Bố Thí 2 - 5 Kết Quả & Phước Báu Của Sự Không Cẩn Trọng
Kinh Nikāya Giảng Giải
Bố Thí 2
5 Kết Quả & Phước Báu Của Sự Không Cẩn Trọng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cho các vật khả ý PAGEREF _Toc156589366 \h 1
II. Bố thí không cẩn thận PAGEREF _Toc156589367 \h 6
III. Quả báo của người xan tham PAGEREF _Toc156589368 \h 12
IV. Phước báu tâm từ PAGEREF _Toc156589369 \h 16
I. Cho các vật khả ý
Kính bạch chư tôn đức, kính thưa toàn thể chư vị hiền trí nam nữ Phật tử, Minh Thành cũng ít khi giảng về bố thí lắm nhưng đây là cái duyên để cho quý vị cư sĩ tại gia thành tựu thêm trí tuệ về pháp tu bố thí của mình, cho nên chúng ta sẽ học thêm những bài kinh Đức Phật giảng về những khía cạnh, phương diện, góc độ trong pháp tu bố thí. Bài kinh này là cho các vật đáng yêu, cho các vật khả ý tức là cho món đồ mình rất là quý, bài kinh có tên là cho những món đồ mà mình quý lắm với mang một cái nội dung là ai cho các vật đáng yêu sẽ nhận được điều đáng yêu. Ai cho người khác đồ quý giá thì mình sẽ được kết quả là những đồ quý báu.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của gia chủ Ugga người Vesàlì, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga, người Vesàlì đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người Vesàlì bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có cháo nấu từ hoa cây sàla thật là khả ý, có thể ăn được. Mong Thế Tôn nhận lấy cháo ấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có thịt heo nấu chung với trái táo, thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái (chúng con)!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có thịt heo nấu chung với trái táo, thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái (chúng con)!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có loại rau ống dài có dầu thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có cháo gạo, các hạt đen được loại bỏ dùng với các món canh, các món đồ ăn nhiều loại, thật là khả ái. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận như sau từ miệng Thế Tôn: "Ai cho vật khả ái, nhận được điều khả ý". Bạch Thế Tôn, con có các loại vải dệt từ Kàdi thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có ghế dài với nệm trải giường bằng lông cừu, chăn len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadalimigapavarapaccat-tharanam, tấm thảm có lọng che phía trên, ghế dài có hai đầu gối chân màu đỏ. Bạch Thế Tôn dầu rằng chúng con được biết: Những vật ấy không phù hợp với Thế Tôn, nhưng bạch Thế Tôn, tấm phản nằm bằng gỗ chiên đàn này đáng giá hơn một trăm ngàn, mong Thế Tôn hãy nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
Rồi Thế Tôn làm cho tùy hỷ gia chủ Ugga người xứ Vesàlì, với bài kệ tùy hỷ này:
Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Đối với bậc Chánh trực,
Vui lòng đem bố thí,
Vải mặc và giường nằm,
Ăn uống các vật dụng.
Biết được bậc La-hán,
Được ví là phước điền,
Nên các bậc Chân nhân,
Thí những vật khó thí,
Được từ bỏ, giải thoát,
Không làm tâm đắm trước,
Người thí vật khả ý,
Nhận được điều khả ý" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (VI), Cho Các Vật Khả Ái)
Ai cho những đồ quý sẽ nhận lại những món đồ quý giá. Bậc chánh trực ở đây là bốn đôi tám chúng hiền Thánh và chỉ luôn cho đức Chánh Đẳng Chánh Giác là Đức Phật. Trong đạo Phật chúng ta có tám quả vị của bậc Thánh, gọi là bốn đôi tám vị, bốn đôi tám chúng tức là Thánh quả thứ nhất, Thánh quả thứ hai, Thánh quả thứ ba, Thánh quả thứ tư. Thánh quả thứ nhất là bảy lần sanh đi trở lại trong cõi nhân thiên, khi đã vào được Thánh quả thứ nhất thì chỉ còn sanh tử bảy lần thôi.
Thánh quả thứ hai chỉ trở lại một lần thôi gọi Nhất Lai, một lần này có thể ở cõi nhân gian hoặc cõi thiên thượng. Thánh quả bất ba là không trở lại thế giới của loài người nữa, chỉ ở Tịnh Cư Thiên thôi, danh từ này có khi người ta gọi là Tịnh Độ của Phật Thích-ca Mâu-ni là ở Tịnh Cư Thiên, các vị Thánh ở tầng trời này chỉ có tiến lên để nhập Niết-bàn chứ không có lùi xuống, tức là ở cảnh giới này chỉ có bất thối chuyển. Thánh quả thứ tư là vô sanh, không còn sống chết sanh tử trong ngũ uẩn nữa, chứng được tâm bất động giải thoát.
Bốn quả vị này gọi là bốn quả, còn bốn vị hướng tới bốn quả này thì gọi là bốn đạo, tức là vị này chưa tới quả thứ nhất nhưng đang hướng tới quả thứ nhất thì gọi là sơ đạo. Tiếp theo là đã qua quả thứ nhất nhưng chưa tới nhị quả thì gọi là nhị đạo, sau đó là tam đạo, tứ đạo. Như vậy bốn đạo bốn quả, đạo là còn đang đi trên đường, quả là đã tới rồi, sau này mình nói bốn đôi tám chúng là tám bậc Thánh, Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, là bậc tối tôn, tối thượng trong hàng tám quả vị Thánh đó. Đức Thế Tôn nói những bậc La-hán tức là những vị sạch hết tham, sân, si, thì những vị này là ruộng phước vô thượng ở trên đời, các vị Thánh là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người, được ví là những mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu.
Khi chúng sanh gieo vào những mảnh đất này từ một hạt sẽ cho ra nhiều hạt, thu hoạch được kết quả rất lớn. Khi chúng ta cúng dường cho các vị từ Thánh quả thứ nhất hoặc là hướng tới Thánh quả thứ nhất trong bốn đôi tám chúng thì công đức không tính được, gọi là vô lượng vô biên, nếu mình cúng cho những vị đó thì công đức của mình cho đến khi chứng Niết-bàn mới hết cho nên Phật – Pháp – Tăng, tam bảo là vô thượng phước điền, là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người. Những bậc nhân trong khi chính là những người tu, khi họ cho những món đồ khó cho, tâm vị này không tiếc nuối thì họ đang ly tham, tâm không còn tham thì họ mới bố thí được những vật khó cho
"Rồi Thế Tôn sau khi tùy hỷ gia chủ Ugga với bài kệ tùy hỷ này, liền đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Ugga người Vesàlì, sau một thời gian bị mệnh chung. Bị mệnh chung, gia chủ Ugga người Vesàlì được sanh với một thân rất khả ý.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thiên tử Ugga, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Thiên tử Ugga đang đứng một bên:
- Này Ugga, sự việc có như ý muốn không?
- Bạch Thế Tôn, sự việc có được như ý con muốn.
Rồi Thế Tôn với bài kệ nói với Thiên tử Ugga:
Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Bố thí vật tối thượng,
Sẽ được quả tối thượng.
Người có vật thù diệu,
Nhận được điều thù diệu,
Người có vật tối thắng,
Nhận được điều tối thắng.
Người nào đem bố thí
Vật tối thượng, thù diệu,
Và các vật tối thượng,
Người ấy thọ mạng dài,
Và được cả danh xưng,
Tại chỗ vị ấy sanh" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (VI), Cho Các Vật Khả Ái)
Đức Phật thuyết pháp cho chư thiên là khoảng 4 giờ cho tới 5- 6 giờ sáng, cái lúc đó vị thiên này có dung sắc thù thắng chói sáng, nói cho dễ hiểu là giống như cả cái thành phố này sáng rực rỡ hết, sáng rực cả mấy chục cái quận huyện của mình. Ngài xuất hiện xuống đảnh lễ Đức Phật rồi Thế Tôn nói với thiên tử Ugga những việc mà ngài đã dạy cho ông và ông làm được như vậy, tới bây giờ kết quả có đúng vậy không, có đúng như ý muốn không, vị thiên tử Ugga này bạch Thế Tôn sự việc có đúng như ý con muốn. Đó là một gia chủ cúng dường cho Đức Phật nguyên một cái tấm gỗ trầm hương chiên đàn, đem những đồ quý nhất cúng dường. Lúc vị này cúng chắc là lớn tuổi rồi mà lại cúng ngay Đức Phật là bậc tối tôn, tối thượng của tam thiên, đại thiên thế giới nên chết đi được sanh nên làm thiên tử liền.
Thiên tử ở đây là một vị thiên nhân hoặc là những vị chư thiên hay là thái tử của cõi trời, chữ Thiên Tử có nhiều nghĩa nhưng nói chung chung là trở thành một vị thiên nhân, một vị trời và ánh sáng khi ngài xuống đây là hết cả cái thành phố Hồ Chí Minh rực sáng, chói sáng hết cả một vùng như vậy.
II. Bố thí không cẩn thận
Nội dung của bài kinh này nói về cho đồ quý thì được điều như ý, bây giờ qua cái này, cái này cũng rất đặc biệt mà có thể chúng ta chưa bao giờ nghe, đó là quả của việc làm bố thí với tâm không cẩn thận, cũng làm bố thí nhưng mà cái tâm không cẩn thận thì kết quả ra sao.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
- Này Gia chủ, Ông có bố thí trong gia đình của Ông không?
- Bạch Thế Tôn, trong gia đình của con có bố thí, nhưng chỉ có món ăn thô tệ làm bằng hột gạo bể, và cháo chua.
- Này Gia chủ, dầu bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí không cẩn thận, bố thí không có chú tâm, bố thí không tự tay mình, bố thí những vật quăng đi, bố thí không có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm không thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức y áo thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức các cỗ xe thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức năm dục công đức thù diệu. Và các người con, hay vợ, hay những người phục vụ, hay những người đưa tin, hay những người làm công, họ không có khéo nghe, họ không có lóng tai, họ không có an trú tâm hiểu biết. Vì sao? Này Gia chủ, như vậy là quả dị thục của các nghiệp làm không có cẩn thận" (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (X) Velàma)
Trong đây có 5 cái trường hợp, một là bố thí không cẩn thận, hai là bố thí không có chú tâm, ba là bố thí mà không có tự tay mình đem cho, mình nhờ người khác đưa, bốn là bố thí những vật bỏ đi, đem cho những món đồ nhiều khi là đồ hư, đồ oi, đồ dạt, chẳng hạn như mình không ăn nữa nên đem cho. Mình ăn không hết thì thay vì bỏ đi thì mình đem cho, cái cuối cùng là bố thí không có nghĩ đến tương lai. Đây là năm trường hợp bố thí, Đức Thế Tôn nói rằng kết quả đó thì kết quả như của bố thí không cẩn thận như 5 cái ở trên là tâm không có thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tức là khi mình có được cái kết quả, quả báo mà mình bố thí thì đồ ăn không có ngon, mình cũng được nhưng mình sẽ không có đồ ăn ngon.
Chúng ta thấy nhân nào quả nấy, mình vẫn có phước nhưng mà mình ăn đồ ăn không ngon vì lúc mình cho đâu phải đồ ăn ngon. Có những trường hợp đúng ra mình tính bỏ nhưng thấy thôi kệ, thôi giờ đem cho đi, hoặc đồ ăn dư hay đồ ăn thấy gần hết hạn vẫn đem cho, cái đó mình nói trường hợp thông thường, còn có những trường hợp là mình không có sự chú tâm, không có cung kính thì kết quả một là đồ ăn bình thường, hai là y phục quần áo mình có được cũng thường thôi chứ không phải loại tốt, ba là xe mình đi cũng tạm thôi chứ không phải xe hàng hiệu, bốn là cái mà mình thưởng thức, ví dụ như sắc; thanh; hương; vị; xúc, những món đồ, những âm thanh hay là những mùi vị thức ăn này nọ, những cái mình tiếp xúc cũng được thôi chứ không phải là thù thắng và cái cuối là con, hay vợ, hay chồng, hay những người phục vụ, hay những người làm công giúp việc cho mình khi mình nói thì họ không nghe lời, họ đơ đơ, muốn làm thì làm, còn không thì thôi, có con không hiếu thảo, nói nó không nghe lời hay là chồng cũng vậy.
