Tỳ-Kheo Thời Đức Phật 2 - Cốt Tưởng Chứng La Hán
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tỳ-Kheo Thời Đức Phật 2
Cốt Tưởng Chứng La Hán!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh Tăng Upàli PAGEREF _Toc204010435 \h 1
II. Thánh Tăng Sopàka PAGEREF _Toc204010436 \h 5
III. Thánh Tăng Dàsaka PAGEREF _Toc204010437 \h 7
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc204010438 \h 8
V. Vị Thánh Tăng tu tập cốt tưởng PAGEREF _Toc204010439 \h 11
VI. Thánh Tăng Lakuntaka Bhaddhiya PAGEREF _Toc204010440 \h 13
VII. Viễn ly PAGEREF _Toc204010441 \h 15
I. Thánh Tăng Upàli
Sư Phụ: Chúng ta có nhiều tấm gương vĩ đại lắm, ngài Upali trong thời Đức Phật, Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni của chúng ta được sanh trong một gia đình cạo tóc, tên là Upali. Chúng ta biết gia đình thợ cạo, người hớt tóc là một giai cấp thấp, kém cỏi trong xã hội, khi đến tuổi trưởng thành ngài xuất gia theo gương của Anuruddha và năm vị con cháu của hoàng tộc khi Đức Phật ở tại rừng Anupiyà. Chúng ta nhớ câu chuyện hồi xưa mình học ngài là người hớt tóc cho các hoàng thân quốc thích, hoàng tử, các vị hoàng tử, hoàng thân ở trong hoàng thất đi xuất gia thì người ta mới bỏ lại mấy cái đồ đạc như hoàng bào, trang sức để cho ngài "đây nè, ngươi lấy mấy cái này về xài cả đời ngươi không hết". Năm vị con cháu hoàng tộc mới gỡ áo mão, cân đai rồi vàng vòng, mã não, đồ đeo trên người rồi gom lại hết "Ta cho ngươi Upali, người về ngươi sống cả đời trong đầy đủ".
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh trong gia đình một người cạo tóc tên là Upàli. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài xuất gia, theo gương của Anuruddha và năm vị con cháu hoàng tộc, khi đức Phật ở tại rừng Anupiyà." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXX) Upàli (Thera. 31))
Ngài Upali mới suy nghĩ bây giờ các vị đó là hoàng thất, hoàng tộc, là công tử vương gia vọng tộc mà người ta còn đi theo Đức Phật, phải có một cái sự cao quý như thế nào, nó giá trị thế nào thì các cái vị hoàng thân quốc thích, danh gia vọng tộc, hoàng thất như vậy mới bỏ đi tu. Trong khi mình là một cái thằng đi hớt tóc, một thằng thợ cạo thì tại sao mình không đi theo, ngài về suy nghĩ như vậy đó, chúng ta chiêm nghiệm được cái này hay lắm, cái đó là một đề tài thiền quán. Mình là cái gì trong cuộc đời này? Mình là một thằng nghèo ở trong thôn quê, ngày mình mới lên thành phố mình còn hai lúa, mình còn khờ khạo vậy mà ở một thời gian mình trở thành sành sỏi, trở thành khôn khéo, có khi cái chân chất, cái chân thật dần dần bị mất, cái này có nhiều không? Bên mấy cô cũng vậy thôi, phải chiêm nghiệm cái này rất kỹ.
"Khi ngài nhận một đề tài để thiền quán, ngài yêu cầu đức Phật đừng đưa ngài đi sống ra ngoài khu rừng. Ðức Phật dạy: 'Nếu Thầy sống trong rừng, Thầy chỉ phát triển được một vấn đề, nhưng nếu Thầy sống với Ta, Thầy sẽ trở thành thuần thục cả về kinh học và thiền quán'. (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXX) Upàli (Thera. 31))
Nãy giờ bao nhiêu vị chúng ta để ý tất cả đều sống trong rừng, trong núi, trong viễn ly. Nếu sống trong rừng chỉ phát triển được một vấn đề nhưng nếu sống với ta sẽ trở thành thuần thục cả về kinh học và thiền quán, chỗ này là chỗ sâu sắc, mình ở gần được các bậc thánh nhân, bậc Thế Tôn, ở gần các bậc thành tựu chánh tri kiến là cái lợi ích khủng khiếp lắm, gặp được các bậc hiền trí, các bậc hiền thánh, các bậc chánh tri kiến, các bậc chân nhân là cái bước của mình không thể nào tưởng tượng nổi, mau thành tựu lắm. Một hôm ngà A-nan hỏi Đức Thế Tôn bạn lành, thiện hữu tri thức là phân nửa của đời sống phạm hạnh, Đức Thế Tôn nói A-nan chớ có nói vậy, bạn lành, bậc thiện tri thức là toàn phần của đời sống phạm hạnh của mình, tức là quyết định toàn bộ sự tu hành của mình.
"Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.
-- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Nếu mình may mắn gặp được bậc chân nhân, bậc chánh kiến, bậc hiền trí hay là bậc hiền thánh, bậc thánh nhân thì cuộc đời của mình thay đổi vận mạng. Nhưng bây giờ mình nói vậy đến chừng mình gặp thiệt là mình chán lắm tại vì chỉ cho mình cái sai rất nhiều, bào cái bản ngã mình rất nhiều, chỉ có người tha thiết, chân thành tu học thì người đó mới quý, còn với một cái tâm thường, một cái bản ngã, một cái tâm dễ sân hận là chịu không nổi. Cuộc đời con không có một cái gì quý báu hơn là con gặp được một bậc chánh kiến xuất hiện trên cuộc đời này làm thay đổi vận mạng, mà tới nay làm cũng chưa xong, vẫn còn đang làm nhưng mà cái thấy cái biết về pháp của mình là một cái niềm tin tuyệt đối. Thành ra rất khó gặp được những bậc chân nhân, chánh kiến, bậc hiền trí, bậc đại tuệ hiếm có trên đời này, bậc hy hữu, hiếm có, bậc khó gặp, rất là khó trên đời, nhiều đời nhiều kiếp chứ không phải là trong một kiếp.
"Ngài vâng theo lời bậc Ðạo Sư khuyên tu thiền quán và sau một thời gian chứng quả A-la-hán. Tuy vậy, bậc Ðạo Sư dạy cho ngài cả Luật tạng. Về sau, khi Upàli được Thế Tôn khen vì Upàli đã phán quyết trong ba trường hợp về Ajjuka, về Tỳ-kheo Kurukacchaka và Kumàra-Kacapa, ngài được xem là vị hiểu biết Luật tạng" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Tuy là ngài thích nhưng nghe Đức Phật chỉ dạy là ngài nghe theo, ngài được xem là vị hiểu biết luật tạng.
"Trong một ngày trai giới, khi ngài đang đọc giới bổn Pàtimokkha, ngài giáo giới các Tỳ-kheo như sau:
Vì lòng tin ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Hãy sống với bạn lành,
Mạng thanh tịnh, không nhác.
Vì lòng tin, ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Tỳ-kheo trú giữa chúng,
Sáng suốt, học Luật tạng.
Vì lòng tin, ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Khéo biết việc nên làm,
Và việc không nên làm,
Hãy để vị ấy sống,
Không để cao tôn xưng." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Vì lòng tin mà mình đi xuất gia, mình mới cạo tóc, mình mới học hỏi thì mình phải sống với bạn lành, với các bậc thiện tri thức, các bậc có giới đức, các bậc có trí tuệ, các bậc có thiền định, mình sống cuộc đời trong sạch, không có lười nhác, không có biếng nhác, không có lười biếng, không có giải đãi. Vì một lòng tin mà mình ra đi như vậy, mình mới được xuất gia, mình mới dựa vào trong giáo pháp, hãy trú ở trong chúng Tỳ-kheo và sáng suốt để học luật tạng, đọc các giới luật, nghiền ngẫm trong đó, suy tư trong đó, quán sát trong đó, coi mình đã làm được bao nhiêu, còn cái gì mình làm chưa được, mình còn sơ suất cái gì, mình còn lỗi lầm cái gì. Mình phải biết việc nào nên làm và việc không nên làm, nếu mình không có biết cái này là mình làm những việc không nên làm, và những việc nên làm thì mình không làm. Câu này là đề tài thiền quán chiêm nghiệm rất là sâu sắc.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Ba-la-nại trong một gia đình Bà-la-môn. Ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của Trưởng lão Amitta, và nhờ sự hướng dẫn này, ngài phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài giảng dạy cho một Tỳ-kheo là bạn của ngài như sau:
Hãy tránh xa bạn ác,
Giao thiệp bậc thượng nhân,
Vâng theo lời khuyến giáo,
Hướng đến lạc bất động.
Như leo trên ván nhỏ,
Giữa biển lớn bị chìm,
(Xem kệ 147 - 148)
Cũng vậy đến kẻ nhác,
Người hạnh tốt cũng chìm,
Do vậy, hãy bỏ nó,
Kẻ làm biếng, làm nhác.
Hãy sống gần bậc Thánh,
Bậc viễn ly tinh cần,
Thiền định, thường tinh tấn,
Bậc Hiền trí sáng suốt." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXXV) Vimala (Thera. 32))
Mình chìm ở trong cái biển cả mà mình chụp được cái tấm ván, mình phải giữ chặt miếng ván đó, tức là đối với các bậc thượng nhân, những là khuyến giáo, dạy bảo của ngài đừng có để rớt, đừng để mất, đừng để quên, đừng để sót. Ở đây nói người làm biếng, làm nhác thì không có thể nào thành tựu được hết, sẽ bị bỏ lại ở phía sau, sẽ bị chìm xuống, hãy sống gần bậc thánh, bậc đã rời xa và siêng năng. Nãy giờ là khuyên bảo chúng ta rất nhiều, thân cận bậc hiền trí, bậc thượng nhân, nghe những lời khuyến giáo, dạy dỗ.
II. Thánh Tăng Sopàka
"Ngài sanh trong thời đức Phật hiện tại ở Sàvatthi, từ một người đàn bà rất nghèo khổ. Khi bà mẹ đau đẻ, bà bất tỉnh và người ta tưởng bà đã chết nên đem thân bà đi thiêu. Một phi nhân không cho lửa đốt cháy, làm mưa làm gió và những người thiêu thân bỏ đi. Ðứa con trẻ được sanh mạnh khỏe, còn người mẹ bị chết." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Bốn, (XXXIII) Soopaka, Một Tỳ-kheo Trẻ Con (Thera. 6))
Mẹ của ngài là một người rất nghèo khổ, khi mẹ ngài đau đẻ là bà bất tỉnh, người mẹ lúc đó ngất xỉu chứ chưa chết nhưng người ta tưởng chết thì vị chư thiên, chư thần này thấy vậy, hơn nữa là ngài đời cuối cùng nên được bảo vệ. Người mẹ tỉnh lại sanh tiếp, đến khi sanh ngài ra thì người mẹ mất.
