Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng Nhân Duyên 2 - Có Cái Gì Khổ Cái Nấy ! Hữu - Thủ - Ái - Thọ - Xúc

2026-03-03 00:52:30
Kinh Nikāya Giảng Giải

Tương Ưng Nhân Duyên 2

Có Cái Gì Khổ Cái Nấy!

Hữu - Thủ - Ái - Thọ - Xúc

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hữu PAGEREF _Toc178092346 \h 1

II. Thủ PAGEREF _Toc178092347 \h 5

III. Ái PAGEREF _Toc178092348 \h 14

IV. Thọ - xúc PAGEREF _Toc178092349 \h 17

I. Hữu

Nhân ngày Bồ-tát thành đạo chúng ta sẽ nghe pháp suốt ngày về Tương Ưng Nhân Duyên, chúng ta sẽ nhớ nghĩ và quán chiếu về Thánh trí tuệ của Đức Thế Tôn. Sáng nay chúng ta được nghe hữu tình chúng sanh bị vây hãm trong sanh, già, bệnh, chết, trong tham, sân, si, khổ sầu. Thế Tôn dùng Thánh trí tuệ để khai hiển, minh thị, tuyên thuyết, trình bày cho chúng ta thấy sự thật cái gọi là già, chết, do có sanh nên có già, chết.

Bình thường chúng ta học theo chiều thuận là vô minh duyên hành, hành duyên thức nhưng ở đây đi ngược lại. Đây là từ nỗi khổ của sanh tử đi tìm đầu mối, nguồn cơn, nguyên nhân.

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già, chết sanh khởi?'. Sau khi như lý tư duy, này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do sanh có mặt, già, chết có mặt. Do duyên sanh, già, chết sanh khởi'.

Rồi Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, sanh có mặt? Do duyên gì, sanh sanh khởi?'. Sau khi như lý tư duy, này các Tỷ- kheo, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do hữu có mặt nên sanh có mặt. Do duyên hữu, sanh sanh khởi'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

Tại sao có sự sanh ra này? Tại sao có tiếng khóc này? Tại sao có bào thai? Là do hữu có mặt nên sanh có mặt, sau đây Đức Thế Tôn sẽ giải thích hữu là gì.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hữu? Này các Tỳ-kheo, có ba hữu này: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hữu". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)

Hữu này chính là sự hiện hữu của thế giới dục vọng, sự hiện hữu của thế giới hình sắc vi tế, sự hiện hữu của thế giới không có hình sắc. Như vậy sanh ra là sanh trong thế giới của dục, vì có dục giới, vì có sự hiện hữu của những tâm thức dục ái, có thân dục và có ra cõi dục, hiện hữu ở chính nơi này. Sự hiện hữu thứ hai là sự hiện hữu của sắc, đây là cảnh giới của các chư thiên, những sắc vi tế nhỏ nhiệm không nặng về dục, do có phước báo nên họ sống trong những hình sắc vi diệu tùy theo ý muốn.

Thế giới thứ ba gọi là vô sắc hay là vô sắc giới, đó là thế giới không có hình sắc mà chỉ sống bằng tâm tưởng, mình nghe trong tứ thiền bát định nói về không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ là những thế giới không có hình sắc mà chỉ sống bằng tâm tưởng, không có thân da thịt, không có sắc vi tế của chư thiên mà chỉ là tâm không hình sắc, không hình tướng. Như vậy có sanh ra là do có thế giới tương ứng, nói gần nhất là thế giới của loài người, thân xác con người và những loài thú vật hoặc là những loài ngạ quỷ, cô hồn, chư thiên cho nên sự sanh có mặt là do có ba cõi.

Chúng ta nói nghĩa gần nhất trong kinh thường dùng từ "hữu ái", là sự tham ái hiện hữu, yêu thích sự có mặt, ái luyến sự có mặt, yêu thích sự tồn tại trong khi mọi hiện hữu đều là đau khổ. Chiêm nghiệm rồi sẽ thấy có nhà thì khổ với nhà, có chùa thì khổ với chùa, có xe thì khổ với xe, có miếng vườn thì khổ với miếng vườn, có vợ thì khổ với vợ, có chồng thì khổ với chồng, có con thì khổ với con, có cây kiểng thì khổ với cây kiểng vì sợ nó hư, sợ bị mất, có cái gì là khổ với cái nấy nhưng người ta lại ưa thích "có", vậy là hữu ái nghĩa là yêu thích cái "có" đó, nhưng yêu thích cái "có" đó là yêu thích đau khổ, trong khi lại không muốn đau khổ mà cứ muốn có.

Cho nên cái này là vô minh, vì có cái nào là khổ với cái đó, mình không muốn khổ mà cứ muốn có thì đó là vô minh, không thấy được sự thật, không thấy được nhân quả hệ của nó, có chồng thì khổ với chồng, chồng đẹp trai cao to thì lại càng khổ thì sợ có người cướp mất, có vợ đẹp cũng khổ giống vậy, đi đâu vắng chút là lo, nghi ngờ, gọi điện tra hỏi, có người yêu thì khổ với người yêu, có người ghét thì khổ với người thù ghét, có nữ trang thì khổ với nữ trang vì đeo mà cứ sợ bị cướp giật nên phải che chắn kĩ lưỡng, có chức quyền thì khổ với chức quyền vì sợ mất chức mất quyền cho nên nói gọi lại là có cái gì thì khổ với cái nấy, câu này chính là nghĩa thâm sâu trong hữu ái, câu này chính là tinh hoa của Nikāya.

