chỗ thanh tịnh, bớt tiếp duyên xúc cảnh.
Ước nguyện thứ tư:
Ước nguyện biết đủ:
Bài kinh này ngày càng lý thú, thú vị. Tiến thêm bước nữa: “Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta biết đủ với bất cứ vật dụng gì như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”, nghĩa là mong sẽ biết đủ đối với mọi sinh hoạt ở trong đời sống thường nhật. Cũng vậy, muốn biết đủ thì cũng phải tu năm điều nói trên, tức là tu giới, định, tuệ, đây là cái gốc trong sự tu tập. Ngoài tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ, ở trú xứ yên tịnh, xa vắng ra thì tất cả những khác là cành nhánh thôi, có tu cái gốc thì mình mới có thể biết đủ đối với bất cứ vật dụng gì. Bài kinh này tuyệt vời sao là tuyệt vời, hay sao là hay, hạnh phúc sao là hạnh phúc, an lạc sao là an lạc, kỳ diệu sao là kỳ diệu!
Lợi ích khi tu tập sự biết đủ:
Một lần nọ, Minh Thành đi đến một ngôi chùa lớn để giảng pháp. Khi giảng xong rồi, Minh Thành ngồi chung với quý thầy, chờ dọn cơm lên. Sau đó có cô Phật tử bưng khay cơm để cho Phật tử ăn để vào chỗ Minh Thành. Thấy vậy quý thầy trong chùa mới la, Minh Thành nói: “Dạ cái này ăn tốt, gọn”. Quý Phật tử khi đó công quả cực khổ lắm, vì khóa tu đông người, nhưng chút xíu người ta dọn đồ ăn khác lên. Với một cái khay cơm như lúc đầu, nếu chúng ta có thực tập giới hạnh, biết đủ, tri túc thì mình vẫn thấy là nó đầy đủ, không có bực bội, không có sân hận, cũng không nghĩ rằng người ta xem thường mình dù người ta cho mình ăn cái khay của một Phật tử. Thay vào đó, nội tâm mình được bình an, bình an lạ lắm. Từ sự bình an đó, chúng ta truy nguyên nguồn gốc thì biết đó là nhờ mình có tu tập, quán chiếu về cái thức ăn, thường nghe Đức Phật dạy, cho nên mình có thực tập sự biết đủ ở trong mọi tình huống. Sự tu tập này hay lắm, kỳ diệu lắm! Nhiều bữa Minh Thành mặc bộ đồ ba ngày không thay, tại vì thay ra sợ sâu thành ra từ lúc Sài Gòn về không dám thay, nhưng mà nó vẫn thấy hạnh phúc.
Chúng ta học tu theo pháp này rồi thì từ từ mình sẽ xem thường những cái thông thường, không có đặt nặng, chúng ta sẽ thực tập điều này. Nhiều khi Minh Thành mấy huynh đệ bất thình lình đi đây đi đó, bất thình lình học pháp, bất thình lình gặp những hoàn cảnh khó đó… đó chính là những khóa rèn luyện, chỉ người nào tinh tường thì mới biết được, còn không là không biết. Đó là những khóa rèn luyện, là quân trường, là pháp trường. Pháp trường không phải ra xử đâu, mà đây là trường học của giáo pháp, thực tập pháp để đối diện với những chuyện bất thình lình.
Minh Thành kể lại câu chuyện về khóa tu trên rừng đầu tiên, lúc đó mấy huynh đệ đều lên rừng tu hết, tới chừng nấu cơm gạo lứt, định ăn với rong biển khô, nhưng khi cơm gần chín rồi thì mới nhớ là không có chén, không có muỗng, nếu phải đi xuống dưới chùa lấy rồi đi xuống trở lên rừng là hơn một tiếng đồng hồ, cho nên Minh Thành nói khỏi chén, khỏi muỗng, khỏi đũa gì hết. Thay vào Minh Thành kêu mọi người cắt lá chuối, xé lá chuối, rồi bỏ cơm lên lá chuối, rong biển khô lấy tay bốc ăn. Khóa tu đó nhớ mãi không bao giờ quên, như được trở về thời Đức Phật. Sau khóa tu, mấy huynh đệ rất ấn tượng kể về kỷ niệm đó, không quên được, cứ nhắc lại hoài, vui quá, ăn cơm bốc, không chén, không đũa, không muỗng, không tô, không tộ, lấy lá chuối bỏ cơm gạo lứt lên, rong biển khô đổ vào đó rồi lấy tay nhúm nhúm bốc ăn.
Cho nên khi chúng ta vận dụng được sự biết đủ thì thực sự tuyệt diệu vô cùng, tuyệt diệu lắm. Thứ nhất là tâm của mình sẽ ít có đòi hỏi, ít có ham muốn. Thứ hai là dù ở trong hoàn cảnh nào thì tâm mình cũng bình an, giữ được tăng thượng định học. Chúng ta giữ được tâm yên định trong mọi hoàn cảnh thì đó là mình đang thực hành thọ trị tăng thượng định học. Thứ ba là chúng ta không có quá bị lệ thuộc vào vật chất. Chẳng lẽ vì không chén, không đũa, không muỗng, không tô là mình không ăn được hay sao? Hồi xưa Đức Phật, các bậc Thánh Tăng, những vị tu khổ hạnh, đầu đà cũng không có chén, không có muỗng, nhưng các Ngài vẫn có thể ăn. Thành ra pháp này tuyệt diệu lắm, hay vô cùng hay, không thể nào nói hết cái hay, đây chỉ là lấy một phần tỷ cái hay để nói thôi.
Có những ví dụ nho nhỏ trong đời sống thú vị, thực tế lắm. Ví dụ như khi ở trên rừng hay ở dưới thất hiện tại cũng vậy, điều này không phải mới đây mà mấy chục năm rồi, luôn luôn lúc nào những cái thùng, cái thau trong nhà tắm Minh Thành cũng chứa đầy nước hết. Nếu bất thình lình ở đó cúp nước thì còn dùng được một ngày hoặc hai ngày, trong thời gian một ngày, hai ngày mình nhờ người đi sửa đó là nó dư sức, khi người ta sửa xong là nước của mình cũng vừa hết hoặc là cũng còn được chút nước. Còn nếu mình không có nước như vậy, mà ở trên rừng hay là trong thất không có giấy, ngay lúc hết nước mà mình đi đại tiểu tiện thì phải làm sao. Thành ra tuy thấy là chuyện nhỏ nhưng đó lại là chuyện lớn, bình thường thấy vô giá trị nhưng khi hữu sự là nó cứu mình. Cho nên, chúng ta đừng xem thường bạn bè huynh đệ xung quanh và những người Phật tử phụ giúp cho mình, vì khi hữu sự thì đó là những người cứu mình. Chúng ta cũng đừng xem thường những hành động, hay lời nói thô ác mà mình xúc phạm người khác hoặc như thế nào đó, đến khi hữu sự thì coi chừng quả báo rổ ra, nguy hiểm lắm. Thành ra có những điều hết sức nhỏ nhiệm nhưng rất nguy hiểm, cũng như trong cái đồng hồ, trong cái laptop, trong cái điện thoại, chỉ cần một bộ phận quan trọng nhỏ nhiệm bị trục trặc là sẽ hư hết, máy không chạy đươc.
