Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Công Cuộc Thanh Lọc Vĩ Đại

2026-03-03 00:55:59
CÔNG CUỘC THANH LỌC VĨ ĐẠI

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bản chất của ngũ uẩn PAGEREF _Toc111626217 \h 1

II.Công cuộc thanh lọc vĩ đại của người tu PAGEREF _Toc111626218 \h 4

1.Hộ trì căn PAGEREF _Toc111626219 \h 5

2.Thân hành niệm PAGEREF _Toc111626220 \h 6

3.Nhiếp phục dục, tham, ái PAGEREF _Toc111626221 \h 9

Bản chất của ngũ uẩn

Chưa có lúc nào thích hợp để tu tập hơn lúc này, chưa bao giờ có thời điểm nào đúng lúc mà chúng ta tinh cần, tinh tấn như lúc này. Mỗi một ngày đều có chết chóc, mỗi một giờ là bệnh tật, mỗi phút trôi qua đều có rất nhiều người chết. Mỗi ngày, mỗi tuần trôi qua có rất nhiều người đã mất mạng, có rất nhiều cảnh bệnh hoạn chết chóc đầy rẫy trên khắp hành tinh. Chúng ta phải tu tập quán chiếu sâu sắc, phải thật sự rung cảm, xúc cảm, chấn động trước nỗi khổ của chính mình và cho hữu tình. Hàn Quốc đang bị lũ lụt, chết chóc. Trung Quốc là hàng nhiều triệu người phải ly tán, giống như Đức Phật đã nói trong câu "như lụt trôi làng ngủ"

Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say, tham nhiễm,

Bị thần chết mang đi,

Như lụt trôi làng ngủ.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 47)

Có rất nhiều gia đình đang ngủ mà lũ lụt dâng quá nhanh, trở tay không kịp nên bị nước cuốn trôi đi và chết mất xác. Nước ta cũng đang bị lũ lụt, cũng có nhiều người chết như vậy, có những người ngủ ngoài rẫy để canh chừng thì bị lũ lụt cuốn trôi. Thế giới đang sống trong lo âu, trong hoạn nạn, thống khổ, trong Tương Ưng Sáu Xứ, Đức Thế Tôn nói này các Tỳ-kheo, sự sanh khởi chỉ trú, sự xuất hiện của con mắt này là khổ. Sự tồn tại của lỗ tai này là khổ. Sự xuất hiện sanh khởi tồn tại của lỗ mũi này là khổ. Cái lưỡi, cái thân này sự xuất sanh của nó, sự an trú của nó là khổ. Sự xuất sanh, sự sanh khởi, sự xuất hiện của ý là khổ.

Thế Tôn nói như sau:

-- Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Tai là vô thường...

Mũi là vô thường...

Lưỡi là vô thường...

Thân là vô thường...

Ý là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường, 1.I. Vô Thường)

Những lời nói này cực kì thâm sâu. Ba năm trước con đọc mà con không hiểu, sau này khi nhập thất nghe tới đó thì nước mắt tràn ra. Tại sao con mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, miệng này là khổ? Mắt này là bệnh hoạn, là tật bệnh, con mắt này là bất tịnh, là nhơ nhớp, mắt là hang ổ của những mối bệnh hoạn, mắt này là vô thường, là trống rỗng, vô ngã. Chính vì đam mê, chấp thủ vào con mắt này mà lòng dục, lòng ái, lòng tham đối với sắc không cạn kiệt mà trái lại còn tăng trưởng, phát triển, đam mê, dính mắc, bám chấp. Cái tâm đam mê, yêu thích con mắt này là gốc khổ. Các sắc, sự rõ biết các sắc, sự tiếp xúc những cảm xúc, những cảm thọ phát sanh lên khi con mắt này tiếp xúc làm cho mình khổ. Nếu không tuệ tri, không thắng tri, không liễu tri đối với con mắt này, không ly tham, từ bỏ, không nhàm chán, chấm dứt đối với con mắt này thì sẽ tiếp tục khổ đau.

