Tại Sao Đức Phật Được Đệ Tử Tôn Kính - Trung Bộ II Bài 77 Kinh MAHA SACULUDAYI
Kinh Nikāya Giảng Giải
TẠI SAO ĐỨC PHẬT ĐƯỢC ĐỆ TỬ TÔN KÍNH?
TRUNG BỘ II BÀI 77 KINH MAHA SAKULUDAYI
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự tôn kính đối với Thế Tôn PAGEREF _Toc80437447 \h 1
1. Hội chúng nhiễm ô PAGEREF _Toc80437448 \h 2
2. Hội chúng thanh tịnh PAGEREF _Toc80437449 \h 5
II.Udayi nói lí do đệ tử tôn kính Thế Tôn và câu trả lời của Thế Tôn PAGEREF _Toc80437450 \h 7
III.Thế Tôn nói năm pháp làm cho đệ tử tôn kính PAGEREF _Toc80437451 \h 12
1.Giới hạnh tăng thượng PAGEREF _Toc80437452 \h 12
2.Tri kiến vi diệu PAGEREF _Toc80437453 \h 15
3.Trí tuệ tăng thượng PAGEREF _Toc80437454 \h 16
4. Tứ Diệu Đế PAGEREF _Toc80437455 \h 17
5. Con đường hành trì PAGEREF _Toc80437456 \h 17
Sự tôn kính đối với Thế Tôn
Chúng ta đã bước vào mùa an cư kiết hạ, trong thời điểm này chúng ta tinh cần, tinh tấn nghe pháp và ngồi thiền nhiều hơn bình thường. Hơn nữa hiện tại tình hình dịch bệnh đang khó khăn, mọi người sống trong sự lo lắng đau khổ, vì vậy chúng ta một mặt là tu học cho chính mình, một mặt là đem lời dạy của Đức Phật lan tỏa, truyền bá để giúp cho các Phật tử. Nhờ đó, mọi người được vững tâm trú vào trong pháp để bớt lo lắng, sợ hãi cũng như có cơ hội thể nhập sâu sắc vào Chánh Pháp. Cho nên từ nay trở đi chúng ta sẽ học nhiều hơn bình thường. Chúng ta sẽ học các bài kinh rất đặc biệt, sau đó có thể sẽ học các chuyên đề, có rất nhiều giáo pháp thâm sâu kì diệu trong tạng kinh mà chúng ta cần nghe, cần chiêm nghiệm để thành tựu trí huệ.
Hôm nay, chúng ta học bài kinh số 77 Sakuludàyi trong Trung Bộ Kinh, tập II, học bài kinh này chúng ta sẽ biết tại sao Đức Phật được đệ tử tôn kính.
"Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
Lúc bấy giờ, có rất nhiều vị du sĩ, có thời danh, có danh tiếng trú ở Moranivapa (Khổng Tước Lâm), tu viện các du sĩ, như Anugara, Varadhara, và du sĩ Sakuludayi cùng với các vị du sĩ thời danh, danh tiếng khác.
Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Rajagaha để khất thực. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: 'Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Rajagaha. Ta hãy đến Moranivapa, tu viện các du sĩ, đi đến gặp du sĩ Sakuludayi'. Rồi Thế Tôn đi đến Moranivapa, tu viện các du sĩ.
Lúc bấy giờ du sĩ Sakuludayi đang ngồi cùng với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng, bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như vương luận, tặc luận, đại thần luận, binh luận, bố úy luận, chiến đấu luận, thực luận, ẩm luận, y luận, sàng luận, hoa man luận, hương liệu luận, thân tộc luận, xa thừa luận, thôn luận, trấn luận, thị luận, quốc độ luận, phụ nữ luận, anh hùng luận, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, tạp thoại luận, thế giới luận, hải dương luận, hiện hữu, vô hiện hữu luận. Du sĩ Sakuludayi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình:
-- Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay Sa-môn Gotama đang đến, vị Tôn giả ấy ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh, nếu biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây. (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Du sĩ là những người tu hành đi khắp nơi khắp chốn, đi vân du đó đây thì gọi là du sĩ. Chúng ta đọc những bản kinh này thấy giống như lúc Đức Phật còn tại thế đang tái hiện lại trước mắt chúng ta. Cả thời đại lúc đó người nào cũng biết đại chúng của Thế Tôn cùng với Thế Tôn thích an tịnh, thích yên lặng. Mọi người đang xôn xao bàn tán mà thấy Thế Tôn đến là tự bảo nhau im lặng. Chúng ta phải dùng thọ; tưởng; hành để học kinh chứ đừng đọc phớt qua lời kinh, đọc đến đâu những hình ảnh trong từng lời kinh hiện ra đến đó giống như chúng ta đang thân lâm kỳ cảnh, tức là đích thân mình chứng kiến cảnh đó đang hiện ra ngay trước mắt. Những ngày trong thất Minh Thành đọc kinh thấy rất kì thú, sung sướng, an lạc vì giống như tái hiện lại cho mình thấy Đức Thế Tôn đang đi đến hội chúng đó.
"Các du sĩ ấy đều im lặng. Rồi Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludayi. Du sĩ Sakuludayi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến! Bạch Thế Tôn, thiện lai, Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Thế Tôn hãy ngồi! Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sakuludayi lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludayi đang ngồi một bên:
-- Này Udayi, nay các vị họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn?
1. Hội chúng nhiễm ô
-- Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên vấn đề chúng tôi đang hội họp bàn luận. Về sau Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì! Bạch Thế Tôn, trong những ngày trước, nhiều ngày trước nữa, khi các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều ngoại đạo sai khác, ngồi lại và tập họp tại luận nghị đường, đối thoại này được khởi lên: 'Thật lợi ích thay cho dân chúng Anga và Magadha, thật tốt đẹp thay cho dân chúng Anga và Magadha khi được những vị Sa-môn, Bà-la-môn nay là những vị lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, những vị sư trưởng đồ chúng, những vị thời danh, những Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa! Ngài Purana Kassapa (Bất-lan Ca-diếp) này là bậc lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Ngài Makkhali Gosala này... Ngài Ajita Kesakambali... Ngài Pakudha Kaccayana... Ngài Saniaya Belatthiputta... Ngài Nigantha Nataputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị này đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Sa-môn Gotama này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị này đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Trong những bậc Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này, những bậc lãnh đạo hội chúng, những bậc lãnh đạo đồ chúng, những bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, những bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị nào được các đệ tử cung kính tôn trọng, kính lễ, cúng dường? Và các đệ tử sau khi cung kính tôn trọng đã sống nương tựa như thế nào?' (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Sakuludayi và Udayi đều chỉ chung một người. Chúng ta cũng đang an cư giống như họ, chúng ta phải làm sao để đem lại phúc lạc, phước báo cho vùng đất này giống họ, mỗi ngày chúng ta trải tâm từ, trải tình thương, lòng bi mẫn, từ bi hỷ xả là chúng ta đem lại an lạc, hạnh phúc cho vùng đất này. Ông du sĩ này thuật lại cho Đức Phật nghe mấy ngày hôm trước có các vị tu sĩ hội họp với nhau nêu lên vấn đề có nhiều vị nổi tiếng, tổ sư, sư trưởng, những bậc lãnh đạo đang an cư tại vùng đất này, trong đó có Sa-môn Gotama cũng đang ở đây thì trong những vị nêu trên ai là người được quần chúng tôn sùng, kính lễ, cúng dường nhiều nhất.
"Ở đây, có một số người đã nói như sau: 'Vị Purana Kassapa này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị ấy không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử, sau khi cung kính tôn trọng đã không sống nương tựa Purana Kassapa. Thuở xưa, Purana Kassapa thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người; ở đấy, một đệ tử của Purana Kassapa nói lớn tiếng như sau: 'Chư Tôn giả, chớ có hỏi Purana Kassapa về ý nghĩa này. Vị ấy không biết ý nghĩa này, chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Chúng tôi sẽ trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn giả'. Thuở xưa, Purana Kassapa dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe theo: 'Chư tôn giả, hãy nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy không hỏi Chư Tôn giả. Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho những vị ấy'. Nhiều đệ tử của Purana Kassapa, sau khi kích bác Purana Kassapa, bỏ đi và nói: 'Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và luật này. Làm sao Ông có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta theo chánh hạnh. Ðiều ta nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Chủ trương của Ông đã bị lật ngược, câu hỏi của Ông đã bị bài bác. Ông đã bị thuyết bại. Hãy đến giải vây lời nói ấy, nếu có thể được, gắng thoát khỏi lối bí'. Như vậy, Purana Kassapa không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và sau khi không cung kính tôn trọng, các đệ tử đã không sống nương tựa Purana Kassapa. Trái lại, Purana Kassapa đã bị mạ lị với những lời mắng nhiếc vì hành động của mình. (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Nghĩa là Purana Kassapa đang giảng pháp nhưng đệ tử của ông đang ngồi dưới lớn tiếng nói vấn đề đó đừng hỏi Purana Kassapa mà hãy hỏi ở đây. Ông thầy này khóc lóc, năn nỉ mọi người hãy im lặng, những người kia không hỏi các người mà họ hỏi tôi nên hãy để tôi trả lời. Các đệ tử phản bác nói rằng việc giảng pháp của ông thầy đã thất bại nên không được các đệ tử tôn trọng, cung kính. Các vị thầy khác cũng giống vị thầy này.