Cũng như khi ăn, nếu biết vừa đủ, không tham vị thức ăn, không để cảm giác xâm chiếm thì mình ngồi thiền nhẹ nhàng, an tịnh lắm. Còn bữa nào mình cố ăn món ngon, vừa ý, dù no rồi nhưng ngon quá ráng làm thêm chén nữa đó thì nguyên bữa ngồi thiền như cực hình vậy, vì sẽ bị nặng nề, hôn trầm, rã rượi, mệt mỏi, thậm chí có khi phải uống thuốc tiêu, rất là khó chịu. Vì vậy, chúng ta phải tập sao cho dù ai cho ăn cái gì, mặc cái gì, ở chỗ nào thì mình cũng thấy được, thấy hài lòng. Phải biết trân trọng những điều đó, vì đây là cơ hội để mình rèn luyện, nhiếp phục được cái lòng tham, tẩy rửa những sự ô nhiễm ở trong nội tâm của mình.
Ví dụ sư phụ phát nón nhưng sư phụ lại phát cho mấy sư huynh nón nhập, tốt mà tới mình thì đưa nón xấu, vải cũ nữa, thế là mình phiền não lên. Như vậy là trật, không biết tu, không biết đủ, mà khi không có biết tu thì giới bị ảnh hưởng, định bị ảnh hưởng và tuệ bị ảnh hưởng. Chúng ta biết đủ được là nhờ có tu tập giới, tu tập định, tu tập tuệ. Còn khi nội tâm mình phiền, bực lên vì cái nón cũ đó thì ngồi thiền tâm có yên không? Hay bên trong ý hành vận hành trong suốt buổi ngồi thiền:“Cho ai cũng đồ tốt cho mình con đồ xấu. Mà con là người làm công việc, công quả nhiều nhất ở đây”. Thậm chí hai, ba bữa sau vẫn còn buồn, nhìn thấy người ta đội cái nón đẹp là buồn. Như vậy là đâu có tăng thượng tâm học, định học đâu không thành tựu. Hỏi ra thì phiền não chỉ vì cái nón thôi, chẳng lẽ đi tu vì món đồ đó hay sao? Mình bỏ cha bỏ mẹ được mà vì món đồ đó mà tâm mình động hay sao? Khi quán chiếu được như vậy thì hay lắm, sự biết đủ này tẩy hết sự dao động, ganh tỵ, đố kỵ, hối tiếc trong tâm.
Đó chỉ là lấy một ví dụ thôi, chứ tồn tại muôn ngàn thứ. Vì chỗ ngồi mà tâm cũng động, đứng trước đứng sau tâm cũng động, hoặc người ta kêu cái tên mà nghe giọng không cung kính, không tôn trọng thì cũng giận, tâm cũng động. Đó là do không tu tập định học, không tăng thượng định học, không chú trọng giữ tâm kiên trì tịch tĩnh, cho nên gặp chuyện gì mình cũng dao động, cũng phiền não được hết. Cái gì cũng ganh tỵ, đố kỵ, tật đố được hết thì người đó đâu có tăng thượng định học, họ không thấy điều đó là quan trọng, không ưa muốn điều đó, không có mục đích về điều đó. Còn người kiên trì nội tâm tịch tịnh là khi thấy nội tâm dao động một cách phi lý, vô lý, không có ý nghĩa là họ dẹp bỏ, từ bỏ, chấm dứt, làm cho nó an tịnh liền. Vì vậy, chúng ta cần phải tu tập, huấn luyện, dò xét nội tâm của mình, phải tăng thượng tâm mình trong giới, trong định, trong tuệ, phải làm cho nó lớn mạnh, phát triển ở trong đó. Còn không là tối ngày dao động, phiền não, bực bội, bất mãn hoài. Từ cái ăn, cái mặc, cái ở, cái ngủ, cái nói, cái làm… cái gì cũng làm cho tâm mình động loạn. Điều này sẽ làm cho nội tâm của mình tổn thương trầm trọng, gọi là bệnh trầm kha, một cái nội tâm bị bệnh truyền nhiễm. Tâm bị truyền nhiễm thì đi tới đâu nó cũng truyền nhiễm những chất độc của nó ra, làm cho tất cả người khác bất an, bất ổn. Đi đâu cũng nói thị phi, đi đâu cũng nói phải quấy, đi đâu cũng nói tốt xấu, nó mở rộng ra nó kinh khiếp như vậy. Đó là cái tâm rất là bệnh hoạn, tất cả là tại vì không biết tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thượng tuệ, cho nên nếu không gặp người khác thì thôi, còn gặp là bung ra toàn là rác bẩn.
Như vậy, phải tu tập giới, tu tập định, tu tập tuệ thì mới thành tựu được biết đủ, nếu không tu tập điều này thì sự biết đủ chỉ là hình thức ở bên ngoài, chỉ là sự kìm chế, kìm nén, chứ nó không được dẫn đạo bằng Chánh tri kiến, Thánh tri kiến, không thành tựu quán hạnh.
Ước nguyện thứ năm:
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta kham nhẫn với lạnh, nóng, đói khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, của loài bò sát, kham nhẫn những cách nói mạ ly phỉ báng, kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người", Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh.
Chúng ta muốn được kham nhẫn thì cũng phải tu tập giới, định, tuệ. Kham nhẫn nghĩa là chịu khó, chịu đựng, nhẫn nại. Nhẫn nại với nóng, lạnh, đói, khát; nhẫn nại với sự xúc chạm của ruồi, muỗi, sâu bọ, rắn rết, các loài bò sát; nhẫn nại với thời tiết. Trên Linh Quy thì gió lạnh, còn dưới Sài Gòn thì nắng nóng, cho nên chỗ nào cũng có cái khó, chỗ nào cũng phải kham nhẫn, chỗ nào cũng phải nhẫn lại hết, không có chỗ nào mà không cần phải nhẫn lại. Thường thường suy nghĩ của chúng ta phiến diện, cục bộ, thiên lệch lắm. Ví dụ, mình nghĩ chỗ ở hiện tại mệt quá, nếu đi chỗ khác thì sẽ khỏe hơn, chẳng hạn bây giờ ở Đà Lạt lạnh quá nên mình dời về thành phố, nhưng ở thành phố thì mình lại bị nóng, cho nên chỗ nào cũng có cái khó của chỗ đó. Vì vậy, chúng ta không nên mong người khác sẽ trải thảm đỏ đón chân mình, điều quan trọng là phải có đôi giày cho tốt thì mình có thể đi khắp năm châu bốn biển mà không bị đạp gai góc, đạp đá nhọn.
Cho nên sự chịu đựng, sự nhẫn lại hết sức là hay, giống như ước muốn biết đủ vậy, nhưng sự nhẫn lại này nó mạnh hơn, thuộc dạng tích cực hơn, vì sự biết đủ là dạng thụ động, gặp trường hợp đó thì mình phải chịu, còn sự kham nhẫn này rèn luyện cho tâm mình hướng về phương diện tích cực. Ví dụ bây giờ ngồi thiền, nếu không có sự kham nhẫn, nhẫn lại thì mình ngồi nổi không, nhất là ở Linh Quy một ngày ngồi bốn, năm thời, nghe pháp cũng vậy. Đối với sự tu học nếu không có sự nhẫn lại, không có sự chịu khó, không có sự kham nhẫn thì sao mình cố gắng để tăng thượng, tiến lên được. Giống như hôm nay, chiều chiều xuống Minh Thành phải ngồi đọc kinh ở trong mùng vì nhiều muỗi quá, chúng ta cũng phải kham nhẫn với ruồi, muỗi nữa. Chúng ta ở thành phố mấy chục quen rồi, lên núi tu học thì mình ở không nổi, không chịu kham nhẫn, muốn về Sài Gòn ở, như vậy thì sao tu được. Hay trên núi gió quá, lạnh quá, khó chịu quá, ở không được, muốn đi về Đồng Tháp, như vậy là không có kham nhẫn, mà không có kham nhẫn thì mình không làm gì được. Chúng ta phải kham nhẫn, nhẫn lại, chịu đựng, chịu khó rèn luyện, chịu khó huấn luyện, chịu khó tu luyện, tập luyện, khổ luyện thì mới thành công. Cho nên Minh thành có cho coi sự khổ luyện của lính đặc nhiệm, của binh sĩ quân đội, họ khổ luyện kinh khiếp lắm. Những nhà võ học, võ thuật cũng luyện dữ lắm. Như thầy Tâm Tịnh ở bên Sydney, khi qua bên đó, thầy vừa đi học vừa đi làm, ngày ngủ có ba, bốn tiếng, ngày nào cũng vậy trong suốt mấy chục năm bên Úc, bây giờ Ngài là tiến sỹ toán học bên đó. Thành ra người càng chịu khó, nhẫn lại, kham nhẫn thì người đó càng thành công. Còn người thấy khó một chút đã muốn bỏ, khó một chút đã chịu không được thì người đó không có làm được cái gì.