Cái cẩn thận này hay lắm quý vị ơi, vua của 33 cung điện, trời Đế-thích tam thập tam thiên, tầng trời của ngài có 33 chỗ cư trú, 33 cái điện gọi là tam thập tam thiên chứ không phải 33 cõi trời. Tầng trời thứ 33 thì có 32 cung điện của 32 vị thiên sứ, ngài là vị thứ 33 là Đế-thích chủ mà bây giờ mình gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Một trong những đặc tính mà ngài trở thành vị trời đó là cẩn thận, một người cẩu thả thì quý vị nghĩ rằng có thể làm sếp được một công ty cả ngàn người không, đừng nói chi là vua trời, mà đây vua của 33 cung điện thành ra cái người có tâm cẩu thả, tâm sơ sài, một cái tâm qua loa, ẩu tả thì người đó tu không có kết quả thăm sâu, làm việc cũng vậy, học pháp cũng vậy, không có đi có tới cái độ thâm sâu được chỉ học phớt phớt thôi, làm gì cũng thất thoát. Chính vì vậy ngày cả trong việc bố thí không cẩn thận thì được kết quả không viên mãn, cũng được nhưng mà không có viên mãn. Quý vị thấy tầm quan trọng của sự cẩn thận không? Quý vị có cẩn thận nhiều không? Tu có cẩn thận không?
"Rồi Gia chủ Anàthapindika với khoảng năm trăm nam cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
- Này Gia chủ, Ông đã cung cấp cho chúng Tỳ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng Ông chớ có bằng lòng với ý nghĩ: 'Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỳ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh'. Do vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập như sau:
'Với phương tiện nào chúng ta thỉnh thoảng đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh'. Như vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ, (VI). Hoan Hỉ)
Đức Phật nói ông Cấp-cô-độc đã cung cấp cho chúng Tỳ-kheo rất là nhiều tứ sự cúng dường, tức là y, thực phẩm, thuốc trị bệnh, phòng ốc, giường chõng nhưng mà ông chớ có bằng lòng, chớ có suy nghĩ rằng ta đã làm những thứ này rất là nhiều. Nếu mình hài lòng, mình bằng lòng thì thứ nhất là mình sẽ tự cho như vậy đủ rồi, mình không có tiến, không có tăng thượng trong công đức nữa, chỗ này là chỗ quan trọng.
Mình nói cái để mình nhìn nhận cái vấn đề mình tu chứ không phải mình nói xấu ai hết, rất nhiều vị cúng dường rồi sau đó đổi tánh, lúc mới đi chùa nhiều khi dễ thương hơn, lúc làm nhiều ở trong chùa hay cúng nhiều này nọ, có khi không còn dễ thương. Chỗ này quan trọng "Tôi làm nhiều, tôi cúng nhiều, tôi là đại thí chủ ở đây", chỗ này thất bại rồi, khi ý nghĩ đó xâm chiếm trong con người, nó tồn tại trong mình thì có bản ngã và có sự hài lòng, tự mãn, thỏa mãn, không có tăng trưởng trong thiện pháp, công đức, phước báo nữa.
Bài kinh này Đức Phật dạy ông Cấp-cô-độc và chúng ta biết ông Cấp-cô-độc theo sát Đức Phật, người lâu lâu lại cúng chắc Đức Phật không có nói bài kinh này đâu. Ông Cấp-cô-độc theo sát Đức Phật, gọi là cận sự nam, Đức Phật nói nếu như trong trường hợp có thể được thì ông Cấp-cô-độc phải an trú cái tâm hoan hỉ, vui thích, hạnh phúc khi được rời xa ngũ dục. Ngày hôm nay là ngày quý vị được tẩm bổ bằng thuốc bổ tâm linh, hôm nay là ngày hạnh phúc nhất trong nửa tháng của quý vị, 14 ngày kia quý vị đâu có được giống như ngày hôm nay, ngày hôm nay là ngày mà quý vị được tẩm bổ thuốc bổ tâm linh tối thượng cao cấp nhất trên thế gian này. Quý vị có vui không? Có hoan hỉ không? Có hạnh phúc không? Đó gọi là hỷ do viễn ly sanh, ngày hôm nay quý vị viễn ly, rời xa, có thể những ngày quý vị ở nhà cái tâm quý vị cũng hướng tới viễn ly nhưng mà đó là tâm viễn ly còn thân chưa viễn ly.
Bây giờ quý vị đang ngồi đây thân viễn ly, tâm viễn ly, cả hai đều được viễn ly hết. Hạnh Phúc không? Thế Tôn nói với ông Cấp-cô-độc thỉnh thoảng có phương tiện nào, có cách thức nào thì ông hãy an trú niềm hỷ lạc do ông được rời xa vợ con, công việc, tiền bạc, sự nghiệp. Ông rời xa tức là ông đến Tinh Xá, ông ngồi dưới gốc cây, ông nghe pháp, ông thiền tập, ông ngồi tỉnh tọa tỉnh tâm tư duy thiền quán, đó gọi là hỷ do viễn ly sanh cũng là trạng thái của sơ thiền.
Sơ thiền là ly sanh hỷ lạc địa, ly ở đây là lìa được những cái thú vui thấp hèn, tầm thường, bình thường của thế gian. Thí dụ như giờ này ở nhà quý vị có thể nằm trên ghế cầm remote bấm, nhiều khi ghế Massage nữa, nhưng bây giờ quý vị rời tiền bạc, công việc, tính toán, lo toan con cháu, chồng vợ, đủ thứ nhân duyên, gọi là hỷ do viễn ly sanh. Thế Tôn kêu ông Cấp-cô-độc thỉnh thoảng tu sự rời xa, tu sự lìa xa, tu sự thoát ra.
Ngày hôm nay là ngày quý vị được thoát ra đó, có biết mình đang thoát không? hôm nay là nhất nhật giải thoát, gọi là một ngày thoát tục, khóa tu trên núi là 7 ngày thoát tục, ngoài ra cũng có khóa tu hai tuần cạo đầu gọi là nửa tháng ly trần. Đó chính là hỷ do viễn ly sanh, Đức Thế Tôn kêu ông Cấp-cô-độc tu sự rời xa, mình không tập rời xa thì sau này mình khổ lắm. Tại sao Đức Phật và các bậc Thánh rất tuyên dương, khen ngợi, xưng tán, ca tụng đời sống rời xa? Đời sống chung chạ, chung đụng này nọ có nhiều cái vấn đề lắm, thí dụ quý vị đang yên ổn nghe pháp tự nhiên quý vị gặp đứa con là muốn nói này nói kia, nó làm gì đó mình thấy bắt đầu khởi tâm lên muốn nói, xúc thì sanh cảm thọ, sanh ra những cái tưởng, sanh ra cái hành, thân khẩu hành, ý hành.
Đang ngồi nghe pháp mà chồng nói thấy có cái này đẹp lắm, mở điện thoại ra cho xem rồi rủ ra đó mua, mà đâu phải về là xong đâu, mấy ngày sau tâm vẫn còn tham ái vô món đồ đó làm mất thời gian tu. Đồ xịn nên về phải thử, thế là bỏ giờ nghe pháp, bỏ giờ ngồi thiền, bỏ bớt giờ tụng kinh, quấn quýt trong cái món đồ đó, thành ra tiếp xúc là dính mắc, gặp đâu dính đó. Đó là nói cái tham ái, bây giờ nói sân, điện thoại mới kêu lên mở nghe là nổi lên phẫn nộ, bực bội, sân si, cho nên đời sống viễn ly giúp cho mình bớt phiền, bớt não, bớt cái hệ lụy, bớt cái trói cột, bớt những cái mối quan hệ không cần thiết.
Mình có rất nhiều gánh nặng, tự nhiên bây giờ đang ngồi yên tĩnh nhưng bên trong thân có yên tĩnh được không? Đó là thân viễn ly rồi nhưng tâm chưa viễn ly được thì huống hồ chi cái thân không viễn ly, tức là cái thân ở trong chỗ lăng xăng, dao động, tất bận đủ chuyện thì tâm làm sao yên tịnh được. Cái thân ngồi yên mà tâm vẫn không yên thì huống chi cái thân dao động, bận rộn thì làm sao tâm yên được.
Tuy nhiên điều quan trọng là đi đâu cũng rủ bạn vì sợ đi một mình buồn, làm gì cũng rủ người kế bên nhưng tới khi đi thật xa rủ không ai đi. Chết rủ không ai đi, lúc đó mới là lúc quan trọng nhất vì lúc đó là mình không biết mình đi đâu, lúc đó là lúc gọi quan trọng nhất trong tất cả quan trọng, cận tử nghiệp, không biết đi đâu hết. Chính vì vậy mà quý thầy hay là Đức Phật, các bậc thánh luôn luôn khuyến khích mình sống đời sống viễn ly vì thứ nhất mình tránh duyên thì tâm mình mới yên, các pháp nó mới hiện ra, mình coi trong tâm còn dơ chỗ nào.
Bây giờ quý vị thấy khách cứ lại nhà hoài mình có thời gian làm công việc của mình không? Hoặc là mình đi cứ đi chơi hoài rồi mình có thời gian lau chùi, quét dọn, vệ sinh phòng ốc, nhà cửa mình không? Muốn vậy thì mình phải đóng cửa lại hết, mình ở trong đây yên tĩnh mới coi ngõ ngách, ngóc ngách, cái nhà của mình là vô lượng, vô lượng năm, vô lượng kiếp, trong đó là không biết bao nhiêu lớp tham, sân, si, dục ái, bản ngã, vô minh, đủ thứ trò chơi.
Bây giờ tối ngày cứ chạy ra ngoài rồi nhìn cái này, nhìn bên kia rồi phiền, bực, cứ chê nhà người nọ nhưng mà cái nhà mình thì bốc cái mùi kinh khủng, kinh hãi, kinh khiếp và khủng khiếp. Cho nên đời sống của chúng ta hay là lâu lâu quý vị phải tập sống một mình, sau này trên núi Minh Thành làm thêm các thất, thậm chí các Phật tử tu kha khá cũng cho nhập 5 ngày, 7 ngày, ở một mình để đối diện với chính mình. Mình phải tập đối diện với chính mình n hay rất nhiều cái, đến khi mình bệnh và đến lúc lâm chung mình sẽ có một sức tự chủ tại vì mình đã từng ở một mình rồi, lúc này chính là lúc mình đi một mình thôi. Cái gì cũng cần tập từ từ, đâu phải tự nhiên lên xe chạy được, hay là mới vào đã muốn làm vua đầu bếp liền hả hay là phải tập, phải học, cũng vậy, cái tu cần phải tập.
Cho nên Thế Tôn kêu ông Cấp-cô-độc phải an trú, thỉnh thoảng có phương tiện, có điều kiện an trú hỷ do viễn ly sanh. Làm sao tìm được niềm vui khi mình ở một mình, cho nên những lúc quý vị ở nhà không có ai thì tập an trú vào pháp. Thậm chí đi chùa cái khóa tu này cũng vậy, quý vị đừng có lúc nào cũng tụ họp, lúc ra chơi, lúc rảnh, nhất là lên núi thì quý vị kiếm một cái gốc nào đó ở một mình, quý vị ngồi quay mặt vô vách tường, ở trên núi thì mình quay mặt ra nhìn trời mây, còn ở đây quay mặt vô vách tường hoặc nhìn lên tượng Phật một mình rồi mình ngồi mình lắng dịu coi cái tâm của mình, coi những thứ có hàng tồn kho ở trong này không. Ngồi nhắm mắt nhưng trong tâm hiện ra hết hình bóng này đến hình bóng khác, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ nọ, hết cảm thọ này đến cảm thọ khác, thọ; tưởng; hành vận hành trong đó để mình lo xử lý, vệ sinh, thanh tẩy.