Trong hữu ái có sáu ái là sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp. Tại sao chết lại khổ? Vì mất đi cái sanh. Tại sao già lại khổ? Vì mất đi cái trẻ. Tại sao bệnh lại khổ? Vì mất đi cái khỏe. Tất cả mọi trạng thái đều là sự di động, dịch chuyển, là đổi dời để đi đến chỗ tan hoại, còn giờ mình cứ muốn giữ trạng thái đó mãi như vậy, không muốn đổi thay thì mình đau khổ, vô minh, đó là sự mù lòa.

Có gì là khổ với cái đó cho nên đừng ham có nhiều, càng ít có thì càng bớt khổ, ít khổ, có nhiều khổ nhiểu, có ít khổ ít, không có thì không khổ nhưng chữ "không có" này rất thâm sâu, đây là câu nói dân gian nhưng lại là Niết-bàn của bậc A-la-hán. Có nhiều khổ nhiều chính là chúng sanh vô văn phàm phu, có ít khổ ít là các bậc Đa văn Thánh đệ tử, không có không khổ là các bậc A-la-hán. Vô văn phàm phu lại rất thích có nhiều nên mới có ra hữu ái, ưu thích hiện hữu, tham đắm sự hiện hữu, chìm đắm trong những cái có đó mà không biết rằng có cái gì là khổ với cái đó. Mình đang lấy nghĩa Tiếng Việt để giải thích cái nghĩa thâm sâu của pháp tạng, của Thánh trí tuệ, lấy tiếng mẹ đẻ và lấy những kinh nghiệm của ông bà xưa để nhìn bằng Thánh trí tuệ rồi mình sẽ thấy đặc biệt.

Không có gì cả thì không khổ nhưng không có cái gì? Chính là không có ngũ uẩn, khi nào xuất ly ngũ uẩn, đoạn tận ngũ uẩn, chấm dứt ngũ uẩn thì mới gọi là không có, còn có là đang nằm trong tam hữu, dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu, không có thân xác thịt, không có những hình tướng vi tế của chư thiên nhưng có những tâm tưởng yêu thích, ái trong đó, hài lòng trong đó. Tất cả mọi hình thái của hiện hữu đều nằm trong đau khổ, đó là Khổ Thánh Trí được thành lập, ông vua có cái khổ của ông vua, kẻ ăn mày có cái khổ của kẻ ăn mày, người nghèo đói thiếu thốn có cái khổ của người nghèo đói thiếu thốn, người giàu có dư dả có cái khổ của người giàu có dư dả.

Người xấu thì nhìn vào người đẹp rồi ao ước đẹp phân nửa người đẹp thôi cũng được nhưng người đẹp lại không cảm thấy hạnh phúc cho nên mới có ra những trường hợp các minh tinh đẹp đẽ nhảy lầu, uống thuốc ngủ tự kết liễu cuộc đời họ. Như vậy có phải đẹp mới là hạnh phúc không? Người nào không có cái họ ao ước thì họ nghĩ rằng nếu có được sẽ hạnh phúc lắm nhưng thật ra đó chỉ là ảo tưởng, vì thế câu nói mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ là tối thượng. Phải thấy được như vậy thì mới gọi là thấy khổ cho nên một sự thật cần phải cố gắng để rõ biết đây là khổ và "đây" chính là mọi sự hiện hữu.

Từ nãy giờ chúng ta chỉ nói đến cái có bên ngoài, bây giờ sẽ đi vào cái có bên trong, chính là tự ái, chữ tự ái này tiếng việt nghe đơn giản nhưng nghĩa pháp rất thâm sâu. Tự ái nghĩa là sự tham ái đối với tự ngã, chính là tự thương mình, bênh vực mình, yêu mình. Có con mắt thì khổ với con mắt vì nhìn rồi là tham, sân, si, nếu không thấy thì đâu có ra yêu thương, tương tư, đâu có khổ sầu, nhớ nhung, vì gặp, vì thấy, vì tiếp xúc nên về nhà nhớ nhung, thương yêu, bệnh hoạn, tương tư cho nên có mắt là khổ, đó là về phương diện tinh thần, còn vật chất là có nhiều bệnh về mắt, viễn thị, cận thị, loạn thị, loạn thị, khiếm thị, bị cườm mắt.

Có lỗ tai thì khổ với lỗ tai, có miệng lưỡi thì khổ với miệng lưỡi, muốn ăn hết món này đến món kia, ăn no chưa đủ mà còn lấy về để dành, có tham sân trong món ăn, nói chuyện với nhau một hồi là nói thị phi, chê bai, chỉ trích, phỉ báng, có cái thân thì khổ với cái thân vì nó đòi nhìn, đòi nghe, đòi ngửi, đòi nếm, đòi tiếp xúc, đụng chạm, đòi dục, đòi ái, đòi tham cho nên có cái gì là khổ với cái nấy, đó là chân lý tuyệt đối. Sơ ý trợt chân té xuống không khéo là bị tai biến, nằm một chỗ bán thân bất toại, chỉ có ánh nhìn thôi mà bị cho là nhìn đểu rồi bị đâm chết, lời qua tiếng lại rồi đuổi chém nhau, giết nhau.

Chúng ta có nhìn thấy mọi sự hiện hữu đều nằm trong đau khổ không? Cứ nghĩ rằng trúng số là sướng lắm nhưng trúng rồi ăn không ngon, ngủ không yên, phải thuê bảo vệ canh nhà vì sợ trộm cướp, thậm chí phải bán nhà đi chỗ khác không cho ai biết vì sợ bị nhìn ngó, sau đó là con cái hư hỏng, tù tội, sa đọa. Như vậy trúng số là khổ hay vui? Quán Chiếu Đường của chúng ta không cần người canh chừng vì không có đồ quý gì trong đó cả, thậm chí lư hương cũng không có mà chỉ có tượng Phật thôi, còn nếu trong đó dát vàng, để tượng Phật ngọc thì phải có biết bao người canh, đó là vận dụng giáo pháp ly tham. Thiền đường chúng ta mở cửa suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, không khóa cửa, đó là ứng dụng giáo lý ly tham cho nên khi vận dụng rồi mình sẽ được nhiều an lạc, bớt khổ nhiều.