"Vị phi nhân hóa làm người, bế đứa con và bỏ trong nhà người giữ nghĩa địa, nuôi đứa con trong một thời gian với đồ ăn thích hợp. Sau đó, người giữ nghĩa địa nhận làm con nuôi, và Sopàka lớn lên với Suppiya, con trai nhỏ của người giữ cửa. Vì ngài sanh ở nghĩa địa, nên đặt tên là Sopàka. Khi ngài bảy tuổi, Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, vào buổi sáng, nhìn xem những ai có thiện căn tốt lành, thấy Sopàka và đi đến nghĩa địa. Sopàka được nghiệp duyên đời trước, đi đến Thế Tôn với tâm tư hoan hỷ và đảnh lễ Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp và Sopàka xin xuất gia." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Bốn, (XXXIII) Soopaka, Một Tỳ-kheo Trẻ Con (Thera. 6))
Từ nhỏ đã khổ, bị mất mẹ, ở trong nghĩa địa mà nay gặp Đức Thế Tôn, tâm từ ấm áp ngọt ngào lan tỏa mà nhiều đời trước đó huân tập, cái tuệ căn thấy là xà vào lòng Đức Thế Tôn, cưng quá, hiền thiện quá, tâm nhu thuận, mềm mại, như vậy là xin xuất gia.
"Sau khi được phép người cha nuôi, Sopàka xuất gia và được dạy tình thương huynh đệ làm đề tài tu hành. Sopàka lấy đề tài này và sống ở nghĩa địa và chứng được cảnh giới thiền tương đương. Lấy cảnh giới thiền làm đề tài căn bản, ngài triển khai thiền quán và chứng được quả A-la-hán. Sau khi chứng quả, ngài làm bài kệ, trong ấy ngài nêu cho các Tỳ-kheo rõ đề tài tình thương anh em, không có phân biệt người thân kẻ sơ. Với tất cả, tình thương phải là một, bao trùm mọi cảnh giới, mọi chúng sanh mọi thời gian:
Như người mẹ tốt lành
Thương người con độc nhất,
Cũng vậy đối chúng sanh,
Đủ mọi loài, mọi chỗ,
Hãy có lòng tốt đẹp,
Thương mến và từ ái." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Bốn, (XXXIII) Soopaka, Một Tỳ-kheo Trẻ Con (Thera. 6))
Mới có bảy tuổi chứng quả A-la-hán, mình giờ bao nhiêu tuổi rồi? Tu tới bảy mươi tuổi chưa thấy quả nào. Mình thấy không, đủ thứ thành phần, đủ thứ tuổi tác, đủ thứ giai cấp mà cái nào đến Đức Phật cũng chỉ có một vị giải thoát thôi, nước bốn biển chỉ có một vị mặn, giáo pháp như lai chỉ có một vị là vị giải thoát thôi.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Bây giờ ngồi đó phân chia tông này tông kia chi cho mệt vậy? Tìm về cái nguồn gội, tìm về cái nguyên chất, tìm về cái gốc rễ để mình tu. Ngoài ra còn nhiều trường hợp rất đặc biệt.
III. Thánh Tăng Dàsaka
"Do nghiệp của mình, ngài sanh vào thời Đức Phật hiện tại, con của một người nô lệ của Anàthapindika, và được giao việc gác cửa vào tịnh xá Jetavana. Được nghe đức tánh và nguyện vọng của ngài, ông Anàthapindika giải thoát cho ngài khỏi vòng nô lệ và ngài nói ngài sẽ sung sướng nếu được xuất gia". (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Con của một người nô lệ của ông Cấp-cô-độc, người này được giao giữ cửa ở Kì Viên Tinh Xá, được nghe đức tánh và nguyện vọng của ngài đó thì ông Cấp-cô-độc xóa bỏ kiếp làm nô lệ cho ngài, cho ngài được tự do không còn làm nô lệ nữa. Ngài nói ngài sẽ sung sướng nếu được xuất gia cho nên ông Cấp-cô-độc xóa cái kiếp làm nô lệ để cho ngài được đi xuất gia vì nếu làm nô lệ thì làm sao được xuất gia? Bây giờ giống như xóa nợ, xóa kiếp, xóa giai cấp thì vị này đi xuất gia.
"Nhưng khi được xuất gia, ngài trở thành biếng nhác, thụ động, tiêu cực, không chịu cố gắng để thoát khỏi sanh tử, và ngủ quá nhiều sau các bữa ăn." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Cái này cần chiêm nghiệm lại, làm nô lệ cực khổ bị khinh khi, bây giờ được thoát kiếp nô lệ thì sung sướng rồi, khỏe, thoải mái không lo lắng gì nữa hết nên ăn xong rồi ngủ trở thành biếng nhác, thụ động, tiêu cực, không chịu cố gắng để tu tập hành trì, ngủ quá nhiều sau những bữa ăn.
"Khi đến thời thuyết pháp, ngài lựa một chỗ ngoài vòng Tăng chúng, tìm một góc và ngồi ngáy." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Tới giờ Đức Thế Tôn thuyết pháp thì lựa cái gốc sau cùng, cuối cùng ngồi dựa vô vách tường, còn trên này không dám ngồi.
"Thế Tôn nghĩ đến việc làm trước của ngài, nên nói lên bài kệ này để khích lệ ngài:
Ai hôn trầm, ăn nhiều,
Nằm ngủ, lăn qua lại,
Như heo lớn, ăn no,
Kẻ ngu tiếp thai sanh." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Tối ngày ăn rồi ngủ, làm biếng làm nhác thì giống như con heo ăn no rồi ngủ thì tiếp tục những cái kiếp đi vào trong bào thai để luân hồi sanh tử, tái sanh.
"Khi nghe vậy, Dasaka trở thành dao động hốt hoảng và phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài suy nghĩ: 'Bài kệ của Thế Tôn đã khích lệ ta nhiều' và ngài nói lại bài kệ này. Như vậy, dầu cho bài kệ chống đối ăn nhiều, bài kệ trở thành lời tuyên bố về chánh trí của ngài" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Khi ngài nghe Đức Thế Tôn quở trách thì ngài lo sợ, hoảng sợ, chấn động mạnh nên ngài phát triển thiền quán diệt tận tham, sân, si, chứng thánh quả A-la-hán. Ngài không có làm bài kệ mới, ngài lấy bài kệ của Đức Phật trở thành bài kệ đắc đạo, thành đạo, chứng đạo của ngài.
Chúng ta chia sẻ đi ạ, những cái mẫu chuyện nãy giờ chúng ta có cảm nhận như thế nào, chiêm nghiệm như thế nào, có những cảm thọ như thế nào, có tủi thân không, có nhìn lại mình nhiều không, có đối chiếu, có so sánh, có suy tư, có suy ngẫm, có nhức nhói, có đau đớn, có ray rứt trong lòng mình không.
IV. Trình pháp
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính lễ thầy giáo thọ cùng đại chúng, từ nãy chúng con được nghe những vị thánh Tăng chúng con cảm thấy trong lòng rất là vui và rất là hoan hỉ. Nhìn lại bản thân thì chúng con rất là hổ thẹn và có ý trí động lực thêm trên con đường thực hành pháp hành nhiều hơn. Qua những mẫu chuyện đây thì con nhớ đến một vị tu cũng có đạo hạnh, cũng có giới luật ở tại Tây Ninh, đó là ở tu viện Chân Như, trưởng lão Thông Lạc, con xin thầy chia sẻ về vị ấy. Vị ấy có tuyên bố rằng là vị ấy chứng được, làm chủ được sinh, già, bệnh, chết, thưa thầy xin thầy chia sẻ về vị này.
Sư Phụ: Thôi chia sẻ những bài đang hiện tại học đi.
Thầy Hạnh Đức: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính lễ thầy giáo thọ cũng như đại chúng, như lời chỉ định của thầy Đức Trường con cũng có đôi lời chia sẻ thông qua những cái câu chuyện mà hồi trưa giờ giáo thọ kể với chúng con những câu chuyện, những bậc thánh Tăng, những con người vĩ đại, những bậc xuất trần, toàn là những cái hạnh khó làm, những cái ý chí, những cái nghị lực phi phàm quá. Giống như một cái tinh thần là quyết tử để đạt đạo, không đạt đạo là quyết không có sống một cái đời vô dụng, một cái đời mà gọi là tầm thường, nhạt nhẽo, sầu não, bi ai quá. Quý ngài chắc cũng tu nhiều kiếp rồi có được chánh tri kiến, thấy được những cái sầu não, những cái bất an, thấy được những cái sự tan hoại, hư hoại, khổ não của trong cái thân ngũ uẩn này nên mới ngài mới quyết chí tu. Còn đa phần bây giờ con cũng chưa có thực sự cảm với cái việc học tập cũng như tu hành trong mấy năm qua, cũng chưa có thực sự thấm nhuần được những cái nỗi khổ niềm đau ở đời, trong cái thân ngũ uẩn này nên cái sự quyết tu của mình yếu kém quá, nó hèn nhát quá, chưa có dõng mãnh được và còn lơ là quá, chưa có thấy được cái giá trị.
Giống như không có biết được con đường, không có thấy pháp nữa, giống như vô chùa gõ mỏ, tụng kinh, rồi hết giờ ăn xuống ngủ, rồi thấy phiền não cũng còn hoài. Tu hoài phiền não còn hoài, đôi khi cái ngã mạn lại tăng thêm, khi mình có học vị, có bằng cấp, có cái sự hiểu biết khinh thường đủ thứ cái, sao mình tu hoài mà thấy lậu hoặc còn hoài giống như chưa gặp minh sư để đưa đường chỉ lối, chỉ điểm để cho mình biết được đạo lộ để mình tu, thấy pháp để mình tu để mình dọn rác trong tâm. Như nãy giờ những cái những cái bài học thông qua cuộc đời của vị thánh Tăng cũng đã khuyến tấn chúng ta phải nên gặp, thân cận, gần gũi bậc thánh, bậc chân nhân, gặp những bậc thượng thiện nhân để dìu dắt, để chỉ dạy, để truyền lửa, để cho cái tâm mình được tinh cần, dõng mãnh, tinh tấn, nó nhiệt quyết, nó sôi nổi, muốn tu, ham tu, thích tu, ưa tu, khoái tu để mình mỗi ngày vui vẻ, hoan hỉ, cái duyên của mình tăng trưởng, tâm cụ túc, tuệ cụ túc và giới cụ túc của mỗi người mỗi ngày trong con người của mình càng ngày tăng trưởng thì cái cái đạo lực, đạo quả mình mới có được.