Mình phải lo làm công việc của mình, nếu cứ chạy ra ngoài suốt đời cũng không biết tu tâm, không biết vệ sinh tâm, không biết làm đẹp tâm, làm mới tâm, tới lúc ra đi khổ lắm. Đức Thế Tôn tán thán cái viễn ly rất nhiều, ngài thương ông Cấp-cô-độc nên ngài nhắc nhở, cúng dường được phước rất nhiều, mai này thành thiên tử, cuối đời ông Cấp-cô-độc được ngài Xá-lợi-phất, Đức Phật đến thuyết pháp trên gường bệnh thì ông Cấp-cô-độc chứng Thánh quả. Như vậy phước thì ông có làm rồi, Đức Phật khuyến khích ông tu thêm trí tuệ nữa, khi phước trí đầy đủ thì thành thánh đệ tử, trở thành là thánh cư sĩ.
III. Quả báo của người xan tham
"Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?
(Thế Tôn):
Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Bị tái sanh địa ngục,
Bàng sanh, Dạ-ma giới.
Nếu được sanh làm người,
Sanh gia đình nghèo khó,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được rất khó khăn.
Điều kẻ ngu ước vọng,
Họ không thâu hoạch được,
Quả hiện tại là vậy,
Đời sau sanh ác thú" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, IX. Xan Tham)
Đối với mình một cái áo, một cái quần hay là một bữa cơm, bữa ăn rất là bình thường, thậm chí mình còn không có nghĩ tới nữa, đối với mình quá là thường đi nhưng mà quý vị biết không, mình đi về trong mấy chỗ vùng sâu, Minh Thành đi qua vào sát ở trong rừng, chỗ ở cũng những người đồng bào dân tộc ở bên làng tu đang thành lập xây dựng, đứa con nít 3-4 đứa không có quần áo mặc mà trời đông giá lạnh, mặt mày lem luốc dơ bẩn, đói khát, thiếu thốn.
Mình đem quần áo cũ qua, mình đem đồ ăn, mình cho bánh này nọ, nhìn thấy rất xót thương, cho nên tất cả chúng ta ngồi đây là nhiều đời nhiều kiếp chúng ta tu tập bố thí, nếu không chúng ta không có ngồi đây đâu mà ngồi ngoài vỉa hè, ngoài công viên, ở dưới dạ cầu. Có những hình ảnh xúc động lắm, bà cụ 90 tuổi đẩy xe bán mấy trái xoài, mấy trái cóc, mấy bó rau, có những ông già mù 70 tuổi, 80 mấy tuổi bán vé số rồi ca hát ngoài vỉa hè, giữa đường hát rồi bán vé số. Một bữa cơm của người ta là cả một vấn đề.
Nhân duyên ở đây Đức Phật nói là nhân duyên ngăn người khác bố thí, có nhiều người rất lạ, họ không cúng, họ cũng không cho, người ta cúng thì họ nói, họ chê bai này kia, họ ngăn cản không cho bố thí, cái đó Đức Phật gọi là tâm xan tham, keo kiệt, bủn xỉn. Minh Thành có một người cô giàu khủng lắm chứ không phải giàu bình thường, mang dép bị đứt là lấy kẽm buộc lại, còn áo là áo rách, vá tùm lum mà tiền vàng là khủng lắm chứ không phải giàu bình thường đâu, tới bây giờ là cháu giật hết, bao nhiêu trăm cây vàng, tài sản bị giật hết.
Bây giờ tám mươi mấy tuổi rồi ngồi bán từng cái lưỡi câu mà móc con cá, dây gân, mấy cái đồ để bắt cá. Mình thấy cũng tội nghiệp vì đó là bà con, nhiều khi lâu lâu về quê lại thăm, mình cũng tạo cái duyên cho làm phước mà không có làm, "bác không có tiền gì hết, bác không có đồng bạc nào hết, bây giờ bác khổ lắm" mà nhà lầu 3-4 tầng. Thành ra rất là đáng thương, thời Đức Phật có một cái câu chuyện là vua Ba-tư-nặc đi ngang ghé Đức Phật ngay giữa trưa nắng, Đức Phật hỏi giờ này trưa nắng mà bệ hạ đi đâu, nhà vua nói mình đi vào trong thành để thâu một triệu đồng tiền vàng của một cái ông tỷ phú này, ông này chết nhưng không có con.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala, giữa trưa, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương đi đâu lại giữa trưa như thế này?
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi bị mệnh chung. Và con đến để xem tài sản của vị không có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của vị triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi xe nhỏ cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Có Con)
Tiền vàng hồi xưa đó là nó hơn cái tờ 100 đô la bây giờ, một cái đồng tiền vàng giá trị nó quý lắm, có rất nhiều tiềm vàng mà ăn cháo chua, cháo cũ, cháo ngày hôm qua, mặc vải thô ráp, còn cái xe thì cái tán ở trên bằng cỏ tranh, nghèo khổ vậy đó, nhân quả của ổng là triệu phú, tỷ phú nhưng mà ăn đồ hư, mặc đồ rách, đi xe cũ tả tơi. Cái nghiệp của ông là do hồi xưa đó ông ấy cúng cho một vị Bích-chi Phật, cúng cho một vị độc giác Phật một bữa cơm, phước lành của ông đó là cúng chỉ có một bữa cơm nhưng lại đúng ngay bậc độc giác Phật.
Độc giác là ngài ra đời tự ngài giác ngộ, ngài không gặp thời có Phật nên tự ngài tu, tự ngài giác ngộ nên ngài không độ được bao nhiêu người hết. Ông này cúng xong rồi hối tiếc, nghĩ rằng uổng quá để cho mấy người làm công ăn còn tốt hơn nữa, do cái phước cúng ngay một bậc độc giác cho nên ông làm triệu phú nhiều đời, nhưng mà ông thọ nhận cái tâm keo kiệt, bủn xỉn, cúng rồi hối tiếc thì ông không có xài được những cái đồ đó.
"-- Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, vị triệu phú gia chủ ấy thuở xưa, đã bố thí đồ ăn khất thực cho một vị Bích-chi Phật tên là Tagarasikkhi. Vị ấy nói: 'Hãy bố thí cho vị Sa-môn'. Nói xong, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi bỏ đi. Nhưng về sau, vị ấy hối tiếc, nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục dịch hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Và hơn nữa, vị ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy.
Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy có bố thí đồ ăn khất thực cho vị Ðộc Giác Phật tên là Tagarasikkhi. Do kết quả hành động ấy, vị ấy được sanh bảy lần lên thiện thú, Thiên giới. Do kết quả dư hưởng còn lại, vị ấy được làm nhà triệu phú bảy lần ở Sàvatthi này.
Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy sau khi bố thí về, lại hối tiếc nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục vụ hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Do kết quả của hành động ấy, tâm của vị ấy hướng về các món ăn không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các đồ mặc không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các xe cộ không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về sự thọ hưởng năm dục công đức không được tốt đẹp" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Có Con)
Do kiếp trước ông ấy giết người anh em để đoạt tài sản cho nên sanh đời nào cũng không có con tiếp nối tài sản nên tài sản bị đưa vào quốc khố. Được làm triệu phú 7-8 đời nhưng đời nào cũng không có con nối nghiệp tài sản mà hưởng thụ là những thứ mục nát, nghèo nàn, dơ xấu, ăn đồ hư, đồ cũ. Vậy là ăn bố thí rồi hối tiếc, nói rằng cho vị Sa-môn này ăn uổng quá, phải chi cho mấy người làm công ăn tốt hơn.
"Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy. Do kết quả hành động của vị ấy, vị ấy bị nung nấu ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm. Do kết quả dư hưởng còn lại, gia tài không con bảy lần phải nhập vào công khố của vua. Thưa Ðại vương, đối với người triệu phú gia chủ này, các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được chứa cất thêm. Và nay, thưa Ðại vương, người triệu phú gia chủ đang bị nung nấu trong địa ngục Mahàroruva.
-- Bạch Thế Tôn, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahàroruva?
-- Thưa Ðại vương, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahàroruva" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Có Con)
IV. Phước báu tâm từ
Mỗi cái nhân quả rất là vi tế, có nhiều cái để mình cẩn thận thân, miệng, ý của mình. Bây giờ chúng ta bước vào cái bắt đầu rộng lớn lên, đây là bài kinh Cái nồi trong Tương Ưng Bộ, tập II.
"... Trú ở Sàvatthi.
-- Này các Tỳ-kheo, ai vào buổi sáng bố thí một trăm cái nồi, ai buổi trưa bố thí một trăm cái nồi, hay ai buổi chiều bố thí một trăm cái nồi, và ai buổi sáng chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, hay ai buổi trưa chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, hay ai buổi chiều chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, sự việc này đối với sự việc trước, quả có lớn hơn.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện'.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, IV. Cái Nồi)
Nãy giờ con trải tâm từ vô con muỗi, từ lúc vô ngồi tới giờ nó đốt hoài luôn, nãy giờ trải tâm từ cho nó từ lúc vô ngồi tới bây giờ, nó cứ lòng vòng lòng kiếm hoài luôn. Bài kinh này Đức nâng cấp lên, hồi sáng cho tới giờ Đức Phật nói nhân quả của bố thí, Đức Phật khuyến khích mình, nhưng mà bài kinh trước Đức Phật khuyến khích sự viễn ly, nghĩa là mình vui khi được sống một mình, mình hạnh phúc khi được rời xa những cái tầm thường, phàm tục của thế gian, những cái lăng xăng, lộn xộn để mình tập một cái tâm an tịnh, lắng dịu, thanh tịnh, viễn ly. Bây giờ Đức Phật tán dương từ tâm giải thoát, đây là nâng cấp lên, tại sao buổi sáng bố thí cả trăm nồi thức ăn, buổi trưa bố thí 100 nồi, buổi chiều bố thí 100 nồi vẫn không bằng một người tu tập từ tâm giải thoát trong một thời gian rất ngắn, ở đây gọi là bóp vú sữa của một cái con bò.
Ở bên Ấn Độ người ta hay vắt sữa bò lắm, bây giờ là một lần vắt sữa vậy thôi tức là một cái thời gian rất ngắn, trong tích tắc tu tâm từ giải thoát mà cái phước còn hơn cả người sáng, trưa, chiều bố thí 300 cái nồi cơm. Phải tu tâm từ với con muỗi, mình thấy vậy chứ oan gia trái chủ với nhau hết đó, mình cứ nghĩ nó nhào vô chích mình rồi mình đập nó thì đó là oán oán chất chồng, không có ngày giải quyết, đó là oan gia trái chủ của mình, tức là có khi mình không biết tu là có khi mình đổ máu, mình biết tu thì mình chỉ té quẹt chút xíu, trầy chút thôi, mình biết tu còn hơn nữa, công đức quá nhiều rồi có thể chỉ bằng con muỗi chích thôi. Vậy mà có người muỗi chích cũng không chịu, phải đập một cái mới chịu.
Có người nói "sao mà con đi tu, con bố thí, con cúng dường, con làm phước, con đi chùa, con tụng kinh mỗi ngày mà sao con gặp chuyện này", do người này không rõ cái nhân quả nghiệp báo, người này lấy ra ông nọ cắm càm bà kia, không hiểu vấn đề. Mình bố thí là bố thí, là cái phước đó mình có, nhưng mà cái chuyện mình bị mất cái này là cái nghiệp của mình trong quá khứ chứ không phải mình do mình đi chùa mà mình gặp cái này.
Không phải như vậy, nhiều khi có người hiểu lầm vậy đó, nói rằng "sao mình cũng đi chùa, mình bố thí này nọ, tự nhiên mình gặp nhỏ này ăn cắp đồ", không phải vì đi chùa mà bị ăn cắp đồ, mình hiểu cái này thì rất hay, khi mình hiểu được nhân quả nghiệp báo thì mình không có trách ai hết, tất cả mọi sự mọi việc, mọi tình huống, mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh, mọi con người, mình đều không có trách bất cứ cái gì hết, có trách là trách mình không khéo tu.