Tiến sâu hơn thì con mắt này là khổ khi nó sanh khởi, khi nó hiện hữu, có lỗ tai để nghe ngóng rồi gây thị phi, đôi chối, có miệng, lưỡi, thân ý, hình hài này có biết bao bệnh tật, bệnh gan, phổi, thận, bị túi mật, cao huyết áp, tiểu đường… tất cả những chứng bệnh đó đều y cứ vào thân này, chỉ có con mắt thôi mà có cả một bệnh viện chuyên điều trị bệnh mắt, tim mạch cũng có cả một chuyên khoa chuyên điều trị bệnh tim mạch, như vậy tất cả cái bệnh đó, tất cả cái khổ đó, tất cả cái đau đó dựa vào việc có thân này nhưng cứ thích có thân thì mới có ra bào thai. Ai cũng muốn có cái này, có cái kia nhưng không chịu khổ, muốn có nhiều, muốn sở hữu, muốn chiếm hữu, muốn hiện hữu, thậm chí còn muốn đặc hữu, chỉ duy nhất mình có chứ không muốn ai có nữa, đó là lấy khổ muốn bỏ khổ, vì thế chữ hữu này chiêm nghiệm ngày này tháng nọ cũng chưa hiểu hết được ý nghĩa của nó chứ không phải kinh Phật đọc qua là hiểu được hết.

Sâu hơn bên trong nữa là sự tham ái một tự ngã, một bản ngã. Sự hiện hữu của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân xác này là sự hiện hữu của khổ đau. Sự xuất sanh, xuất hiện của con mắt này là sự xuất sanh, xuất hiện của khổ đau; sự xuất hiện của lỗ tai là sự xuất hiện của khổ đau; sự xuất hiện của mũi, lưỡi là sự xuất hiện của khổ đau, của già chết, của bệnh tật, của nước mắt, của sầu bi; sự xuất sanh, xuất hiện, sự hiện hữu của hình hài này, vóc dáng này, thân tướng này là sự xuất hiện của lo lắng, sợ hãi, bất an, của già bệnh, chết chóc, của khổ sầu. Chúng ta hãy chiêm nghiệm một cách sâu sắc sự giác ngộ của Đức Thế Tôn.

II. Thủ

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, hữu có mặt? Do duyên gì, hữu sanh khởi?' Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do thủ có mặt, nên hữu có mặt. Do duyên thủ, hữu sanh khởi'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

Do cái gì mà có ra thế giới của cõi sắc? Do cái gì mà có ra thế giới của cõi vô sắc? Do cái gì mà có sự yêu thích, tham ái trong hiện hữu này? Tại sao lại có ra tam giới, ba cõi này? Sau khi đúng như chân lý mà tư suy, suy xét, nhờ trí tuệ ngài phát sanh ra sự thấy biết, thấu thị tận tường, rõ ràng là do thủ có mặt, nên hữu có mặt. Do có tâm nắm giữ nên có ra sự hiện hữu, do tay Minh Thành cầm vào cái đồng hồ nên có ra sự hiện hữu cái đồng hồ cho nên thủ có mặt thì hữu có mặt, nếu tay không giữ đồng hồ thì không có mặt cái đồng hồ cho nên không có sự nắm giữ thì không có cái để nắm giữ, sỡ dĩ có cái bị nắm giữ vì có cái nắm giữ. Bàn tay là cái nắm giữ và đồng hồ là cái bị nắm giữ.

Tay Minh Thành nắm giữ lò trầm, tay là cái nắm giữ và lò trầm là cái bị nắm giữ, vậy là có cái nắm giữ cho nên mới có cái bị nắm giữ, bây giờ bàn tay không nắm nữa mà bỏ xuống thì không có lò trầm nữa. Mình cầm nắm thì có cái để cầm nắm, cái bị cầm nắm là ba cõi, là hình hài, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý và thế giới này, còn tâm nắm giữ yêu thích, chấp thủ, tham đắm chính là cái nắm giữ. Thân xác, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, xe cộ, tiền bạc, quê hương, địa cầu, thế giới là cái bị nắm giữ và tâm yêu thích, say mê, tham ái trong đó là tâm nắm giữ. Sau đây Đức Thế Tôn giải thích cho chúng ta biết có bốn sự nắm giữ.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thủ? Này các Tỳ-kheo, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là thủ". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)

Thứ nhất là sự nắm giữ đối với dục, sự nắm giữ những cái mà mình ham muốn, thứ hai là nắm giữ sự thấy biết của mình, nắm giữ tri kiến, kiến thức, thấy hiểu của mình thì gọi là kiến thủ, thứ ba là nắm giữ những điều cấm kị không đúng chánh pháp, nắm giữ vào những điều ngăn cấm, cấm kị, mình giữ những điều không đúng nhân quả, không đúng chánh pháp thì gọi là giới cấm thủ, thứ tư là nắm giữ vào những luận thuyết về chấp ngã thì gọi là ngã luận thủ, nắm giữ trong những lời nói, suy nghĩ, tư tưởng, bám vào một tự ngã, một cái tôi, một cái ta. Mình nói rằng "tu thì tu nhưng phải có hưởng, tu đến chỗ chấm dứt hết thì lấy gì để hưởng nữa", cái đó là ngã luận thủ.