Chúng ta rất yêu thích, say đắm, bám chấp, đam mê, dính chặt vào lỗ tai, mũi, miệng, cái thân này. Tại sao những thứ này là khổ? Vì những thứ này là vô thường, nó sẽ bị biến đổi, biến hoại, biến diệt, khi đó mình sẽ khổ vì mình nghĩ nó là mình, mặt này là tôi, mặt này là của tôi. Lỗ tai này là tôi, lỗ tai này là của tôi. Tôi ở trong lỗ tai này, tôi ở trong con mắt này, con mắt này ở trong tôi, tôi ở trong cái thấy này, tôi ở trong cái nghe này, tôi ở trong cái biết này, tôi ở trong cái cảm xúc này, cái thấy này là tôi, cái nghe này là tôi, cái xúc cảm này là tôi. Tôi ở trong cái miệng này, cái miệng này là tôi, đây là môi của tôi, khi lưỡi tiếp xúc với các vị thì tôi ở trong sự tiếp xúc này. Các thứ này vô thường, biến hoại, tiêu tan, vô ngã, hoại diệt. Chúng ta nhận thứ vô thường, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt đó là mình thì làm sao không khổ đau? Làm sao không sầu não? Làm sao không đầm đìa nước mắt, đấm ngực, ràng rụa, sầu bi ưu não? Mình bám chặt, nắm chặt, chấp chặt vô cái thân xác này, thân xác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, thân xác này tôi ở trong đây, thân xác ở trong tôi, tôi ở trong thân xác, thân xác này là vô thường, là hủy hoại, là tiêu tan, tan nát rồi mình đau khổ, sầu bi ưu não.

Có một chú khi làm cá bị vây cá đâm vào tay, chú thấy đau nhưng nghĩ không sao. Càng ngày chỗ bị đâm càng bị đau nhức, khi đến bệnh viện thăm khám thì chú bị nhiễm virut ăn thịt người truyền từ con cá sang, hậu quả phải bỏ cánh tay. Cho nên thân xác này là vô thường, là duyên sanh, tạm bợ, biến diệt, tiêu tan, cần phải tuệ tri, liễu tri, thắng tri. Biết bằng trí tuệ gọi là tuệ tri, biết bằng sự thấu đáo một cách trọn vẹn triệt để gọi là liễu tri, biết bằng trí tuệ của bậc thánh gọi là thắng tri. Thân xác mình còn như vậy thì huống gì những món đồ ở bên ngoài này? Từ những cái vô thường làm nên thân xác này thì làm sao thân xác này thường được? Từ những cái dơ bẩn tạo nên thân xác này thì làm sao thân xác này sạch được? Từ những thứ xú uế, cấu nhiễm làm thành thân xác này thì làm sao thân xác này được thanh tịnh? Những thứ mình ăn vào toàn là những thứ dơ bẩn, món ăn đó chỉ cần để qua vài ngày là bốc mùi hôi thối, đầy ruồi nhặng bu vào, dù cho có ngon cỡ nào đi nữa mà qua vài ngày cũng hôi thối, đầy giòi.

Khi nhập thất trong rừng, các chú đem thức ăn lên mà Minh Thành bỏ quên là mấy ngày sau nhìn lại thấy đầy giòi trong đó, các chú vào dọn thất quét đi thì con bảo đừng quăng đi, cứ để đó rồi thiền quán. Những cái mình ham thích, mê đắm vào thức ăn đầy giòi trong đó, nhơ nhớp trong đó, bẩn thỉu trong đó, không có gì đáng để ham, để thích trong đó. Mình ăn những thứ như vậy thì làm sao mình sạch? Lâu lâu mình ợ hơi lên mà chính mình còn không chịu được cái mùi đó thì đừng nói chi đến khi đào thải, bài tiết ra, vậy mà suốt đời vẫn mê ăn, đi kiếm ăn thì đó gọi là vô minh. Cái tham ăn này có khổ không? Vì miếng ăn có thể xảy ra án mạng từ xưa đến nay, đó là sự vô minh của chúng sanh. Những thứ nước mình uống dù cho ngon cỡ nào đi nữa mà mình để quên 2-3 ngày nhìn lại là dơ bẩn. Mình có tài giỏi che đậy, giấu giếm, nước mũi vừa chảy ra là quẹt liền, ghèn vừa có là chùi liền. Mình che đậy sự thật kinh tởm, bất tịnh, hôi dơ, mình rất khéo che đậy. Tại sao phải chùi đi, nhanh nhanh giấu đi? Hãy nhìn cho thật kĩ những cái là mình, là của mình, bẩn thỉu, tanh hôi, nhơ nhớp như vậy mà tại sao mình cứ u mê trong đó hoài vậy? Tại sao mình cứ si mê, ngu mê, tham đắm trong nó hoài vậy?