Chỗ này là mình giác ngộ về nghiệp quả, khi giác ngộ là thưa quý vị không phải giác ngộ có một việc đâu. Đức Thế Tôn gọi là bậc toàn giác, tức là tất cả mọi phương cạnh, góc độ, khía cạnh nào ở trong đời sống này ngài đều biết hết, ngài biết một cách tận tường, đầy đủ, đồng đều, tròn trịa, viên mãn gọi là bậc toàn giác, bậc đại giác, bậc chánh giác, bậc vô thượng giác. Khi mình học với ngài thì mình sẽ biết được hết tất cả mọi góc độ, khía cạnh trong cuộc sống này, đây là nói về khía cạnh nghiệp quả, còn khía cạnh cảnh vô thường khác, khía cạnh khổ khác, khía cạnh vô ngã khác, nhiều khía cạnh, nhiều trí tuệ lắm cho nên mình phải học là vậy đó.
Ngay bản thân Minh Thành nếu không có tu là giờ này không ngồi đây đâu, cũng phải chết phải ít nhất cũng chục lần, mình tu là mình biết được mình chuyển cái nhân quả, chuyển được nghiệp quả, mình có chánh niệm và tỉnh giác, lấy cái thân làm ví dụ để quý vị tin tưởng mà tu học. Có nhiều chuyện rất lạ, mình giúp cho họ, thậm chí là cứu cả gia đình họ nhưng sau đó họ lại muốn đốt chùa, muốn chém mấy ông thầy thì mình biết đây là oan gia trái chủ, không phải chuyện bình thường nên mình cố gắng trải tâm từ họ, tiếp tục giúp họ. Vậy mà cảm hóa họ được, họ thay đổi luôn tánh tình, cái này quý vị phải tin, quý vị phải bằng chánh niệm và tỉnh giác sẽ thấy xung quanh quý vị rất nhiều. Cái này thưa với các vị là bản thân mình thành là gặp hàng lố chứ không phải một hai người đâu, nhưng cái may mắn của mình là mình hiểu nhân quả nghiệp báo nên mình thương họ.
Chỗ này là bí kíp, từ tâm giải thoát sẽ hóa giải tất cả nghiệp, mình phải thương họ và cũng thương mình. Thương mình tại vì mình đã gây nghiệp với họ chứ không tự nhiên ai làm kỳ vậy, mình giúp cho họ đúng ra là họ quý mình không hết chứ, nhưng mà họ lại hại mình, họ nói xấu mình, cho nên phải trải tâm từ thì mình sẽ hóa giải cái nghiệp đó hết luôn, tan biến hoàn toàn, diệt tận cái nghiệp đó luôn, sạch hết luôn, coi như không còn vương vấn một chút gì nữa hết luôn. Tức là mình không để cho cái tâm mình có hận thù, có ghét bỏ, hay là có sự hờn mác, muốn được như vậy phải tu từ tâm giải thoát, muốn tu từ tâm giải thoát thì phải hiểu được khổ thánh trí.
Phải thấy được khổ mình mới thương, mình không thấy được mình khổ và chúng sanh khổ thì cái thương của mình là cái thương gượng ép thôi, cái thương đó không có tới nơi tới chốn, có thương đi nữa là mình thương cái ái, mình thương ở trong một cái sự gượng ép. Khi mình thấy khổ, thấm khổ, mình thực chứng cái khổ, chưa chứng Thánh gì cả mà chỉ cần chứng khổ thôi thì quý vị mới thương vô cùng thương, thương ơi là thương, thương sao là thương, thương không còn cái gì ở trên đời này có thể diễn tả được hết cái thương của mình khi mình thật sự thấm được cái khổ đau ở trong ngũ uẩn này, khổ đau ở trong nhân quả này, khổ đau ở trong cái nghiệp báo này, khổ đau ở trong những cái oan gia trái chủ này, khổ đau trong lòng sân hận, khổ đau trong lòng tham muốn, khổ đau trong lòng khao khát, thèm khát, đói khát, thèm muốn, tham dục, ái dục, ác dục, dục vọng này, khổ đau trong những cái tâm bản ngã, hơn thua, ganh tị, đố kỵ, những cái tâm ghim gút, cộc cằn, lợi dụng, ác độc, dối trá, gian xảo, quỷ quyệt.
Mình thấy hết tất cả, mình kêu lên "đây là khổ, khổ là đây, Thánh chuông vang động trời mây muôn loài. Cái gì sánh phải diệt Thôi cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan". Hơn thua với nhau là khổ, tranh đấu với nhau, anh em ruột tranh đấu với nhau là khổ, vợ chồng bắt bẻ với nhau từng chút, ghim rút rồi cái tôi ai cũng đòi hơn đòi đúng là khổ, giành giật, đấu đá, lừa đảo, gian dối, xảo trá, tất cả là khổ, là một cái đống đại khổ uẩn, một cái đống khổ vĩ đại trong cái địa cầu này.
Chừng nào mình thấy được hình hài này là khổ, chừng nào mình, dù cho cảm giác vui vẫn là khổ vì cái vui đó ràng buộc mình, làm cho mình thèm khát, mình bị lệ thuộc, chừng nào mình thấy được những hình bóng trong tâm mình, những cái tưởng này là khổ, những suy nghĩ này cứ nói lầm thầm, rù rì, thỏ thẻ, thì thầm, thở than suốt ngày làm cho mình khổ. Suy nghĩ "khinh thường tôi hả?", "khinh khi tôi hả?", "khinh bỉ tôi hả?", "coi tôi không ra gì phải không?" là khổ, nó hành hạ mình, làm mình ngủ không được, ăn không ngon, nhận thức theo chiều vô minh, theo chiều si mê này là khổ đau.
Khi thấy được ngũ uẩn này là khổ thì lúc đó nhìn mấy cái ngũ uẩn kia cũng y chang như mình thôi, đâu có khác gì đâu, cũng đầy rẫy tham, sân, si, cũng đầy rẩy dục ái thôi, cũng đầy rẩy những thèm khát, khao khát, thiếu thốn, đòi hỏi, cũng đầy rẫy những sự hơn thua, ta đây, có cái gì khác đâu. Tất cả là ngũ uẩn, tất cả là tham, sân, si, tất cả là dục ái, vô minh, bản ngã, tất cả là nằm trong khổ đau, nằm trong bất an, nằm trong tai họa, nằm trong sự biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát. Nó là sinh diệt pháp, nó là cái thứ trống rỗng rồi cuối cùng kết thúc cuộc đời này nước mắt, 1000 người chết cũng kết thúc trong nước mắt, 100 người chết cũng kết thúc trong nước mắt, 1 người chết cũng kết thúc trong nước mắt, một mình mình, một người thân của mình chết cũng kết thúc trong nước mắt.
Thương nhiều được không? Cảm thông được không? Tha thứ được không? Bao dung được không? Độ lượng được không? Trải lòng được hay là không? Khi mình hiểu được điều này, chính vì cùng cảnh ngộ với nhau, cùng là nạn nhân của tham, sân, si, cùng là nô lệ của dục ái, của tham, cùng là đầy tớ của vô minh và đệ tử của bản ngã, của cái tôi, tất cả đều khổ thì như vậy mình thương cảm, thông tha thứ và như vậy mình mới tu được từ tâm giải thoát, tâm thương này mới tỏ rộng cùng khắp thế giới này, tâm thương là mới tỏ rộng khắp trời đất bao la. Còn có chúng sanh nào mà không đáng thương? Chúng sanh đáng thương nhất trên hành tinh này chính là mình, thương mình thật nhiều và thương chúng sanh thật nhiều, khi tâm thương đã đủ lớn rồi, nó đã đủ đầy rồi, không còn chấp nhặt những cái nhỏ nhặt, hơn thua, chỉ còn một tình thương rộng lớn, tha thứ hết, xóa bỏ hết, độ, lượng bao dung hết, cảm thông hết, chúng ta cùng là những nạn nhân. Thôi, mình cố gắng để thoát ra cái tù này đi, ở trong tù mà đánh lộn nữa, bị biệt giam thì có phải khổ chồng khổ không?
Phải làm sao cố gắng đi được ra khỏi cái tù ngục này, cái ngục của ngũ uẩn, của tứ đại, của cái vô thường này, cái ngục của sanh ra, rồi lớn lên, rồi dục, tham ái, rồi sân si, bản ngã, rồi già, bệnh, chết đầy rẫy bất an, tai nạn mà đời nào sinh ra cũng vậy hết. Nếu có phước thì được làm người, lên chư thiên nhưng mà hiếm lắm, còn không là lọt xuống làm mấy cái thân giòi, thân chuột, thân gián, thân kiến, thân muỗi, rồi mấy cái thân những con trâu, con bò vậy đi kéo cày, những con ngựa khổ sở vậy.
Cho nên Đức Thế Tôn nhìn thấy được, ngài chứng đắc bốn thánh trí về ngũ uẩn chứng, chứng đắc bốn thánh trí về lậu hoặc rồi ngài kêu đây là khổ, ngài chứng đắc được Tứ Thánh Đế, tất cả các lậu hoặc, tâm mê dứt sạch hết, đại từ, đại bi, vô lượng tâm của ngài thành tựu viên mãn. Như vậy thì tu được cái tâm từ đó quý vị mới thấy rõ công đức vô lượng, còn bố thí là mình cho vật chất thôi nhưng mà cái tâm hiểu và thương họ, cái tâm đó thâm sâu, trí tuệ và cái trí tuệ này đưa mình thoát ra. Cho nên công đức của nó mới vô lượng, còn vật chất có khi mình làm để mong hưởng thì nó còn ở trong luân hồi, thành ra nó hữu lượng, nếu như mình hiểu được cái khổ để mình muốn thoát ra, mình thương tất cả chúng sanh đều đang khổ, mình muốn mọi người thoát ra hết thì cái từ đó là vô lượng, tình thương đó là rộng lớn.
Mong rằng sau buổi học này tất cả quý vị về nhớ bài tập này, cái đề mục thiền này, quý vị về nhớ tập thương mình thật nhiều. Khi mình nổi giận lên thì tác ý "tâm ơi tâm, ta thương mi quá, tội nghiệp mi quá, tâm mê ơi là tâm mê. Mày giận hoài vậy tâm? Sao mày kiếm chuyện hoài vậy? Làm ơn để yên cho tao tu giùm". Mình kêu cái tâm mình vậy đó, rồi nó tham lên thì nói "thôi tâm ơi là tâm, mày mê vừa vừa thôi tâm ơi. Bây giờ mày còn ham cái gì? Mày già rồi mà còn ham cái gì nữa tâm?", tham từ trẻ đến già rồi còn tham cái gì nữa, bây giờ tham được cái hũ để nốc tủ hay tham cái gì? Khi muốn hơn thua thì nhắc tâm "mày làm ơn, mày hơn thua riết rồi cuối cùng mày cũng xuống cái lỗ ngang 1 thước dài 2 thước, mày hơn thua nhiều quá thì mày xuống cái lỗ đó sớm, mày lo tu đi để đi lên trên". Mình kêu cái tâm "thôi tâm ơi từ, bi, hỷ, xả đi, tâm quảng đại rộng lớn đi, đừng có nhỏ hẹp, nhỏ nhặt, nhỏ mọn".