Dục thủ là sự nắm giữ trong năm dục trưởng dưỡng, sự nắm giữ trong những cái mà mình ham muốn. Ở bên ngoài thì nắm giữ sắc; thanh; hương; vị; xúc, sự tiếp xúc ở đây không phải chỉ có nam nữ mà là cả sáu xúc. Sự tiếp xúc của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý nghĩa là mình ưa nhìn, ưa nghe ngóng, ưa cảm giác, ưa xúc chạm, như vậy ở bên ngoài mình nắm vào năm thứ nuôi lớn lòng tham muốn, còn bên trong nắm vào những ý niệm yêu thích, không muốn buông bỏ. Học thì biết rằng dục là hố than hừng, là tai họa, là tác hại, nguy hiểm, vô thường nhưng sâu trong tâm lâu lâu nghĩ ngược lại "đã ăn chay còn bắt nhịn buổi chiều thì làm sao chịu nổi nên lâu lâu ăn chút ít", đó là dục thủ. Cho nên dục thủ này bên ngoài là năm dục trưởng dưỡng còn bên trong là những ý niệm tham ái đối với cái dục đó, những tư duy tham ái là dục của con người.

Vấn đề ở đây là mình lại nắm vào những cái đó không muốn buông bỏ, mình biết nó là vô thường, là tạm bợ, mình biết ăn vào xuống bao tử rồi đi ra là một mùi khủng khiếp nhưng vẫn tham ăn, thích ăn, khoái ăn, muốn ăn, đó chính là thủ, nắm giữ ý niệm tham muốn không buông bỏ được, đó là dục thủ, nắm giữ ý niệm tham muốn và đối tượng tham muốn. Có khi đối tượng đó đã chết rồi, món đồ đó đã hư nát rồi, bị đốt cháy rồi nhưng ý niệm yêu thích những hình bóng, cảm thọ, suy tư đó vẫn còn lại, không mất đi, đó là dục thủ, là sự nắm giữ trong những cảm xúc, cảm giác đó, nắm giữ hình bóng, món đồ, con người đó, cảnh vật đó và những suy tư về người, về vật, về cảnh đó không chịu buông ra.

Điều này làm khổ chúng ta không từ ngữ nào diễn tả được hết, người vợ đã chết bảy năm nhưng người chồng vẫn đau khổ, mỗi lần nhớ tới là đầm đìa nước mắt, người mẹ nhớ con cũng vậy, sự nắm giữ bên trong không buông xuống được nên làm người này đau khổ, không tha thiết ăn uống gì cả mà cứ đắm chìm trong cảm xúc đó, cứ trầm mình trong đau khổ đó không thoát ra được, qua đây chúng ta thấy được rằng sự nắm giữ của tâm rất ghê gớm và sâu sắc.

Thứ hai là nắm giữ tri kiến, nắm giữ cái thấy biết, cái quan điểm, cách nhìn, nhận định. Ở trên là tình cảm, còn bây giờ là tri thức, là những thứ đã được học, được nghe, được huân tập, bây giờ nắm giữ vào những thứ đó không chịu buông ra. Một cộng một ra hai chứ không biết rằng một cộng một có thể ra mười, cũng như một quyết định của bậc hiền thiện bỏ nhà lên núi tu hành bây giờ kết quả đạt được có khi lên đến mười vạn, so với quyết định đi chơi hoặc đi theo mê tín tà pháp thì điều này nguy hại vạn lần, một quyết định đi theo chánh tín, chánh kiến, chánh pháp thì cái lợi lạc là vô số, không thể tính kể được.

Ví dụ vào chùa nghe học cái này linh thiêng, cầu cái này là chắc chắn linh ứng nên mình huân tập theo đó lâu ngày rồi quen theo đó, đến khi nói sự thật, nói nhân quả cho nghe thì không chấp nhận, "thầy nói gì thì nói, tôi tu như vậy thôi", đó là kiến thủ, nó đã đi vào trong tủy não không thể thay đổi được. Có rất nhiều tà kiến, sự hiểu biết sai lầm, lệch lạc không đúng chánh pháp nhưng nó đã ăn sâu vào tâm thức người ta, có khi đến chùa chỉ thích lạy lục cầu xin chứ không muốn nghe pháp. Nếu cứ chấp thủ trong nhận định, kiến chấp đó thì đến ngày nào mới thay đổi được, đến ngày nào mới thành tựu được cái thấy biết chân chánh, đến khi nào mới giải phá được vô minh, si ám, mê lầm? Vào tu chỉ muốn đọc tụng thôi, còn kêu quay lại nội tâm nhiếp phục tham, sân, si thì không muốn làm. Nếu không dùng trí tuệ để soi xét hiệu quả, công năng, tác dụng như thế nào, cứ niệm, đọc tụng mười năm mà tham, sân, si có bớt không, có hạ gục được bản ngã không, có nhiếp phục được tâm sân hận không, có sống bao dung, tha thứ, chan hòa không hay là đọc tụng, gõ chuông gõ mõ làu làu nhưng đến khi bỏ chuông, buông mỏ xuống là trở thành người khác? Đó là chỗ sâu sắc trong sự tu, Đức Phật đã dạy đừng vội tin vào những điều đã thấy, đã nghe, đừng vội tin vào những truyền thuyết, đừng vội tin vào truyền thống, vào những gì cổ xưa mà phải xét nét xem nó có thật sự là thiện pháp đem lại lợi ích không thì mới theo, chứ không phải xưa bày nay làm, người ta sao thì mình vậy, nếu làm khác người ta thì sợ.