Đa phần bây giờ không có gặp được nhiều minh sư, mạnh ai nấy tu thôi, nói nhân quả chơi cho vui vậy đó, ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng vậy đó, anh tu được thì anh mừng, còn tôi tu được tôi mừng, khỏi ai lo tới ai. Nhiều khi không có ai răn nhắc, nhắc nhở, dạy dỗ rồi những hình ảnh không đẹp đập vào mắt mình, nhiều khi mình thối vào đời tâm, thối vào đời nguyện, thối vào đời chí, mình buồn bã, sầu não, bất an nhiều cái. Trong đời sống hiện tại này thực sự rất khó để gặp những bậc thánh, những bậc chân nhân, gặp những người dìu dắt chỉ đường cho mình để mình tiến đạo nghiêm thân. Thông qua những bài học này, hôm nay được học pháp hành Nikāya là bản thân con gặp được cái sự quý gia thấy được đạo lộ tu tập của mình để tiến đạo được, thấy được đây đúng là cái trân bảo của cuộc đời của mình để sau này mình có thể mỗi ngày tu tập mình tăng trưởng thiện pháp và trí tuệ mình sáng hơn. A-di-đà Phật, đó là những suy nghĩ của con.
Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng, hồi nãy giờ nghe thời giảng về các vị thánh Tăng thì thứ nhất con tự nhìn nhận về bản thân con như thế nào khi nghe thời giảng về các vị thánh Tăng, con cảm thấy mình tu chưa đúng lắm, chưa đúng pháp, thứ hai về pháp hành thì mình cũng chưa có. Hằng ngày mình chỉ buông lung, mình sống sao mà cảm thấy mình vui và mình chạy theo những thứ mà mình thấy đó là niềm vui của mình, nhưng mà thật ra nãy giờ nghe thầy giảng thì những niềm vui đó vốn dĩ nó rất là vô thường. Đôi khi có những cảm xúc mình thấy vui nhưng khi nhìn nhận lại thì thật ra không còn vui nữa, về pháp hành riêng bản thân con thì ban đầu quán chiếu được từ mười đến mười lăm phút, hằng ngày mình không còn quán chiếu nữa, mình chạy theo những cái suy nghĩ tiêu cực chứ không còn tích cực, nhiều lúc mình ngồi lại nhìn nhận cái tâm "Ủa mình tu gọi là đúng chưa, mình thực hành gọi là đúng chưa".
Khi mình làm việc nhiều quá thì sanh ra cái tâm ham ngủ, bữa đó đại chúng đều lên đọc kinh còn mình thì "thôi mệt, ngày nay tôi làm nhiều rồi, tôi ngủ" và đôi khi nhìn nhận lại đại chúng thì đại chúng ai cũng đi tụng kinh còn mình bỏ như vậy là đúng chưa. Đôi khi mình phải suy nghĩ lại những cái hành động đó của mình, khi nói về pháp hành thì mình cần phải nỗ lực hơn và nương theo chúng để tu tập, còn nếu như mình xa chúng thì mình không có cái khả năng để tự lực mình tu tập. Nam mô A-di-đà Phật, theo con là vậy.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ, kính thưa đại chúng, buổi học chiều hôm nay giáo thọ có giảng qua bài kinh Nikāya kể những cái pháp tu của Đức Phật và những bậc cao túc, con nghe tu như các ngài rất là đơn giản nhưng thật ra chúng con thực tập theo các ngài lại chưa được như các ngài. Tụi con thấy cũng hổ thẹn cái lương tâm, thứ nhất là cái tâm của mình chưa có được định, thứ hai là mình cũng còn ham muốn nhiều thứ, chưa có quán chiếu được bản thân của mình tu như thế nào để cho đúng chánh pháp, thứ ba là sự tu học thì con thấy thầy dạy cho chúng con cũng hơn một năm rồi, qua năm thứ hai rồi mà con thấy đôi lúc mình học có cái cũng chưa có hiểu nhiều.
Tại cái đó là do mình vô minh nhiều đời kiếp hay sao không biết, học hoài không thuộc, cũng về cố gắng học lắm nhưng mà không thuộc. Đôi lúc con cũng có quán chiếu bản thân của mình, mình chọn con đường tu để làm gì và tu cho ai, con cũng xin trình lên với thầy giáo thọ là con cũng cố gắng để tinh tấn cho bản thân của mình và chánh niệm, tập sống trong cuộc sống nhẹ nhàng, không lệ thuộc bất cứ ai. Mình phải tập sống cho bản thân mình và có trách nhiệm cho bản thân của mình, có chất liệu sống trong cuộc sống và tu tập để mình còn tiến lên nữa, mình đã chọn con đường tu rồi là mình phải tiến lên chứ không được thụt lùi. Con thấy cuộc sống hiện tại như bây giờ thời tu không giống như những vị lớn ngày xưa tại vì cũng còn ham vật chất hơi nhiều, cũng còn nhiều thứ cho cuộc sống riêng của mình.
Mỗi một vị có hoàn cảnh khác nhau cho nên không ai giống ai, con thấy như vậy thì con rút ra được kinh nghiệm, những cái bài học thầy đã truyền dạy cho chúng con. Cho nên con cũng cố gắng tinh tấn để màhọc hỏi theo các vị ngày xưa, mình ráng rèn luyện thân tâm, giới, định, tuệ để mình chánh niệm trong cuộc đời tu tập của mình. Nam mô A-di-đà Phật
V. Vị Thánh Tăng tu tập cốt tưởng
Sư Phụ:
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong gia đình giàu có ở Sàvatthi, lập gia đình và đặt tên con là Singàlaka và tự mình được gọi là Singàla-pitar (cha của Singàla). Về sau ngài từ bỏ gia đình và xuất gia. Thế Tôn biết được căn cơ xu hướng của ngài, dạy ngài đề tài thiền quán là bộ xương người. Dùng đề tài này để thiền quán, ngài sống giữa các dòng họ Thích-ca ở Sumsumàragira, tại khu rừng Bhesaskalà." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVIII) Singàlar-Pitar (Thera. 5))
Thế Tôn dạy ngài đề tài thiền quán về bộ xương, về cốt tưởng, bạch cốt tưởng, lấy đề tài đó làm cái định tướng để tu. Tu về đề tài quán bộ xương, pháp tu này rất là thường thời Đức Phật còn tại thế, gọi là cốt tưởng, khi mình quán đề tài bộ xương là lúc nào cũng nhắc nhở mình thân này là bộ xương, khi đi thì mình biết bộ xương đang đi, khi mình gặp những đối tượng khác mình cũng biết những cái này là những bộ xương. Mình cứ nhắc hoài cái hình ảnh đó hiện ra trong tâm của mình, nhìn ai mình cũng thấy là bộ xương hết. Mình có phải là bộ xương không ạ? Nhưng mà mình không thấy, mình thấy đẹp, mình thấy phủ ngoài một lớp da trơn láng, vì mình không thấy sự thật ở bên trong cho nên mình có dục, có tham, có ái, có mê, có say, có đắm, có đuối, có thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Khi mình quán bộ xương thì tất cả những cái đó lắng dịu xuống, mình dám nằm ôm cái bộ xương ngủ không? Nhìn thấy bộ xương mình sợ không? Nhưng mà đó là chính mình thì sao mình không sợ mình? Tại mình không thấy, bây giờ Đức Phật phơi bày những cái gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho ai có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, chính là cho mình nhìn thấy bộ xương của chính mình.
Đây là một trong những đề tài mà hồi xưa rất nhiều vị Tỳ-kheo chứng thánh quả trong cái đề tài cốt tưởng này, quán bộ xương. Mình đang đi thì nhắc bộ xương đang đi, khi ngồi mình nói là bộ xương đang ngồi, trong cái tưởng của mình là hình ảnh bộ xương lúc nào cũng hiện hữu, lấy đó làm đề tài thiền quán, làm định tướng để tu tập. Chúng ta thử thực tập rồi chúng ta sẽ thấy phép màu xuất hiện, thử thực tập trong một ngày, trong một tuần, lúc đầu nó khó nhưng mà tập từ từ sẽ quen.
Ni sư ở trên Linh Quy Pháp Ấn chúng con tốt nghiệp tiến sĩ bên Đài Loan, mấy cái bằng cấp mà đời sống rất là khiêm cung, khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn và từ cái ngày Ni sư lên Linh Quy thì bây giờ bên Ni chúng phát triển lên tới ba bốn chục vị. Khi đại chúng chấp tay hai hàng cúi đầu để chào chư Tăng Ni, khi đi qua thì Ni sư quán chiếu nhắc trong tâm "ngươi đó nha, đừng có tưởng đâu là ngươi ngon, ai cung kính ngươi nha, ngươi là đang bưng cái di ảnh, người ta cúi đầu trước cái di ảnh đó chứ không phải cúi đầu ai đâu, không có mình, không có ta nào ở đây hết". Người ta cúi đầu trước cái di ảnh, khi chết còn cái tấm hình, mình bưng tới đâu người ta cúi đầu tới đó, và một vị cũng mới xuất gia ở trên núi, cái vị này thường xuyên an trú cốt tưởng, khi đi khất thực thì vị này ôm bình bát nhưng quán chiếu là ôm cái hủ cốt, thường xuyên nhìn đâu cũng thấy bộ xương.
Tu tập nhiều tháng như vậy, ba tháng, sáu tháng, một năm vậy chứ không phải bây giờ tu chút chút rồi bỏ cho nên không có thành tựu cái gì hết đó, tu phải thâm sâu cho đến thành tựu một cái môn. Cứ nắm cái đề tài nó tu hoài cho đến trở thành định tướng mà không mất, cho nên ở trong trưởng lão tăng kệ con nhớ có một câu chuyện có cô dâu mặc đồ rất là đẹp, trang sức, vàng vòng đủ thứ nhưng giận chồng mới bỏ về nhà cha mẹ của mình, mấy người chạy phía sau đi tìm, người ta mới hỏi ông sư đang đi khất thực ở trên đường đó thì ta hỏi nãy giờ thầy có thấy có một cái cô mà dâu mặc đồ đẹp, đeo vàng vòng này kia thì ngài nói tôi đâu có thấy ai đâu, tôi có thấy cái bộ xương đi qua. Đó là ngài đang tu cốt tưởng mà ngài chứng thánh quả A-la-hán.
VI. Thánh Tăng Lakuntaka Bhaddhiya
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai" (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49))
Cho nên đây là một trong những đề tài rất quan trọng, nhất là những Tăng Ni ni sinh trẻ thì cái này giúp ích mình rất lớn trong sự nhiếp phục dục tham, làm cho lắng dịu, đoạn tận các dục ái là rất cần thiết. Mọi người về nhà đọc rồi tuần sau học thì trình pháp, hai ba tuần sau mới gặp lại con mà cũng không biết có gặp được hay không, cái vô thường sao biết được, tạm nói vậy thôi, Về tu đi, thực tập đề tài cốt tưởng này, thực tập quán cái bộ xương này, ở đây có mấy chục bộ xương đang ngồi học, không có ai ngồi đây, hết chỉ là những bộ xương di động mà trong bộ xương đó đầy rẫy tham dục, sân hận, bản ngã, vô minh, ta đây, hơn thua, đụng tới cái là nó sừng sộ lên liền, đụng tới là quơ tay múa chân, dùng cái vũ khí miệng lưỡi. Những bộ xương hết sức kinh khủng và khủng khiếp, đầy rẫy sân hận, dục tham, đầy rẫy những vô minh, những bản ngã, những thèm khát, khao khát, khát ái.