Tu cái tâm thương rồi cho nó rộng lớn, cho nó dào dạt, cho nó ngọt ngào, cho nó dễ chịu, dễ thương, hiền hòa, hiền lành, hiền đức, hiền nhân, hiền hậu, hiền lương, hiền trí để mình theo bậc hiền thánh. Mình kêu hoài như vậy, có thời gian rảnh là cứ kêu vậy đó, thức tỉnh tâm mê, đánh thức cái tâm, đừng cho nó ngủ mê, ngủ mê vô lượng vô biên kiếp rồi bây giờ phải đánh thức nó,
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Bố Thí 2
5 Kết Quả & Phước Báu Của Sự Không Cẩn Trọng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cho các vật khả ý PAGEREF _Toc156589366 \h 1
II. Bố thí không cẩn thận PAGEREF _Toc156589367 \h 6
III. Quả báo của người xan tham PAGEREF _Toc156589368 \h 12
IV. Phước báu tâm từ PAGEREF _Toc156589369 \h 16
I. Cho các vật khả ý
Kính bạch chư tôn đức, kính thưa toàn thể chư vị hiền trí nam nữ Phật tử, Minh Thành cũng ít khi giảng về bố thí lắm nhưng đây là cái duyên để cho quý vị cư sĩ tại gia thành tựu thêm trí tuệ về pháp tu bố thí của mình, cho nên chúng ta sẽ học thêm những bài kinh Đức Phật giảng về những khía cạnh, phương diện, góc độ trong pháp tu bố thí. Bài kinh này là cho các vật đáng yêu, cho các vật khả ý tức là cho món đồ mình rất là quý, bài kinh có tên là cho những món đồ mà mình quý lắm với mang một cái nội dung là ai cho các vật đáng yêu sẽ nhận được điều đáng yêu. Ai cho người khác đồ quý giá thì mình sẽ được kết quả là những đồ quý báu.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của gia chủ Ugga người Vesàlì, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga, người Vesàlì đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người Vesàlì bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có cháo nấu từ hoa cây sàla thật là khả ý, có thể ăn được. Mong Thế Tôn nhận lấy cháo ấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có thịt heo nấu chung với trái táo, thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái (chúng con)!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có thịt heo nấu chung với trái táo, thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái (chúng con)!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có loại rau ống dài có dầu thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có cháo gạo, các hạt đen được loại bỏ dùng với các món canh, các món đồ ăn nhiều loại, thật là khả ái. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận như sau từ miệng Thế Tôn: "Ai cho vật khả ái, nhận được điều khả ý". Bạch Thế Tôn, con có các loại vải dệt từ Kàdi thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: 'Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý'. Bạch Thế Tôn, con có ghế dài với nệm trải giường bằng lông cừu, chăn len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadalimigapavarapaccat-tharanam, tấm thảm có lọng che phía trên, ghế dài có hai đầu gối chân màu đỏ. Bạch Thế Tôn dầu rằng chúng con được biết: Những vật ấy không phù hợp với Thế Tôn, nhưng bạch Thế Tôn, tấm phản nằm bằng gỗ chiên đàn này đáng giá hơn một trăm ngàn, mong Thế Tôn hãy nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
Rồi Thế Tôn làm cho tùy hỷ gia chủ Ugga người xứ Vesàlì, với bài kệ tùy hỷ này:
Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Đối với bậc Chánh trực,
Vui lòng đem bố thí,
Vải mặc và giường nằm,
Ăn uống các vật dụng.
Biết được bậc La-hán,
Được ví là phước điền,
Nên các bậc Chân nhân,
Thí những vật khó thí,
Được từ bỏ, giải thoát,
Không làm tâm đắm trước,
Người thí vật khả ý,
Nhận được điều khả ý" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (VI), Cho Các Vật Khả Ái)
Ai cho những đồ quý sẽ nhận lại những món đồ quý giá. Bậc chánh trực ở đây là bốn đôi tám chúng hiền Thánh và chỉ luôn cho đức Chánh Đẳng Chánh Giác là Đức Phật. Trong đạo Phật chúng ta có tám quả vị của bậc Thánh, gọi là bốn đôi tám vị, bốn đôi tám chúng tức là Thánh quả thứ nhất, Thánh quả thứ hai, Thánh quả thứ ba, Thánh quả thứ tư. Thánh quả thứ nhất là bảy lần sanh đi trở lại trong cõi nhân thiên, khi đã vào được Thánh quả thứ nhất thì chỉ còn sanh tử bảy lần thôi.
Thánh quả thứ hai chỉ trở lại một lần thôi gọi Nhất Lai, một lần này có thể ở cõi nhân gian hoặc cõi thiên thượng. Thánh quả bất ba là không trở lại thế giới của loài người nữa, chỉ ở Tịnh Cư Thiên thôi, danh từ này có khi người ta gọi là Tịnh Độ của Phật Thích-ca Mâu-ni là ở Tịnh Cư Thiên, các vị Thánh ở tầng trời này chỉ có tiến lên để nhập Niết-bàn chứ không có lùi xuống, tức là ở cảnh giới này chỉ có bất thối chuyển. Thánh quả thứ tư là vô sanh, không còn sống chết sanh tử trong ngũ uẩn nữa, chứng được tâm bất động giải thoát.
Bốn quả vị này gọi là bốn quả, còn bốn vị hướng tới bốn quả này thì gọi là bốn đạo, tức là vị này chưa tới quả thứ nhất nhưng đang hướng tới quả thứ nhất thì gọi là sơ đạo. Tiếp theo là đã qua quả thứ nhất nhưng chưa tới nhị quả thì gọi là nhị đạo, sau đó là tam đạo, tứ đạo. Như vậy bốn đạo bốn quả, đạo là còn đang đi trên đường, quả là đã tới rồi, sau này mình nói bốn đôi tám chúng là tám bậc Thánh, Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, là bậc tối tôn, tối thượng trong hàng tám quả vị Thánh đó. Đức Thế Tôn nói những bậc La-hán tức là những vị sạch hết tham, sân, si, thì những vị này là ruộng phước vô thượng ở trên đời, các vị Thánh là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người, được ví là những mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu.
Khi chúng sanh gieo vào những mảnh đất này từ một hạt sẽ cho ra nhiều hạt, thu hoạch được kết quả rất lớn. Khi chúng ta cúng dường cho các vị từ Thánh quả thứ nhất hoặc là hướng tới Thánh quả thứ nhất trong bốn đôi tám chúng thì công đức không tính được, gọi là vô lượng vô biên, nếu mình cúng cho những vị đó thì công đức của mình cho đến khi chứng Niết-bàn mới hết cho nên Phật – Pháp – Tăng, tam bảo là vô thượng phước điền, là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người. Những bậc nhân trong khi chính là những người tu, khi họ cho những món đồ khó cho, tâm vị này không tiếc nuối thì họ đang ly tham, tâm không còn tham thì họ mới bố thí được những vật khó cho
"Rồi Thế Tôn sau khi tùy hỷ gia chủ Ugga với bài kệ tùy hỷ này, liền đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Ugga người Vesàlì, sau một thời gian bị mệnh chung. Bị mệnh chung, gia chủ Ugga người Vesàlì được sanh với một thân rất khả ý.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thiên tử Ugga, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Thiên tử Ugga đang đứng một bên:
- Này Ugga, sự việc có như ý muốn không?
- Bạch Thế Tôn, sự việc có được như ý con muốn.
Rồi Thế Tôn với bài kệ nói với Thiên tử Ugga:
Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Bố thí vật tối thượng,
Sẽ được quả tối thượng.
Người có vật thù diệu,
Nhận được điều thù diệu,
Người có vật tối thắng,
Nhận được điều tối thắng.
Người nào đem bố thí
Vật tối thượng, thù diệu,
Và các vật tối thượng,
Người ấy thọ mạng dài,
Và được cả danh xưng,
Tại chỗ vị ấy sanh" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (VI), Cho Các Vật Khả Ái)
Đức Phật thuyết pháp cho chư thiên là khoảng 4 giờ cho tới 5- 6 giờ sáng, cái lúc đó vị thiên này có dung sắc thù thắng chói sáng, nói cho dễ hiểu là giống như cả cái thành phố này sáng rực rỡ hết, sáng rực cả mấy chục cái quận huyện của mình. Ngài xuất hiện xuống đảnh lễ Đức Phật rồi Thế Tôn nói với thiên tử Ugga những việc mà ngài đã dạy cho ông và ông làm được như vậy, tới bây giờ kết quả có đúng vậy không, có đúng như ý muốn không, vị thiên tử Ugga này bạch Thế Tôn sự việc có đúng như ý con muốn. Đó là một gia chủ cúng dường cho Đức Phật nguyên một cái tấm gỗ trầm hương chiên đàn, đem những đồ quý nhất cúng dường. Lúc vị này cúng chắc là lớn tuổi rồi mà lại cúng ngay Đức Phật là bậc tối tôn, tối thượng của tam thiên, đại thiên thế giới nên chết đi được sanh nên làm thiên tử liền.
Thiên tử ở đây là một vị thiên nhân hoặc là những vị chư thiên hay là thái tử của cõi trời, chữ Thiên Tử có nhiều nghĩa nhưng nói chung chung là trở thành một vị thiên nhân, một vị trời và ánh sáng khi ngài xuống đây là hết cả cái thành phố Hồ Chí Minh rực sáng, chói sáng hết cả một vùng như vậy.
II. Bố thí không cẩn thận
Nội dung của bài kinh này nói về cho đồ quý thì được điều như ý, bây giờ qua cái này, cái này cũng rất đặc biệt mà có thể chúng ta chưa bao giờ nghe, đó là quả của việc làm bố thí với tâm không cẩn thận, cũng làm bố thí nhưng mà cái tâm không cẩn thận thì kết quả ra sao.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
- Này Gia chủ, Ông có bố thí trong gia đình của Ông không?
- Bạch Thế Tôn, trong gia đình của con có bố thí, nhưng chỉ có món ăn thô tệ làm bằng hột gạo bể, và cháo chua.
- Này Gia chủ, dầu bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí không cẩn thận, bố thí không có chú tâm, bố thí không tự tay mình, bố thí những vật quăng đi, bố thí không có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm không thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức y áo thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức các cỗ xe thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức năm dục công đức thù diệu. Và các người con, hay vợ, hay những người phục vụ, hay những người đưa tin, hay những người làm công, họ không có khéo nghe, họ không có lóng tai, họ không có an trú tâm hiểu biết. Vì sao? Này Gia chủ, như vậy là quả dị thục của các nghiệp làm không có cẩn thận" (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (X) Velàma)
Trong đây có 5 cái trường hợp, một là bố thí không cẩn thận, hai là bố thí không có chú tâm, ba là bố thí mà không có tự tay mình đem cho, mình nhờ người khác đưa, bốn là bố thí những vật bỏ đi, đem cho những món đồ nhiều khi là đồ hư, đồ oi, đồ dạt, chẳng hạn như mình không ăn nữa nên đem cho. Mình ăn không hết thì thay vì bỏ đi thì mình đem cho, cái cuối cùng là bố thí không có nghĩ đến tương lai. Đây là năm trường hợp bố thí, Đức Thế Tôn nói rằng kết quả đó thì kết quả như của bố thí không cẩn thận như 5 cái ở trên là tâm không có thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tức là khi mình có được cái kết quả, quả báo mà mình bố thí thì đồ ăn không có ngon, mình cũng được nhưng mình sẽ không có đồ ăn ngon.
Chúng ta thấy nhân nào quả nấy, mình vẫn có phước nhưng mà mình ăn đồ ăn không ngon vì lúc mình cho đâu phải đồ ăn ngon. Có những trường hợp đúng ra mình tính bỏ nhưng thấy thôi kệ, thôi giờ đem cho đi, hoặc đồ ăn dư hay đồ ăn thấy gần hết hạn vẫn đem cho, cái đó mình nói trường hợp thông thường, còn có những trường hợp là mình không có sự chú tâm, không có cung kính thì kết quả một là đồ ăn bình thường, hai là y phục quần áo mình có được cũng thường thôi chứ không phải loại tốt, ba là xe mình đi cũng tạm thôi chứ không phải xe hàng hiệu, bốn là cái mà mình thưởng thức, ví dụ như sắc; thanh; hương; vị; xúc, những món đồ, những âm thanh hay là những mùi vị thức ăn này nọ, những cái mình tiếp xúc cũng được thôi chứ không phải là thù thắng và cái cuối là con, hay vợ, hay chồng, hay những người phục vụ, hay những người làm công giúp việc cho mình khi mình nói thì họ không nghe lời, họ đơ đơ, muốn làm thì làm, còn không thì thôi, có con không hiếu thảo, nói nó không nghe lời hay là chồng cũng vậy.