"- Rồi các người Kàlàmà ở Kesaputta đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, có người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng rồi ngồi xuống một bên.

Sau khi ngồi xuống một bên, các người Kàlàmà ở Kesaputta bạch Thế Tôn:

- Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta, họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Ðối với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ phân vân: 'Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?'

- Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những nghi ngờ! Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những phân vân! Trong những trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân.

Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.

Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: 'Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau', thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Vị Ở Kesaputta)

Để phá được kiến thủ là cả một vấn đề, đó là sự nắm giữ bên trong kiến thức, tri kiến, cái thấy biết sai lầm của mình. Những gì chúng ta đang thực tập nhằm phá vỡ định kiến của chúng ta, mẹ quỳ lạy con không phải là chuyện thường tình, muốn làm được vậy phải dám vượt qua những định kiến thông thường thì mới có thể hóa giải được oan gia trái chủ, những nghiệp chướng, hiểu lầm từ trước đến nay giữa mẹ và con, sau đó con cũng quỳ lạy mẹ để sám hối, hạ gục bản ngã, mẹ lạy con xin lỗi vì đã lấy quyền của người mẹ nên có những lời nói, hành động không dễ thương, làm con khó chịu, bực bội. Khi tu chánh pháp thấy được đó là cái sai của người mẹ nên xin lỗi đứa con, xả bản ngã ác độc, ta đây để mẹ con cùng nhau yêu thương nhau, thông cảm, thấu hiểu lẫn nhau, đứa con cũng lạy, những dòng nước mắt của cảm thọ trào dâng tuôn ra, hai mẹ con ôm nhau nhận lỗi, xin lỗi. Từ đó về sau mẹ con thấu hiểu, cảm thông lẫn nhau, hiếu thảo, tràn đầy tình mẫu tử, muốn làm được như vậy thì phải phá kiến chấp, phá định kiến, phá cái thấy biết thông thường "tôi làm mẹ làm sao xin lỗi con được" nhưng có thật là làm mẹ rồi cái gì cũng đúng hết không. Làm mẹ cũng có những cái sai, làm thầy cũng có những cái sai cho nên muốn học chánh pháp thì phải dám bỏ những cái thấy biết thông thường, phàm phu, cố chấp, định kiến, mê tín, tà kiến sai lầm. Học vào pháp này giống như một em bé mẫu giáo học lại từ đầu thì mới có thể thể nhập được Thánh trí tuệ, còn đem những tri thức, kiến thức hiểu biết và đem cái bản ngã to đùng theo thì không thể cầu pháp được.

Có một vị tiến sĩ đến hỏi đạo thiền sư, khi gặp mặt vị tiến sĩ này nói rất nhiều về trình độ cũng như bằng cấp của bản thân trong khi vị thiền sư cứ rót nước từ bình trà qua chung trà cho đến khi tràn ra ngoài. Thấy nước trà tràn ra ngoài thì vị tiến sĩ lên tiếng nhắc nhở, chờ có vậy vị thiền sư nói rằng chung nước của ngài tiến sĩ tràn đầy kiến thức thì làm sao thiền sư có thể rót nước vào được nữa và khuyên vị tiến sĩ nên ra về. Đến đây vị tiến sĩ mới ồ lên nhận ra, chỉ có cái chung trống rỗng mới nhận được nước trà, còn đem kiến thức, sự hiểu biết của mình ra để phô trương, khoe khoang, ta đây, tự mãn thì không thể học được bất kì điều gì cả. Phải đổ ly nước đó ra thành ly không thì Thánh trí, Thánh pháp, Thánh tuệ mới có thể rót vào, truyền vào, có vậy Thánh thủy mới có thể chứa đựng trong ly đó. Có một Phật tử từ xa gọi về tâm sự, trình pháp rằng họ đang khổ, người vợ của Phật tử này nói chuyện như bậc Thánh, tri kiến Phật giáo là thâm sâu vi diệu, cao siêu nhưng quá sân si, bản ngã làm người chồng này quá khổ sở. Đụng vào là sân si, bản ngã khủng khiếp nhưng kiến thức Phật giáo là cao siêu.

"Bàn thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu,

Dầu ở cửa Không, chưa thành vô ngã".

(Tội nóng giận – Sám hối sáu căn)

Cho nên cái biết đó trở thành một chướng ngại, trở thành kiến chấp, trở thành một sự chấp thủ, một sự nắm giữ làm mình tăng trưởng cái tôi, cái ta, cái bản ngã, không học được chánh đạo, chánh pháp, chánh trí. Cho nên cái thứ hai Đức Phật nói là kiến thủ, sự nắm giữ trong cái thấy biết này mới tạo ra sự hiện hữu trong các cảnh giới.

Điều thứ ba Đức Phật nói là giới cấm thủ, nghĩa là những điều cấm kị không đúng nhân quả, không đúng chánh pháp. Thời Đức Phật còn tại thế có những vị Bà-la-môn xuống sông, xuống suối tắm nhiều lần một ngày để sạch nghiệp, để tâm thanh tịnh, Đức Phật nói nước bên ngoài không thể dập tắt được những cảm thọ sân hoặc là kiêng cử mặc đồ trắng, kiêng cử ngày tốt ngày xấu.

"Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sangàrava đang ngồi một bên:

-- Có đúng sự thật chăng, này Bà-la-môn, Ông là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh)?

-- Thưa đúng vậy, Tôn giả Gotama.

-- Này Bà-la-môn, nhằm mục đích lợi ích gì, Ông là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh)?