Đó là sự thật, nhìn sự thật ngao ngán, sự thật nhàm chán, sự thật cay đắng, sự thật phũ phàng, ngỡ ngàng, sự thật bàng hoàng, đau lòng, đau xót, đau đớn, đau điếng là một sự thật của một bộ xương đầy rẫy dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã, đầy rẫy hơn thua, cống cao ngã mạn. Trong ánh nhìn thôi có thể tóe lửa, trong ánh nhìn thôi có thể chửi nhau, đánh nhau, chém nhau, đâm nhau rồi chết với nhau. Trời ơi những cái bộ xương khủng khiếp như thế, những bộ xương ác độc như thế, những cái bộ xương hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, hung tợn, hung ác như thế.
Thật là đau khổ cho những bộ xương!
Thật là đau xót cho những bộ xương!
Thật là đau lòng cho những bộ xương!
Thật là đau đớn cho những bộ xương này!
Đáng thương những bộ xương tự làm khổ mình, tự làm khổ những bộ xương khác, tự hành hạ chính mình, tự hành hạ những bộ xương chung quanh mình, hành tội, hành xác, hành phạt, hành hình. Thật là đau khổ cho những bộ xương này! Thật là đáng thương cho những bộ xương này! Phải quán cho thấm thía như vậy, nó thấm vô xương, vô tủy của mình, mình nhìn vô thấy đầy rẫy những bộ xương nhơ nhớp, tanh hôi, bất tịnh, đau khổ, si mê, hôn ám, ác độc, đầy rẫy những tham, sân, si, dục ái, vô minh và bản ngã là những cái đống xương đang di động và ngày đêm trong đó là ở bên trong giật sợi dây của dục, của tham, của ái. Bên trong nó thắp lên, nó đốt lên, nó phừng lên những ngọn lửa của sân hận, của oán thù, bên trong là những màn đen, những bóng đêm của vô minh xâm chiếm, áp đạo, nó phong tỏa ngày đêm trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, là những cái bản ngã hơn thua, ta đây, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người, kiêu ngạo, ngạo mạn.
Đau xót và đau lòng như vậy mình mới khởi được một cái từ tâm vô lượng, một cái tình thương thấm thía, thẩm thấu, từ trong xương tủy của mình là một tâm đại bi, đại từ rộng lớn, mênh mông cùng khắp pháp giới, muôn loại chúng sanh. Những bộ xương đang sống trong bóng đêm, đang sống trong vô minh, đang sống trong khát ái, đang sống trong nghiệp, đang sống trong những thúc giục, những tập tánh, những thói quen để làm khổ mình, khổ người, hại mình, hại người. Phải quán chiếu như vậy, thâm sâu như vậy, thấm thía như vậy, thẩm thấu như vậy, xuyên thấu như vậy, xuyên thủng qua cái lớp da đầy nhơ nhớp, bất tịnh, tanh hôi, bẩn thiểu này, ngao ngán, nhàm chán.
Mình muốn thoát ra cho nó mau, cho nó lẹ, cho nó nhanh, đó là đạo lộ của bậc thánh, là phá được sắc thủ quẩn, là phá được thân kiến, là phá được một cái đống khổ to lớn. Đó là cái cách để mình triển khai thiền quán.
VII. Viễn ly
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng, từ nguyên buổi con ngồi im lặng để con lắng nghe những lời thầy dạy, thật sự là từ trước tới giờ con cứ nghĩ mọi người làm gì làm, mọi người nói gì nói, mình chỉ cần im lặng thì đó là tâm hiền nhưng sau khi con được học thầy thì con nhận ra tâm hiền lại có một khái niệm khác. Con cứ nghĩ là học xong rồi thì sẽ có một số vị và cả bản thân con sẽ tìm đến một nơi nào đó để yên mà tu tập bởi vì con tự cảm thấy cả một ngày trời từ khi mở mắt ra con đã bắt đầu sắp xếp là ngày hôm đó con phải làm cái gì, mấy giờ con đi học, con chấp tác, con làm việc, dường như là không có thời gian để nghĩ cho việc nhìn nhận lại bản thân con và thật sự là trước đó là con chưa hiểu rõ về ngũ uẩn là như thế nào. Học môn này thì con mới thật sự biết và con có về thưa sư phụ con là nhờ học môn này nên con biết được cái vấn đề đó.
Hôm nay khi học buổi này thì đầu tiên thầy dạy cho con về ngài Mahanama thì ngài đó tu hạnh viễn ly nhưng mà tâm thì chưa viễn ly, rồi ngài tự trách mình, rồi tới ngài Paccaya sau khi nghe pháp thì ngài từ bỏ tất cả cũng vào viễn ly để sống, nhưng đến ngài Upali thì thầy dạy là Đức Phật dạy ngài Upali ở cạnh Đức Phật thì mới thuần thục được kinh học và thiền quán thì con cảm thấy cái tâm con nó thay đổi liên tục luôn. Lúc thì con cảm thấy việc viễn ly là một việc cực kỳ cần thiết đối với người tu và đặc biệt là người tu trẻ như con, tới cái bậc hạnh của ngài Upali thì con lại nghĩ ở cận sư phụ, cận những vị thiện tri thức thì lại tu tốt hơn, xong rồi lại qua ngài Vinaka thì con lại thấy về cái sự viễn ly nữa. Vì vậy nãy giờ con ngồi im lặng để cái tâm khởi lên đó là con tha thiết thầy có thể nhắc đến việc giữa viễn ly và ở thân cận để cho con có thể hiểu được tại vì con không dám hỏi, con tha thiết con khởi cái tâm là con mong thầy sẽ phân tích về cái điều đó nên giờ con lấy hết can đảm để con xin thầy dạy cho con hiểu bây giờ người tu trẻ như con là học xong rồi tìm nơi nào đó tu tập, hay là vẫn tu trong môi trường của đại chúng để con có thể tiến tu hơn trong con đường của mình, bởi vì càng học con cảm thấy mình việc tu mình không tới đâu hết mà mình cũng không biết là mình sẽ đi về đâu, tại vì thầy nói là thầy dành mất hai mươi đến ba mươi năm để có thể tìm ra được cái chân lý thì con có đủ sức để sống đủ hai mươi đến ba mươi năm để có thể hiểu được như vậy hay không. Dạ nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Mình muốn sống viễn ly thì phải thành tựu chánh kiến, còn nếu không mình có ở một mình đi nữa là mình sống với vô minh, với tham ái của mình thôi, với chấp thủ của mình thôi. Cho nên phải thân cận bậc chánh kiến, sau khi mình được truyền đạt, mình nắm vững cái pháp hành vị thầy đó đồng ý cho mình đi viễn ly thì lúc đó mình mới được đi viễn ly, còn nếu mình chưa biết gì hết giống như khỉ vượn cũng ở trong rừng đâu có giác ngộ đâu, mấy người ở tù chung thân đâu có chứng quả đâu. Cái khác biệt ở đây là phải thành tựu được chánh kiến, sau đó mới có thể sống viễn ly, ít nhất cũng phải nắm được cái pháp hành vững chắc rồi sau đó mới tự tu tập được, còn khi mình chưa có nắm được pháp hành thì mình cần có một vị thầy hướng dẫn cũng như đại chúng, mà phải cùng tu chánh pháp mới được, chứ còn mình ở chung cái chỗ không có tu chánh pháp thì mình sẽ mình sẽ bị những cái mê tín, tà pháp làm cho mình nhiễu loạn.
Do mình chưa có vững, mình không biết cái nào đúng, cái nào sai hết, cái nào đen, cái nào trắng thì người ta nói đen mình nghe đen, người ta nói trắng mình nghe trắng, tại vì mình chưa có một cái thấy. Bây giờ mình xác quyết từ đây đi về chùa mà mình rõ đường không? Bây giờ có người nào đứng đó nó không phải đi đường kia mình có chịu tin không? Tại mình biết đường, cũng vậy, mình phải nắm được pháp hành rồi sau đó mình mới vững bước để mình sống một mình, độc cư viễn ly thực hành pháp.
Cái này rất quan trọng cho nên đọc Tương Ưng Bộ kinh sẽ thấy rất nhiều các vị Tỳ-kheo đến đảnh lễ bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nói cho con cái pháp vắn tắt, sau khi con nghe pháp Thế Tôn dạy con sẽ ở một mình, sống độc cư viễn ly thực hành pháp thì lúc đó Đức Phật nói thì người đó tu một thời gian tu cái chứng thánh quả .Tại vì những vị đó là những vị nắm được pháp hành rồi, Đức Phật chỉ cho đề mục thôi là người đó thực hành là có kết quả, cho nên tại sao lớp học chúng ta ở đây là con tha thiết làm sao để chúng ta nắm được pháp hành, sau đó quý vị ở đâu tu cũng được nhưng mà thật sự là khó lắm, khó lắm, ở đây chưa thấy ai nắm được pháp hành hết trong một năm mấy nay, ngay cả ở Linh Quy mà phải ở một thời gian dài, tối thiểu cũng phải năm năm, tám năm thì mới được, mỗi ngày phải được tu học chánh pháp, phải được huân tập, phải trình pháp, phải trình bày và phải được huấn luyện thì mới được. Nếu mình ở một mình, mình nghĩ sao, mình muốn làm sao rồi ai biết, rồi mình giấu hết thì làm sao, như vậy đâu có được.
Trong rừng ấy, một thần rừng biết được ngài sẽ chứng được Thánh quả nên nói lên bài kệ này:
Hãy nhìn trong khu rừng,
Rừng Bhesakala!
Một Tỳ-kheo đang sống,
Thừa tự lời Phật dạy,
Ngang thân địa đại này,
Tỏa khắp tưởng bộ xương.
Ta nghĩ Tỳ-kheo ấy,
Mau đoạn tận dục tham.
Nghe bài kệ này, vị Trưởng lão nghĩ rằng: 'Vị thần rừng này muốn ta cố gắng tu tập', nên ngài phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Về sau, ngài nhớ lại bài kệ của thần rừng này và nói lên lại bài kệ ấy như là lời tuyên bố về chánh trí của ngài." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVIII) Singàlar-Pitar (Thera. 5))
Chúng ta thấy tu mà tới thần rừng kính phục, xưng tán tức là ngài ngồi quán tưởng tất cả đại địa này là cái bộ xương thôi, như thế cái tâm của ngài tưởng thì các vị chư thần nhìn thấy hết, như thọ; tưởng; hành của mình có những vị phi nhân, chư thần, chư thiên thấy hết mình nghĩ gì tại vì có hình bóng ở trong tâm. Mình đừng tưởng người ta không thấy, mình làm gì, mình nghĩ gì người ta thấy hết, trong tâm mình có suy nghĩ gì người ta đọc được, có hình bóng gì người ta thấy được, có cảm thọ gì người ta thấy được. Thành ra cố gắng tu tập, đừng tưởng ra không ai thấy, thật ra là thấy hết.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.