Cái cẩn thận này hay lắm quý vị ơi, vua của 33 cung điện, trời Đế-thích tam thập tam thiên, tầng trời của ngài có 33 chỗ cư trú, 33 cái điện gọi là tam thập tam thiên chứ không phải 33 cõi trời. Tầng trời thứ 33 thì có 32 cung điện của 32 vị thiên sứ, ngài là vị thứ 33 là Đế-thích chủ mà bây giờ mình gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Một trong những đặc tính mà ngài trở thành vị trời đó là cẩn thận, một người cẩu thả thì quý vị nghĩ rằng có thể làm sếp được một công ty cả ngàn người không, đừng nói chi là vua trời, mà đây vua của 33 cung điện thành ra cái người có tâm cẩu thả, tâm sơ sài, một cái tâm qua loa, ẩu tả thì người đó tu không có kết quả thăm sâu, làm việc cũng vậy, học pháp cũng vậy, không có đi có tới cái độ thâm sâu được chỉ học phớt phớt thôi, làm gì cũng thất thoát. Chính vì vậy ngày cả trong việc bố thí không cẩn thận thì được kết quả không viên mãn, cũng được nhưng mà không có viên mãn. Quý vị thấy tầm quan trọng của sự cẩn thận không? Quý vị có cẩn thận nhiều không? Tu có cẩn thận không?
"Rồi Gia chủ Anàthapindika với khoảng năm trăm nam cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
- Này Gia chủ, Ông đã cung cấp cho chúng Tỳ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng Ông chớ có bằng lòng với ý nghĩ: 'Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỳ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh'. Do vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập như sau:
'Với phương tiện nào chúng ta thỉnh thoảng đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh'. Như vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ, (VI). Hoan Hỉ)
Đức Phật nói ông Cấp-cô-độc đã cung cấp cho chúng Tỳ-kheo rất là nhiều tứ sự cúng dường, tức là y, thực phẩm, thuốc trị bệnh, phòng ốc, giường chõng nhưng mà ông chớ có bằng lòng, chớ có suy nghĩ rằng ta đã làm những thứ này rất là nhiều. Nếu mình hài lòng, mình bằng lòng thì thứ nhất là mình sẽ tự cho như vậy đủ rồi, mình không có tiến, không có tăng thượng trong công đức nữa, chỗ này là chỗ quan trọng.
Mình nói cái để mình nhìn nhận cái vấn đề mình tu chứ không phải mình nói xấu ai hết, rất nhiều vị cúng dường rồi sau đó đổi tánh, lúc mới đi chùa nhiều khi dễ thương hơn, lúc làm nhiều ở trong chùa hay cúng nhiều này nọ, có khi không còn dễ thương. Chỗ này quan trọng "Tôi làm nhiều, tôi cúng nhiều, tôi là đại thí chủ ở đây", chỗ này thất bại rồi, khi ý nghĩ đó xâm chiếm trong con người, nó tồn tại trong mình thì có bản ngã và có sự hài lòng, tự mãn, thỏa mãn, không có tăng trưởng trong thiện pháp, công đức, phước báo nữa.
Bài kinh này Đức Phật dạy ông Cấp-cô-độc và chúng ta biết ông Cấp-cô-độc theo sát Đức Phật, người lâu lâu lại cúng chắc Đức Phật không có nói bài kinh này đâu. Ông Cấp-cô-độc theo sát Đức Phật, gọi là cận sự nam, Đức Phật nói nếu như trong trường hợp có thể được thì ông Cấp-cô-độc phải an trú cái tâm hoan hỉ, vui thích, hạnh phúc khi được rời xa ngũ dục. Ngày hôm nay là ngày quý vị được tẩm bổ bằng thuốc bổ tâm linh, hôm nay là ngày hạnh phúc nhất trong nửa tháng của quý vị, 14 ngày kia quý vị đâu có được giống như ngày hôm nay, ngày hôm nay là ngày mà quý vị được tẩm bổ thuốc bổ tâm linh tối thượng cao cấp nhất trên thế gian này. Quý vị có vui không? Có hoan hỉ không? Có hạnh phúc không? Đó gọi là hỷ do viễn ly sanh, ngày hôm nay quý vị viễn ly, rời xa, có thể những ngày quý vị ở nhà cái tâm quý vị cũng hướng tới viễn ly nhưng mà đó là tâm viễn ly còn thân chưa viễn ly.
Bây giờ quý vị đang ngồi đây thân viễn ly, tâm viễn ly, cả hai đều được viễn ly hết. Hạnh Phúc không? Thế Tôn nói với ông Cấp-cô-độc thỉnh thoảng có phương tiện nào, có cách thức nào thì ông hãy an trú niềm hỷ lạc do ông được rời xa vợ con, công việc, tiền bạc, sự nghiệp. Ông rời xa tức là ông đến Tinh Xá, ông ngồi dưới gốc cây, ông nghe pháp, ông thiền tập, ông ngồi tỉnh tọa tỉnh tâm tư duy thiền quán, đó gọi là hỷ do viễn ly sanh cũng là trạng thái của sơ thiền.
Sơ thiền là ly sanh hỷ lạc địa, ly ở đây là lìa được những cái thú vui thấp hèn, tầm thường, bình thường của thế gian. Thí dụ như giờ này ở nhà quý vị có thể nằm trên ghế cầm remote bấm, nhiều khi ghế Massage nữa, nhưng bây giờ quý vị rời tiền bạc, công việc, tính toán, lo toan con cháu, chồng vợ, đủ thứ nhân duyên, gọi là hỷ do viễn ly sanh. Thế Tôn kêu ông Cấp-cô-độc thỉnh thoảng tu sự rời xa, tu sự lìa xa, tu sự thoát ra.
Ngày hôm nay là ngày quý vị được thoát ra đó, có biết mình đang thoát không? hôm nay là nhất nhật giải thoát, gọi là một ngày thoát tục, khóa tu trên núi là 7 ngày thoát tục, ngoài ra cũng có khóa tu hai tuần cạo đầu gọi là nửa tháng ly trần. Đó chính là hỷ do viễn ly sanh, Đức Thế Tôn kêu ông Cấp-cô-độc tu sự rời xa, mình không tập rời xa thì sau này mình khổ lắm. Tại sao Đức Phật và các bậc Thánh rất tuyên dương, khen ngợi, xưng tán, ca tụng đời sống rời xa? Đời sống chung chạ, chung đụng này nọ có nhiều cái vấn đề lắm, thí dụ quý vị đang yên ổn nghe pháp tự nhiên quý vị gặp đứa con là muốn nói này nói kia, nó làm gì đó mình thấy bắt đầu khởi tâm lên muốn nói, xúc thì sanh cảm thọ, sanh ra những cái tưởng, sanh ra cái hành, thân khẩu hành, ý hành.
Đang ngồi nghe pháp mà chồng nói thấy có cái này đẹp lắm, mở điện thoại ra cho xem rồi rủ ra đó mua, mà đâu phải về là xong đâu, mấy ngày sau tâm vẫn còn tham ái vô món đồ đó làm mất thời gian tu. Đồ xịn nên về phải thử, thế là bỏ giờ nghe pháp, bỏ giờ ngồi thiền, bỏ bớt giờ tụng kinh, quấn quýt trong cái món đồ đó, thành ra tiếp xúc là dính mắc, gặp đâu dính đó. Đó là nói cái tham ái, bây giờ nói sân, điện thoại mới kêu lên mở nghe là nổi lên phẫn nộ, bực bội, sân si, cho nên đời sống viễn ly giúp cho mình bớt phiền, bớt não, bớt cái hệ lụy, bớt cái trói cột, bớt những cái mối quan hệ không cần thiết.
Mình có rất nhiều gánh nặng, tự nhiên bây giờ đang ngồi yên tĩnh nhưng bên trong thân có yên tĩnh được không? Đó là thân viễn ly rồi nhưng tâm chưa viễn ly được thì huống hồ chi cái thân không viễn ly, tức là cái thân ở trong chỗ lăng xăng, dao động, tất bận đủ chuyện thì tâm làm sao yên tịnh được. Cái thân ngồi yên mà tâm vẫn không yên thì huống chi cái thân dao động, bận rộn thì làm sao tâm yên được.
Tuy nhiên điều quan trọng là đi đâu cũng rủ bạn vì sợ đi một mình buồn, làm gì cũng rủ người kế bên nhưng tới khi đi thật xa rủ không ai đi. Chết rủ không ai đi, lúc đó mới là lúc quan trọng nhất vì lúc đó là mình không biết mình đi đâu, lúc đó là lúc gọi quan trọng nhất trong tất cả quan trọng, cận tử nghiệp, không biết đi đâu hết. Chính vì vậy mà quý thầy hay là Đức Phật, các bậc thánh luôn luôn khuyến khích mình sống đời sống viễn ly vì thứ nhất mình tránh duyên thì tâm mình mới yên, các pháp nó mới hiện ra, mình coi trong tâm còn dơ chỗ nào.
Bây giờ quý vị thấy khách cứ lại nhà hoài mình có thời gian làm công việc của mình không? Hoặc là mình đi cứ đi chơi hoài rồi mình có thời gian lau chùi, quét dọn, vệ sinh phòng ốc, nhà cửa mình không? Muốn vậy thì mình phải đóng cửa lại hết, mình ở trong đây yên tĩnh mới coi ngõ ngách, ngóc ngách, cái nhà của mình là vô lượng, vô lượng năm, vô lượng kiếp, trong đó là không biết bao nhiêu lớp tham, sân, si, dục ái, bản ngã, vô minh, đủ thứ trò chơi.
Bây giờ tối ngày cứ chạy ra ngoài rồi nhìn cái này, nhìn bên kia rồi phiền, bực, cứ chê nhà người nọ nhưng mà cái nhà mình thì bốc cái mùi kinh khủng, kinh hãi, kinh khiếp và khủng khiếp. Cho nên đời sống của chúng ta hay là lâu lâu quý vị phải tập sống một mình, sau này trên núi Minh Thành làm thêm các thất, thậm chí các Phật tử tu kha khá cũng cho nhập 5 ngày, 7 ngày, ở một mình để đối diện với chính mình. Mình phải tập đối diện với chính mình n hay rất nhiều cái, đến khi mình bệnh và đến lúc lâm chung mình sẽ có một sức tự chủ tại vì mình đã từng ở một mình rồi, lúc này chính là lúc mình đi một mình thôi. Cái gì cũng cần tập từ từ, đâu phải tự nhiên lên xe chạy được, hay là mới vào đã muốn làm vua đầu bếp liền hả hay là phải tập, phải học, cũng vậy, cái tu cần phải tập.
Cho nên Thế Tôn kêu ông Cấp-cô-độc phải an trú, thỉnh thoảng có phương tiện, có điều kiện an trú hỷ do viễn ly sanh. Làm sao tìm được niềm vui khi mình ở một mình, cho nên những lúc quý vị ở nhà không có ai thì tập an trú vào pháp. Thậm chí đi chùa cái khóa tu này cũng vậy, quý vị đừng có lúc nào cũng tụ họp, lúc ra chơi, lúc rảnh, nhất là lên núi thì quý vị kiếm một cái gốc nào đó ở một mình, quý vị ngồi quay mặt vô vách tường, ở trên núi thì mình quay mặt ra nhìn trời mây, còn ở đây quay mặt vô vách tường hoặc nhìn lên tượng Phật một mình rồi mình ngồi mình lắng dịu coi cái tâm của mình, coi những thứ có hàng tồn kho ở trong này không. Ngồi nhắm mắt nhưng trong tâm hiện ra hết hình bóng này đến hình bóng khác, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ nọ, hết cảm thọ này đến cảm thọ khác, thọ; tưởng; hành vận hành trong đó để mình lo xử lý, vệ sinh, thanh tẩy.