-- Ở đây, Tôn giả Gotama, ban ngày tôi làm ác nghiệp gì, buổi chiều tôi tắm để gội sạch ác nghiệp ấy; buổi tối tôi làm ác nghiệp gì, buổi sáng hôm sau tôi tắm để gội sạch ác nghiệp ấy. Tôn giả Gotama, do nhằm mục đích như vậy, tôi là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều tôi sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh).

(Thế Tôn):

Chánh pháp là ao hồ,

Giới là bến nước tắm,

Không cấu uế, trong sạch,

Ðược thiện nhơn tán thán,

Là chỗ bậc có trí,

Thường tắm, trừ uế tạp,

Khi tay chân trong sạch,

Họ qua bờ bên kia.

Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, XI. Sangàrava)

Minh Thành nhớ khi còn là chú tiểu, sáng sớm mùng 1 tết cầm chổi quét rác ra ngoài thì thầy nói đừng quét ra, những cái đó không đúng chánh pháp và đó chính là giới cấm thủ. Ví dụ một người bệnh nặng thì có người đến khuyên bảo hãy chuẩn bị lo hậu sự thì bị la không cho nói vì không có tốt, người ta nói sự thật nhưng lại kiêng cử không cho nói chữ chết nhưng rồi cuối cùng người chết vẫn phải chết.

Khi thầy thuốc báo cho Minh Thành biết bà Diệu Hiền là mẹ Minh Thành chỉ còn sống được một tháng nữa thôi, rất nhiều người xung quanh dặn Minh Thành đừng nói cho bà biết nhưng Minh Thành lại nghĩ khác, Minh Thành nói cho mẹ biết để chuẩn bị tâm thức từ bỏ, xả bỏ và làm tất cả những công việc phước thiện cho bà để bà hoan hỉ, vui sướng, hạnh phúc.

Khi bà ra đi thì Minh Thành nói "mẹ từ bỏ nha, buông xả ngũ uẩn phiền não, khổ đau này nha" thì bà gật đầu ra đi nhẹ nhàng, còn giờ mình không nói, không nhắc về những vấn đề vô thường, chết chóc đó và sự thật là như vậy rồi đến khi nó xảy ra thì làm sao người ta trở tay kịp, tâm thức khi đó sẽ hoảng loạn, hoảng hốt, sợ hãi, bấn loạn. Và với tâm thức sợ hãi, luyến tiếc, bấn loạn, hụt hẫng như thế sẽ đi vào những cảnh giới không tốt lành cho nên chỉ có người thành tựu chánh kiến mới biết được việc nào nên làm và không nên làm.

Khi quý Phật tử có duyên gặp được chư Tăng, chư Ni hoặc những bậc tu hành chánh pháp chân chánh, những bậc minh kiến, chánh kiến thì phải thưa hỏi, lâu ngày gặp họ đừng kể chuyện phiền não vợ chồng, anh em, gia đình, làm ăn lời lỗ mà phải biết đến chùa gặp được các bậc thiện tri thức, những bậc hiền trí, những bậc trí tuệ là cơ hội quý báu để thưa hỏi để các thầy hướng dẫn, chỉ dẫn cho mình, nếu không mình chỉ sống trong giới cấm thủ vì sự vô minh, không thấy, không biết, không thành tựu tri kiến trí tuệ, không được nghe nhiều những lời Thánh pháp, không chiêm nghiệm, quán chiếu nhiều rồi thấy người ta làm sao là mình làm vậy.

Mình giữ gìn những điều không đáng giữ gìn, còn những việc đáng giữ thì lại không giữ, thế là rơi vào giới cấm thủ, chẳng những giữ gìn những điều cấm kị không đúng mà còn nắm chắc, bám vào đó. Đó là những cái thô dân gian còn sâu bên trong tâm còn rất nhiều vấn đề cấm thủ trong đó, ví dụ có suy nghĩ "mình tu như vậy cũng được rồi, tu nhiều quá chắc không được đâu, tu quá coi chừng bệnh", vậy là tu đến đó thôi không tiến thêm được nữa, tự mình đưa ra ranh giới ngăn cản không cho thăng tiến, tăng thượng vì thế quan điểm đó là giới cấm thủ trong tâm làm mình không thăn tiến trong Thánh pháp, Thánh trí tuệ, hoặc là có suy nghĩ "mình là cư sĩ nên tu như vậy cũng được rồi", suy nghĩ đó cũng là giới cấm thủ, nó ngăn cấm sự tiến bộ, thăng tiến trong thiện pháp, Thánh pháp của chính mình.

Thứ tư là ngã luận thủ, đó là sự nắm giữ vào trong những luận thuyết về bản ngã, làm cái gì cũng cho cái tôi, nói gì cũng cho cái tôi, tu cũng tu cho cái tôi. Nếu có nhận diện ngũ uẩn thì thấy rằng nói chuyện một lúc là cũng nói về cái tôi của họ, còn mình nói chuyện mà không có chánh niệm tỉnh giác thì cũng khen mình chê người. Vậy mà mình lại chấp thủ, nắm giữ những lý luận đó, những lời nói đó, những tư tưởng ý niệm đó chứ mình không hướng đến sự phá trừ cái ngã, giải phá cái ngã, mình không hướng đến sự không có gì là tôi, là của tôi, ngược lại mình nắm giữ trong cái tôi, cái của tôi và tự ngã của tôi, nói cái gì ra cũng của tôi hết, bàn luận cái gì cũng của tôi, làm cái gì cũng làm cho cái của tôi, học hay tu cái gì cũng xoay quanh cái tôi, cái của tôi và cái tự ngã của tôi và nắm giữ không chịu buông ra, cái đó gọi là ngã luận thủ.