Tiếp đến là chúng ta phải kham nhẫn trước những cách nói mạ ly phỉ báng. Chẳng hạn khi mình bị sư huynh, sư phụ hoặc những bậc trưởng thượng nhắc nhở, chỉ dạy, huấn luyện, dạy dỗ nếu không có nhẫn nại, không chịu tiếp nhận, không chịu lắng nghe, mà mình lại Phi Như Lý Tác Ý, nghĩ sai, nghĩ trật theo chiều hướng phàm tình thì chúng ta sẽ không tiếp nhận được Thánh Pháp, không tiếp nhận được những giá trị cao quý trong đời sống tâm linh để giúp cho mình đi đến chỗ hướng thượng, tăng thượng ở trong Pháp và Luật của Như Lai. Ngay cả thầy, huynh đệ ở gần nhắc nhở mà mình còn chịu không được thì khi bị những người ở ngoài, những người cư sĩ nói nặng, chưởi mắng thì mình làm sao chịu nổi, mà đây mới là về lời nói thôi.
Còn về thân là kham nhẫn trước những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. Đây là nói đến lúc chết, lúc chuẩn bị lâm chung, hoặc là gặp tai nạn, khi đó là không thể nào mình chịu đựng nổi nếu bình thường chúng ta không thực tập sự kham nhẫn này. Khốc liệt, thống khổ, đau nhói, nhức nhối, chết điếng người là đang nói về thọ đó, nếu muốn nhiếp phục được hết những điều này chúng ta phải tu giới, định, tuệ, tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học, phải ở chỗ yên tịnh xa vắng. Bởi vì bình thường nhờ có sự thực tập thiền định thì tâm chúng ta mới được huấn luyện, như vậy thì tâm sẽ vững chắc, kiên trú, ít bị ngoại cảnh tác động nhiều, hoặc khi bị tác động cũng không chao đảo nhiều như những người mà tâm không có sự tu tập. Có những cảm thọ là hết sức bình thường như một lời nói, hay sự nóng, lạnh một chút thôi mà còn chịu không được thì khi bị chửi mắng làm sao mà mình chịu được. Hoặc tới lúc tai nạn xảy ra, chúng ta nhức nhối, đau đớn, khốc liệt, chết điếng người thì làm sao mà chịu được. Cho nên lúc nào cũng vậy, khi những hoàn cảnh khó khăn xảy đến thì chúng ta hãy coi đó là cơ hội kham nhẫn, cơ hội nhẫn nại, cơ hội rèn luyện cho mình. Nếu xem những lúc khó khăn là cơ hội cho mình thì chúng ta sẽ thấy hay lắm, rất là thú vị. Còn nếu chúng ta tác ý ngược lại, cảm thấy bực bội, tức tối, phiền não, sân hận trước những chuyện trái ý thì không những khổ thân mà còn khổ thêm tâm nữa, cứ vậy mà nó nhân lên thì tâm mình như hỏa ngục, lò lửa, nó thiêu đốt mình và làm cho mình khổ thêm.
Bí mật pháp môn:
Những bài kinh này Minh Thành nghe cũng phải vài chục lần. Mỗi lần nghe lại là mỗi lần thấy hay. Cho nên học kinh, nghe pháp là điều hết sức quan trọng. Dù nghe một ngàn lần cũng không được có ý niệm chán, không được có cảm giác nhàm chán. Ví dụ bài kinh Tứ Niệm Xứ, dù chúng ta tụng một ngàn lần, ba ngàn lần thì vẫn phải cung kính, đảnh lễ và coi đó là vô thượng pháp, như vậy thì lúc đó mới có thể Nhập Lưu, điều này hết sức quan trọng. Ví dụ hôm trước nghe giảng bài kinh về bất tịnh rồi, hôm nay cũng giảng bất tịnh nữa, nhưng dù mười lần, một trăm lần nghe giảng về bất tịnh thì vẫn nghe một cách cung kính với một nội tâm hoàn toàn không có một sự chán ngán, nhàm chán nào thì người đó mới có thể thâm nhập được Chánh Pháp. Tại vì đây là pháp của Chánh Đẳng Chánh giác, mà tại sao mình chán, nếu chán như vậy là mình vĩnh viễn không vào được chánh giác. Tại vì A-la-hán vẫn còn ngồi quán về sự nhàm chán của ngũ uẩn.
Trong bài kinh “Vị Giữ Giới” có nói, một vị Tỳ-kheo giữ giới là vị quán ngũ uẩn này là ung nhọt, là mũi tên, là đau khổ, là chỗ đáng từ bỏ. Một vị thành tựu thiền định, hướng dự lưu cũng quán năm uẩn này là ung nhọt, là mũi tên, là đau khổ, là chỗ đáng từ bỏ. Những vị thành tựu Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả, A-la-hán cũng tu y như vậy. Chứng A-la-hán rồi thì các vị đó cũng tác ý như vậy để các vị được hiện tại lạc trú, các Ngài không dụng công nữa nhưng khi nghe, nghĩ về các điều đó là các Ngài vui. Đây chính là bí mật pháp môn! Chúng ta nghe pháp một ngàn lần cũng không được có cảm giác nhàm chán. Không được để cho bất cứ một cảm giác nhàm chán nào tồn tại bên trong nội tâm. Không được để cho ý hành “cái này nghe rồi, học rồi” tồn tại ở trong tâm của mình. Không được để cho cảm giác nhàm chán sanh khởi mà phải từ bỏ nó, đánh đuổi nó ra. Đây là công phu đắc lực ở bên trong, tuy khó nhưng chúng ta phải làm được./.