Khi ngồi thiền mình gọi "Cái tâm u mê này hãy tỉnh ra đi", khi vào toilet đại tiểu tiện thì hãy nghe, cảm nhận rồi gọi "Cái tâm si mê này tỉnh ra đi". Đó là những cái bên ngoài mà chúng ta chấp thủ, đam mê. Cấu nhiễm, uế nhiễm, ô nhiễm, từ trong thân ô nhiễm này chất chứa những mầm bệnh, vi trùng, virut, vi sinh rồi mới bài tiết ra bên ngoài làm cho môi trường ô nhiễm, thở thôi cũng lây bệnh, bây giờ người ta nghiên cứu ánh mắt nhìn nhau cũng có thể lây bệnh.

Khi quán chiếu tự tâm bằng thánh trí ngũ uẩn này thì hỡi ơi, một nội tâm khủng khiếp, kinh khiếp. Khiếp đảm và sợ hãi là nội tâm của ngũ uẩn, chúng ta sẽ bị sốc toàn tập. Khi nương vào chánh tri kiến, thánh tri kiến của Đức Phật nhìn vào thọ; tưởng; hành; thức chúng ta sẽ phát giác, phát hiện sự khủng khiếp, khủng khiếp là nội tâm này của tất cả hữu tình chúng sanh. Một nội tâm ô nhiễm cùng cực, một nội tâm mà suốt đời chỉ chạy theo dục, tìm dục, tìm ái, tìm tham. Một nội tâm đầy rẫy sự sân hận, những sự cau có, bực tức. Một nội tâm đốt cháy, muốn thiêu rụi hết tất cả những đối tượng làm bản thân người đó không hài lòng. Một nội tâm hơn thua, đố kỵ, ganh tị, cao thấp, thị phi, nhân ngã bỉ thử, đúng sai hay dở, tốt xấu. Đó là sự ô nhiễm bên trong. Một nội tâm mà tràn ngập trong đó là một cái tôi to lớn, vênh váo, hách dịch, ta đây, lúc nào cũng tỏ ra hiểu biết hơn người, lúc nào cũng xem thường, khinh thường người khác, trong lòng lúc nào cũng nghĩ mình hay, mình hơn, mình giỏi nên muốn dạy đời người ta. Vô minh mà tưởng mình thông minh, vô minh mà tưởng mình minh triết, vô minh mà tưởng mình minh lạc. Đó là một nội tâm uế nhiễm, cấu nhiễm, môi trường ô nhiễm, thức ăn bẩn, không khí ô nhiễm, nguồn nước ô nhiễm, thân xác ô nhiễm, nội tâm ô nhiễm, đầy rẫy xung quanh là ô nhiễm, ô nhiễm bành trướng cùng khắp mọi nơi.

Công cuộc thanh lọc vĩ đại của người tu

Vì vậy sự tu của chúng ta là một cuộc đại thanh lọc vĩ đại, thanh lọc theo tinh thần của Đức Phật theo kinh tạng Nikāya.

Thứ nhất là chặn từ bên ngoài không cho ô nhiễm mới xâm nhập vào bên trong, đó gọi là hộ trì căn, phòng hộ, bảo hộ thân thọ tâm pháp. Đầu tiên phía bên ngoài Đức Phật dạy là hộ trì căn, tức là không cho ô nhiễm từ bên ngoài lan vào bên trong. Tiếp theo là chánh niệm, oai nghi hành động, quán chiếu tứ đại… là không cho ô nhiễm thân tiếp diễn, chặn cái ô nhiễm về xác thân. Sự quán chiếu về tứ đại, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi dùng để ngăn chặn cái nhìn sai lầm để tạo thêm ô nhiễm về thân, sự nội quán các cảm thọ, nghĩ tưởng để tác ý, dùng chổi thần của Như lý tác ý, thánh tư duy, chánh tư duy để đánh đuổi những ô nhiễm tích tụ của quá khứ.

Như vậy, có tất cả 3 lớp phòng hộ: Lớp thứ nhất là chặn từ bên ngoài, phong tỏa không cho mầm bệnh, virut xâm nhập vào bên trong. Lớp thứ hai là không tiếp xúc với sự cấu uế, dơ bẩn, đó là ngăn chặn từ bên trong tự thân mỗi người. Lớp thứ ba là xét nghiệm, nội soi, nếu có thì phải điều trị tích cực. Nếu mình không phòng hộ, hộ trì căn thì ô nhiễm cũ trong tâm đã tích tụ trong vô lượng kiếp, ô nhiễm nơi thân đang quá tải mà bây giờ gồng gánh thêm ô nhiễm mới đưa vào nữa thì làm sao mình tu? Cho nên hộ trì căn, độc cư thiền định, an tịnh, sự thu thúc lục căn thanh tịnh giới là chặn ô nhiễm mới từ bên ngoài không cho xâm nhập vào bên trong.