Ai chạm vào cái của tôi là sân si, đau khổ, phiền não, đó là bốn sự nắm giữ làm chúng ta hiện hữu, có mặt trên đời này. Thứ nhất là nắm giữ những sự tham muốn, thứ hai là nắm giữ cái thấy biết, thứ ba là nắm giữ những điều cấm kị sai lầm và cuối cùng là nắm giữ những ý niệm, lời nói về bản ngã. Bốn sự nắm giữ này làm chúng ta có mặt, hiện hữu trong sanh tử luân hồi.

III. Ái

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, thủ có mặt? Do duyên gì, thủ sanh khởi?' Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do ái có mặt nên thủ có mặt. Do duyên ái, thủ sanh khởi'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

Tại sao lại có sự nắm giữ? Vì có sự yêu thích, cái gì mình giữ kĩ nhất thì cái đó mình yêu thích nhất cho nên có nắm giữ là vì có yêu thích. Đức Thế Tôn dùng Thánh trí tuệ tìm ra đến tận cùng nguồn cội, gốc rễ căn nguyên của khổ đau để trình bày cho chúng ta thấy.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là ái? Này các Tỳ-kheo, có sáu ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là ái". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)

Đầu tiên là yêu thích sắc, chính là nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, tài sản, yêu thích cảnh đẹp, đồ đẹp, người đẹp, yêu thích thân hình của chính mình, đó là yêu thích sắc, vì yêu thích cái nhà nên cái nhà có mặt, hiện hữu nơi mình ở. Tiếp theo là yêu thích âm thanh, yêu thích tiếng nói ngọt ngào, dễ thương, đến giờ ngồi thiền thì ở dưới núi vang vọng lên tiếng nhạc nỉ non, da diết, tha thiết, rên rỉ, nó hành hạ mình bằng âm thanh, mình không muốn nghe mà cứ mở ầm ầm nên mình sân hận, bực bội cho nên cái sân đó là mặt trái của ái, còn nếu mở bài mình thích thì mình không sân, không bực ngược lại còn thích thú.

Đối với hương vị cũng vậy, ăn vào thích thú ngay cái lưỡi một chút thôi, cái xúc còn ghê gớm hơn nữa, tiếp xúc rồi là không thoát ra được nữa. Cái sâu sắc hơn nữa là pháp ái, sau khi tiếp xúc thì hồi tưởng lại hình bóng đó, hồi tưởng lại những cảm giác khi tiếp xúc và hồi tưởng lại những suy nghĩ khi tiếp xúc hình bóng dễ thương, khả ái, cảm giác ngọt ngào, yêu thương, những suy nghĩ thích thú, khoan khoái, luyến ái.

Mình thích những hình bóng trong nội tâm, thích những cảm giác, suy nghĩ khi hồi tưởng lại thì gọi là pháp ái. Những cái mình đã thấy, đã nghe, đã ngửi nếm, đã tiếp xúc, đụng chạm, bây giờ không còn nữa mà chỉ còn lại những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ thôi nhưng mình lại yêu thích những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đã từng có trước kia thì gọi là pháp ái.

Tại sao lại có ra sáu sự yêu thích này? Do có cảm thọ nên mới có ái, đây là chỗ sâu sắc mà tất cả chúng ta đang tu tập. Cảm thọ vui sướng, thích thú, khoan khoái đi vào và ở trong tâm mình. Ví dụ người này nhìn thấy món đồ bằng vàng đó là cái lắc tay tinh xảo bằng vàng nên họ yêu thích, về nhà họ tưởng ra hình bóng cái lắc tay đó rồi nghĩ rằng nếu họ có chiếc lắc đó đeo vào tay sẽ đẹp lắm.

Còn thợ kim hoàn biết đó là đồ giả, chỉ là mạ vàng lên thôi cho nên cái thọ giữa hai người này khác nhau hoàn toàn, người khách cứ mong đợi, ao ước có tấm lắc vì họ không biết đó là vàng giả, chỉ là hàng xi mạ vàng, còn người thợ biết đó là vàng giả nên không thích, không ao ước, mong muốn. Cái thọ ở đây của người khách là một sự dễ chịu, thích thú, đó là thọ lạc nên người này mới yêu thích, tham ái cho nên có ái là do có thọ. Thọ ở đây là sự thọ nhận, tiếp nhận, cảm thọ, cảm xúc, cảm giác.

Bạn bè hoặc vợ chồng mới cưới thương nhau vô cùng, đến khi giận hờn thì nhìn mặt không còn dễ thương nữa, cái thọ lúc đó là thọ khổ, là cái ghét, khó chịu, mất thọ lạc không còn ái nữa mà đang sân hận, tức giận cho nên ái có là do có thọ theo chiều hướng lạc, thích thú. Vì thế muốn đoạn ái, giảm ái thì Đức Phật dạy phải quán chiều hướng nguy hại của cảm thọ, phải quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của những cảm thọ này gây ra, giống như lật mặt của một bàn tay để thấy được khía cạnh khác của tay, từ đó bớt được tham đắm, ái luyến thì mình mới bớt đeo đuổi, nắm giữ thì mới bớt khổ.

Còn nếu không biết nguồn cơn, nguyên nhân nằm ở thọ thì dù có làm bất cứ gì đi nữa cũng không giải quyết được vấn đề, phải đi sâu vào trong cảm thọ làm cho không còn sự ưa thích nữa, không còn khao khát, thèm muốn nữa. Muốn được như vậy phải thường xuyên tác ý, quán chiếu, thiền quán, tư duy nhắc nhở bản thân đi theo chiều hướng quán tính chất vô thường, khổ, vô ngã, biến hoại, rỗng không, quán tính chất tan vỡ, hoại diệt, đổ nát, quán đến khi nào thấm vào thọ để khi nhìn thấy gương mặt đẹp hay xấu chỉ là gân, xương, phèo phổi, không còn thích nữa thì cái ái sẽ giảm xuống, đến khi diệt tận hoàn toàn là thành công.