ƯỚC NGUYỆN 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ước nguyện của người tu: PAGEREF _Toc75444696 \h 1
II.Bài kinh “Samôn”: PAGEREF _Toc75444697 \h 1
1.Định nghĩa ước muốn sắc bén: PAGEREF _Toc75444698 \h 1
2.Ví dụ đàn bò – con lừa: PAGEREF _Toc75444699 \h 2
3.Tu tập ước muốn sắc bén: PAGEREF _Toc75444700 \h 3
III.Bài kinh “Ước Nguyện”: PAGEREF _Toc75444701 \h 4
1.Ước nguyện thứ nhất: PAGEREF _Toc75444702 \h 4
2.Ước nguyện thứ hai: PAGEREF _Toc75444703 \h 6
3.Ước nguyện thứ thứ ba: PAGEREF _Toc75444704 \h 6
4.Ước nguyện thứ tư: PAGEREF _Toc75444705 \h 7
a)Ước nguyện biết đủ: PAGEREF _Toc75444706 \h 7
b)Lợi ích khi tu tập sự biết đủ: PAGEREF _Toc75444707 \h 7
5.Ước nguyện thứ năm: PAGEREF _Toc75444708 \h 11
IV.Bí mật pháp môn: PAGEREF _Toc75444709 \h 13
Ước nguyện của người tu:
Hôm nay chúng ta sẽ nghe Đức Phật nói cho chúng ta biết về ước nguyện, ước muốn của người tu. Trong chùa hay có phần phục nguyện cho chúng ta tụng niệm hàng ngày, nhưng đến khi được học tạng kinh Nikāya, mình mới biết được cái phục nguyện thực sự là như thế nào. Vậy, ước nguyện thực sự của một người tu là như thế nào? Ước nguyện chân chánh, sự mong muốn chánh đáng, hợp pháp đúng theo lời Đức Phật dạy mới thực sự là phục nguyện, là ước nguyện, là tâm nguyện, là sự cầu nguyện của người tu. Ta sẽ nghe Đức Phật dạy người tu ước nguyện như thế nào, mong muốn những gì qua bài kinh “Samôn”, Tăng Chi Bộ tập 1 và bài kinh “Ước Nguyện”, Tăng Chi Bộ tập 4 – hai bài kinh này có nói rất đầy đủ.
Bài kinh “Samôn”:
Minh Thành sẽ khái quát bài kinh “Sa môn” trong Tăng Chi Bộ tập 1, chúng ta thấy ước nguyện ở đây nó cao đẹp lắm. Ước nguyện này liên hệ đến mục đích chứ không giống như phục nguyện thông thường:
Định nghĩa ước muốn sắc bén:
Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học,
Thọ trì tăng thượng tâm học,
Thọ trì tăng thượng tuệ học.
Đây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm của Sa-môn.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. (Tăng Chi Bộ Kinh 1, 3. Chương Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, bài kinh Samôn)
Chữ “sắc bén” ở đây là được dịch theo ngữ pháp của nước ngoài, diễn theo tiếng Việt cho dễ hiểu nghĩa là ước muốn thật sự của người tu phải làm sao cho thật sắc bén. Tức là phải mạnh mẽ, nhiệt huyết, nóng bỏng, thiết tha, khao khát để làm sao cho mình có thể tiếp nhận, giữ gìn, làm cho Giới học trong tự thân tâm được tăng thêm và được phát triển lên. Chúng ta phải ước muốn một cách hết sức sắc bén, mạnh mẽ, nhiệt thành, tha thiết, chân thành, làm sao để tiếp nhận và giữ gìn được Định học và làm cho cái Định học trong nội tâm được lớn thêm lên và Tuệ học cũng như vậy. Đó chính là ước muốn chân chánh nhất của người tu.
Ví dụ đàn bò – con lừa:
Đức Phật ví dụ: “Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng đàn bò nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò", nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò".
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo". Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo".” (Tăng Chi Bộ Kinh 1, 3. Chương Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, bài kinh Samôn)
Đây là một ví dụ làm cho chúng ta cảm thấy rất hổ thẹn, xấu hổ, tàm, quý. Nếu như chúng ta không có một ước muốn thật là sắc bén để làm cho lớn mạnh giới hạnh, thiền định và trí huệ thì chúng ta là con lừa theo sau đàn bò. Con bò ở bên Ấn Độ người ta rất quý, người Ấn Độ thờ con bò, đến bây giờ người ta còn uống nước tiểu của bò. Cho nên, hình ảnh của con bò là hình ảnh cao quý, đẹp đẽ, thiêng liêng; còn con lừa là vật tầm thường, thấp kém, chúng ta phải hiểu như vậy, không thôi mình không biết tại sao mà người ta ví dụ con bò. Cũng vậy, nếu chúng ta cũng đắp y, thọ giới và cũng ở chung với chúng Tăng mà không có sự ước muốn sắc bén, tha thiết, quyết liệt ở trong sự phát triển mạnh mẽ của giới hạnh, thiền định và trí huệ thì chẳng khác nào con lừa đi theo con bò mà cũng tự cho rằng nó là con bò.
Hôm Minh Thành đứng phía sau các huynh đệ lạy kinh Nikāya, nghe quý huynh đệ đọc bài kinh này, Minh Thành thấy hổ thẹn xấu hổ, tàm, quý cho bản thân mình lắm. Nhìn lên Đức Thế Tôn, nhớ lại các bậc A-la-hán, mình thấy nhục nhã lắm. Chúng ta có ước muốn sắc bén chưa? Ước muốn tăng trưởng, phát triển lớn mạnh giới hạnh, thiền định và trí huệ của mình có sắc bén không? Mình có tha thiết quyết liệt không? Mình có nhiệt tâm tinh cần không? Mình có đem hết tâm lực, trí lực, sức lực, nguyện lực, hạnh lực của mình để mình làm ba điều đó không? Nếu mình chưa có thì mình lẫn lộn trong hàng Tăng, không phải thật sự là Tăng bảo, không phải thật sự là ruộng phước vô thường ở đời. Cho nên cần phải có màu sắc của con bò, có hình dáng của con bò, có tiếng kêu của con bò, có chân cẳng, có cái sừng của con bò. Màu sắc, hình dáng của con bò là ví dụ cho giới hạnh, oai nghi, phong cách của người xuất gia. Tiếng kêu của con bò là ví dụ cho chánh ngữ, chân ngữ, ái ngữ, thật ngữ, pháp ngữ, Thánh chánh ngữ. Chân của con bò là ví dụ cho tùy pháp, hành pháp. Tùy pháp, hành pháp là tùy thuận theo pháp, tùy thuật theo giới học, tùy thuận theo tâm học, tùy thuận theo định học, tùy thuận theo tuệ học và luôn luôn thực hành theo con đường đó, như vậy gọi là có cái chân của con bò.
Tu tập ước muốn sắc bén:
“Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học”. Tức là ước muốn của chúng ta để tăng thượng giới học phải thật sự là sắc bén. Chữ “thọ trì” hết sức quan trọng, nghĩa là tiếp nhận và giữ gìn tăng thượng giới học. Ở đây, không phải chỉ tiếp nhận, giữ gìn thôi mà còn làm cho tăng trưởng, phát triển, quảng đại giới học trong thân tâm của mình. Hãy nhớ cho kỹ bốn chữ “Ước muốn sắc bén”, hãy khắc vào trong tim của mình bốn chữ này. Chúng ta phải ước muốn sắc bén để thọ trì tăng thượng giới học; ước muốn sắc bén để thọ trì tăng thượng định học; ước muốn sắc bén để thọ trì tăng trưởng tuệ học. Hãy thật sự là sắc bén, thật sự là chân thành, thật sự là tha thiết, thật sự là quyết liệt, thật sự mạnh mẽ trong thân tâm mỗi khi nghe về giới, nghe về định, nghe về tuệ; khi thực hành về giới, về định, về tuệ; khi tư duy, thiền quán về giới, về định, về tuệ; khi thảo luận, khi được người khác nhắc nhở, hướng dẫn, chỉ dạy, hoặc là tự thân mình khiển trách chính mình. Sử dụng phát huy sự tàm, quý, dùng tín, tấn, niệm, định, huệ, ngũ căn, ngũ lực để làm tăng trưởng, quảng đại, lớn mạnh giới, định, tuệ ở trong thân tâm của mình.