Tỳ-Kheo Thời Đức Phật 2
Cốt Tưởng Chứng La Hán!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh Tăng Upàli PAGEREF _Toc204010435 \h 1
II. Thánh Tăng Sopàka PAGEREF _Toc204010436 \h 5
III. Thánh Tăng Dàsaka PAGEREF _Toc204010437 \h 7
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc204010438 \h 8
V. Vị Thánh Tăng tu tập cốt tưởng PAGEREF _Toc204010439 \h 11
VI. Thánh Tăng Lakuntaka Bhaddhiya PAGEREF _Toc204010440 \h 13
VII. Viễn ly PAGEREF _Toc204010441 \h 15
I. Thánh Tăng Upàli
Sư Phụ: Chúng ta có nhiều tấm gương vĩ đại lắm, ngài Upali trong thời Đức Phật, Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni của chúng ta được sanh trong một gia đình cạo tóc, tên là Upali. Chúng ta biết gia đình thợ cạo, người hớt tóc là một giai cấp thấp, kém cỏi trong xã hội, khi đến tuổi trưởng thành ngài xuất gia theo gương của Anuruddha và năm vị con cháu của hoàng tộc khi Đức Phật ở tại rừng Anupiyà. Chúng ta nhớ câu chuyện hồi xưa mình học ngài là người hớt tóc cho các hoàng thân quốc thích, hoàng tử, các vị hoàng tử, hoàng thân ở trong hoàng thất đi xuất gia thì người ta mới bỏ lại mấy cái đồ đạc như hoàng bào, trang sức để cho ngài "đây nè, ngươi lấy mấy cái này về xài cả đời ngươi không hết". Năm vị con cháu hoàng tộc mới gỡ áo mão, cân đai rồi vàng vòng, mã não, đồ đeo trên người rồi gom lại hết "Ta cho ngươi Upali, người về ngươi sống cả đời trong đầy đủ".
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh trong gia đình một người cạo tóc tên là Upàli. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài xuất gia, theo gương của Anuruddha và năm vị con cháu hoàng tộc, khi đức Phật ở tại rừng Anupiyà." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXX) Upàli (Thera. 31))
Ngài Upali mới suy nghĩ bây giờ các vị đó là hoàng thất, hoàng tộc, là công tử vương gia vọng tộc mà người ta còn đi theo Đức Phật, phải có một cái sự cao quý như thế nào, nó giá trị thế nào thì các cái vị hoàng thân quốc thích, danh gia vọng tộc, hoàng thất như vậy mới bỏ đi tu. Trong khi mình là một cái thằng đi hớt tóc, một thằng thợ cạo thì tại sao mình không đi theo, ngài về suy nghĩ như vậy đó, chúng ta chiêm nghiệm được cái này hay lắm, cái đó là một đề tài thiền quán. Mình là cái gì trong cuộc đời này? Mình là một thằng nghèo ở trong thôn quê, ngày mình mới lên thành phố mình còn hai lúa, mình còn khờ khạo vậy mà ở một thời gian mình trở thành sành sỏi, trở thành khôn khéo, có khi cái chân chất, cái chân thật dần dần bị mất, cái này có nhiều không? Bên mấy cô cũng vậy thôi, phải chiêm nghiệm cái này rất kỹ.
"Khi ngài nhận một đề tài để thiền quán, ngài yêu cầu đức Phật đừng đưa ngài đi sống ra ngoài khu rừng. Ðức Phật dạy: 'Nếu Thầy sống trong rừng, Thầy chỉ phát triển được một vấn đề, nhưng nếu Thầy sống với Ta, Thầy sẽ trở thành thuần thục cả về kinh học và thiền quán'. (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXX) Upàli (Thera. 31))
Nãy giờ bao nhiêu vị chúng ta để ý tất cả đều sống trong rừng, trong núi, trong viễn ly. Nếu sống trong rừng chỉ phát triển được một vấn đề nhưng nếu sống với ta sẽ trở thành thuần thục cả về kinh học và thiền quán, chỗ này là chỗ sâu sắc, mình ở gần được các bậc thánh nhân, bậc Thế Tôn, ở gần các bậc thành tựu chánh tri kiến là cái lợi ích khủng khiếp lắm, gặp được các bậc hiền trí, các bậc hiền thánh, các bậc chánh tri kiến, các bậc chân nhân là cái bước của mình không thể nào tưởng tượng nổi, mau thành tựu lắm. Một hôm ngà A-nan hỏi Đức Thế Tôn bạn lành, thiện hữu tri thức là phân nửa của đời sống phạm hạnh, Đức Thế Tôn nói A-nan chớ có nói vậy, bạn lành, bậc thiện tri thức là toàn phần của đời sống phạm hạnh của mình, tức là quyết định toàn bộ sự tu hành của mình.
"Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.
-- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Nếu mình may mắn gặp được bậc chân nhân, bậc chánh kiến, bậc hiền trí hay là bậc hiền thánh, bậc thánh nhân thì cuộc đời của mình thay đổi vận mạng. Nhưng bây giờ mình nói vậy đến chừng mình gặp thiệt là mình chán lắm tại vì chỉ cho mình cái sai rất nhiều, bào cái bản ngã mình rất nhiều, chỉ có người tha thiết, chân thành tu học thì người đó mới quý, còn với một cái tâm thường, một cái bản ngã, một cái tâm dễ sân hận là chịu không nổi. Cuộc đời con không có một cái gì quý báu hơn là con gặp được một bậc chánh kiến xuất hiện trên cuộc đời này làm thay đổi vận mạng, mà tới nay làm cũng chưa xong, vẫn còn đang làm nhưng mà cái thấy cái biết về pháp của mình là một cái niềm tin tuyệt đối. Thành ra rất khó gặp được những bậc chân nhân, chánh kiến, bậc hiền trí, bậc đại tuệ hiếm có trên đời này, bậc hy hữu, hiếm có, bậc khó gặp, rất là khó trên đời, nhiều đời nhiều kiếp chứ không phải là trong một kiếp.
"Ngài vâng theo lời bậc Ðạo Sư khuyên tu thiền quán và sau một thời gian chứng quả A-la-hán. Tuy vậy, bậc Ðạo Sư dạy cho ngài cả Luật tạng. Về sau, khi Upàli được Thế Tôn khen vì Upàli đã phán quyết trong ba trường hợp về Ajjuka, về Tỳ-kheo Kurukacchaka và Kumàra-Kacapa, ngài được xem là vị hiểu biết Luật tạng" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Tuy là ngài thích nhưng nghe Đức Phật chỉ dạy là ngài nghe theo, ngài được xem là vị hiểu biết luật tạng.
"Trong một ngày trai giới, khi ngài đang đọc giới bổn Pàtimokkha, ngài giáo giới các Tỳ-kheo như sau:
Vì lòng tin ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Hãy sống với bạn lành,
Mạng thanh tịnh, không nhác.
Vì lòng tin, ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Tỳ-kheo trú giữa chúng,
Sáng suốt, học Luật tạng.
Vì lòng tin, ra đi,
Mới xuất gia, tân học,
Khéo biết việc nên làm,
Và việc không nên làm,
Hãy để vị ấy sống,
Không để cao tôn xưng." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Vì lòng tin mà mình đi xuất gia, mình mới cạo tóc, mình mới học hỏi thì mình phải sống với bạn lành, với các bậc thiện tri thức, các bậc có giới đức, các bậc có trí tuệ, các bậc có thiền định, mình sống cuộc đời trong sạch, không có lười nhác, không có biếng nhác, không có lười biếng, không có giải đãi. Vì một lòng tin mà mình ra đi như vậy, mình mới được xuất gia, mình mới dựa vào trong giáo pháp, hãy trú ở trong chúng Tỳ-kheo và sáng suốt để học luật tạng, đọc các giới luật, nghiền ngẫm trong đó, suy tư trong đó, quán sát trong đó, coi mình đã làm được bao nhiêu, còn cái gì mình làm chưa được, mình còn sơ suất cái gì, mình còn lỗi lầm cái gì. Mình phải biết việc nào nên làm và việc không nên làm, nếu mình không có biết cái này là mình làm những việc không nên làm, và những việc nên làm thì mình không làm. Câu này là đề tài thiền quán chiêm nghiệm rất là sâu sắc.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Ba-la-nại trong một gia đình Bà-la-môn. Ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của Trưởng lão Amitta, và nhờ sự hướng dẫn này, ngài phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài giảng dạy cho một Tỳ-kheo là bạn của ngài như sau:
Hãy tránh xa bạn ác,
Giao thiệp bậc thượng nhân,
Vâng theo lời khuyến giáo,
Hướng đến lạc bất động.
Như leo trên ván nhỏ,
Giữa biển lớn bị chìm,
(Xem kệ 147 - 148)
Cũng vậy đến kẻ nhác,
Người hạnh tốt cũng chìm,
Do vậy, hãy bỏ nó,
Kẻ làm biếng, làm nhác.
Hãy sống gần bậc Thánh,
Bậc viễn ly tinh cần,
Thiền định, thường tinh tấn,
Bậc Hiền trí sáng suốt." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXXV) Vimala (Thera. 32))
Mình chìm ở trong cái biển cả mà mình chụp được cái tấm ván, mình phải giữ chặt miếng ván đó, tức là đối với các bậc thượng nhân, những là khuyến giáo, dạy bảo của ngài đừng có để rớt, đừng để mất, đừng để quên, đừng để sót. Ở đây nói người làm biếng, làm nhác thì không có thể nào thành tựu được hết, sẽ bị bỏ lại ở phía sau, sẽ bị chìm xuống, hãy sống gần bậc thánh, bậc đã rời xa và siêng năng. Nãy giờ là khuyên bảo chúng ta rất nhiều, thân cận bậc hiền trí, bậc thượng nhân, nghe những lời khuyến giáo, dạy dỗ.
II. Thánh Tăng Sopàka
"Ngài sanh trong thời đức Phật hiện tại ở Sàvatthi, từ một người đàn bà rất nghèo khổ. Khi bà mẹ đau đẻ, bà bất tỉnh và người ta tưởng bà đã chết nên đem thân bà đi thiêu. Một phi nhân không cho lửa đốt cháy, làm mưa làm gió và những người thiêu thân bỏ đi. Ðứa con trẻ được sanh mạnh khỏe, còn người mẹ bị chết." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Bốn, (XXXIII) Soopaka, Một Tỳ-kheo Trẻ Con (Thera. 6))
Mẹ của ngài là một người rất nghèo khổ, khi mẹ ngài đau đẻ là bà bất tỉnh, người mẹ lúc đó ngất xỉu chứ chưa chết nhưng người ta tưởng chết thì vị chư thiên, chư thần này thấy vậy, hơn nữa là ngài đời cuối cùng nên được bảo vệ. Người mẹ tỉnh lại sanh tiếp, đến khi sanh ngài ra thì người mẹ mất.