Mình phải lo làm công việc của mình, nếu cứ chạy ra ngoài suốt đời cũng không biết tu tâm, không biết vệ sinh tâm, không biết làm đẹp tâm, làm mới tâm, tới lúc ra đi khổ lắm. Đức Thế Tôn tán thán cái viễn ly rất nhiều, ngài thương ông Cấp-cô-độc nên ngài nhắc nhở, cúng dường được phước rất nhiều, mai này thành thiên tử, cuối đời ông Cấp-cô-độc được ngài Xá-lợi-phất, Đức Phật đến thuyết pháp trên gường bệnh thì ông Cấp-cô-độc chứng Thánh quả. Như vậy phước thì ông có làm rồi, Đức Phật khuyến khích ông tu thêm trí tuệ nữa, khi phước trí đầy đủ thì thành thánh đệ tử, trở thành là thánh cư sĩ.
III. Quả báo của người xan tham
"Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?
(Thế Tôn):
Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Bị tái sanh địa ngục,
Bàng sanh, Dạ-ma giới.
Nếu được sanh làm người,
Sanh gia đình nghèo khó,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được rất khó khăn.
Điều kẻ ngu ước vọng,
Họ không thâu hoạch được,
Quả hiện tại là vậy,
Đời sau sanh ác thú" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, IX. Xan Tham)
Đối với mình một cái áo, một cái quần hay là một bữa cơm, bữa ăn rất là bình thường, thậm chí mình còn không có nghĩ tới nữa, đối với mình quá là thường đi nhưng mà quý vị biết không, mình đi về trong mấy chỗ vùng sâu, Minh Thành đi qua vào sát ở trong rừng, chỗ ở cũng những người đồng bào dân tộc ở bên làng tu đang thành lập xây dựng, đứa con nít 3-4 đứa không có quần áo mặc mà trời đông giá lạnh, mặt mày lem luốc dơ bẩn, đói khát, thiếu thốn.
Mình đem quần áo cũ qua, mình đem đồ ăn, mình cho bánh này nọ, nhìn thấy rất xót thương, cho nên tất cả chúng ta ngồi đây là nhiều đời nhiều kiếp chúng ta tu tập bố thí, nếu không chúng ta không có ngồi đây đâu mà ngồi ngoài vỉa hè, ngoài công viên, ở dưới dạ cầu. Có những hình ảnh xúc động lắm, bà cụ 90 tuổi đẩy xe bán mấy trái xoài, mấy trái cóc, mấy bó rau, có những ông già mù 70 tuổi, 80 mấy tuổi bán vé số rồi ca hát ngoài vỉa hè, giữa đường hát rồi bán vé số. Một bữa cơm của người ta là cả một vấn đề.
Nhân duyên ở đây Đức Phật nói là nhân duyên ngăn người khác bố thí, có nhiều người rất lạ, họ không cúng, họ cũng không cho, người ta cúng thì họ nói, họ chê bai này kia, họ ngăn cản không cho bố thí, cái đó Đức Phật gọi là tâm xan tham, keo kiệt, bủn xỉn. Minh Thành có một người cô giàu khủng lắm chứ không phải giàu bình thường, mang dép bị đứt là lấy kẽm buộc lại, còn áo là áo rách, vá tùm lum mà tiền vàng là khủng lắm chứ không phải giàu bình thường đâu, tới bây giờ là cháu giật hết, bao nhiêu trăm cây vàng, tài sản bị giật hết.
Bây giờ tám mươi mấy tuổi rồi ngồi bán từng cái lưỡi câu mà móc con cá, dây gân, mấy cái đồ để bắt cá. Mình thấy cũng tội nghiệp vì đó là bà con, nhiều khi lâu lâu về quê lại thăm, mình cũng tạo cái duyên cho làm phước mà không có làm, "bác không có tiền gì hết, bác không có đồng bạc nào hết, bây giờ bác khổ lắm" mà nhà lầu 3-4 tầng. Thành ra rất là đáng thương, thời Đức Phật có một cái câu chuyện là vua Ba-tư-nặc đi ngang ghé Đức Phật ngay giữa trưa nắng, Đức Phật hỏi giờ này trưa nắng mà bệ hạ đi đâu, nhà vua nói mình đi vào trong thành để thâu một triệu đồng tiền vàng của một cái ông tỷ phú này, ông này chết nhưng không có con.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala, giữa trưa, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương đi đâu lại giữa trưa như thế này?
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi bị mệnh chung. Và con đến để xem tài sản của vị không có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của vị triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi xe nhỏ cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Có Con)
Tiền vàng hồi xưa đó là nó hơn cái tờ 100 đô la bây giờ, một cái đồng tiền vàng giá trị nó quý lắm, có rất nhiều tiềm vàng mà ăn cháo chua, cháo cũ, cháo ngày hôm qua, mặc vải thô ráp, còn cái xe thì cái tán ở trên bằng cỏ tranh, nghèo khổ vậy đó, nhân quả của ổng là triệu phú, tỷ phú nhưng mà ăn đồ hư, mặc đồ rách, đi xe cũ tả tơi. Cái nghiệp của ông là do hồi xưa đó ông ấy cúng cho một vị Bích-chi Phật, cúng cho một vị độc giác Phật một bữa cơm, phước lành của ông đó là cúng chỉ có một bữa cơm nhưng lại đúng ngay bậc độc giác Phật.
Độc giác là ngài ra đời tự ngài giác ngộ, ngài không gặp thời có Phật nên tự ngài tu, tự ngài giác ngộ nên ngài không độ được bao nhiêu người hết. Ông này cúng xong rồi hối tiếc, nghĩ rằng uổng quá để cho mấy người làm công ăn còn tốt hơn nữa, do cái phước cúng ngay một bậc độc giác cho nên ông làm triệu phú nhiều đời, nhưng mà ông thọ nhận cái tâm keo kiệt, bủn xỉn, cúng rồi hối tiếc thì ông không có xài được những cái đồ đó.
"-- Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, vị triệu phú gia chủ ấy thuở xưa, đã bố thí đồ ăn khất thực cho một vị Bích-chi Phật tên là Tagarasikkhi. Vị ấy nói: 'Hãy bố thí cho vị Sa-môn'. Nói xong, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi bỏ đi. Nhưng về sau, vị ấy hối tiếc, nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục dịch hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Và hơn nữa, vị ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy.
Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy có bố thí đồ ăn khất thực cho vị Ðộc Giác Phật tên là Tagarasikkhi. Do kết quả hành động ấy, vị ấy được sanh bảy lần lên thiện thú, Thiên giới. Do kết quả dư hưởng còn lại, vị ấy được làm nhà triệu phú bảy lần ở Sàvatthi này.
Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy sau khi bố thí về, lại hối tiếc nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục vụ hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Do kết quả của hành động ấy, tâm của vị ấy hướng về các món ăn không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các đồ mặc không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các xe cộ không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về sự thọ hưởng năm dục công đức không được tốt đẹp" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Có Con)
Do kiếp trước ông ấy giết người anh em để đoạt tài sản cho nên sanh đời nào cũng không có con tiếp nối tài sản nên tài sản bị đưa vào quốc khố. Được làm triệu phú 7-8 đời nhưng đời nào cũng không có con nối nghiệp tài sản mà hưởng thụ là những thứ mục nát, nghèo nàn, dơ xấu, ăn đồ hư, đồ cũ. Vậy là ăn bố thí rồi hối tiếc, nói rằng cho vị Sa-môn này ăn uổng quá, phải chi cho mấy người làm công ăn tốt hơn.
"Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy. Do kết quả hành động của vị ấy, vị ấy bị nung nấu ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm. Do kết quả dư hưởng còn lại, gia tài không con bảy lần phải nhập vào công khố của vua. Thưa Ðại vương, đối với người triệu phú gia chủ này, các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được chứa cất thêm. Và nay, thưa Ðại vương, người triệu phú gia chủ đang bị nung nấu trong địa ngục Mahàroruva.
-- Bạch Thế Tôn, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahàroruva?
-- Thưa Ðại vương, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahàroruva" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Có Con)
IV. Phước báu tâm từ
Mỗi cái nhân quả rất là vi tế, có nhiều cái để mình cẩn thận thân, miệng, ý của mình. Bây giờ chúng ta bước vào cái bắt đầu rộng lớn lên, đây là bài kinh Cái nồi trong Tương Ưng Bộ, tập II.
"... Trú ở Sàvatthi.
-- Này các Tỳ-kheo, ai vào buổi sáng bố thí một trăm cái nồi, ai buổi trưa bố thí một trăm cái nồi, hay ai buổi chiều bố thí một trăm cái nồi, và ai buổi sáng chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, hay ai buổi trưa chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, hay ai buổi chiều chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, sự việc này đối với sự việc trước, quả có lớn hơn.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện'.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, IV. Cái Nồi)
Nãy giờ con trải tâm từ vô con muỗi, từ lúc vô ngồi tới giờ nó đốt hoài luôn, nãy giờ trải tâm từ cho nó từ lúc vô ngồi tới bây giờ, nó cứ lòng vòng lòng kiếm hoài luôn. Bài kinh này Đức nâng cấp lên, hồi sáng cho tới giờ Đức Phật nói nhân quả của bố thí, Đức Phật khuyến khích mình, nhưng mà bài kinh trước Đức Phật khuyến khích sự viễn ly, nghĩa là mình vui khi được sống một mình, mình hạnh phúc khi được rời xa những cái tầm thường, phàm tục của thế gian, những cái lăng xăng, lộn xộn để mình tập một cái tâm an tịnh, lắng dịu, thanh tịnh, viễn ly. Bây giờ Đức Phật tán dương từ tâm giải thoát, đây là nâng cấp lên, tại sao buổi sáng bố thí cả trăm nồi thức ăn, buổi trưa bố thí 100 nồi, buổi chiều bố thí 100 nồi vẫn không bằng một người tu tập từ tâm giải thoát trong một thời gian rất ngắn, ở đây gọi là bóp vú sữa của một cái con bò.
Ở bên Ấn Độ người ta hay vắt sữa bò lắm, bây giờ là một lần vắt sữa vậy thôi tức là một cái thời gian rất ngắn, trong tích tắc tu tâm từ giải thoát mà cái phước còn hơn cả người sáng, trưa, chiều bố thí 300 cái nồi cơm. Phải tu tâm từ với con muỗi, mình thấy vậy chứ oan gia trái chủ với nhau hết đó, mình cứ nghĩ nó nhào vô chích mình rồi mình đập nó thì đó là oán oán chất chồng, không có ngày giải quyết, đó là oan gia trái chủ của mình, tức là có khi mình không biết tu là có khi mình đổ máu, mình biết tu thì mình chỉ té quẹt chút xíu, trầy chút thôi, mình biết tu còn hơn nữa, công đức quá nhiều rồi có thể chỉ bằng con muỗi chích thôi. Vậy mà có người muỗi chích cũng không chịu, phải đập một cái mới chịu.
Có người nói "sao mà con đi tu, con bố thí, con cúng dường, con làm phước, con đi chùa, con tụng kinh mỗi ngày mà sao con gặp chuyện này", do người này không rõ cái nhân quả nghiệp báo, người này lấy ra ông nọ cắm càm bà kia, không hiểu vấn đề. Mình bố thí là bố thí, là cái phước đó mình có, nhưng mà cái chuyện mình bị mất cái này là cái nghiệp của mình trong quá khứ chứ không phải mình do mình đi chùa mà mình gặp cái này.
Không phải như vậy, nhiều khi có người hiểu lầm vậy đó, nói rằng "sao mình cũng đi chùa, mình bố thí này nọ, tự nhiên mình gặp nhỏ này ăn cắp đồ", không phải vì đi chùa mà bị ăn cắp đồ, mình hiểu cái này thì rất hay, khi mình hiểu được nhân quả nghiệp báo thì mình không có trách ai hết, tất cả mọi sự mọi việc, mọi tình huống, mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh, mọi con người, mình đều không có trách bất cứ cái gì hết, có trách là trách mình không khéo tu.