Đó mới chính là ước muốn thực sự của người tu, một ước muốn tuyệt diệu, không còn ước muốn nào hơn nữa. Như vậy chúng ta mới có dung sắc của một người xuất gia, mới có âm thanh của một Tỳ-kheo, mới có đôi chân của khất sĩ, luôn luôn lúc nào cũng suy nghĩ, suy nghĩ quán chiếu và dò xét thân tâm của mình. Cần phải dò xét liên tục, thậm chí là quên ngày đêm, quên ăn uống, quên ngủ nghỉ, xem thường mấy chuyện đó. Cho nên mình tu, mình học và mình muốn phát triển tới mức tột cùng đó là phải trở thành một nhà khoa học, nhà bác học, nhà nghiên cứu. Quên ăn, bỏ ngủ, quên những chuyện thường tình, quên sinh hoạt thường ngày. Không đặt nặng chuyện ăn uống, tắm giặt, ngủ nghỉ, xem thường mấy cái đó. Phải có một ước muốn sắc bén! Rảnh là mở tạng kinh lên nghe. Rảnh là chéo chân lên ngồi thiền, không phải tới giờ mới vào ngồi thiền, còn không phải giờ thì không làm. Luôn luôn dò xét, luôn luôn chỉ trích mình, xem những suy nghĩ này chân chánh chưa? Những ham muốn này có đúng như ước muốn mà Đức Phật dạy không? Cảm giác này là thiện hay bất thiện? Mình có thọ trì có tiếp nhận giữ gìn, phát triển, tăng thượng giới, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học hay không? Ứng dụng điều này hay lắm, vui lắm, tuyệt diệu lắm!
Như vậy, Minh Thành đã nói khái quát, tổng quát về bài kinh “Samôn”.
Bài kinh “Ước Nguyện”:
Chúng ta sẽ đi vào những ước nguyện chi tiết trong bài kinh “Ước Nguyện”, Tăng Chi Bộ Kinh tập 4:
Ước nguyện thứ nhất:
Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới, đầu đủ giới bổn Pàtimokkha. Hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp.
Đức Phật luôn nói về những vấn đề hết sức thực tế, gần gũi. Khi tu, chúng ta có muốn được huynh đệ quý mến, cung kính, yêu quý không hay mình thích người ta ghét mình? Dầu cho cuộc đời không tu cũng vậy, ai cũng muốn được mọi người yêu quý, quý mến và những người thấp kém hơn cung kính, bắt chước theo mình, đây là chuyện bình thường và trong đời sống xuất gia cũng vậy. Cho nên những điều này hết sức thực tế, gần gũi trong đời sống, nhưng nhiều khi những người thế gian, người ta không biết đạo, người ta chỉ muốn suông thôi, chứ không biết phải làm sao để được như vậy. Nhưng ở đây, Đức Phật có chỉ dẫn chúng ta phải làm sao để được điều đó, đây là chỗ đặc biệt, sau đây là năm điều mà chúng ta cần phải thực hiện.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta được các đồng Phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và bắt chước". Tỷ-kheo ấy phải:
1. Thành tựu viên mãn giới luật.
2. Kiên trì nội tâm tịch tĩnh.
3. Không gián đoạn Thiền định.
4. Thành tựu quán hạnh.
5. Thích sống tại các trú xứ không tịnh. (Không tịnh tức là an tịnh, chữ “không” ở đây là trống trải, trống vắng chứ không phải không tịnh là không thanh tịnh. Câu này nghĩa là thích sống ở các trú xứ yên tịnh.) (Tăng Chi Bộ Kinh Tập 4, 10. Chương Mười Pháp, VIII. Phẩm Ước Nguyện, bài kinh Ước Nguyện)
Khi nhập thất trên rừng, lúc đọc bài kinh này Minh Thành vô cùng rúng động. Khi nghe đến câu “Kiên trì nội tâm tịch tịnh; Không giới đoạn Thiền định” thì Minh Thành đại ngộ vì trước nay mình hiểu không chính xác, không đầy đủ. Chúng ta thường quen với cái thông thường, nghĩ giờ thiền thì mới thiền, hết thiền là xả thiền là thoải mái, vừa xong thời pháp là trở lại con người phàm tục. Khi nghe pháp mọi người rất là im lặng, đó là im lặng của bậc Thánh nhưng vừa xong thời pháp là tập khí bung ra, thói quen bày hiện ra, thả lỏng các căn, cho nên cần phải “Không giới đoạn Thiền định”. “Thành tựu viên mãn giới luật” – một câu này thôi là khiếp lắm, đạt được như vậy là bậc Hiền Tăng rồi đó. Nếu trong thời Đức Phật đạt được viên mãn là bước vào hàng Thánh Tăng rồi, tại vì thời Đức Phật đại đa số ai cũng thành tựu Chánh tri kiến. “Kiên trì nội tâm tịch tĩnh”, kiên trì là giữ chặt, tức là giữ chặt sự lặng lẽ, yên tĩnh ở bên trong. Phải kiên trì nội tâm tịch tịnh, không gián đoạn thiền định. Thiền định mà Đức Phật dạy mình là không gián đoạn, chứ không phải dạy là có giờ thiền. Nhưng vì chúng ta lười biếng, buông lung, thả lỏng các căn cho nên phải có giờ bắt vào ngồi thiền, vậy mà nhiều người còn trốn không ngồi, hoặc lên ngồi mà không có thiền. Thiền mà đúng như Đức Phật dạy để thành tựu Thánh quả, bước trên Thánh đạo là không gián đoạn thiền định, luôn luôn thực hành Tứ Niệm Xứ, luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và sự vận hành của các pháp ở bên trong. “Thành tựu quán hạnh – Thích sống tại các trú xứ không tịnh”, tức là thành tựu quán hạnh những pháp quán và thích sống ở chỗ vắng lặng, vắng vẻ yên tịnh, còn sống ở những chỗ ồn ào, phố thị, cảnh sắc thì mình không thiền được vì âm thanh là gai nhọn của thiền định.
Ước nguyện thứ hai:
Phần trên là phần khái quát, phần tiếp theo Đức Thế Tôn nói từng chi tiết. Những ước nguyện trong bài kinh này tuyệt diệu lắm!
“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta được các vật dụng như y phục, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh”, những ước nguyện này là từ thấp nâng lên cao, ở đây Tỳ-khoe muốn được cúng dường những vật dụng như quần áo, thức ăn, thức uống, giường chõng, thuốc men... thì Tỷ-kheo cũng phải tu sao cho giới luật viên mãn, kiên trì nội tâm tịch tịnh, không gián đoạn nội tâm thiền tịnh, thành tựu quán hạnh và thích sống ở các trú xứ yên tịnh. Như vậy, muốn đạt được ước nguyện thứ hai, tức là có được những phương tiện sử dụng trong sinh hoạt đời sống thì phải tu tập năm pháp trên.