"Có một số người đã nói như sau: 'Vị Makkhali Gosala này... Vị Ajita Kesakambali... Vị Pukudha Kaccayana... Vị Sanjaya Belatthiputta... Vị Nigantha Nataputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng. Vị ấy không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử sau khi cung kính, tôn trọng đã không sống nương tựa Nigantha Nataputta. Thuở xưa, Nigantha Nataputta thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Nigantha Nataputta lớn tiếng nói như sau: 'Chư Tôn giả, chớ có hỏi Nigantha Nataputta về ý nghĩa này. Vị ấy không biết ý nghĩa này. Chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Chúng tôi trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn giả'. Thuở xưa Nigantha Nataputta dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe theo: 'Chư Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy không hỏi chư Tôn giả. Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho những vị ấy'. Nhiều đệ tử của Nigantha Nataputta, sau khi kích bác Nigantha Nataputta, bỏ đi và nói: 'Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và luật này. Làm sao Ông có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta theo chánh hạnh. Ðiều ta nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng. Ðiều đáng nói trước Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Chủ trương của Ông đã bị lật ngược. Câu nói của Ông đã bị bài bác. Ông đã bị thất bại. Hãy đến giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát khỏi lối bí'. Như vậy, Nigantha Nataputta không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và sau khi không cung kính tôn trọng, các đệ tử đã không sống nương tựa Nigantha Nataputta. Trái lại Nigantha Nataputta đã bị mạ lị với những lời mắng nhiếc vì hành động của mình". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
2. Hội chúng thanh tịnh
Đọc những lời kinh này chúng ta mới hiểu tại sao trong Tăng Chi Bộ lại ghi hội chúng tinh ba và hội chúng cặn bã. Ở trên chính là hội chúng cặn bã, thầy không ra thầy, trò không ra trò, không có thứ tự trên dưới gì cả. Sau đó vị du sĩ này trình bày cho Đức Thế Tôn:
"Có một số người nói như sau: 'Sa-môn Gotama này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng. Và vị này được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử sau khi cung kính tôn trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama. Thuở xưa, Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Sa-môn Gotama ho (thành tiếng). Một vị đồng Phạm hạnh dùng đầu gối đập (nhẹ) vào người ấy và nói: 'Tôn giả hãy lặng tiếng! Tôn giả chớ có làm ồn! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đang thuyết pháp'. (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Chỉ có học cái này chúng ta mới biết thế nào là hội chúng tinh ba, hội chúng cặn bã; thế nào là hội chúng hạ liệt, hội chúng thù thắng; thế nào là hội chúng trang nghiêm thanh tịnh, thế nào là hội chúng ô nhiễm, cấu uế.
"Trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng; nghĩ rằng: 'Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta đã được nghe'. Ví như có người tại ngã tư đường, đang bóp vắt một bánh mật ong nhỏ trong sạch, và đại chúng đang sống nhiệt tình kỳ vọng. Cũng vậy, trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng nghĩ rằng: 'Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta sẽ được nghe'. (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Những người vắt được mật ong thơm ngon sẽ thích thú, hoan hỉ, phấn khởi nên họ làm nhiệt tình. Lời pháp của Đức Phật ngọt ngào, thấm thía, bổ dưỡng giống như mật ong cho nên đệ tử rất kì vọng được nghe pháp Thế Tôn. Mình học kinh, học pháp có được pháp hỷ, pháp lạc còn hơn mật ong, mỗi câu, mỗi chữ, mỗi lời trong kinh vô cùng thấm thía. Mình nghe pháp phải có tâm thái như vậy thì tu mới tiến, còn tu một thời gian lại ngán pháp thì sự tu học của mình không tiến bộ.
"Các đệ tử của Sa-môn Gotama sau khi cãi lộn với các vị đồng Phạm hạnh từ bỏ tu học, trở lại hoàn tục, các vị ấy vẫn tán thán bậc Ðạo sư, tán thán Pháp, tán thán Tăng, tự quở trách mình, không quở trách người khác: 'Chính chúng ta thật bất hạnh, chính chúng ta thật thiếu phước, dầu chúng ta xuất gia trong Pháp và Luật được khéo giảng như vậy mà không thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh cho đến trọn đời'. Họ trở thành những người giữ vườn, hay những người cư sĩ và sống thọ trì năm giới'. Như vậy Sa-môn Gotama được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và các đệ tử sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Dù cho những người này có cự cãi bất hòa trong Tăng chúng hay họ không giữ được giới luật nên họ hoàn tục nhưng họ vẫn tán thán, khen ngợi Thế Tôn, Chánh Pháp, chúng Tăng và họ tự quở trách bản thân chứ không quở trách người khác. Đây là lỗi của tự mình chứ không phải lỗi của thầy, của pháp, của Tăng, có những người ra đời rồi trở lại làm công việc phụ giúp cho chùa ngay trong hiện tại chứ đừng nói gì thời Đức Phật, có những vị làm cư sĩ hộ pháp chư Phật giữ gìn năm giới. Trên đây là lời nói của ngoại đạo chứ nãy giờ Đức Phật vẫn chưa nói gì cả, tức là người bên ngoài nhìn nhận về Đức Phật, Phật giáo và Tăng đoàn thời đó.
Udayi nói lí do đệ tử tôn kính Thế Tôn và câu trả lời của Thế Tôn
Sau đây Đức Phật mới hỏi bản thân Udayi thấy nơi Đức Phật có những điều gì, những đức hạnh, thành tựu gì mà Ngài được đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường và nương tựa vào Ngài tu học?
"-- Này Udayi, Ông thấy nơi ta có bao nhiêu pháp mà do các pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính tôn trọng, sống nương tựa vào Ta?
-- Bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn có năm pháp mà do năm pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn. Thế nào là năm?
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ nhất, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn là pháp thứ hai con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ ba, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ tư, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Chính pháp này bạch Thế Tôn, là pháp thứ năm, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Chính năm pháp này, bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn. Do năm pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng sống nương tựa vào Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Thứ nhất là ăn ít, thứ hai là biết đủ với y phục, thứ ba là biết đủ thức ăn, thứ tư là biết đủ với gường chõng, thứ năm là sống đời sống viễn ly. Mình cần nhìn lại trong năm điều này mình làm được mấy điều? Nhìn lại bản thấy thấy rất hổ thẹn, ưu não và ghê sợ, đó cũng là đạo lộ của bậc hữu học, nếu tu theo dòng pháp này mà không có những điều trên thì chúng ta vẫn chỉ đứng ngoài cửa chùa. Phải thấy lo lắng, hổ thẹn, cảm thấy ghê sợ đối với các lậu hoặc, phiền não của mình.
Thế Tôn biết đủ đối với cơm ăn, áo mặc và chỗ ở, những cái này nói về tiện nghi vật chất, những nhu yếu phẩm của cuộc sống sinh hoạt. Ngài không đặt nặng vào vấn đề này mà rất đơn giản trong các vấn đề ăn, mặc, ở và cái hạnh sống nơi xa vắng, Ngài sống viễn ly, hoan hỉ với những thứ đó và Ngài khen ngợi, tán thán với những thứ đó. Ở đây chỉ mới là người đạo khác nhìn vào Đức Phật, sau đây đến Đức Phật phân tích để chúng ta thấy được trí tuệ và đức hạnh của Ngài đã vượt sức tưởng tượng của phàm phu. Nếu mình được người ta khen sẽ thấy hoan hỉ, hài lòng nhưng Đức Phật không dừng lại ở đó.
"'Sa-môn Gotama ăn ít và tán thán hạnh ăn ít'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta chỉ ăn với một bát (kosa), chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây veluva, chỉ ăn với nửa trái cây veluva, và này Udayi. Còn Ta, có khi Ta ăn hơn một bình bát này, có khi Ta ăn nhiều hơn như vậy nữa. 'Sa-môn Gotama ăn ít và tán thán hạnh ăn ít'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi tôn trọng, cung kính, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, những đệ tử ấy của Ta, sống nương tựa vào Ta chỉ ăn với một bát, chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây veluva, chỉ ăn với nửa trái cây veluva; những vị ấy vì pháp hạnh này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không tôn trọng, cung kính, không sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Nếu Udayi căn cứ vào chuyện ăn mà nói Đức Phật được tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thì có những người bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết tất cả đi theo Đức Phật còn ăn ít hơn Ngài, thậm chí chỉ ăn trái cây hoặc chỉ ăn một nửa trái cây đó, còn Ngài có khi ăn hơn nửa bình bát thì đáng lẽ những vị đệ tử đó sẽ không tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường mới đúng chứ? Đức Phật vào hoàng cung của vua Ba-tư-nặc và hoàng hậu được nhà vua thiết đãi yến tiệc, sơn hào hải vị thì Ngài phải ăn hơn một bát, như vậy làm sao người ăn ít tôn trọng, cung kính, đảnh lễ Ngài được?