"Vị phi nhân hóa làm người, bế đứa con và bỏ trong nhà người giữ nghĩa địa, nuôi đứa con trong một thời gian với đồ ăn thích hợp. Sau đó, người giữ nghĩa địa nhận làm con nuôi, và Sopàka lớn lên với Suppiya, con trai nhỏ của người giữ cửa. Vì ngài sanh ở nghĩa địa, nên đặt tên là Sopàka. Khi ngài bảy tuổi, Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, vào buổi sáng, nhìn xem những ai có thiện căn tốt lành, thấy Sopàka và đi đến nghĩa địa. Sopàka được nghiệp duyên đời trước, đi đến Thế Tôn với tâm tư hoan hỷ và đảnh lễ Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp và Sopàka xin xuất gia." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Bốn, (XXXIII) Soopaka, Một Tỳ-kheo Trẻ Con (Thera. 6))
Từ nhỏ đã khổ, bị mất mẹ, ở trong nghĩa địa mà nay gặp Đức Thế Tôn, tâm từ ấm áp ngọt ngào lan tỏa mà nhiều đời trước đó huân tập, cái tuệ căn thấy là xà vào lòng Đức Thế Tôn, cưng quá, hiền thiện quá, tâm nhu thuận, mềm mại, như vậy là xin xuất gia.
"Sau khi được phép người cha nuôi, Sopàka xuất gia và được dạy tình thương huynh đệ làm đề tài tu hành. Sopàka lấy đề tài này và sống ở nghĩa địa và chứng được cảnh giới thiền tương đương. Lấy cảnh giới thiền làm đề tài căn bản, ngài triển khai thiền quán và chứng được quả A-la-hán. Sau khi chứng quả, ngài làm bài kệ, trong ấy ngài nêu cho các Tỳ-kheo rõ đề tài tình thương anh em, không có phân biệt người thân kẻ sơ. Với tất cả, tình thương phải là một, bao trùm mọi cảnh giới, mọi chúng sanh mọi thời gian:
Như người mẹ tốt lành
Thương người con độc nhất,
Cũng vậy đối chúng sanh,
Đủ mọi loài, mọi chỗ,
Hãy có lòng tốt đẹp,
Thương mến và từ ái." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Bốn, (XXXIII) Soopaka, Một Tỳ-kheo Trẻ Con (Thera. 6))
Mới có bảy tuổi chứng quả A-la-hán, mình giờ bao nhiêu tuổi rồi? Tu tới bảy mươi tuổi chưa thấy quả nào. Mình thấy không, đủ thứ thành phần, đủ thứ tuổi tác, đủ thứ giai cấp mà cái nào đến Đức Phật cũng chỉ có một vị giải thoát thôi, nước bốn biển chỉ có một vị mặn, giáo pháp như lai chỉ có một vị là vị giải thoát thôi.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Bây giờ ngồi đó phân chia tông này tông kia chi cho mệt vậy? Tìm về cái nguồn gội, tìm về cái nguyên chất, tìm về cái gốc rễ để mình tu. Ngoài ra còn nhiều trường hợp rất đặc biệt.
III. Thánh Tăng Dàsaka
"Do nghiệp của mình, ngài sanh vào thời Đức Phật hiện tại, con của một người nô lệ của Anàthapindika, và được giao việc gác cửa vào tịnh xá Jetavana. Được nghe đức tánh và nguyện vọng của ngài, ông Anàthapindika giải thoát cho ngài khỏi vòng nô lệ và ngài nói ngài sẽ sung sướng nếu được xuất gia". (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Con của một người nô lệ của ông Cấp-cô-độc, người này được giao giữ cửa ở Kì Viên Tinh Xá, được nghe đức tánh và nguyện vọng của ngài đó thì ông Cấp-cô-độc xóa bỏ kiếp làm nô lệ cho ngài, cho ngài được tự do không còn làm nô lệ nữa. Ngài nói ngài sẽ sung sướng nếu được xuất gia cho nên ông Cấp-cô-độc xóa cái kiếp làm nô lệ để cho ngài được đi xuất gia vì nếu làm nô lệ thì làm sao được xuất gia? Bây giờ giống như xóa nợ, xóa kiếp, xóa giai cấp thì vị này đi xuất gia.
"Nhưng khi được xuất gia, ngài trở thành biếng nhác, thụ động, tiêu cực, không chịu cố gắng để thoát khỏi sanh tử, và ngủ quá nhiều sau các bữa ăn." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Cái này cần chiêm nghiệm lại, làm nô lệ cực khổ bị khinh khi, bây giờ được thoát kiếp nô lệ thì sung sướng rồi, khỏe, thoải mái không lo lắng gì nữa hết nên ăn xong rồi ngủ trở thành biếng nhác, thụ động, tiêu cực, không chịu cố gắng để tu tập hành trì, ngủ quá nhiều sau những bữa ăn.
"Khi đến thời thuyết pháp, ngài lựa một chỗ ngoài vòng Tăng chúng, tìm một góc và ngồi ngáy." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Tới giờ Đức Thế Tôn thuyết pháp thì lựa cái gốc sau cùng, cuối cùng ngồi dựa vô vách tường, còn trên này không dám ngồi.
"Thế Tôn nghĩ đến việc làm trước của ngài, nên nói lên bài kệ này để khích lệ ngài:
Ai hôn trầm, ăn nhiều,
Nằm ngủ, lăn qua lại,
Như heo lớn, ăn no,
Kẻ ngu tiếp thai sanh." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Tối ngày ăn rồi ngủ, làm biếng làm nhác thì giống như con heo ăn no rồi ngủ thì tiếp tục những cái kiếp đi vào trong bào thai để luân hồi sanh tử, tái sanh.
"Khi nghe vậy, Dasaka trở thành dao động hốt hoảng và phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài suy nghĩ: 'Bài kệ của Thế Tôn đã khích lệ ta nhiều' và ngài nói lại bài kệ này. Như vậy, dầu cho bài kệ chống đối ăn nhiều, bài kệ trở thành lời tuyên bố về chánh trí của ngài" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVII) Dàsaka (Thera. 4))
Khi ngài nghe Đức Thế Tôn quở trách thì ngài lo sợ, hoảng sợ, chấn động mạnh nên ngài phát triển thiền quán diệt tận tham, sân, si, chứng thánh quả A-la-hán. Ngài không có làm bài kệ mới, ngài lấy bài kệ của Đức Phật trở thành bài kệ đắc đạo, thành đạo, chứng đạo của ngài.
Chúng ta chia sẻ đi ạ, những cái mẫu chuyện nãy giờ chúng ta có cảm nhận như thế nào, chiêm nghiệm như thế nào, có những cảm thọ như thế nào, có tủi thân không, có nhìn lại mình nhiều không, có đối chiếu, có so sánh, có suy tư, có suy ngẫm, có nhức nhói, có đau đớn, có ray rứt trong lòng mình không.
IV. Trình pháp
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính lễ thầy giáo thọ cùng đại chúng, từ nãy chúng con được nghe những vị thánh Tăng chúng con cảm thấy trong lòng rất là vui và rất là hoan hỉ. Nhìn lại bản thân thì chúng con rất là hổ thẹn và có ý trí động lực thêm trên con đường thực hành pháp hành nhiều hơn. Qua những mẫu chuyện đây thì con nhớ đến một vị tu cũng có đạo hạnh, cũng có giới luật ở tại Tây Ninh, đó là ở tu viện Chân Như, trưởng lão Thông Lạc, con xin thầy chia sẻ về vị ấy. Vị ấy có tuyên bố rằng là vị ấy chứng được, làm chủ được sinh, già, bệnh, chết, thưa thầy xin thầy chia sẻ về vị này.
Sư Phụ: Thôi chia sẻ những bài đang hiện tại học đi.
Thầy Hạnh Đức: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính lễ thầy giáo thọ cũng như đại chúng, như lời chỉ định của thầy Đức Trường con cũng có đôi lời chia sẻ thông qua những cái câu chuyện mà hồi trưa giờ giáo thọ kể với chúng con những câu chuyện, những bậc thánh Tăng, những con người vĩ đại, những bậc xuất trần, toàn là những cái hạnh khó làm, những cái ý chí, những cái nghị lực phi phàm quá. Giống như một cái tinh thần là quyết tử để đạt đạo, không đạt đạo là quyết không có sống một cái đời vô dụng, một cái đời mà gọi là tầm thường, nhạt nhẽo, sầu não, bi ai quá. Quý ngài chắc cũng tu nhiều kiếp rồi có được chánh tri kiến, thấy được những cái sầu não, những cái bất an, thấy được những cái sự tan hoại, hư hoại, khổ não của trong cái thân ngũ uẩn này nên mới ngài mới quyết chí tu. Còn đa phần bây giờ con cũng chưa có thực sự cảm với cái việc học tập cũng như tu hành trong mấy năm qua, cũng chưa có thực sự thấm nhuần được những cái nỗi khổ niềm đau ở đời, trong cái thân ngũ uẩn này nên cái sự quyết tu của mình yếu kém quá, nó hèn nhát quá, chưa có dõng mãnh được và còn lơ là quá, chưa có thấy được cái giá trị.
Giống như không có biết được con đường, không có thấy pháp nữa, giống như vô chùa gõ mỏ, tụng kinh, rồi hết giờ ăn xuống ngủ, rồi thấy phiền não cũng còn hoài. Tu hoài phiền não còn hoài, đôi khi cái ngã mạn lại tăng thêm, khi mình có học vị, có bằng cấp, có cái sự hiểu biết khinh thường đủ thứ cái, sao mình tu hoài mà thấy lậu hoặc còn hoài giống như chưa gặp minh sư để đưa đường chỉ lối, chỉ điểm để cho mình biết được đạo lộ để mình tu, thấy pháp để mình tu để mình dọn rác trong tâm. Như nãy giờ những cái những cái bài học thông qua cuộc đời của vị thánh Tăng cũng đã khuyến tấn chúng ta phải nên gặp, thân cận, gần gũi bậc thánh, bậc chân nhân, gặp những bậc thượng thiện nhân để dìu dắt, để chỉ dạy, để truyền lửa, để cho cái tâm mình được tinh cần, dõng mãnh, tinh tấn, nó nhiệt quyết, nó sôi nổi, muốn tu, ham tu, thích tu, ưa tu, khoái tu để mình mỗi ngày vui vẻ, hoan hỉ, cái duyên của mình tăng trưởng, tâm cụ túc, tuệ cụ túc và giới cụ túc của mỗi người mỗi ngày trong con người của mình càng ngày tăng trưởng thì cái cái đạo lực, đạo quả mình mới có được.