Ước nguyện thứ thứ ba:
Tiến thêm bước nữa, ước nguyện thứ ba: “Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta hưởng thọ các vật dụng như y áo, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh. Mong rằng hành động của những vị tạo ra các vật dụng ấy được quả báo lớn, được lợi ích lớn", Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng những bà con huyết thống với ta, khi họ chết và mệnh chung nghĩ (đến ta) với tâm hoan hỷ, (và nhờ vậy) được quả báo lớn, được lợi ích lớn". Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh”. Tức là ước nguyện những người cung kính cúng dường cho mình sẽ được quả báo lớn, lợi ích lớn; bà con huyết thống, cha mẹ, ông bà, cô bác, cậu mợ, chú dì của mình khi chết hoặc khi sắp chết họ sẽ nghĩ đến mình với một tâm hoan hỷ và nhờ đó nên họ được quả báo lớn, lợi ích lớn. Để được như vậy thì chúng ta cần phải tu tập năm pháp nói trên, tức là, dù ước điều gì thì mình cũng phải tu tập giới, định, tuệ và ở chỗ a lan nhã, nói gọn là vậy. Như vậy, nếu muốn cho những người đàn na tín thí có tín tâm cúng dường có phước báu, muốn cho ông bà, cha mẹ, cô bác, dòng họ, thân tộc, huyết thống nương nhờ nơi mình khi họ bệnh hoạn gần chết, hoặc sau khi họ chết họ chỉ cần nghĩ đến mình thôi họ sẽ hoan hỷ và nhờ phước báu đó mà được công đức lớn, lợi ích lớn thì mình phải tu tập tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thượng tuệ. Muốn thành tựu được ba điều này là phải ở chỗ thanh tịnh, bớt tiếp duyên xúc cảnh.
Ước nguyện thứ tư:
Ước nguyện biết đủ:
Bài kinh này ngày càng lý thú, thú vị. Tiến thêm bước nữa: “Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta biết đủ với bất cứ vật dụng gì như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”, nghĩa là mong sẽ biết đủ đối với mọi sinh hoạt ở trong đời sống thường nhật. Cũng vậy, muốn biết đủ thì cũng phải tu năm điều nói trên, tức là tu giới, định, tuệ, đây là cái gốc trong sự tu tập. Ngoài tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ, ở trú xứ yên tịnh, xa vắng ra thì tất cả những khác là cành nhánh thôi, có tu cái gốc thì mình mới có thể biết đủ đối với bất cứ vật dụng gì. Bài kinh này tuyệt vời sao là tuyệt vời, hay sao là hay, hạnh phúc sao là hạnh phúc, an lạc sao là an lạc, kỳ diệu sao là kỳ diệu!
Lợi ích khi tu tập sự biết đủ:
Một lần nọ, Minh Thành đi đến một ngôi chùa lớn để giảng pháp. Khi giảng xong rồi, Minh Thành ngồi chung với quý thầy, chờ dọn cơm lên. Sau đó có cô Phật tử bưng khay cơm để cho Phật tử ăn để vào chỗ Minh Thành. Thấy vậy quý thầy trong chùa mới la, Minh Thành nói: “Dạ cái này ăn tốt, gọn”. Quý Phật tử khi đó công quả cực khổ lắm, vì khóa tu đông người, nhưng chút xíu người ta dọn đồ ăn khác lên. Với một cái khay cơm như lúc đầu, nếu chúng ta có thực tập giới hạnh, biết đủ, tri túc thì mình vẫn thấy là nó đầy đủ, không có bực bội, không có sân hận, cũng không nghĩ rằng người ta xem thường mình dù người ta cho mình ăn cái khay của một Phật tử. Thay vào đó, nội tâm mình được bình an, bình an lạ lắm. Từ sự bình an đó, chúng ta truy nguyên nguồn gốc thì biết đó là nhờ mình có tu tập, quán chiếu về cái thức ăn, thường nghe Đức Phật dạy, cho nên mình có thực tập sự biết đủ ở trong mọi tình huống. Sự tu tập này hay lắm, kỳ diệu lắm! Nhiều bữa Minh Thành mặc bộ đồ ba ngày không thay, tại vì thay ra sợ sâu thành ra từ lúc Sài Gòn về không dám thay, nhưng mà nó vẫn thấy hạnh phúc.
Chúng ta học tu theo pháp này rồi thì từ từ mình sẽ xem thường những cái thông thường, không có đặt nặng, chúng ta sẽ thực tập điều này. Nhiều khi Minh Thành mấy huynh đệ bất thình lình đi đây đi đó, bất thình lình học pháp, bất thình lình gặp những hoàn cảnh khó đó… đó chính là những khóa rèn luyện, chỉ người nào tinh tường thì mới biết được, còn không là không biết. Đó là những khóa rèn luyện, là quân trường, là pháp trường. Pháp trường không phải ra xử đâu, mà đây là trường học của giáo pháp, thực tập pháp để đối diện với những chuyện bất thình lình.
Minh Thành kể lại câu chuyện về khóa tu trên rừng đầu tiên, lúc đó mấy huynh đệ đều lên rừng tu hết, tới chừng nấu cơm gạo lứt, định ăn với rong biển khô, nhưng khi cơm gần chín rồi thì mới nhớ là không có chén, không có muỗng, nếu phải đi xuống dưới chùa lấy rồi đi xuống trở lên rừng là hơn một tiếng đồng hồ, cho nên Minh Thành nói khỏi chén, khỏi muỗng, khỏi đũa gì hết. Thay vào Minh Thành kêu mọi người cắt lá chuối, xé lá chuối, rồi bỏ cơm lên lá chuối, rong biển khô lấy tay bốc ăn. Khóa tu đó nhớ mãi không bao giờ quên, như được trở về thời Đức Phật. Sau khóa tu, mấy huynh đệ rất ấn tượng kể về kỷ niệm đó, không quên được, cứ nhắc lại hoài, vui quá, ăn cơm bốc, không chén, không đũa, không muỗng, không tô, không tộ, lấy lá chuối bỏ cơm gạo lứt lên, rong biển khô đổ vào đó rồi lấy tay nhúm nhúm bốc ăn.
Cho nên khi chúng ta vận dụng được sự biết đủ thì thực sự tuyệt diệu vô cùng, tuyệt diệu lắm. Thứ nhất là tâm của mình sẽ ít có đòi hỏi, ít có ham muốn. Thứ hai là dù ở trong hoàn cảnh nào thì tâm mình cũng bình an, giữ được tăng thượng định học. Chúng ta giữ được tâm yên định trong mọi hoàn cảnh thì đó là mình đang thực hành thọ trị tăng thượng định học. Thứ ba là chúng ta không có quá bị lệ thuộc vào vật chất. Chẳng lẽ vì không chén, không đũa, không muỗng, không tô là mình không ăn được hay sao? Hồi xưa Đức Phật, các bậc Thánh Tăng, những vị tu khổ hạnh, đầu đà cũng không có chén, không có muỗng, nhưng các Ngài vẫn có thể ăn. Thành ra pháp này tuyệt diệu lắm, hay vô cùng hay, không thể nào nói hết cái hay, đây chỉ là lấy một phần tỷ cái hay để nói thôi.
Có những ví dụ nho nhỏ trong đời sống thú vị, thực tế lắm. Ví dụ như khi ở trên rừng hay ở dưới thất hiện tại cũng vậy, điều này không phải mới đây mà mấy chục năm rồi, luôn luôn lúc nào những cái thùng, cái thau trong nhà tắm Minh Thành cũng chứa đầy nước hết. Nếu bất thình lình ở đó cúp nước thì còn dùng được một ngày hoặc hai ngày, trong thời gian một ngày, hai ngày mình nhờ người đi sửa đó là nó dư sức, khi người ta sửa xong là nước của mình cũng vừa hết hoặc là cũng còn được chút nước. Còn nếu mình không có nước như vậy, mà ở trên rừng hay là trong thất không có giấy, ngay lúc hết nước mà mình đi đại tiểu tiện thì phải làm sao. Thành ra tuy thấy là chuyện nhỏ nhưng đó lại là chuyện lớn, bình thường thấy vô giá trị nhưng khi hữu sự là nó cứu mình. Cho nên, chúng ta đừng xem thường bạn bè huynh đệ xung quanh và những người Phật tử phụ giúp cho mình, vì khi hữu sự thì đó là những người cứu mình. Chúng ta cũng đừng xem thường những hành động, hay lời nói thô ác mà mình xúc phạm người khác hoặc như thế nào đó, đến khi hữu sự thì coi chừng quả báo rổ ra, nguy hiểm lắm. Thành ra có những điều hết sức nhỏ nhiệm nhưng rất nguy hiểm, cũng như trong cái đồng hồ, trong cái laptop, trong cái điện thoại, chỉ cần một bộ phận quan trọng nhỏ nhiệm bị trục trặc là sẽ hư hết, máy không chạy đươc.