"'Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống mặc phấn tảo y, mặc thô y. Những vị ấy lượm từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từng đống rác, hay từ tiệm phố, và sau khi làm thành áo sanghati (tăng-già-lê), họ mang loại áo ấy. Còn Ta, này Udayi, có khi Ta mặc vải y của cư sĩ cúng dường, các chỗ sờn mỏng được bện chắc lại với dây tơ cây bí trắng. 'Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi tôn trọng, cung kính, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, những vị đệ tử ấy của Ta, sống mặc phấn tảo y, mặc thô y. Những vị ấy lượm từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từ đống rác, hay từ tiệm phố, và sau khi làm thành áo sanghati, họ mang loại áo ấy; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Y phấn tảo là những tấm vải bị vứt bỏ, xấu xí. Cô của Minh Thành là thợ may nên có rất nhiều vải vụn, bà nội Minh Thành lấy những miếng vải vụn khâu lại với nhau tạo thành tấm mền và bà may ra rất nhiều tấm mền như vậy. Năm 1997 Minh Thành nhập hạ tại chùa Xá Lợi Quận 3, có một thầy trong chúng gọi là thầy Bá-nạp, nghĩa là quần áo của thầy được may từ rất nhiều loại vải vụn với nhau và y phấn tảo cũng giống như vậy, ngày xưa tu rất khổ phải lấy những miếng vải vụn bỏ đi hoặc lấy những miếng vải trong nghĩa địa quấn thây chết để mặc chứ không được cúng dường vải đẹp như bây giờ. Những đệ tử của Đức Phật có người mặc những tấm y như vậy còn Đức Phật có khi mặc y được cư sĩ cúng dường thậm chí là những cái áo của vua chúa, quan lại, như vậy những người đệ tử mặc những tấm y cũ rách làm sao có thể tôn trọng, cung kính, cúng dường, đảnh lễ Thế Tôn được?
"'Sa-môn Gotama sống biết đủ và bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào'; nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống dưới gốc cây, sống ở ngoài trời. Những vị ấy trong tám tháng không sống dưới mái che nào. Còn ta, này Udayi, có đôi khi Ta sống dưới những ngôi lầu có gác nhọn, có tô vôi trong và ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín. 'Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào' và nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, các vị đệ tử ấy của Ta, sống dưới gốc cây, sống ở ngoài trời, trong tám tháng không sống dưới mái che nào; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Những người đệ tử Đức Phật sống ngoài trời suốt tám tháng không có mái che nào cả, ngủ ngoài gốc cây bị nắng táp mưa sa. Thời tiết ở Ấn Độ rất khắc nghiệt, nóng khủng khiếp, các thầy ở Việt Nam qua học có khi muốn bỏ về vì quá nóng, thời tiết lên 50 độ, lạnh cũng khủng khiếp vậy mà các vị này suốt tám tháng không có mái che trên đầu còn Đức Phật " sống dưới những ngôi lầu có gác nhọn, có tô vôi trong và ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín", nếu căn cứ vào chỗ ở thì Ngài đã thua các vị đệ tử đó rồi.
"'Sa-môn Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào trong rừng núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy, và nửa tháng một lần mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn. Còn Ta, này Udayi, đôi khi ta sống đoanh vây xung quanh bởi các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Cư sĩ nam, Cư sĩ nữ, Quốc vương, Ðại thần, Ngoại đạo, đệ tử các ngoại đạo. 'Sa-môn Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly'; và nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, các vị đệ tử ấy của Ta, sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào trong núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy và nửa tháng một lần, mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn; những vị đệ tử ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Nếu căn cứ vào hạnh viễn ly thì Ngài không đáng được các vị đệ tử tôn kính, cúng dường, đảnh lễ, tôn trọng và nương tựa vào tu học.
Thế Tôn nói năm pháp làm cho đệ tử tôn kính
"Này Udayi, lại có năm pháp khác, do năm pháp này, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta. Thế nào là năm?
Giới hạnh tăng thượng
Ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới: 'Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng'. Này Udayi, chính đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới, nghĩ rằng: 'Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng', đây là pháp thứ nhất, này Udayi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính , tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
Đệ tử của Đức Phật thán phục Ngài tăng thượng giới, là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng, đây là pháp thứ nhất. Chữ "giới uẩn tối thượng" thật sự rất sâu sắc chứ không đơn giản như mình nghĩ. Ngược lại quá khứ khi Ngài còn tu tập thì trong sự tu học này không hài lòng, thỏa mãn, không chấp nhận những sự cấu nhiễm, uế nhiễm, ô nhiễm còn tồn đọng trong người dù cho nó rất nhỏ, rất vi tế, phải luôn có sự khao khát hướng đến đời sống thanh tịnh phạm hạnh và trong nội tâm có một động lực, sức mạnh, thôi thúc làm cho phải tiến lên, hoàn thiện viên mãn cho đến cùng tột, đó là tăng thượng giới học. Chúng ta không được thỏa mãn, tự mãn, hài lòng với sự tu học ngay trong hiện tại dù cho mình có đến Thánh quả thứ ba, vì khi chấp nhận là mình sẽ bị đứng lại tại chỗ, không thể tiến lên được nữa.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Những điều này là cả một công trình tu học chứ không phải đơn giản, vì tâm của con người là cái tâm rất dễ tự mãn, rất dễ hài lòng. Vì vậy, mình phải có cái tâm không biết đủ với thiện pháp thì mới đi đến đoạn tận các lậu hoặc. Cho nên việc tăng thượng giới học là quan trọng vô cùng.
Chữ "uẩn" là cả một tổ hợp, cả một sự tập hợp, tất cả những gì từ suy nghĩ, hành động, cảm thọ, tư duy, mọi nhất cử nhất động phải phù hợp, trọn vẹn thanh tịnh viên mãn trong giới, không còn chút nào sai phạm trong giới mới gọi là thành tựu giới uẩn tối thượng. Còn mình hở ra là sai phạm, tức là bước đầu tiên mình đã chưa hoàn toàn trở thành một vị có giới hạnh. Nếu muốn trở thành một vị có giới hạnh rồi đi đến thành tựu giới hạnh thì phải để tâm ngày đêm, năm tháng, để ý trong từng phút giây để kiểm tra, soi rọi trong từng suy nghĩ. Cho nên sự tu này là cả một sự nội quán, hướng nội suốt đời suốt kiếp.
Các đệ tử tán thán Thế Tôn là vị có giới hạnh và thành tựu giới hạnh tối thượng. Nghĩa là trong nhiều đời nhiều kiếp của Bồ-tát đã luôn để tâm, để ý nhìn ngó, soi xét, thanh lọc, tẩy rửa tất cả những gì cấu nhiễm trong giới. Còn mình nhìn bên ngoài như vậy chứ thật chất bên trong lại cấu nhiễm, có những suy nghĩ ác bất thiện pháp nhưng mình cũng không tẩy, mình cho qua luôn vì không ai thấy. Hoặc làm những việc mờ ám, dù mình biết đó là sai, là trật nhưng vẫn không nỗ lực, nhiệt tình, ưu tư, thao thức, băn khoăn để làm sạch hết những thứ đó nên không được gọi là tăng thượng giới học. Tăng thượng giới học là cứ nhìn vào nội tâm để quét dọn, lau chùi, rẩy rửa liên tục, làm được sẽ đi đến bậc Thánh.
Bên ngoài nhìn vào thấy chúng ta cũng lên ngồi thiền, tụng kinh, tu tập thời khóa đều đều nhưng bên trong không có tâm tha thiết khát khao thanh tịnh, không có tâm nỗ lực hướng thượng phát triển đức hạnh trong sạch thánh thiện thì không được gọi là tăng thượng giới học. Việc đánh thức được tâm khao khát, tha thiết đó là cả một vấn đề, là đạo lộ của bậc hữu học. Chúng ta có lỗi và biết mình có lỗi, thậm chí có người nhắc nhở cho nhưng mình vẫn để nguyên không khắc phục, không sửa chữa thì cái đó không gọi là tăng thượng giới học.
Vì vậy, chúng ta cần nhìn đức hạnh của Đức Phật để đối chiếu lại bản thân để tu học. Nếu chịu khó nhìn lại bản thân sẽ thấy bên trong biết bao thứ rác bẩn, lậu hoặc nhưng cuối cùng vẫn lơ lửng, trơ trơ sống qua ngày đoạn tháng chứ không kiểm tra, la rầy, quở trách để tiến bộ. Tăng thượng là thêm lên, giới là trong sạch, thanh cao, thánh thiện. Như vậy, một cái tâm tha thiết, nhiệt tình, nóng bỏng, khao khát để đạt đến đời sống hoàn toàn trong sạch, thanh cao, thánh thiện là tăng thượng giới học. Cái tâm này phải luôn luôn hiện hữu, lúc nào cũng có và dùng tâm đó trú trong tăng thượng giới. Người nào sống trong tâm này sẽ luôn khắc khoải, ưu tư, đau khổ. Vì thiện pháp mà họ đau khổ, họ ray rứt, sợ hãi đối với ác bất thiện pháp.
Cho nên người tăng thượng giới học lúc nào cũng trú trong đại tàm quý, lúc nào họ cũng xấu hổ và sợ hãi vì trong tâm cứ sanh khởi ra những ác bất thiện pháp. Khi thấy những ác pháp này thì họ xấu hổ, sợ hãi, thao thức, ưu tư để chiến đấu chống lại nó, còn bây giờ cứ hướng ngoại nhìn bên ngoài thì làm sao thấy chính mình? Hiện tại bây giờ được bao nhiêu người có tâm tàm quý này? Chỗ này mới dẫn đến tăng thượng giới học, dẫn đến một vị có giới hạnh, dẫn đến thành tựu giới uẩn của Sa-môn Gotama. Người tu phải làm sao để khởi động được tâm đó, giống như cái xe phải nổ máy chạy mới tiến lên trước chứ còn không thể nổ máy thì vẫn đứng tại chỗ. Cũng vậy, không có tâm này thì thiện pháp không thể sanh khởi và ác pháp bao trùm làm mình giậm chân tại chỗ, mười năm sau gặp lại cũng giống như trước không có gì thay đổi.
Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di,
Hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị.
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Dịch nghĩa:Chỗ đi năm trước, tấc bước chẳng dời.
Lơ lửng một đời, lấy chi nương cậy.
Không phát khởi tăng thượng giới học trong bản thân là một sự thất bại. Khi lỡ làm hoặc lỡ nói cái gì có lỗi thì về nhà phải thấy ray rứt, thao thức, trạo hối, nghĩa là người này thấy hối hận về sự kiện đã xảy ra: "Tại sao mình lại làm như vậy?". Người này xấu hổ, sám hối tha thiết chân thành và lần sau nhất quyết không tái phạm; hoặc tái diễn lần một, lần hai đến lần thứ ba là chấm dứt thì mới là tăng thượng giới học. Còn người cứ tiếp tục lỗi sai, mấy năm sau gặp lại không có gì thay đổi thì không thể tăng thượng giới học, phải quyết liệt như vậy mới đi đến thanh tịnh. Nếu tu theo kiểu đều đều thì làm sao đi đến chỗ thanh sạch, tẩy sạch, trong sạch? Cho nên tu theo Chánh Pháp sẽ khổ cực chứ không được sung sướng nhưng cái khổ này sẽ đưa đến lạc, còn những cái khổ khác sẽ đưa đến khổ triền miên và những cái lạc khác cũng chỉ đưa đến khổ.
Thật ra khi ngồi thiền mình nghĩ định là định, nó riêng biệt với giới nhưng chính cái ngồi thiền làm cho giới trong sạch vì nó hỗ trợ lẫn nhau. Chỉ khi ngồi thiền mình mới lấy những cái sai phạm ra kiểm điểm rồi trong sự kiểm điểm đó có suy xét, trạch pháp, đó chính là tuệ. Cho nên giới – định – tuệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau chứ không phải ngồi thiền chỉ có định chứ không có giới mà thật sự nó hỗ trợ lẫn nhau. Phải thường xuyên trú trong tàm quý, xấu hổ và sợ hãi thì bản ngã mới lắng dịu, sân giận, tham muốn cũng sẽ lắng dịu từ chỗ thấy được lậu hoặc, cái hơn thua, đấu tranh cũng sẽ giảm bớt.
Cho nên để hoàn thiện một con người đúng theo tinh thần Thánh pháp là cả một công trình nội tâm vĩ đại. Cần phải có sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, lúc nào cũng quay lại nội tâm kiểm tra, rà soát, soi xét, quán sát, tư sát liên tục và đau khổ, ưu tư, lo lắng. "Tại sao mình tu đến giờ này vẫn còn như vậy? Tại sao hình tướng mình như vầy mà mình lại như vậy? Tại sao mình cạo đầu đắp y rồi mà vẫn nhớ nhà, lo chuyện ở nhà, chuyện đời? Tại sao mình không đặt hết tâm tư vào pháp?". Mình phải chỉ trích, quở trách làm cho bản thân tăng thượng, hướng thượng trong sự tu học và cần học kinh để chiêm nghiệm quán sát tu tập.
Tri kiến vi diệu
Lại nữa, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu. Khi nói:'Ta biết', nghĩa là Sa-môn Gotama có biết. Khi nói: 'Ta thấy', nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn Gotama thuyết pháp có nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực (Sappatihariyam), không phải không có thần thông lực. Này Udayi, chính đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu và nghĩ rằng: 'Khi nói: 'Ta biết', nghĩa là Sa-môn Gotama có biết: Khi nói: 'Ta thấy', nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn thuyết pháp với nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực, không phải không có thần thông lực'. Ðây là pháp thứ hai, này Udayi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
Đức Phật không phải nói trên suy tưởng, suy luận mà Ngài thực thấy, thực biết, thực chứng, Ngài nói nhân quả của địa ngục, nhân quả của thiên giới, nhân quả của Niết-bàn, nhân quả của sanh tử. Đó là những điều Ngài thực chứng, thực thấy, thực biết bằng thắng trí, là trí tuệ thù thắng vượt phàm phu, chính chỗ này làm đệ tử thán phục tri kiến vi diệu của Ngài. Ngài nói sự chấp thủ năm uẩn là phiền não, khổ đau thì nó là như vậy, không thể khác được, dù cho Trái Đất có sụp đổ cũng không thể khác được, Ngài nói tham, sân, si là gốc rễ của tất cả tội ác bất thiện thì đúng như vậy, không thể sai khác, Ngài nói dục ái là đau khổ, sợ hãi thì muôn ngàn kiếp sau cũng như vậy, không thay đổi sai khác được vì những điều đó được Ngài thực chứng, thực thấy, thực biết, thực trải nghiệm cho nên các đệ tử tán thán tri kiến vi diệu của Ngài.
Trí tuệ tăng thượng
Lại nữa, này Udayi, đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng trí tuệ và sự kiện này không thể xảy ra khi họ nghĩ rằng: 'Sa-môn Gotama là vị có trí tuệ và thành tựu tuệ uẩn tối thượng. (Tuy vậy) Ngài không thấy trước một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá sau khi khéo léo nạn phá với Chánh Pháp'.
Trong Trung Bộ Kinh có nhiều bài kinh ghi lại sự bừng sáng, chiếu sáng trí tuệ của bậc Thánh, Ngài đã phá hết tất cả tà thuyết, những quan điểm vô minh, chấp thủ. Trong lời nói, hành động, cử chỉ của Ngài nêu bật lên để phá vỡ các vấn nạn làm cho những người đó phải lạy dưới chân quy y làm cư sĩ hoặc đệ tử xuất gia, thậm chí chứng quả A-la-hán.
Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Các đệ tử của Ta, sau khi biết như vậy, thấy như vậy, có thể làm gián đoạn một cuộc đàm thoại đang diễn tiến nửa chừng không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Này Udayi, Ta không chờ đợi sự giáo giới từ nơi những đệ tử của Ta. Trái lại, chính những đệ tử của Ta chờ đợi sự giáo giới từ nơi Ta. Do vậy, này Udayi, sự kiện này không thể xảy ra khi các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng trí tuệ và suy nghĩ: 'Sa-môn Gotama là bậc có trí tuệ và thành tựu tuệ uẩn tối thắng. (Tuy vậy) Ngài không thấy (trước) một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá, sau khi khéo léo nạn phá với Chánh Pháp'. Ðây là pháp thứ ba, này Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
4. Tứ Diệu Đế
Lại nữa, này Udayi, những đệ tử của Ta bị đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối, đến Ta và hỏi về khổ Thánh đế. Ðược hỏi về Khổ Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Họ hỏi Ta về Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Ðây là pháp thứ tư, này Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
Đạo Phật cứu khổ thế gian chính ở chỗ này. Những người đệ tử của Ngài đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối nên đã đến hỏi và được Ngài chỉ ra nguyên nhân đau khổ, Ngài thực chứng sự đau khổ và Ngài hướng dẫn con đường để chấm dứt khổ đau, Ngài làm cho người đó thỏa mãn với câu trả lời của Ngài, không còn nghi ngờ gì với câu trả lời đó nữa.
5. Con đường hành trì
(a. Tứ Niệm xứ)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Bốn Niệm xứ. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời, quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên các tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời. Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
Y cứ theo con đường Đức Phật dạy để tu tập sự quán chiếu thân thể, những cảm giác và những cái đang có mặt trong tâm để tẩy trừ những sự cấu nhiễm, những nguyên nhân sanh ra khổ đau trong cuộc đời này bằng những sự nhận diện thân tâm, nhìn thấy rõ được những cảm giác thúc giục, sân hận, si mê, hôn ám, những cảm giác ta đây, bản ngã bằng sự nhìn thấy và biết, nhiếp phục và đoạn tận, người trí tự mình thấy biết, tự mình giác ngộ. Chính con đường tu hành thiết thực, hiện tại đó Ngài đã giảng về ba mươi bảy phẩm trợ đạo làm cho hàng đệ tử đoạn trừ hết các lậu hoặc, "tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát". Học bài này chúng ta sẽ hiểu tại sao Đức Thế Tôn được các đệ tử tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, nương tựa tu học mấy ngàn năm nay.
(b. Tứ Chánh cần)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Bốn Chánh cần. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được trừ diệt, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm... Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Sau đó Ngài nói về bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Bát Thánh Đạo… Nhờ có nhân duyên là các vị ngoại đạo hỏi thì Đức Thế Tôn mới gầm lên tiếng gầm của sư tử làm đất trời rúng động, từ đó Thánh đạo, Thánh trí, Thánh pháp mới rực sáng, chói sáng. Chúng ta phải làm ra những bài kinh như vậy thì người ta đọc mới hiểu, đó gọi là tân biên đại tạng kinh. Ý của Minh Thành là muốn chuyển tải bài kinh thành ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu, thực tế để ai đọc vào cũng hiểu, đó gọi là tân biên đại tạng kinh chứ còn đọc vào chánh văn sẽ không hiểu được. Ngay cả những người có trình độ Phật học khá đọc cũng khó hiểu chứ đừng nói gì đến Phật tử thông thường rất khó hiểu.
Như vậy, thứ nhất là các vị đệ tử tán thán Đức Phật tăng thượng giới, thứ hai là tri kiến vi diệu, thứ ba là thán phục tăng thượng trí tuệ và thứ tư là Ngài nói về con đường diệt khổ, trong con đường diệt khổ có rất nhiều pháp để cuối cùng đoạn tận các lậu hoặc. Tự Đức Phật nói cho mình thấy tại sao Ngài được đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường và sống nương tựa vào Ngài.