Đa phần bây giờ không có gặp được nhiều minh sư, mạnh ai nấy tu thôi, nói nhân quả chơi cho vui vậy đó, ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng vậy đó, anh tu được thì anh mừng, còn tôi tu được tôi mừng, khỏi ai lo tới ai. Nhiều khi không có ai răn nhắc, nhắc nhở, dạy dỗ rồi những hình ảnh không đẹp đập vào mắt mình, nhiều khi mình thối vào đời tâm, thối vào đời nguyện, thối vào đời chí, mình buồn bã, sầu não, bất an nhiều cái. Trong đời sống hiện tại này thực sự rất khó để gặp những bậc thánh, những bậc chân nhân, gặp những người dìu dắt chỉ đường cho mình để mình tiến đạo nghiêm thân. Thông qua những bài học này, hôm nay được học pháp hành Nikāya là bản thân con gặp được cái sự quý gia thấy được đạo lộ tu tập của mình để tiến đạo được, thấy được đây đúng là cái trân bảo của cuộc đời của mình để sau này mình có thể mỗi ngày tu tập mình tăng trưởng thiện pháp và trí tuệ mình sáng hơn. A-di-đà Phật, đó là những suy nghĩ của con.
Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng, hồi nãy giờ nghe thời giảng về các vị thánh Tăng thì thứ nhất con tự nhìn nhận về bản thân con như thế nào khi nghe thời giảng về các vị thánh Tăng, con cảm thấy mình tu chưa đúng lắm, chưa đúng pháp, thứ hai về pháp hành thì mình cũng chưa có. Hằng ngày mình chỉ buông lung, mình sống sao mà cảm thấy mình vui và mình chạy theo những thứ mà mình thấy đó là niềm vui của mình, nhưng mà thật ra nãy giờ nghe thầy giảng thì những niềm vui đó vốn dĩ nó rất là vô thường. Đôi khi có những cảm xúc mình thấy vui nhưng khi nhìn nhận lại thì thật ra không còn vui nữa, về pháp hành riêng bản thân con thì ban đầu quán chiếu được từ mười đến mười lăm phút, hằng ngày mình không còn quán chiếu nữa, mình chạy theo những cái suy nghĩ tiêu cực chứ không còn tích cực, nhiều lúc mình ngồi lại nhìn nhận cái tâm "Ủa mình tu gọi là đúng chưa, mình thực hành gọi là đúng chưa".
Khi mình làm việc nhiều quá thì sanh ra cái tâm ham ngủ, bữa đó đại chúng đều lên đọc kinh còn mình thì "thôi mệt, ngày nay tôi làm nhiều rồi, tôi ngủ" và đôi khi nhìn nhận lại đại chúng thì đại chúng ai cũng đi tụng kinh còn mình bỏ như vậy là đúng chưa. Đôi khi mình phải suy nghĩ lại những cái hành động đó của mình, khi nói về pháp hành thì mình cần phải nỗ lực hơn và nương theo chúng để tu tập, còn nếu như mình xa chúng thì mình không có cái khả năng để tự lực mình tu tập. Nam mô A-di-đà Phật, theo con là vậy.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ, kính thưa đại chúng, buổi học chiều hôm nay giáo thọ có giảng qua bài kinh Nikāya kể những cái pháp tu của Đức Phật và những bậc cao túc, con nghe tu như các ngài rất là đơn giản nhưng thật ra chúng con thực tập theo các ngài lại chưa được như các ngài. Tụi con thấy cũng hổ thẹn cái lương tâm, thứ nhất là cái tâm của mình chưa có được định, thứ hai là mình cũng còn ham muốn nhiều thứ, chưa có quán chiếu được bản thân của mình tu như thế nào để cho đúng chánh pháp, thứ ba là sự tu học thì con thấy thầy dạy cho chúng con cũng hơn một năm rồi, qua năm thứ hai rồi mà con thấy đôi lúc mình học có cái cũng chưa có hiểu nhiều.
Tại cái đó là do mình vô minh nhiều đời kiếp hay sao không biết, học hoài không thuộc, cũng về cố gắng học lắm nhưng mà không thuộc. Đôi lúc con cũng có quán chiếu bản thân của mình, mình chọn con đường tu để làm gì và tu cho ai, con cũng xin trình lên với thầy giáo thọ là con cũng cố gắng để tinh tấn cho bản thân của mình và chánh niệm, tập sống trong cuộc sống nhẹ nhàng, không lệ thuộc bất cứ ai. Mình phải tập sống cho bản thân mình và có trách nhiệm cho bản thân của mình, có chất liệu sống trong cuộc sống và tu tập để mình còn tiến lên nữa, mình đã chọn con đường tu rồi là mình phải tiến lên chứ không được thụt lùi. Con thấy cuộc sống hiện tại như bây giờ thời tu không giống như những vị lớn ngày xưa tại vì cũng còn ham vật chất hơi nhiều, cũng còn nhiều thứ cho cuộc sống riêng của mình.
Mỗi một vị có hoàn cảnh khác nhau cho nên không ai giống ai, con thấy như vậy thì con rút ra được kinh nghiệm, những cái bài học thầy đã truyền dạy cho chúng con. Cho nên con cũng cố gắng tinh tấn để màhọc hỏi theo các vị ngày xưa, mình ráng rèn luyện thân tâm, giới, định, tuệ để mình chánh niệm trong cuộc đời tu tập của mình. Nam mô A-di-đà Phật
V. Vị Thánh Tăng tu tập cốt tưởng
Sư Phụ:
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong gia đình giàu có ở Sàvatthi, lập gia đình và đặt tên con là Singàlaka và tự mình được gọi là Singàla-pitar (cha của Singàla). Về sau ngài từ bỏ gia đình và xuất gia. Thế Tôn biết được căn cơ xu hướng của ngài, dạy ngài đề tài thiền quán là bộ xương người. Dùng đề tài này để thiền quán, ngài sống giữa các dòng họ Thích-ca ở Sumsumàragira, tại khu rừng Bhesaskalà." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVIII) Singàlar-Pitar (Thera. 5))
Thế Tôn dạy ngài đề tài thiền quán về bộ xương, về cốt tưởng, bạch cốt tưởng, lấy đề tài đó làm cái định tướng để tu. Tu về đề tài quán bộ xương, pháp tu này rất là thường thời Đức Phật còn tại thế, gọi là cốt tưởng, khi mình quán đề tài bộ xương là lúc nào cũng nhắc nhở mình thân này là bộ xương, khi đi thì mình biết bộ xương đang đi, khi mình gặp những đối tượng khác mình cũng biết những cái này là những bộ xương. Mình cứ nhắc hoài cái hình ảnh đó hiện ra trong tâm của mình, nhìn ai mình cũng thấy là bộ xương hết. Mình có phải là bộ xương không ạ? Nhưng mà mình không thấy, mình thấy đẹp, mình thấy phủ ngoài một lớp da trơn láng, vì mình không thấy sự thật ở bên trong cho nên mình có dục, có tham, có ái, có mê, có say, có đắm, có đuối, có thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Khi mình quán bộ xương thì tất cả những cái đó lắng dịu xuống, mình dám nằm ôm cái bộ xương ngủ không? Nhìn thấy bộ xương mình sợ không? Nhưng mà đó là chính mình thì sao mình không sợ mình? Tại mình không thấy, bây giờ Đức Phật phơi bày những cái gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho ai có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, chính là cho mình nhìn thấy bộ xương của chính mình.
Đây là một trong những đề tài mà hồi xưa rất nhiều vị Tỳ-kheo chứng thánh quả trong cái đề tài cốt tưởng này, quán bộ xương. Mình đang đi thì nhắc bộ xương đang đi, khi ngồi mình nói là bộ xương đang ngồi, trong cái tưởng của mình là hình ảnh bộ xương lúc nào cũng hiện hữu, lấy đó làm đề tài thiền quán, làm định tướng để tu tập. Chúng ta thử thực tập rồi chúng ta sẽ thấy phép màu xuất hiện, thử thực tập trong một ngày, trong một tuần, lúc đầu nó khó nhưng mà tập từ từ sẽ quen.
Ni sư ở trên Linh Quy Pháp Ấn chúng con tốt nghiệp tiến sĩ bên Đài Loan, mấy cái bằng cấp mà đời sống rất là khiêm cung, khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn và từ cái ngày Ni sư lên Linh Quy thì bây giờ bên Ni chúng phát triển lên tới ba bốn chục vị. Khi đại chúng chấp tay hai hàng cúi đầu để chào chư Tăng Ni, khi đi qua thì Ni sư quán chiếu nhắc trong tâm "ngươi đó nha, đừng có tưởng đâu là ngươi ngon, ai cung kính ngươi nha, ngươi là đang bưng cái di ảnh, người ta cúi đầu trước cái di ảnh đó chứ không phải cúi đầu ai đâu, không có mình, không có ta nào ở đây hết". Người ta cúi đầu trước cái di ảnh, khi chết còn cái tấm hình, mình bưng tới đâu người ta cúi đầu tới đó, và một vị cũng mới xuất gia ở trên núi, cái vị này thường xuyên an trú cốt tưởng, khi đi khất thực thì vị này ôm bình bát nhưng quán chiếu là ôm cái hủ cốt, thường xuyên nhìn đâu cũng thấy bộ xương.
Tu tập nhiều tháng như vậy, ba tháng, sáu tháng, một năm vậy chứ không phải bây giờ tu chút chút rồi bỏ cho nên không có thành tựu cái gì hết đó, tu phải thâm sâu cho đến thành tựu một cái môn. Cứ nắm cái đề tài nó tu hoài cho đến trở thành định tướng mà không mất, cho nên ở trong trưởng lão tăng kệ con nhớ có một câu chuyện có cô dâu mặc đồ rất là đẹp, trang sức, vàng vòng đủ thứ nhưng giận chồng mới bỏ về nhà cha mẹ của mình, mấy người chạy phía sau đi tìm, người ta mới hỏi ông sư đang đi khất thực ở trên đường đó thì ta hỏi nãy giờ thầy có thấy có một cái cô mà dâu mặc đồ đẹp, đeo vàng vòng này kia thì ngài nói tôi đâu có thấy ai đâu, tôi có thấy cái bộ xương đi qua. Đó là ngài đang tu cốt tưởng mà ngài chứng thánh quả A-la-hán.
VI. Thánh Tăng Lakuntaka Bhaddhiya
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai" (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49))
Cho nên đây là một trong những đề tài rất quan trọng, nhất là những Tăng Ni ni sinh trẻ thì cái này giúp ích mình rất lớn trong sự nhiếp phục dục tham, làm cho lắng dịu, đoạn tận các dục ái là rất cần thiết. Mọi người về nhà đọc rồi tuần sau học thì trình pháp, hai ba tuần sau mới gặp lại con mà cũng không biết có gặp được hay không, cái vô thường sao biết được, tạm nói vậy thôi, Về tu đi, thực tập đề tài cốt tưởng này, thực tập quán cái bộ xương này, ở đây có mấy chục bộ xương đang ngồi học, không có ai ngồi đây, hết chỉ là những bộ xương di động mà trong bộ xương đó đầy rẫy tham dục, sân hận, bản ngã, vô minh, ta đây, hơn thua, đụng tới cái là nó sừng sộ lên liền, đụng tới là quơ tay múa chân, dùng cái vũ khí miệng lưỡi. Những bộ xương hết sức kinh khủng và khủng khiếp, đầy rẫy sân hận, dục tham, đầy rẫy những vô minh, những bản ngã, những thèm khát, khao khát, khát ái.