Hộ trì căn

Người tu bây giờ xem thường mọi thứ, thấy nhìn thoải mái, ăn nói tự do, làm mất hộ trì căn bên ngoài còn bên trong lại không có sự thiền định, quán chiếu tự thân, không có sự hóa giải tự thân, nội tâm tham sân si, bản ngã tích tụ vô lượng kiếp không nhìn thấy, không biết thì tu đến chừng nào mới có thể đạt đến cảnh giới thanh tịnh thân tâm? Vì vậy mà tu hoài không có kết quả, mình nghe lời của Đức Phật mới thấy thành quả, kết quả, thành tích chính là thánh quả. Nếu trong chúng ai cũng hộ trì căn thì không có chuyện gì xảy ra, nếu có cũng rất ít. Hộ trì căn là giữ gìn con mắt, giữ gìn lỗ tai, giữ gìn lỗ mũi, miệng, lưỡi, giữ gìn thân, ý. Hộ trì căn là phòng hộ, bảo hộ, thu thúc, thu nhiếp.

Minh Thành thấy điều này rất nhiệm màu, chỉ có thực hành mới thấy kì tích xuất hiện, người có hộ trì căn sẽ không bị những chuyện lặt vặt nhỏ nhặt làm phiền não vì người đó đã chặn được ô nhiễm từ bên ngoài, sau đó mới xử lý ô nhiễm tự thân, mà ô nhiễm tự thân là ô nhiễm trong tứ đại. Công cuộc này là bất khả tư nghì, công cuộc của người xuất gia theo đúng lờ Đức Phật rất khủng khiếp, học sâu vào trong kinh Nikāya rồi thực hành thì chúng ta mới thấy tầm vóc vĩ đại của Đức Thế Tôn, không phải theo cái hiểu, cái nghĩ thông thường của mình. Đức Phật đưa ra những trí tuệ, những phương pháp thiện xảo, những cách thức, những định lý dùng để đánh phá vào các hang ổ của dục, tham sân si, ô nhiễm, lậu hoặc, đánh sập hết căn cứ địa của nó để tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Vì cái tâm ô nhiễm này bên ngoài quen buông lung phóng dật, hướng ngoại nên bước đầu tiên muốn tu cho thành công là phải diệt được tâm hướng ngoại, nếu không diệt thì không tu được vì suốt ngày cứ muốn đi chỗ này chỗ kia. Người xưa đi là để cầu chánh pháp, một khi đã thấy chánh pháp là lập tức dừng lại để tu hành, người ta đi vì sự cầu pháp, khi đã thấy pháp thì dừng lại thực hành tu tập. Còn khi đã thấy pháp mà vẫn đi nữa thì đó là tâm hướng ngoại, cho nên khi thấy Phật tử bây giờ con thấy rất thương họ, thậm chí người xuất gia cũng chạy hết chỗ này đến chỗ kia.

Thân hành niệm

Chỗ thâm sâu của Đức Phật trong lớp thứ hai là tẩy sạch ô nhiễm của tự thân, ô nhiễm trong tứ đại. Dục tham chấp thủ vào trong thân xác này, sự dính mắc này rất ghê gớm, chỉ cần một ánh mắt hay một hành động như mình chào mà người ta không nhìn là bực bội, khó chịu, người ta không nhìn thấy mình thì thôi chứ có gì đâu, vậy mà về là trong nội tâm vận hành "Sao tôi xá mà không thèm nhìn tôi? Khinh thường tôi hả?", bắt đầu trong đầu mình diễn ra đủ thứ, học xong gọi viết bài thì không chịu viết mà cứ thích viết phiền não, ô nhiễm, viết cấu uế trong bản thân. Cho nên phải phá được ô nhiễm tự thân này, một trong những kiết sử mà Đức Phật nói trong Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ là ái xác thân này và mình phải phá được cái này. Mình còn ái cái thân mình thì chắc chắn mình sẽ ái thân người, mà còn ái thân mình, thân người thì còn tiếp tục tìm thân, còn tạo ra những cái thân rồi thành những con thiêu thân, cho nên Phật gọi Thân Hành Niệm chính là hương vị của sự bất tử. Vì khi đã chứng nhập Thân Hành Niệm thì mình sẽ không còn ái thân, không ái thân thì không tìm thân, không tìm thân sẽ không còn tạo ra thân mới, mà không tạo ra thân mới thì sẽ bất tử.

Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, làm cho sung mãn một pháp này, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm và tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm chi viên mãn.

Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu.... quả A-la-hán.

Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm.

Bất tử bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai đoạn tận thân hành niệm. Bất tử không bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không đoạn tận thân hành niệm.

Bất tử không được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không chứng ngộ thân hành niệm. Bất tử được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai chứng ngộ thân hành niệm. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2))

Cho nên cái luyến ái tự thân rất khủng khiếp. Các thầy học Cao học, Tiến sĩ có hướng dẫn những điều này không? Con qua Myanmar hỏi các sư Tiến sĩ, các thầy đó trình bày phần pháp học, nghiên cứu về luận tạng, vi diệu pháp… những cái này thực sự là khó nghe, khó hiểu, khó chấp nhận, khó tu. Nhưng khi đã tu được thì siêu phàm nhập thánh, đây chính là con đường thật sự của Thế Tôn đã đi, bây giờ những điều này rất ít được nghe trong các trường Phật học, trong môi trường Phật giáo, đây là lời dạy chính xác và nguyên chất của Như Lai, chính là nhàm chán thân xác này, nhàm chán khi đối diện với mấy chục kí lô thịt này, ê chề và xấu hổ với sự dơ bẩn, hôi thối này. Muốn xa lìa, viễn ly, ly tham, xuất ly, từ bỏ, vượt thoát khỏi nó, đó gọi là sự xuất ly cấu nhiễm tự thân.

Khi nhìn gương mặt này trong gương không thấy yêu thích, không thấy đam mê, không thấy vừa lòng mà chỉ thấy đây là tứ đại, đây là gốc khổ, đây chỉ là sắc uẩn, da mặt, con mắt, đầu lâu này, mớ tóc này đã nhốt mình vô lượng vô biên kiếp vừa qua, không có gì trong đây là tôi, là của tôi, phải tác ý nhàm chán, xa lìa, tác ý từ bỏ, thoát ra. Đó gọi là thấy đúng, nghĩ đúng, quán đúng, chánh tư duy, thánh tư duy. Khi nhìn thấy bóng của mình trong gương chỉ thấy "chính lớp da mặt, chính cục thịt tròn gọi là con mắt mày, chính máu thịt này đã trói cột, giam hãm ta, chính mi đã đầy đọa, ta đã làm nô lệ cho lớp da thịt này, cho lớp máu mủ này, cái tâm ta tham dục, tham ái trong đống này, ta đã lẩn quẩn trong vòng luân hồi vô lượng vô biên kiếp không thoát ra được. Không có gì yêu thích trong hình bóng này, không có gì hoan hỷ trong lớp da này, không có gì thích thú trong đống thịt thối này, không có gì đam mê trong thân xác vô thường, ổ virut bệnh hoạn này. Đây là nơi chất chứa sự khốn khổ, tai ương, hoạn nạn, sợ hãi. Ta chỉ muốn nhàm chán, xa lìa ngươi, không còn ưa thích nữa mà chỉ muốn viễn ly, xuất ly khỏi ngươi". Hãy nói với hình bóng của mình trong gương như vậy, đó là chổi thần quét rác cấu nhiễm tự thân. Mỗi khi nghĩ về chính mình thì phải thường xuyên tác ý, liên tục tác ý, quán chiếu để diệt cho sạch hình bóng của thân kiến ảo ảnh, chấp mê lầm vô minh vào thân xác tứ đại này. Phải đập tan, đập nát cái thân kiến ngu muội này, vô minh tham ái vô đống thịt này. Phải quán chiếu cho thâm sâu nhuần nhuyễn để thể nhập, chứng nhập sự bất tịnh của tứ đại, ba mươi hai thứ dơ bẩn và chín giai đoạn phân hủy của một tử thi phải chứng nhập, đó là sự thanh lọc của tự thân để thoát khỏi tử thần.

Mỗi ngày chúng ta suy nghĩ về những điều con đã nói ở trên được bao nhiêu lần? Mỗi khi soi gương phải tập suy nghĩ như vậy để đi ra từ từ, không ở trong thứ dơ bẩn, bệnh hoạn, hôi thối này, đây gọi là hướng Dự lưu, chỉ có tác ý như vậy mới có thể tham dự vào dòng thánh trí tuệ, mỗi ngày phải nhớ tác ý thường xuyên thì trí huệ mới sanh khởi. Đừng sống trơ trơ, sống lững lờ, sống vô tri, sống trong lãng quên, sự si ám không biết gì hết. Đừng ngây thơ như trẻ con nghĩ rằng tu chỉ có hai thời khóa tụng, đó là cách suy nghĩ của những chú tiểu mới bước vào chùa, còn mình đã ở trong chùa đến bạc đầu nên đừng ngây thơ, ấu trĩ như vậy.