Cũng như khi ăn, nếu biết vừa đủ, không tham vị thức ăn, không để cảm giác xâm chiếm thì mình ngồi thiền nhẹ nhàng, an tịnh lắm. Còn bữa nào mình cố ăn món ngon, vừa ý, dù no rồi nhưng ngon quá ráng làm thêm chén nữa đó thì nguyên bữa ngồi thiền như cực hình vậy, vì sẽ bị nặng nề, hôn trầm, rã rượi, mệt mỏi, thậm chí có khi phải uống thuốc tiêu, rất là khó chịu. Vì vậy, chúng ta phải tập sao cho dù ai cho ăn cái gì, mặc cái gì, ở chỗ nào thì mình cũng thấy được, thấy hài lòng. Phải biết trân trọng những điều đó, vì đây là cơ hội để mình rèn luyện, nhiếp phục được cái lòng tham, tẩy rửa những sự ô nhiễm ở trong nội tâm của mình.
Ví dụ sư phụ phát nón nhưng sư phụ lại phát cho mấy sư huynh nón nhập, tốt mà tới mình thì đưa nón xấu, vải cũ nữa, thế là mình phiền não lên. Như vậy là trật, không biết tu, không biết đủ, mà khi không có biết tu thì giới bị ảnh hưởng, định bị ảnh hưởng và tuệ bị ảnh hưởng. Chúng ta biết đủ được là nhờ có tu tập giới, tu tập định, tu tập tuệ. Còn khi nội tâm mình phiền, bực lên vì cái nón cũ đó thì ngồi thiền tâm có yên không? Hay bên trong ý hành vận hành trong suốt buổi ngồi thiền:“Cho ai cũng đồ tốt cho mình con đồ xấu. Mà con là người làm công việc, công quả nhiều nhất ở đây”. Thậm chí hai, ba bữa sau vẫn còn buồn, nhìn thấy người ta đội cái nón đẹp là buồn. Như vậy là đâu có tăng thượng tâm học, định học đâu không thành tựu. Hỏi ra thì phiền não chỉ vì cái nón thôi, chẳng lẽ đi tu vì món đồ đó hay sao? Mình bỏ cha bỏ mẹ được mà vì món đồ đó mà tâm mình động hay sao? Khi quán chiếu được như vậy thì hay lắm, sự biết đủ này tẩy hết sự dao động, ganh tỵ, đố kỵ, hối tiếc trong tâm.
Đó chỉ là lấy một ví dụ thôi, chứ tồn tại muôn ngàn thứ. Vì chỗ ngồi mà tâm cũng động, đứng trước đứng sau tâm cũng động, hoặc người ta kêu cái tên mà nghe giọng không cung kính, không tôn trọng thì cũng giận, tâm cũng động. Đó là do không tu tập định học, không tăng thượng định học, không chú trọng giữ tâm kiên trì tịch tĩnh, cho nên gặp chuyện gì mình cũng dao động, cũng phiền não được hết. Cái gì cũng ganh tỵ, đố kỵ, tật đố được hết thì người đó đâu có tăng thượng định học, họ không thấy điều đó là quan trọng, không ưa muốn điều đó, không có mục đích về điều đó. Còn người kiên trì nội tâm tịch tịnh là khi thấy nội tâm dao động một cách phi lý, vô lý, không có ý nghĩa là họ dẹp bỏ, từ bỏ, chấm dứt, làm cho nó an tịnh liền. Vì vậy, chúng ta cần phải tu tập, huấn luyện, dò xét nội tâm của mình, phải tăng thượng tâm mình trong giới, trong định, trong tuệ, phải làm cho nó lớn mạnh, phát triển ở trong đó. Còn không là tối ngày dao động, phiền não, bực bội, bất mãn hoài. Từ cái ăn, cái mặc, cái ở, cái ngủ, cái nói, cái làm… cái gì cũng làm cho tâm mình động loạn. Điều này sẽ làm cho nội tâm của mình tổn thương trầm trọng, gọi là bệnh trầm kha, một cái nội tâm bị bệnh truyền nhiễm. Tâm bị truyền nhiễm thì đi tới đâu nó cũng truyền nhiễm những chất độc của nó ra, làm cho tất cả người khác bất an, bất ổn. Đi đâu cũng nói thị phi, đi đâu cũng nói phải quấy, đi đâu cũng nói tốt xấu, nó mở rộng ra nó kinh khiếp như vậy. Đó là cái tâm rất là bệnh hoạn, tất cả là tại vì không biết tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thượng tuệ, cho nên nếu không gặp người khác thì thôi, còn gặp là bung ra toàn là rác bẩn.
Như vậy, phải tu tập giới, tu tập định, tu tập tuệ thì mới thành tựu được biết đủ, nếu không tu tập điều này thì sự biết đủ chỉ là hình thức ở bên ngoài, chỉ là sự kìm chế, kìm nén, chứ nó không được dẫn đạo bằng Chánh tri kiến, Thánh tri kiến, không thành tựu quán hạnh.
Ước nguyện thứ năm:
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta kham nhẫn với lạnh, nóng, đói khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, của loài bò sát, kham nhẫn những cách nói mạ ly phỉ báng, kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người", Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh.
Chúng ta muốn được kham nhẫn thì cũng phải tu tập giới, định, tuệ. Kham nhẫn nghĩa là chịu khó, chịu đựng, nhẫn nại. Nhẫn nại với nóng, lạnh, đói, khát; nhẫn nại với sự xúc chạm của ruồi, muỗi, sâu bọ, rắn rết, các loài bò sát; nhẫn nại với thời tiết. Trên Linh Quy thì gió lạnh, còn dưới Sài Gòn thì nắng nóng, cho nên chỗ nào cũng có cái khó, chỗ nào cũng phải kham nhẫn, chỗ nào cũng phải nhẫn lại hết, không có chỗ nào mà không cần phải nhẫn lại. Thường thường suy nghĩ của chúng ta phiến diện, cục bộ, thiên lệch lắm. Ví dụ, mình nghĩ chỗ ở hiện tại mệt quá, nếu đi chỗ khác thì sẽ khỏe hơn, chẳng hạn bây giờ ở Đà Lạt lạnh quá nên mình dời về thành phố, nhưng ở thành phố thì mình lại bị nóng, cho nên chỗ nào cũng có cái khó của chỗ đó. Vì vậy, chúng ta không nên mong người khác sẽ trải thảm đỏ đón chân mình, điều quan trọng là phải có đôi giày cho tốt thì mình có thể đi khắp năm châu bốn biển mà không bị đạp gai góc, đạp đá nhọn.