Đó là sự thật, nhìn sự thật ngao ngán, sự thật nhàm chán, sự thật cay đắng, sự thật phũ phàng, ngỡ ngàng, sự thật bàng hoàng, đau lòng, đau xót, đau đớn, đau điếng là một sự thật của một bộ xương đầy rẫy dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã, đầy rẫy hơn thua, cống cao ngã mạn. Trong ánh nhìn thôi có thể tóe lửa, trong ánh nhìn thôi có thể chửi nhau, đánh nhau, chém nhau, đâm nhau rồi chết với nhau. Trời ơi những cái bộ xương khủng khiếp như thế, những bộ xương ác độc như thế, những cái bộ xương hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, hung tợn, hung ác như thế.
Thật là đau khổ cho những bộ xương!
Thật là đau xót cho những bộ xương!
Thật là đau lòng cho những bộ xương!
Thật là đau đớn cho những bộ xương này!
Đáng thương những bộ xương tự làm khổ mình, tự làm khổ những bộ xương khác, tự hành hạ chính mình, tự hành hạ những bộ xương chung quanh mình, hành tội, hành xác, hành phạt, hành hình. Thật là đau khổ cho những bộ xương này! Thật là đáng thương cho những bộ xương này! Phải quán cho thấm thía như vậy, nó thấm vô xương, vô tủy của mình, mình nhìn vô thấy đầy rẫy những bộ xương nhơ nhớp, tanh hôi, bất tịnh, đau khổ, si mê, hôn ám, ác độc, đầy rẫy những tham, sân, si, dục ái, vô minh và bản ngã là những cái đống xương đang di động và ngày đêm trong đó là ở bên trong giật sợi dây của dục, của tham, của ái. Bên trong nó thắp lên, nó đốt lên, nó phừng lên những ngọn lửa của sân hận, của oán thù, bên trong là những màn đen, những bóng đêm của vô minh xâm chiếm, áp đạo, nó phong tỏa ngày đêm trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, là những cái bản ngã hơn thua, ta đây, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người, kiêu ngạo, ngạo mạn.
Đau xót và đau lòng như vậy mình mới khởi được một cái từ tâm vô lượng, một cái tình thương thấm thía, thẩm thấu, từ trong xương tủy của mình là một tâm đại bi, đại từ rộng lớn, mênh mông cùng khắp pháp giới, muôn loại chúng sanh. Những bộ xương đang sống trong bóng đêm, đang sống trong vô minh, đang sống trong khát ái, đang sống trong nghiệp, đang sống trong những thúc giục, những tập tánh, những thói quen để làm khổ mình, khổ người, hại mình, hại người. Phải quán chiếu như vậy, thâm sâu như vậy, thấm thía như vậy, thẩm thấu như vậy, xuyên thấu như vậy, xuyên thủng qua cái lớp da đầy nhơ nhớp, bất tịnh, tanh hôi, bẩn thiểu này, ngao ngán, nhàm chán.
Mình muốn thoát ra cho nó mau, cho nó lẹ, cho nó nhanh, đó là đạo lộ của bậc thánh, là phá được sắc thủ quẩn, là phá được thân kiến, là phá được một cái đống khổ to lớn. Đó là cái cách để mình triển khai thiền quán.
VII. Viễn ly
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng, từ nguyên buổi con ngồi im lặng để con lắng nghe những lời thầy dạy, thật sự là từ trước tới giờ con cứ nghĩ mọi người làm gì làm, mọi người nói gì nói, mình chỉ cần im lặng thì đó là tâm hiền nhưng sau khi con được học thầy thì con nhận ra tâm hiền lại có một khái niệm khác. Con cứ nghĩ là học xong rồi thì sẽ có một số vị và cả bản thân con sẽ tìm đến một nơi nào đó để yên mà tu tập bởi vì con tự cảm thấy cả một ngày trời từ khi mở mắt ra con đã bắt đầu sắp xếp là ngày hôm đó con phải làm cái gì, mấy giờ con đi học, con chấp tác, con làm việc, dường như là không có thời gian để nghĩ cho việc nhìn nhận lại bản thân con và thật sự là trước đó là con chưa hiểu rõ về ngũ uẩn là như thế nào. Học môn này thì con mới thật sự biết và con có về thưa sư phụ con là nhờ học môn này nên con biết được cái vấn đề đó.
Hôm nay khi học buổi này thì đầu tiên thầy dạy cho con về ngài Mahanama thì ngài đó tu hạnh viễn ly nhưng mà tâm thì chưa viễn ly, rồi ngài tự trách mình, rồi tới ngài Paccaya sau khi nghe pháp thì ngài từ bỏ tất cả cũng vào viễn ly để sống, nhưng đến ngài Upali thì thầy dạy là Đức Phật dạy ngài Upali ở cạnh Đức Phật thì mới thuần thục được kinh học và thiền quán thì con cảm thấy cái tâm con nó thay đổi liên tục luôn. Lúc thì con cảm thấy việc viễn ly là một việc cực kỳ cần thiết đối với người tu và đặc biệt là người tu trẻ như con, tới cái bậc hạnh của ngài Upali thì con lại nghĩ ở cận sư phụ, cận những vị thiện tri thức thì lại tu tốt hơn, xong rồi lại qua ngài Vinaka thì con lại thấy về cái sự viễn ly nữa. Vì vậy nãy giờ con ngồi im lặng để cái tâm khởi lên đó là con tha thiết thầy có thể nhắc đến việc giữa viễn ly và ở thân cận để cho con có thể hiểu được tại vì con không dám hỏi, con tha thiết con khởi cái tâm là con mong thầy sẽ phân tích về cái điều đó nên giờ con lấy hết can đảm để con xin thầy dạy cho con hiểu bây giờ người tu trẻ như con là học xong rồi tìm nơi nào đó tu tập, hay là vẫn tu trong môi trường của đại chúng để con có thể tiến tu hơn trong con đường của mình, bởi vì càng học con cảm thấy mình việc tu mình không tới đâu hết mà mình cũng không biết là mình sẽ đi về đâu, tại vì thầy nói là thầy dành mất hai mươi đến ba mươi năm để có thể tìm ra được cái chân lý thì con có đủ sức để sống đủ hai mươi đến ba mươi năm để có thể hiểu được như vậy hay không. Dạ nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Mình muốn sống viễn ly thì phải thành tựu chánh kiến, còn nếu không mình có ở một mình đi nữa là mình sống với vô minh, với tham ái của mình thôi, với chấp thủ của mình thôi. Cho nên phải thân cận bậc chánh kiến, sau khi mình được truyền đạt, mình nắm vững cái pháp hành vị thầy đó đồng ý cho mình đi viễn ly thì lúc đó mình mới được đi viễn ly, còn nếu mình chưa biết gì hết giống như khỉ vượn cũng ở trong rừng đâu có giác ngộ đâu, mấy người ở tù chung thân đâu có chứng quả đâu. Cái khác biệt ở đây là phải thành tựu được chánh kiến, sau đó mới có thể sống viễn ly, ít nhất cũng phải nắm được cái pháp hành vững chắc rồi sau đó mới tự tu tập được, còn khi mình chưa có nắm được pháp hành thì mình cần có một vị thầy hướng dẫn cũng như đại chúng, mà phải cùng tu chánh pháp mới được, chứ còn mình ở chung cái chỗ không có tu chánh pháp thì mình sẽ mình sẽ bị những cái mê tín, tà pháp làm cho mình nhiễu loạn.
Do mình chưa có vững, mình không biết cái nào đúng, cái nào sai hết, cái nào đen, cái nào trắng thì người ta nói đen mình nghe đen, người ta nói trắng mình nghe trắng, tại vì mình chưa có một cái thấy. Bây giờ mình xác quyết từ đây đi về chùa mà mình rõ đường không? Bây giờ có người nào đứng đó nó không phải đi đường kia mình có chịu tin không? Tại mình biết đường, cũng vậy, mình phải nắm được pháp hành rồi sau đó mình mới vững bước để mình sống một mình, độc cư viễn ly thực hành pháp.
Cái này rất quan trọng cho nên đọc Tương Ưng Bộ kinh sẽ thấy rất nhiều các vị Tỳ-kheo đến đảnh lễ bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nói cho con cái pháp vắn tắt, sau khi con nghe pháp Thế Tôn dạy con sẽ ở một mình, sống độc cư viễn ly thực hành pháp thì lúc đó Đức Phật nói thì người đó tu một thời gian tu cái chứng thánh quả .Tại vì những vị đó là những vị nắm được pháp hành rồi, Đức Phật chỉ cho đề mục thôi là người đó thực hành là có kết quả, cho nên tại sao lớp học chúng ta ở đây là con tha thiết làm sao để chúng ta nắm được pháp hành, sau đó quý vị ở đâu tu cũng được nhưng mà thật sự là khó lắm, khó lắm, ở đây chưa thấy ai nắm được pháp hành hết trong một năm mấy nay, ngay cả ở Linh Quy mà phải ở một thời gian dài, tối thiểu cũng phải năm năm, tám năm thì mới được, mỗi ngày phải được tu học chánh pháp, phải được huân tập, phải trình pháp, phải trình bày và phải được huấn luyện thì mới được. Nếu mình ở một mình, mình nghĩ sao, mình muốn làm sao rồi ai biết, rồi mình giấu hết thì làm sao, như vậy đâu có được.
Trong rừng ấy, một thần rừng biết được ngài sẽ chứng được Thánh quả nên nói lên bài kệ này:
Hãy nhìn trong khu rừng,
Rừng Bhesakala!
Một Tỳ-kheo đang sống,
Thừa tự lời Phật dạy,
Ngang thân địa đại này,
Tỏa khắp tưởng bộ xương.
Ta nghĩ Tỳ-kheo ấy,
Mau đoạn tận dục tham.
Nghe bài kệ này, vị Trưởng lão nghĩ rằng: 'Vị thần rừng này muốn ta cố gắng tu tập', nên ngài phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Về sau, ngài nhớ lại bài kệ của thần rừng này và nói lên lại bài kệ ấy như là lời tuyên bố về chánh trí của ngài." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XVIII) Singàlar-Pitar (Thera. 5))
Chúng ta thấy tu mà tới thần rừng kính phục, xưng tán tức là ngài ngồi quán tưởng tất cả đại địa này là cái bộ xương thôi, như thế cái tâm của ngài tưởng thì các vị chư thần nhìn thấy hết, như thọ; tưởng; hành của mình có những vị phi nhân, chư thần, chư thiên thấy hết mình nghĩ gì tại vì có hình bóng ở trong tâm. Mình đừng tưởng người ta không thấy, mình làm gì, mình nghĩ gì người ta thấy hết, trong tâm mình có suy nghĩ gì người ta đọc được, có hình bóng gì người ta thấy được, có cảm thọ gì người ta thấy được. Thành ra cố gắng tu tập, đừng tưởng ra không ai thấy, thật ra là thấy hết.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.