./.
TẠI SAO ĐỨC PHẬT ĐƯỢC ĐỆ TỬ TÔN KÍNH?
TRUNG BỘ II BÀI 77 KINH MAHA SAKULUDAYI
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự tôn kính đối với Thế Tôn PAGEREF _Toc80437447 \h 1
1. Hội chúng nhiễm ô PAGEREF _Toc80437448 \h 2
2. Hội chúng thanh tịnh PAGEREF _Toc80437449 \h 5
II.Udayi nói lí do đệ tử tôn kính Thế Tôn và câu trả lời của Thế Tôn PAGEREF _Toc80437450 \h 7
III.Thế Tôn nói năm pháp làm cho đệ tử tôn kính PAGEREF _Toc80437451 \h 12
1.Giới hạnh tăng thượng PAGEREF _Toc80437452 \h 12
2.Tri kiến vi diệu PAGEREF _Toc80437453 \h 15
3.Trí tuệ tăng thượng PAGEREF _Toc80437454 \h 16
4. Tứ Diệu Đế PAGEREF _Toc80437455 \h 17
5. Con đường hành trì PAGEREF _Toc80437456 \h 17
Sự tôn kính đối với Thế Tôn
Chúng ta đã bước vào mùa an cư kiết hạ, trong thời điểm này chúng ta tinh cần, tinh tấn nghe pháp và ngồi thiền nhiều hơn bình thường. Hơn nữa hiện tại tình hình dịch bệnh đang khó khăn, mọi người sống trong sự lo lắng đau khổ, vì vậy chúng ta một mặt là tu học cho chính mình, một mặt là đem lời dạy của Đức Phật lan tỏa, truyền bá để giúp cho các Phật tử. Nhờ đó, mọi người được vững tâm trú vào trong pháp để bớt lo lắng, sợ hãi cũng như có cơ hội thể nhập sâu sắc vào Chánh Pháp. Cho nên từ nay trở đi chúng ta sẽ học nhiều hơn bình thường. Chúng ta sẽ học các bài kinh rất đặc biệt, sau đó có thể sẽ học các chuyên đề, có rất nhiều giáo pháp thâm sâu kì diệu trong tạng kinh mà chúng ta cần nghe, cần chiêm nghiệm để thành tựu trí huệ.
Hôm nay, chúng ta học bài kinh số 77 Sakuludàyi trong Trung Bộ Kinh, tập II, học bài kinh này chúng ta sẽ biết tại sao Đức Phật được đệ tử tôn kính.
"Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
Lúc bấy giờ, có rất nhiều vị du sĩ, có thời danh, có danh tiếng trú ở Moranivapa (Khổng Tước Lâm), tu viện các du sĩ, như Anugara, Varadhara, và du sĩ Sakuludayi cùng với các vị du sĩ thời danh, danh tiếng khác.
Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Rajagaha để khất thực. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: 'Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Rajagaha. Ta hãy đến Moranivapa, tu viện các du sĩ, đi đến gặp du sĩ Sakuludayi'. Rồi Thế Tôn đi đến Moranivapa, tu viện các du sĩ.
Lúc bấy giờ du sĩ Sakuludayi đang ngồi cùng với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng, bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như vương luận, tặc luận, đại thần luận, binh luận, bố úy luận, chiến đấu luận, thực luận, ẩm luận, y luận, sàng luận, hoa man luận, hương liệu luận, thân tộc luận, xa thừa luận, thôn luận, trấn luận, thị luận, quốc độ luận, phụ nữ luận, anh hùng luận, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, tạp thoại luận, thế giới luận, hải dương luận, hiện hữu, vô hiện hữu luận. Du sĩ Sakuludayi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình:
-- Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay Sa-môn Gotama đang đến, vị Tôn giả ấy ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh, nếu biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây. (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Du sĩ là những người tu hành đi khắp nơi khắp chốn, đi vân du đó đây thì gọi là du sĩ. Chúng ta đọc những bản kinh này thấy giống như lúc Đức Phật còn tại thế đang tái hiện lại trước mắt chúng ta. Cả thời đại lúc đó người nào cũng biết đại chúng của Thế Tôn cùng với Thế Tôn thích an tịnh, thích yên lặng. Mọi người đang xôn xao bàn tán mà thấy Thế Tôn đến là tự bảo nhau im lặng. Chúng ta phải dùng thọ; tưởng; hành để học kinh chứ đừng đọc phớt qua lời kinh, đọc đến đâu những hình ảnh trong từng lời kinh hiện ra đến đó giống như chúng ta đang thân lâm kỳ cảnh, tức là đích thân mình chứng kiến cảnh đó đang hiện ra ngay trước mắt. Những ngày trong thất Minh Thành đọc kinh thấy rất kì thú, sung sướng, an lạc vì giống như tái hiện lại cho mình thấy Đức Thế Tôn đang đi đến hội chúng đó.
"Các du sĩ ấy đều im lặng. Rồi Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludayi. Du sĩ Sakuludayi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến! Bạch Thế Tôn, thiện lai, Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Thế Tôn hãy ngồi! Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sakuludayi lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludayi đang ngồi một bên:
-- Này Udayi, nay các vị họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn?
1. Hội chúng nhiễm ô
-- Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên vấn đề chúng tôi đang hội họp bàn luận. Về sau Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì! Bạch Thế Tôn, trong những ngày trước, nhiều ngày trước nữa, khi các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều ngoại đạo sai khác, ngồi lại và tập họp tại luận nghị đường, đối thoại này được khởi lên: 'Thật lợi ích thay cho dân chúng Anga và Magadha, thật tốt đẹp thay cho dân chúng Anga và Magadha khi được những vị Sa-môn, Bà-la-môn nay là những vị lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, những vị sư trưởng đồ chúng, những vị thời danh, những Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa! Ngài Purana Kassapa (Bất-lan Ca-diếp) này là bậc lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Ngài Makkhali Gosala này... Ngài Ajita Kesakambali... Ngài Pakudha Kaccayana... Ngài Saniaya Belatthiputta... Ngài Nigantha Nataputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị này đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Sa-môn Gotama này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị này đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Trong những bậc Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này, những bậc lãnh đạo hội chúng, những bậc lãnh đạo đồ chúng, những bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, những bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị nào được các đệ tử cung kính tôn trọng, kính lễ, cúng dường? Và các đệ tử sau khi cung kính tôn trọng đã sống nương tựa như thế nào?' (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Sakuludayi và Udayi đều chỉ chung một người. Chúng ta cũng đang an cư giống như họ, chúng ta phải làm sao để đem lại phúc lạc, phước báo cho vùng đất này giống họ, mỗi ngày chúng ta trải tâm từ, trải tình thương, lòng bi mẫn, từ bi hỷ xả là chúng ta đem lại an lạc, hạnh phúc cho vùng đất này. Ông du sĩ này thuật lại cho Đức Phật nghe mấy ngày hôm trước có các vị tu sĩ hội họp với nhau nêu lên vấn đề có nhiều vị nổi tiếng, tổ sư, sư trưởng, những bậc lãnh đạo đang an cư tại vùng đất này, trong đó có Sa-môn Gotama cũng đang ở đây thì trong những vị nêu trên ai là người được quần chúng tôn sùng, kính lễ, cúng dường nhiều nhất.
"Ở đây, có một số người đã nói như sau: 'Vị Purana Kassapa này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị ấy không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử, sau khi cung kính tôn trọng đã không sống nương tựa Purana Kassapa. Thuở xưa, Purana Kassapa thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người; ở đấy, một đệ tử của Purana Kassapa nói lớn tiếng như sau: 'Chư Tôn giả, chớ có hỏi Purana Kassapa về ý nghĩa này. Vị ấy không biết ý nghĩa này, chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Chúng tôi sẽ trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn giả'. Thuở xưa, Purana Kassapa dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe theo: 'Chư tôn giả, hãy nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy không hỏi Chư Tôn giả. Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho những vị ấy'. Nhiều đệ tử của Purana Kassapa, sau khi kích bác Purana Kassapa, bỏ đi và nói: 'Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và luật này. Làm sao Ông có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta theo chánh hạnh. Ðiều ta nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Chủ trương của Ông đã bị lật ngược, câu hỏi của Ông đã bị bài bác. Ông đã bị thuyết bại. Hãy đến giải vây lời nói ấy, nếu có thể được, gắng thoát khỏi lối bí'. Như vậy, Purana Kassapa không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và sau khi không cung kính tôn trọng, các đệ tử đã không sống nương tựa Purana Kassapa. Trái lại, Purana Kassapa đã bị mạ lị với những lời mắng nhiếc vì hành động của mình. (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Nghĩa là Purana Kassapa đang giảng pháp nhưng đệ tử của ông đang ngồi dưới lớn tiếng nói vấn đề đó đừng hỏi Purana Kassapa mà hãy hỏi ở đây. Ông thầy này khóc lóc, năn nỉ mọi người hãy im lặng, những người kia không hỏi các người mà họ hỏi tôi nên hãy để tôi trả lời. Các đệ tử phản bác nói rằng việc giảng pháp của ông thầy đã thất bại nên không được các đệ tử tôn trọng, cung kính. Các vị thầy khác cũng giống vị thầy này.