Cho nên sự chịu đựng, sự nhẫn lại hết sức là hay, giống như ước muốn biết đủ vậy, nhưng sự nhẫn lại này nó mạnh hơn, thuộc dạng tích cực hơn, vì sự biết đủ là dạng thụ động, gặp trường hợp đó thì mình phải chịu, còn sự kham nhẫn này rèn luyện cho tâm mình hướng về phương diện tích cực. Ví dụ bây giờ ngồi thiền, nếu không có sự kham nhẫn, nhẫn lại thì mình ngồi nổi không, nhất là ở Linh Quy một ngày ngồi bốn, năm thời, nghe pháp cũng vậy. Đối với sự tu học nếu không có sự nhẫn lại, không có sự chịu khó, không có sự kham nhẫn thì sao mình cố gắng để tăng thượng, tiến lên được. Giống như hôm nay, chiều chiều xuống Minh Thành phải ngồi đọc kinh ở trong mùng vì nhiều muỗi quá, chúng ta cũng phải kham nhẫn với ruồi, muỗi nữa. Chúng ta ở thành phố mấy chục quen rồi, lên núi tu học thì mình ở không nổi, không chịu kham nhẫn, muốn về Sài Gòn ở, như vậy thì sao tu được. Hay trên núi gió quá, lạnh quá, khó chịu quá, ở không được, muốn đi về Đồng Tháp, như vậy là không có kham nhẫn, mà không có kham nhẫn thì mình không làm gì được. Chúng ta phải kham nhẫn, nhẫn lại, chịu đựng, chịu khó rèn luyện, chịu khó huấn luyện, chịu khó tu luyện, tập luyện, khổ luyện thì mới thành công. Cho nên Minh thành có cho coi sự khổ luyện của lính đặc nhiệm, của binh sĩ quân đội, họ khổ luyện kinh khiếp lắm. Những nhà võ học, võ thuật cũng luyện dữ lắm. Như thầy Tâm Tịnh ở bên Sydney, khi qua bên đó, thầy vừa đi học vừa đi làm, ngày ngủ có ba, bốn tiếng, ngày nào cũng vậy trong suốt mấy chục năm bên Úc, bây giờ Ngài là tiến sỹ toán học bên đó. Thành ra người càng chịu khó, nhẫn lại, kham nhẫn thì người đó càng thành công. Còn người thấy khó một chút đã muốn bỏ, khó một chút đã chịu không được thì người đó không có làm được cái gì.
Tiếp đến là chúng ta phải kham nhẫn trước những cách nói mạ ly phỉ báng. Chẳng hạn khi mình bị sư huynh, sư phụ hoặc những bậc trưởng thượng nhắc nhở, chỉ dạy, huấn luyện, dạy dỗ nếu không có nhẫn nại, không chịu tiếp nhận, không chịu lắng nghe, mà mình lại Phi Như Lý Tác Ý, nghĩ sai, nghĩ trật theo chiều hướng phàm tình thì chúng ta sẽ không tiếp nhận được Thánh Pháp, không tiếp nhận được những giá trị cao quý trong đời sống tâm linh để giúp cho mình đi đến chỗ hướng thượng, tăng thượng ở trong Pháp và Luật của Như Lai. Ngay cả thầy, huynh đệ ở gần nhắc nhở mà mình còn chịu không được thì khi bị những người ở ngoài, những người cư sĩ nói nặng, chưởi mắng thì mình làm sao chịu nổi, mà đây mới là về lời nói thôi.
Còn về thân là kham nhẫn trước những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. Đây là nói đến lúc chết, lúc chuẩn bị lâm chung, hoặc là gặp tai nạn, khi đó là không thể nào mình chịu đựng nổi nếu bình thường chúng ta không thực tập sự kham nhẫn này. Khốc liệt, thống khổ, đau nhói, nhức nhối, chết điếng người là đang nói về thọ đó, nếu muốn nhiếp phục được hết những điều này chúng ta phải tu giới, định, tuệ, tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học, phải ở chỗ yên tịnh xa vắng. Bởi vì bình thường nhờ có sự thực tập thiền định thì tâm chúng ta mới được huấn luyện, như vậy thì tâm sẽ vững chắc, kiên trú, ít bị ngoại cảnh tác động nhiều, hoặc khi bị tác động cũng không chao đảo nhiều như những người mà tâm không có sự tu tập. Có những cảm thọ là hết sức bình thường như một lời nói, hay sự nóng, lạnh một chút thôi mà còn chịu không được thì khi bị chửi mắng làm sao mà mình chịu được. Hoặc tới lúc tai nạn xảy ra, chúng ta nhức nhối, đau đớn, khốc liệt, chết điếng người thì làm sao mà chịu được. Cho nên lúc nào cũng vậy, khi những hoàn cảnh khó khăn xảy đến thì chúng ta hãy coi đó là cơ hội kham nhẫn, cơ hội nhẫn nại, cơ hội rèn luyện cho mình. Nếu xem những lúc khó khăn là cơ hội cho mình thì chúng ta sẽ thấy hay lắm, rất là thú vị. Còn nếu chúng ta tác ý ngược lại, cảm thấy bực bội, tức tối, phiền não, sân hận trước những chuyện trái ý thì không những khổ thân mà còn khổ thêm tâm nữa, cứ vậy mà nó nhân lên thì tâm mình như hỏa ngục, lò lửa, nó thiêu đốt mình và làm cho mình khổ thêm.
Bí mật pháp môn:
Những bài kinh này Minh Thành nghe cũng phải vài chục lần. Mỗi lần nghe lại là mỗi lần thấy hay. Cho nên học kinh, nghe pháp là điều hết sức quan trọng. Dù nghe một ngàn lần cũng không được có ý niệm chán, không được có cảm giác nhàm chán. Ví dụ bài kinh Tứ Niệm Xứ, dù chúng ta tụng một ngàn lần, ba ngàn lần thì vẫn phải cung kính, đảnh lễ và coi đó là vô thượng pháp, như vậy thì lúc đó mới có thể Nhập Lưu, điều này hết sức quan trọng. Ví dụ hôm trước nghe giảng bài kinh về bất tịnh rồi, hôm nay cũng giảng bất tịnh nữa, nhưng dù mười lần, một trăm lần nghe giảng về bất tịnh thì vẫn nghe một cách cung kính với một nội tâm hoàn toàn không có một sự chán ngán, nhàm chán nào thì người đó mới có thể thâm nhập được Chánh Pháp. Tại vì đây là pháp của Chánh Đẳng Chánh giác, mà tại sao mình chán, nếu chán như vậy là mình vĩnh viễn không vào được chánh giác. Tại vì A-la-hán vẫn còn ngồi quán về sự nhàm chán của ngũ uẩn.
Trong bài kinh “Vị Giữ Giới” có nói, một vị Tỳ-kheo giữ giới là vị quán ngũ uẩn này là ung nhọt, là mũi tên, là đau khổ, là chỗ đáng từ bỏ. Một vị thành tựu thiền định, hướng dự lưu cũng quán năm uẩn này là ung nhọt, là mũi tên, là đau khổ, là chỗ đáng từ bỏ. Những vị thành tựu Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả, A-la-hán cũng tu y như vậy. Chứng A-la-hán rồi thì các vị đó cũng tác ý như vậy để các vị được hiện tại lạc trú, các Ngài không dụng công nữa nhưng khi nghe, nghĩ về các điều đó là các Ngài vui. Đây chính là bí mật pháp môn! Chúng ta nghe pháp một ngàn lần cũng không được có cảm giác nhàm chán. Không được để cho bất cứ một cảm giác nhàm chán nào tồn tại bên trong nội tâm. Không được để cho ý hành “cái này nghe rồi, học rồi” tồn tại ở trong tâm của mình. Không được để cho cảm giác nhàm chán sanh khởi mà phải từ bỏ nó, đánh đuổi nó ra. Đây là công phu đắc lực ở bên trong, tuy khó nhưng chúng ta phải làm được./.