Chỗ này là mình giác ngộ về nghiệp quả, khi giác ngộ là thưa quý vị không phải giác ngộ có một việc đâu. Đức Thế Tôn gọi là bậc toàn giác, tức là tất cả mọi phương cạnh, góc độ, khía cạnh nào ở trong đời sống này ngài đều biết hết, ngài biết một cách tận tường, đầy đủ, đồng đều, tròn trịa, viên mãn gọi là bậc toàn giác, bậc đại giác, bậc chánh giác, bậc vô thượng giác. Khi mình học với ngài thì mình sẽ biết được hết tất cả mọi góc độ, khía cạnh trong cuộc sống này, đây là nói về khía cạnh nghiệp quả, còn khía cạnh cảnh vô thường khác, khía cạnh khổ khác, khía cạnh vô ngã khác, nhiều khía cạnh, nhiều trí tuệ lắm cho nên mình phải học là vậy đó.
Ngay bản thân Minh Thành nếu không có tu là giờ này không ngồi đây đâu, cũng phải chết phải ít nhất cũng chục lần, mình tu là mình biết được mình chuyển cái nhân quả, chuyển được nghiệp quả, mình có chánh niệm và tỉnh giác, lấy cái thân làm ví dụ để quý vị tin tưởng mà tu học. Có nhiều chuyện rất lạ, mình giúp cho họ, thậm chí là cứu cả gia đình họ nhưng sau đó họ lại muốn đốt chùa, muốn chém mấy ông thầy thì mình biết đây là oan gia trái chủ, không phải chuyện bình thường nên mình cố gắng trải tâm từ họ, tiếp tục giúp họ. Vậy mà cảm hóa họ được, họ thay đổi luôn tánh tình, cái này quý vị phải tin, quý vị phải bằng chánh niệm và tỉnh giác sẽ thấy xung quanh quý vị rất nhiều. Cái này thưa với các vị là bản thân mình thành là gặp hàng lố chứ không phải một hai người đâu, nhưng cái may mắn của mình là mình hiểu nhân quả nghiệp báo nên mình thương họ.
Chỗ này là bí kíp, từ tâm giải thoát sẽ hóa giải tất cả nghiệp, mình phải thương họ và cũng thương mình. Thương mình tại vì mình đã gây nghiệp với họ chứ không tự nhiên ai làm kỳ vậy, mình giúp cho họ đúng ra là họ quý mình không hết chứ, nhưng mà họ lại hại mình, họ nói xấu mình, cho nên phải trải tâm từ thì mình sẽ hóa giải cái nghiệp đó hết luôn, tan biến hoàn toàn, diệt tận cái nghiệp đó luôn, sạch hết luôn, coi như không còn vương vấn một chút gì nữa hết luôn. Tức là mình không để cho cái tâm mình có hận thù, có ghét bỏ, hay là có sự hờn mác, muốn được như vậy phải tu từ tâm giải thoát, muốn tu từ tâm giải thoát thì phải hiểu được khổ thánh trí.
Phải thấy được khổ mình mới thương, mình không thấy được mình khổ và chúng sanh khổ thì cái thương của mình là cái thương gượng ép thôi, cái thương đó không có tới nơi tới chốn, có thương đi nữa là mình thương cái ái, mình thương ở trong một cái sự gượng ép. Khi mình thấy khổ, thấm khổ, mình thực chứng cái khổ, chưa chứng Thánh gì cả mà chỉ cần chứng khổ thôi thì quý vị mới thương vô cùng thương, thương ơi là thương, thương sao là thương, thương không còn cái gì ở trên đời này có thể diễn tả được hết cái thương của mình khi mình thật sự thấm được cái khổ đau ở trong ngũ uẩn này, khổ đau ở trong nhân quả này, khổ đau ở trong cái nghiệp báo này, khổ đau ở trong những cái oan gia trái chủ này, khổ đau trong lòng sân hận, khổ đau trong lòng tham muốn, khổ đau trong lòng khao khát, thèm khát, đói khát, thèm muốn, tham dục, ái dục, ác dục, dục vọng này, khổ đau trong những cái tâm bản ngã, hơn thua, ganh tị, đố kỵ, những cái tâm ghim gút, cộc cằn, lợi dụng, ác độc, dối trá, gian xảo, quỷ quyệt.
Mình thấy hết tất cả, mình kêu lên "đây là khổ, khổ là đây, Thánh chuông vang động trời mây muôn loài. Cái gì sánh phải diệt Thôi cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan". Hơn thua với nhau là khổ, tranh đấu với nhau, anh em ruột tranh đấu với nhau là khổ, vợ chồng bắt bẻ với nhau từng chút, ghim rút rồi cái tôi ai cũng đòi hơn đòi đúng là khổ, giành giật, đấu đá, lừa đảo, gian dối, xảo trá, tất cả là khổ, là một cái đống đại khổ uẩn, một cái đống khổ vĩ đại trong cái địa cầu này.
Chừng nào mình thấy được hình hài này là khổ, chừng nào mình, dù cho cảm giác vui vẫn là khổ vì cái vui đó ràng buộc mình, làm cho mình thèm khát, mình bị lệ thuộc, chừng nào mình thấy được những hình bóng trong tâm mình, những cái tưởng này là khổ, những suy nghĩ này cứ nói lầm thầm, rù rì, thỏ thẻ, thì thầm, thở than suốt ngày làm cho mình khổ. Suy nghĩ "khinh thường tôi hả?", "khinh khi tôi hả?", "khinh bỉ tôi hả?", "coi tôi không ra gì phải không?" là khổ, nó hành hạ mình, làm mình ngủ không được, ăn không ngon, nhận thức theo chiều vô minh, theo chiều si mê này là khổ đau.
Khi thấy được ngũ uẩn này là khổ thì lúc đó nhìn mấy cái ngũ uẩn kia cũng y chang như mình thôi, đâu có khác gì đâu, cũng đầy rẫy tham, sân, si, cũng đầy rẩy dục ái thôi, cũng đầy rẩy những thèm khát, khao khát, thiếu thốn, đòi hỏi, cũng đầy rẫy những sự hơn thua, ta đây, có cái gì khác đâu. Tất cả là ngũ uẩn, tất cả là tham, sân, si, tất cả là dục ái, vô minh, bản ngã, tất cả là nằm trong khổ đau, nằm trong bất an, nằm trong tai họa, nằm trong sự biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát. Nó là sinh diệt pháp, nó là cái thứ trống rỗng rồi cuối cùng kết thúc cuộc đời này nước mắt, 1000 người chết cũng kết thúc trong nước mắt, 100 người chết cũng kết thúc trong nước mắt, 1 người chết cũng kết thúc trong nước mắt, một mình mình, một người thân của mình chết cũng kết thúc trong nước mắt.
Thương nhiều được không? Cảm thông được không? Tha thứ được không? Bao dung được không? Độ lượng được không? Trải lòng được hay là không? Khi mình hiểu được điều này, chính vì cùng cảnh ngộ với nhau, cùng là nạn nhân của tham, sân, si, cùng là nô lệ của dục ái, của tham, cùng là đầy tớ của vô minh và đệ tử của bản ngã, của cái tôi, tất cả đều khổ thì như vậy mình thương cảm, thông tha thứ và như vậy mình mới tu được từ tâm giải thoát, tâm thương này mới tỏ rộng cùng khắp thế giới này, tâm thương là mới tỏ rộng khắp trời đất bao la. Còn có chúng sanh nào mà không đáng thương? Chúng sanh đáng thương nhất trên hành tinh này chính là mình, thương mình thật nhiều và thương chúng sanh thật nhiều, khi tâm thương đã đủ lớn rồi, nó đã đủ đầy rồi, không còn chấp nhặt những cái nhỏ nhặt, hơn thua, chỉ còn một tình thương rộng lớn, tha thứ hết, xóa bỏ hết, độ, lượng bao dung hết, cảm thông hết, chúng ta cùng là những nạn nhân. Thôi, mình cố gắng để thoát ra cái tù này đi, ở trong tù mà đánh lộn nữa, bị biệt giam thì có phải khổ chồng khổ không?
Phải làm sao cố gắng đi được ra khỏi cái tù ngục này, cái ngục của ngũ uẩn, của tứ đại, của cái vô thường này, cái ngục của sanh ra, rồi lớn lên, rồi dục, tham ái, rồi sân si, bản ngã, rồi già, bệnh, chết đầy rẫy bất an, tai nạn mà đời nào sinh ra cũng vậy hết. Nếu có phước thì được làm người, lên chư thiên nhưng mà hiếm lắm, còn không là lọt xuống làm mấy cái thân giòi, thân chuột, thân gián, thân kiến, thân muỗi, rồi mấy cái thân những con trâu, con bò vậy đi kéo cày, những con ngựa khổ sở vậy.
Cho nên Đức Thế Tôn nhìn thấy được, ngài chứng đắc bốn thánh trí về ngũ uẩn chứng, chứng đắc bốn thánh trí về lậu hoặc rồi ngài kêu đây là khổ, ngài chứng đắc được Tứ Thánh Đế, tất cả các lậu hoặc, tâm mê dứt sạch hết, đại từ, đại bi, vô lượng tâm của ngài thành tựu viên mãn. Như vậy thì tu được cái tâm từ đó quý vị mới thấy rõ công đức vô lượng, còn bố thí là mình cho vật chất thôi nhưng mà cái tâm hiểu và thương họ, cái tâm đó thâm sâu, trí tuệ và cái trí tuệ này đưa mình thoát ra. Cho nên công đức của nó mới vô lượng, còn vật chất có khi mình làm để mong hưởng thì nó còn ở trong luân hồi, thành ra nó hữu lượng, nếu như mình hiểu được cái khổ để mình muốn thoát ra, mình thương tất cả chúng sanh đều đang khổ, mình muốn mọi người thoát ra hết thì cái từ đó là vô lượng, tình thương đó là rộng lớn.
Mong rằng sau buổi học này tất cả quý vị về nhớ bài tập này, cái đề mục thiền này, quý vị về nhớ tập thương mình thật nhiều. Khi mình nổi giận lên thì tác ý "tâm ơi tâm, ta thương mi quá, tội nghiệp mi quá, tâm mê ơi là tâm mê. Mày giận hoài vậy tâm? Sao mày kiếm chuyện hoài vậy? Làm ơn để yên cho tao tu giùm". Mình kêu cái tâm mình vậy đó, rồi nó tham lên thì nói "thôi tâm ơi là tâm, mày mê vừa vừa thôi tâm ơi. Bây giờ mày còn ham cái gì? Mày già rồi mà còn ham cái gì nữa tâm?", tham từ trẻ đến già rồi còn tham cái gì nữa, bây giờ tham được cái hũ để nốc tủ hay tham cái gì? Khi muốn hơn thua thì nhắc tâm "mày làm ơn, mày hơn thua riết rồi cuối cùng mày cũng xuống cái lỗ ngang 1 thước dài 2 thước, mày hơn thua nhiều quá thì mày xuống cái lỗ đó sớm, mày lo tu đi để đi lên trên". Mình kêu cái tâm "thôi tâm ơi từ, bi, hỷ, xả đi, tâm quảng đại rộng lớn đi, đừng có nhỏ hẹp, nhỏ nhặt, nhỏ mọn".
Tu cái tâm thương rồi cho nó rộng lớn, cho nó dào dạt, cho nó ngọt ngào, cho nó dễ chịu, dễ thương, hiền hòa, hiền lành, hiền đức, hiền nhân, hiền hậu, hiền lương, hiền trí để mình theo bậc hiền thánh. Mình kêu hoài như vậy, có thời gian rảnh là cứ kêu vậy đó, thức tỉnh tâm mê, đánh thức cái tâm, đừng cho nó ngủ mê, ngủ mê vô lượng vô biên kiếp rồi bây giờ phải đánh thức nó,
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.