"Có một số người đã nói như sau: 'Vị Makkhali Gosala này... Vị Ajita Kesakambali... Vị Pukudha Kaccayana... Vị Sanjaya Belatthiputta... Vị Nigantha Nataputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng. Vị ấy không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử sau khi cung kính, tôn trọng đã không sống nương tựa Nigantha Nataputta. Thuở xưa, Nigantha Nataputta thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Nigantha Nataputta lớn tiếng nói như sau: 'Chư Tôn giả, chớ có hỏi Nigantha Nataputta về ý nghĩa này. Vị ấy không biết ý nghĩa này. Chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Chúng tôi trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn giả'. Thuở xưa Nigantha Nataputta dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe theo: 'Chư Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy không hỏi chư Tôn giả. Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho những vị ấy'. Nhiều đệ tử của Nigantha Nataputta, sau khi kích bác Nigantha Nataputta, bỏ đi và nói: 'Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và luật này. Làm sao Ông có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta theo chánh hạnh. Ðiều ta nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng. Ðiều đáng nói trước Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Chủ trương của Ông đã bị lật ngược. Câu nói của Ông đã bị bài bác. Ông đã bị thất bại. Hãy đến giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát khỏi lối bí'. Như vậy, Nigantha Nataputta không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và sau khi không cung kính tôn trọng, các đệ tử đã không sống nương tựa Nigantha Nataputta. Trái lại Nigantha Nataputta đã bị mạ lị với những lời mắng nhiếc vì hành động của mình". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
2. Hội chúng thanh tịnh
Đọc những lời kinh này chúng ta mới hiểu tại sao trong Tăng Chi Bộ lại ghi hội chúng tinh ba và hội chúng cặn bã. Ở trên chính là hội chúng cặn bã, thầy không ra thầy, trò không ra trò, không có thứ tự trên dưới gì cả. Sau đó vị du sĩ này trình bày cho Đức Thế Tôn:
"Có một số người nói như sau: 'Sa-môn Gotama này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng. Và vị này được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử sau khi cung kính tôn trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama. Thuở xưa, Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Sa-môn Gotama ho (thành tiếng). Một vị đồng Phạm hạnh dùng đầu gối đập (nhẹ) vào người ấy và nói: 'Tôn giả hãy lặng tiếng! Tôn giả chớ có làm ồn! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đang thuyết pháp'. (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Chỉ có học cái này chúng ta mới biết thế nào là hội chúng tinh ba, hội chúng cặn bã; thế nào là hội chúng hạ liệt, hội chúng thù thắng; thế nào là hội chúng trang nghiêm thanh tịnh, thế nào là hội chúng ô nhiễm, cấu uế.
"Trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng; nghĩ rằng: 'Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta đã được nghe'. Ví như có người tại ngã tư đường, đang bóp vắt một bánh mật ong nhỏ trong sạch, và đại chúng đang sống nhiệt tình kỳ vọng. Cũng vậy, trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng nghĩ rằng: 'Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta sẽ được nghe'. (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Những người vắt được mật ong thơm ngon sẽ thích thú, hoan hỉ, phấn khởi nên họ làm nhiệt tình. Lời pháp của Đức Phật ngọt ngào, thấm thía, bổ dưỡng giống như mật ong cho nên đệ tử rất kì vọng được nghe pháp Thế Tôn. Mình học kinh, học pháp có được pháp hỷ, pháp lạc còn hơn mật ong, mỗi câu, mỗi chữ, mỗi lời trong kinh vô cùng thấm thía. Mình nghe pháp phải có tâm thái như vậy thì tu mới tiến, còn tu một thời gian lại ngán pháp thì sự tu học của mình không tiến bộ.
"Các đệ tử của Sa-môn Gotama sau khi cãi lộn với các vị đồng Phạm hạnh từ bỏ tu học, trở lại hoàn tục, các vị ấy vẫn tán thán bậc Ðạo sư, tán thán Pháp, tán thán Tăng, tự quở trách mình, không quở trách người khác: 'Chính chúng ta thật bất hạnh, chính chúng ta thật thiếu phước, dầu chúng ta xuất gia trong Pháp và Luật được khéo giảng như vậy mà không thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh cho đến trọn đời'. Họ trở thành những người giữ vườn, hay những người cư sĩ và sống thọ trì năm giới'. Như vậy Sa-môn Gotama được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và các đệ tử sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Dù cho những người này có cự cãi bất hòa trong Tăng chúng hay họ không giữ được giới luật nên họ hoàn tục nhưng họ vẫn tán thán, khen ngợi Thế Tôn, Chánh Pháp, chúng Tăng và họ tự quở trách bản thân chứ không quở trách người khác. Đây là lỗi của tự mình chứ không phải lỗi của thầy, của pháp, của Tăng, có những người ra đời rồi trở lại làm công việc phụ giúp cho chùa ngay trong hiện tại chứ đừng nói gì thời Đức Phật, có những vị làm cư sĩ hộ pháp chư Phật giữ gìn năm giới. Trên đây là lời nói của ngoại đạo chứ nãy giờ Đức Phật vẫn chưa nói gì cả, tức là người bên ngoài nhìn nhận về Đức Phật, Phật giáo và Tăng đoàn thời đó.
Udayi nói lí do đệ tử tôn kính Thế Tôn và câu trả lời của Thế Tôn
Sau đây Đức Phật mới hỏi bản thân Udayi thấy nơi Đức Phật có những điều gì, những đức hạnh, thành tựu gì mà Ngài được đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường và nương tựa vào Ngài tu học?
"-- Này Udayi, Ông thấy nơi ta có bao nhiêu pháp mà do các pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính tôn trọng, sống nương tựa vào Ta?
-- Bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn có năm pháp mà do năm pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn. Thế nào là năm?
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ nhất, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn là pháp thứ hai con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ ba, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ tư, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Chính pháp này bạch Thế Tôn, là pháp thứ năm, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Chính năm pháp này, bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn. Do năm pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng sống nương tựa vào Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Thứ nhất là ăn ít, thứ hai là biết đủ với y phục, thứ ba là biết đủ thức ăn, thứ tư là biết đủ với gường chõng, thứ năm là sống đời sống viễn ly. Mình cần nhìn lại trong năm điều này mình làm được mấy điều? Nhìn lại bản thấy thấy rất hổ thẹn, ưu não và ghê sợ, đó cũng là đạo lộ của bậc hữu học, nếu tu theo dòng pháp này mà không có những điều trên thì chúng ta vẫn chỉ đứng ngoài cửa chùa. Phải thấy lo lắng, hổ thẹn, cảm thấy ghê sợ đối với các lậu hoặc, phiền não của mình.
Thế Tôn biết đủ đối với cơm ăn, áo mặc và chỗ ở, những cái này nói về tiện nghi vật chất, những nhu yếu phẩm của cuộc sống sinh hoạt. Ngài không đặt nặng vào vấn đề này mà rất đơn giản trong các vấn đề ăn, mặc, ở và cái hạnh sống nơi xa vắng, Ngài sống viễn ly, hoan hỉ với những thứ đó và Ngài khen ngợi, tán thán với những thứ đó. Ở đây chỉ mới là người đạo khác nhìn vào Đức Phật, sau đây đến Đức Phật phân tích để chúng ta thấy được trí tuệ và đức hạnh của Ngài đã vượt sức tưởng tượng của phàm phu. Nếu mình được người ta khen sẽ thấy hoan hỉ, hài lòng nhưng Đức Phật không dừng lại ở đó.
"'Sa-môn Gotama ăn ít và tán thán hạnh ăn ít'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta chỉ ăn với một bát (kosa), chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây veluva, chỉ ăn với nửa trái cây veluva, và này Udayi. Còn Ta, có khi Ta ăn hơn một bình bát này, có khi Ta ăn nhiều hơn như vậy nữa. 'Sa-môn Gotama ăn ít và tán thán hạnh ăn ít'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi tôn trọng, cung kính, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, những đệ tử ấy của Ta, sống nương tựa vào Ta chỉ ăn với một bát, chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây veluva, chỉ ăn với nửa trái cây veluva; những vị ấy vì pháp hạnh này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không tôn trọng, cung kính, không sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Nếu Udayi căn cứ vào chuyện ăn mà nói Đức Phật được tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thì có những người bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết tất cả đi theo Đức Phật còn ăn ít hơn Ngài, thậm chí chỉ ăn trái cây hoặc chỉ ăn một nửa trái cây đó, còn Ngài có khi ăn hơn nửa bình bát thì đáng lẽ những vị đệ tử đó sẽ không tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường mới đúng chứ? Đức Phật vào hoàng cung của vua Ba-tư-nặc và hoàng hậu được nhà vua thiết đãi yến tiệc, sơn hào hải vị thì Ngài phải ăn hơn một bát, như vậy làm sao người ăn ít tôn trọng, cung kính, đảnh lễ Ngài được?