Còn vào chùa cầu xin Phật độ cho đoạn ái, tận ái, không còn ái nữa là không bao giờ được, Đức Phật chỉ cho cách làm, mình phải là người thực hành giải phá nó trong cảm thọ chứ không phải vào cầu xin là được. Cầu xin để mình tác ý nhắc nhở bản thân, cầu xin để cảm ơn Đức Phật, noi theo gương ngài để mình tiến tới trong Thánh trí tuệ, đó là ý nghĩa của cầu xin chứ không phải cầu xin Phật làm giùm cho mình.

IV. Thọ - xúc

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, ái có mặt? Do duyên gì, ái sanh khởi?' Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do thọ có mặt nên ái có mặt. Do duyên thọ, nên ái sanh khởi'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

Do mình thọ nhận cảm giác đó cho nên mới sanh khởi ra sự yêu thích, sự tham ái.

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, thọ có mặt? Do duyên gì, thọ sanh khởi?' Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ phát sinh minh kiến như sau: 'Do xúc có mặt nên thọ có mặt. Do duyên xúc, thọ sanh khởi'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

Do có xúc nên có thọ, vì thế hằng ngày mình thường tiếp xúc với pháp để biết đó là đốm lửa, là hố than hừng, là tai họa thì đó là xúc theo chiều minh kiến, Thánh trí tuệ để phá những cảm giác, nghĩ tưởng theo vô minh, còn xúc để thấy nó là bền chắc, đẹp đẽ, sung sướng thì mình sẽ sống trong bóng đêm, trong vô minh, tăm tối. Hằng ngày mình chỉ tiếp xúc với Thánh trí tuệ, với sự thật, nhớ nghĩ tác ý liên tục về pháp thì mình sẽ có trí huệ.

Các Phật tử đừng nghĩ rằng nghe pháp là không có tu mà nghe pháp chính là đang tác ý, tư duy, tư niệm thực về sự thật của Đức Phật, ngồi thiền cũng tác ý giống vậy nhưng nghe pháp là có người tác ý giùm cho mình (giảng cho mình nghe) thì thật là sung sướng, hạnh phúc. Mình ngồi một thời thiền nếu không tinh tấn thì có khi không chất lượng bằng nghe pháp, ngồi thiền có khi bị hôn trầm hoặc là vọng tưởng, không thì thả lỏng các căn, còn nghe pháp với đại chúng có đông người, thưa hỏi, trình pháp, nhờ thầy, nhờ bạn, nhờ đại chúng cho nên phải để ý vào pháp, tập trung vào pháp, còn ngồi thiền có một mình, trừ khi là người tinh cần tinh tấn chứ không sẽ bị vọng tưởng hoặc hôn trầm, ngủ gục. Vì thế nghe pháp chính là xúc thực, tư niệm thực, thức thực, người ta ăn cơm để nuôi xúc thân là đoàn thực còn chúng ta nghe pháp là để nuôi pháp thân.

Chúng ta ăn cơm ngày ba cữ không hề than sao ăn hoài, còn nghe pháp ngày chỉ có một cữ mà thấy khó quá. Lên bàn tiệc đủ món hết thì gương mặt thấy hân hoan, thích thú, còn nghe pháp sao thấy mặt buồn quá, mình ăn thức ăn là đoàn thực để nuôi thân tứ đại, còn khi nghe pháp là xúc thực, tư niệm thực và thức thực, tức là tiếp xúc với trí tuệ, mình nhớ nghĩ tác ý về chân lý sự thật, mình nhận thức Thánh trí thì đó là thức ăn của pháp thân, còn đồ nấu nướng dọn lên là thức ăn của nhục thân.

Ăn ngày tới ba cữ còn lên trình pháp có một cữ mà buồn ngủ, uể oải cho nên pháp thân yếu ớt, suy nhược vì thế cần nghe pháp thật nhiều để nuôi dưỡng pháp thân, tối thiểu một ngày phải nghe một thời pháp hai tiếng, tinh tấn thì hai thời hoặc ba thời. Mỗi lần nghe pháp là mình trú trong sự thật, được tiếp xúc với Thánh trí để mình cảm thọ, thẩm thấu, huân tập trong giác ngộ, trong sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ và đương nhiên thân tứ đại cũng có lúc mệt nhọc nhưng phấn đấu tác ý rồi sẽ vượt qua. Mình mượn tấm thân vô thường tạm bợ, mỏi mòn này để mình cầu chứng được thân kim cang bất động của Thánh trí.

Ngày hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm về Thánh trí tuệ duyên khởi của Thế Tôn. Do có sanh nên có già chết, có sanh do có hữu, có hữu do có thủ, sự nắm giữ, có nắm giữ là do có sự yêu thích, có sự yêu thích là do có cảm thọ, có cảm thọ là do sự tiếp xúc. Chúng ta đã đi được bảy phương diện Thánh trí của Đức Phật trong mười hai duyên khởi, sau khi nghe pháp xong thì tiếp tục an trú vào những pháp đó để quán xét, chiêm nghiệm câu "mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ" suốt cả ngày, có cái gì là khổ về cái đó, có nhiều thì khổ nhiều, có ít thì khổ ít, không có thì không khổ mà không có chính là sự thấu suốt bản chất trống rỗng, vô ngã của ngũ uẩn nên nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, xuất ly, xả ly.

./.