"'Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống mặc phấn tảo y, mặc thô y. Những vị ấy lượm từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từng đống rác, hay từ tiệm phố, và sau khi làm thành áo sanghati (tăng-già-lê), họ mang loại áo ấy. Còn Ta, này Udayi, có khi Ta mặc vải y của cư sĩ cúng dường, các chỗ sờn mỏng được bện chắc lại với dây tơ cây bí trắng. 'Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi tôn trọng, cung kính, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, những vị đệ tử ấy của Ta, sống mặc phấn tảo y, mặc thô y. Những vị ấy lượm từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từ đống rác, hay từ tiệm phố, và sau khi làm thành áo sanghati, họ mang loại áo ấy; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Y phấn tảo là những tấm vải bị vứt bỏ, xấu xí. Cô của Minh Thành là thợ may nên có rất nhiều vải vụn, bà nội Minh Thành lấy những miếng vải vụn khâu lại với nhau tạo thành tấm mền và bà may ra rất nhiều tấm mền như vậy. Năm 1997 Minh Thành nhập hạ tại chùa Xá Lợi Quận 3, có một thầy trong chúng gọi là thầy Bá-nạp, nghĩa là quần áo của thầy được may từ rất nhiều loại vải vụn với nhau và y phấn tảo cũng giống như vậy, ngày xưa tu rất khổ phải lấy những miếng vải vụn bỏ đi hoặc lấy những miếng vải trong nghĩa địa quấn thây chết để mặc chứ không được cúng dường vải đẹp như bây giờ. Những đệ tử của Đức Phật có người mặc những tấm y như vậy còn Đức Phật có khi mặc y được cư sĩ cúng dường thậm chí là những cái áo của vua chúa, quan lại, như vậy những người đệ tử mặc những tấm y cũ rách làm sao có thể tôn trọng, cung kính, cúng dường, đảnh lễ Thế Tôn được?
"'Sa-môn Gotama sống biết đủ và bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào'; nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống dưới gốc cây, sống ở ngoài trời. Những vị ấy trong tám tháng không sống dưới mái che nào. Còn ta, này Udayi, có đôi khi Ta sống dưới những ngôi lầu có gác nhọn, có tô vôi trong và ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín. 'Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào' và nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, các vị đệ tử ấy của Ta, sống dưới gốc cây, sống ở ngoài trời, trong tám tháng không sống dưới mái che nào; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Những người đệ tử Đức Phật sống ngoài trời suốt tám tháng không có mái che nào cả, ngủ ngoài gốc cây bị nắng táp mưa sa. Thời tiết ở Ấn Độ rất khắc nghiệt, nóng khủng khiếp, các thầy ở Việt Nam qua học có khi muốn bỏ về vì quá nóng, thời tiết lên 50 độ, lạnh cũng khủng khiếp vậy mà các vị này suốt tám tháng không có mái che trên đầu còn Đức Phật " sống dưới những ngôi lầu có gác nhọn, có tô vôi trong và ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín", nếu căn cứ vào chỗ ở thì Ngài đã thua các vị đệ tử đó rồi.
"'Sa-môn Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly'; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào trong rừng núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy, và nửa tháng một lần mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn. Còn Ta, này Udayi, đôi khi ta sống đoanh vây xung quanh bởi các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Cư sĩ nam, Cư sĩ nữ, Quốc vương, Ðại thần, Ngoại đạo, đệ tử các ngoại đạo. 'Sa-môn Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly'; và nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, các vị đệ tử ấy của Ta, sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào trong núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy và nửa tháng một lần, mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn; những vị đệ tử ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Nếu căn cứ vào hạnh viễn ly thì Ngài không đáng được các vị đệ tử tôn kính, cúng dường, đảnh lễ, tôn trọng và nương tựa vào tu học.
Thế Tôn nói năm pháp làm cho đệ tử tôn kính
"Này Udayi, lại có năm pháp khác, do năm pháp này, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta. Thế nào là năm?
Giới hạnh tăng thượng
Ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới: 'Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng'. Này Udayi, chính đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới, nghĩ rằng: 'Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng', đây là pháp thứ nhất, này Udayi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính , tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
Đệ tử của Đức Phật thán phục Ngài tăng thượng giới, là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng, đây là pháp thứ nhất. Chữ "giới uẩn tối thượng" thật sự rất sâu sắc chứ không đơn giản như mình nghĩ. Ngược lại quá khứ khi Ngài còn tu tập thì trong sự tu học này không hài lòng, thỏa mãn, không chấp nhận những sự cấu nhiễm, uế nhiễm, ô nhiễm còn tồn đọng trong người dù cho nó rất nhỏ, rất vi tế, phải luôn có sự khao khát hướng đến đời sống thanh tịnh phạm hạnh và trong nội tâm có một động lực, sức mạnh, thôi thúc làm cho phải tiến lên, hoàn thiện viên mãn cho đến cùng tột, đó là tăng thượng giới học. Chúng ta không được thỏa mãn, tự mãn, hài lòng với sự tu học ngay trong hiện tại dù cho mình có đến Thánh quả thứ ba, vì khi chấp nhận là mình sẽ bị đứng lại tại chỗ, không thể tiến lên được nữa.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Những điều này là cả một công trình tu học chứ không phải đơn giản, vì tâm của con người là cái tâm rất dễ tự mãn, rất dễ hài lòng. Vì vậy, mình phải có cái tâm không biết đủ với thiện pháp thì mới đi đến đoạn tận các lậu hoặc. Cho nên việc tăng thượng giới học là quan trọng vô cùng.
Chữ "uẩn" là cả một tổ hợp, cả một sự tập hợp, tất cả những gì từ suy nghĩ, hành động, cảm thọ, tư duy, mọi nhất cử nhất động phải phù hợp, trọn vẹn thanh tịnh viên mãn trong giới, không còn chút nào sai phạm trong giới mới gọi là thành tựu giới uẩn tối thượng. Còn mình hở ra là sai phạm, tức là bước đầu tiên mình đã chưa hoàn toàn trở thành một vị có giới hạnh. Nếu muốn trở thành một vị có giới hạnh rồi đi đến thành tựu giới hạnh thì phải để tâm ngày đêm, năm tháng, để ý trong từng phút giây để kiểm tra, soi rọi trong từng suy nghĩ. Cho nên sự tu này là cả một sự nội quán, hướng nội suốt đời suốt kiếp.
Các đệ tử tán thán Thế Tôn là vị có giới hạnh và thành tựu giới hạnh tối thượng. Nghĩa là trong nhiều đời nhiều kiếp của Bồ-tát đã luôn để tâm, để ý nhìn ngó, soi xét, thanh lọc, tẩy rửa tất cả những gì cấu nhiễm trong giới. Còn mình nhìn bên ngoài như vậy chứ thật chất bên trong lại cấu nhiễm, có những suy nghĩ ác bất thiện pháp nhưng mình cũng không tẩy, mình cho qua luôn vì không ai thấy. Hoặc làm những việc mờ ám, dù mình biết đó là sai, là trật nhưng vẫn không nỗ lực, nhiệt tình, ưu tư, thao thức, băn khoăn để làm sạch hết những thứ đó nên không được gọi là tăng thượng giới học. Tăng thượng giới học là cứ nhìn vào nội tâm để quét dọn, lau chùi, rẩy rửa liên tục, làm được sẽ đi đến bậc Thánh.
Bên ngoài nhìn vào thấy chúng ta cũng lên ngồi thiền, tụng kinh, tu tập thời khóa đều đều nhưng bên trong không có tâm tha thiết khát khao thanh tịnh, không có tâm nỗ lực hướng thượng phát triển đức hạnh trong sạch thánh thiện thì không được gọi là tăng thượng giới học. Việc đánh thức được tâm khao khát, tha thiết đó là cả một vấn đề, là đạo lộ của bậc hữu học. Chúng ta có lỗi và biết mình có lỗi, thậm chí có người nhắc nhở cho nhưng mình vẫn để nguyên không khắc phục, không sửa chữa thì cái đó không gọi là tăng thượng giới học.
Vì vậy, chúng ta cần nhìn đức hạnh của Đức Phật để đối chiếu lại bản thân để tu học. Nếu chịu khó nhìn lại bản thân sẽ thấy bên trong biết bao thứ rác bẩn, lậu hoặc nhưng cuối cùng vẫn lơ lửng, trơ trơ sống qua ngày đoạn tháng chứ không kiểm tra, la rầy, quở trách để tiến bộ. Tăng thượng là thêm lên, giới là trong sạch, thanh cao, thánh thiện. Như vậy, một cái tâm tha thiết, nhiệt tình, nóng bỏng, khao khát để đạt đến đời sống hoàn toàn trong sạch, thanh cao, thánh thiện là tăng thượng giới học. Cái tâm này phải luôn luôn hiện hữu, lúc nào cũng có và dùng tâm đó trú trong tăng thượng giới. Người nào sống trong tâm này sẽ luôn khắc khoải, ưu tư, đau khổ. Vì thiện pháp mà họ đau khổ, họ ray rứt, sợ hãi đối với ác bất thiện pháp.
Cho nên người tăng thượng giới học lúc nào cũng trú trong đại tàm quý, lúc nào họ cũng xấu hổ và sợ hãi vì trong tâm cứ sanh khởi ra những ác bất thiện pháp. Khi thấy những ác pháp này thì họ xấu hổ, sợ hãi, thao thức, ưu tư để chiến đấu chống lại nó, còn bây giờ cứ hướng ngoại nhìn bên ngoài thì làm sao thấy chính mình? Hiện tại bây giờ được bao nhiêu người có tâm tàm quý này? Chỗ này mới dẫn đến tăng thượng giới học, dẫn đến một vị có giới hạnh, dẫn đến thành tựu giới uẩn của Sa-môn Gotama. Người tu phải làm sao để khởi động được tâm đó, giống như cái xe phải nổ máy chạy mới tiến lên trước chứ còn không thể nổ máy thì vẫn đứng tại chỗ. Cũng vậy, không có tâm này thì thiện pháp không thể sanh khởi và ác pháp bao trùm làm mình giậm chân tại chỗ, mười năm sau gặp lại cũng giống như trước không có gì thay đổi.
Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di,
Hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị.
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Dịch nghĩa:Chỗ đi năm trước, tấc bước chẳng dời.
Lơ lửng một đời, lấy chi nương cậy.
Không phát khởi tăng thượng giới học trong bản thân là một sự thất bại. Khi lỡ làm hoặc lỡ nói cái gì có lỗi thì về nhà phải thấy ray rứt, thao thức, trạo hối, nghĩa là người này thấy hối hận về sự kiện đã xảy ra: "Tại sao mình lại làm như vậy?". Người này xấu hổ, sám hối tha thiết chân thành và lần sau nhất quyết không tái phạm; hoặc tái diễn lần một, lần hai đến lần thứ ba là chấm dứt thì mới là tăng thượng giới học. Còn người cứ tiếp tục lỗi sai, mấy năm sau gặp lại không có gì thay đổi thì không thể tăng thượng giới học, phải quyết liệt như vậy mới đi đến thanh tịnh. Nếu tu theo kiểu đều đều thì làm sao đi đến chỗ thanh sạch, tẩy sạch, trong sạch? Cho nên tu theo Chánh Pháp sẽ khổ cực chứ không được sung sướng nhưng cái khổ này sẽ đưa đến lạc, còn những cái khổ khác sẽ đưa đến khổ triền miên và những cái lạc khác cũng chỉ đưa đến khổ.
Thật ra khi ngồi thiền mình nghĩ định là định, nó riêng biệt với giới nhưng chính cái ngồi thiền làm cho giới trong sạch vì nó hỗ trợ lẫn nhau. Chỉ khi ngồi thiền mình mới lấy những cái sai phạm ra kiểm điểm rồi trong sự kiểm điểm đó có suy xét, trạch pháp, đó chính là tuệ. Cho nên giới – định – tuệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau chứ không phải ngồi thiền chỉ có định chứ không có giới mà thật sự nó hỗ trợ lẫn nhau. Phải thường xuyên trú trong tàm quý, xấu hổ và sợ hãi thì bản ngã mới lắng dịu, sân giận, tham muốn cũng sẽ lắng dịu từ chỗ thấy được lậu hoặc, cái hơn thua, đấu tranh cũng sẽ giảm bớt.
Cho nên để hoàn thiện một con người đúng theo tinh thần Thánh pháp là cả một công trình nội tâm vĩ đại. Cần phải có sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, lúc nào cũng quay lại nội tâm kiểm tra, rà soát, soi xét, quán sát, tư sát liên tục và đau khổ, ưu tư, lo lắng. "Tại sao mình tu đến giờ này vẫn còn như vậy? Tại sao hình tướng mình như vầy mà mình lại như vậy? Tại sao mình cạo đầu đắp y rồi mà vẫn nhớ nhà, lo chuyện ở nhà, chuyện đời? Tại sao mình không đặt hết tâm tư vào pháp?". Mình phải chỉ trích, quở trách làm cho bản thân tăng thượng, hướng thượng trong sự tu học và cần học kinh để chiêm nghiệm quán sát tu tập.
Tri kiến vi diệu
Lại nữa, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu. Khi nói:'Ta biết', nghĩa là Sa-môn Gotama có biết. Khi nói: 'Ta thấy', nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn Gotama thuyết pháp có nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực (Sappatihariyam), không phải không có thần thông lực. Này Udayi, chính đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu và nghĩ rằng: 'Khi nói: 'Ta biết', nghĩa là Sa-môn Gotama có biết: Khi nói: 'Ta thấy', nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn thuyết pháp với nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực, không phải không có thần thông lực'. Ðây là pháp thứ hai, này Udayi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
Đức Phật không phải nói trên suy tưởng, suy luận mà Ngài thực thấy, thực biết, thực chứng, Ngài nói nhân quả của địa ngục, nhân quả của thiên giới, nhân quả của Niết-bàn, nhân quả của sanh tử. Đó là những điều Ngài thực chứng, thực thấy, thực biết bằng thắng trí, là trí tuệ thù thắng vượt phàm phu, chính chỗ này làm đệ tử thán phục tri kiến vi diệu của Ngài. Ngài nói sự chấp thủ năm uẩn là phiền não, khổ đau thì nó là như vậy, không thể khác được, dù cho Trái Đất có sụp đổ cũng không thể khác được, Ngài nói tham, sân, si là gốc rễ của tất cả tội ác bất thiện thì đúng như vậy, không thể sai khác, Ngài nói dục ái là đau khổ, sợ hãi thì muôn ngàn kiếp sau cũng như vậy, không thay đổi sai khác được vì những điều đó được Ngài thực chứng, thực thấy, thực biết, thực trải nghiệm cho nên các đệ tử tán thán tri kiến vi diệu của Ngài.
Trí tuệ tăng thượng
Lại nữa, này Udayi, đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng trí tuệ và sự kiện này không thể xảy ra khi họ nghĩ rằng: 'Sa-môn Gotama là vị có trí tuệ và thành tựu tuệ uẩn tối thượng. (Tuy vậy) Ngài không thấy trước một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá sau khi khéo léo nạn phá với Chánh Pháp'.
Trong Trung Bộ Kinh có nhiều bài kinh ghi lại sự bừng sáng, chiếu sáng trí tuệ của bậc Thánh, Ngài đã phá hết tất cả tà thuyết, những quan điểm vô minh, chấp thủ. Trong lời nói, hành động, cử chỉ của Ngài nêu bật lên để phá vỡ các vấn nạn làm cho những người đó phải lạy dưới chân quy y làm cư sĩ hoặc đệ tử xuất gia, thậm chí chứng quả A-la-hán.
Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Các đệ tử của Ta, sau khi biết như vậy, thấy như vậy, có thể làm gián đoạn một cuộc đàm thoại đang diễn tiến nửa chừng không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Này Udayi, Ta không chờ đợi sự giáo giới từ nơi những đệ tử của Ta. Trái lại, chính những đệ tử của Ta chờ đợi sự giáo giới từ nơi Ta. Do vậy, này Udayi, sự kiện này không thể xảy ra khi các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng trí tuệ và suy nghĩ: 'Sa-môn Gotama là bậc có trí tuệ và thành tựu tuệ uẩn tối thắng. (Tuy vậy) Ngài không thấy (trước) một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá, sau khi khéo léo nạn phá với Chánh Pháp'. Ðây là pháp thứ ba, này Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
4. Tứ Diệu Đế
Lại nữa, này Udayi, những đệ tử của Ta bị đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối, đến Ta và hỏi về khổ Thánh đế. Ðược hỏi về Khổ Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Họ hỏi Ta về Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Ðây là pháp thứ tư, này Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
Đạo Phật cứu khổ thế gian chính ở chỗ này. Những người đệ tử của Ngài đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối nên đã đến hỏi và được Ngài chỉ ra nguyên nhân đau khổ, Ngài thực chứng sự đau khổ và Ngài hướng dẫn con đường để chấm dứt khổ đau, Ngài làm cho người đó thỏa mãn với câu trả lời của Ngài, không còn nghi ngờ gì với câu trả lời đó nữa.
5. Con đường hành trì
(a. Tứ Niệm xứ)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Bốn Niệm xứ. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời, quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên các tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời. Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
Y cứ theo con đường Đức Phật dạy để tu tập sự quán chiếu thân thể, những cảm giác và những cái đang có mặt trong tâm để tẩy trừ những sự cấu nhiễm, những nguyên nhân sanh ra khổ đau trong cuộc đời này bằng những sự nhận diện thân tâm, nhìn thấy rõ được những cảm giác thúc giục, sân hận, si mê, hôn ám, những cảm giác ta đây, bản ngã bằng sự nhìn thấy và biết, nhiếp phục và đoạn tận, người trí tự mình thấy biết, tự mình giác ngộ. Chính con đường tu hành thiết thực, hiện tại đó Ngài đã giảng về ba mươi bảy phẩm trợ đạo làm cho hàng đệ tử đoạn trừ hết các lậu hoặc, "tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát". Học bài này chúng ta sẽ hiểu tại sao Đức Thế Tôn được các đệ tử tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, nương tựa tu học mấy ngàn năm nay.
(b. Tứ Chánh cần)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Bốn Chánh cần. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được trừ diệt, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm... Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Sau đó Ngài nói về bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Bát Thánh Đạo… Nhờ có nhân duyên là các vị ngoại đạo hỏi thì Đức Thế Tôn mới gầm lên tiếng gầm của sư tử làm đất trời rúng động, từ đó Thánh đạo, Thánh trí, Thánh pháp mới rực sáng, chói sáng. Chúng ta phải làm ra những bài kinh như vậy thì người ta đọc mới hiểu, đó gọi là tân biên đại tạng kinh. Ý của Minh Thành là muốn chuyển tải bài kinh thành ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu, thực tế để ai đọc vào cũng hiểu, đó gọi là tân biên đại tạng kinh chứ còn đọc vào chánh văn sẽ không hiểu được. Ngay cả những người có trình độ Phật học khá đọc cũng khó hiểu chứ đừng nói gì đến Phật tử thông thường rất khó hiểu.
Như vậy, thứ nhất là các vị đệ tử tán thán Đức Phật tăng thượng giới, thứ hai là tri kiến vi diệu, thứ ba là thán phục tăng thượng trí tuệ và thứ tư là Ngài nói về con đường diệt khổ, trong con đường diệt khổ có rất nhiều pháp để cuối cùng đoạn tận các lậu hoặc. Tự Đức Phật nói cho mình thấy tại sao Ngài được đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường và sống nương tựa vào Ngài.
./.