Nhiếp phục dục, tham, ái

Lớp thứ ba là cấu nhiễm nội tâm: Dục, tham, ái. Thật là xấu hổ cho ta! Thật là nhục nhã cho ta! Thật là tồi bại cho ta khi ta mang hình thức của giải thoát mà tâm ta đầy rẫy những dục, tràn những ái, ứ những tham muốn. Thật là tội lỗi! Thật là nhơ nhớp! Thật là hèn hạ, tồi bại! Thật là hạ liệt cho ta! Thật là đau khổ, hoạn nạn, hiểm nạn cho ta với một nội tâm đầy rẫy ái dục, tham dục. Đầy những thứ dục. Xấu xa!

Khi ngồi thiền hoặc khi những thứ này sanh khởi thì tác ý vào cảm thọ "Mày có thấy nhục không? Mày có thấy xấu xa không? Đồ hèn hạ, đồ bẩn thỉu, đồ tồi bại. Nhục nhã, nhục nhã, nhục nhã. Tồi bại, tồi bại, tồi bại. Còn tham đắm những thứ này là mầm móng của súc sanh, thú vật". Phải sanh khởi lên sự xấu hổ, sợ hãi, làm cho sự tàm quý trở nên sung mãn trong thân tâm mình, lúc nào cũng cúi đầu xuống không dám nhìn ai. Nếu thường trú trong sự tàm quý thì mình có dám coi thường ai, khinh khi với ai, hơn thua với ai không? Tâm tàm quý này sẽ đưa mình lên thánh quả, nhìn lại chỉ thấy sự bỉ ổi, "cái tâm dục tham ái thật khốn nạn, là súc vật, tồi bại, hèn hạ, bẩn thỉu".

Phải thường xuyên tác ý như vậy để đánh đuổi nó ra khỏi tâm mình, phải dùng cây chổi thần của thánh tư duy, chánh tư duy, Như lý tác ý quét rác thường xuyên vì đống rác này rất khổng lồ. Nếu không tinh tấn, tinh cần, nhiệt tâm, siêng năng thì làm sao có thể xử lý đống rác đã chất chồng trong vô lượng vô biên kiếp. Tham, dục, ái, sân si, bản ngã là một bãi rác của nội tâm cao dài hàng trăm cây số, vậy mà nó tích tụ năm này qua năm kia trong nội tâm, nó dơ bẩn và khủng khiếp như vậy mà mình tu sơ sơ, lơ mơ, tu trên hình thức, vẻ bề ngoài thì làm sao mà mình có thể xử lý được nó? Phải cảm thấy nhục nhã, xấu hổ, ngày nào cũng tác ý "ta khinh khi mi, cái tâm dục này. Ta khinh khi mi, cái tâm sân này. Ta hủy nhục mi. Mi có thấy mi tồi bại không cái bản ngã tồi bại, kiêu căng này. Mày là cái toilet hay sao mà đi đến đâu cũng bốc mùi như vậy? Mày là kẻ đáng thương nhất trên đời này, hỡi tên dục tham ái, sân si, bản ngã kia. Mày thật là kẻ đáng thương hại, là kẻ tồi bại nhất trên đời này". Thường xuyên tác ý để đánh đuổi nliên tục là chúng ta đang dọn rác.

Minh Thành thường ví dụ cho đại chúng là một người mù 50 năm ở trong một căn nhà dơ bẩn, đầy rác như vậy. Khi được thần y ban cho y dược trị được sáng mắt. Tuy là mắt đã sáng thấy được một đống rác nhưng cứ ngồi yên thì rác vẫn y nguyên, không thể sạch được. Cho nên khi thấy được nội tâm đầy tham sân si, bản ngã như vậy rồi lên khóc lóc, lạy lục là xong, như vậy không đủ, mà phải liên tục, thường xuyên tác ý lau dọn, quét dọn, tẩy rửa. Khi những thứ này sanh khởi lên là phải thấy biết rồi tẩy sạch, quét hốt, đốt nó, người nào siêng năng như vậy thì người này sẽ dọn rất mau, nhanh và sạch.

Dọn rác có ba cấp độ: Dọn tương đối là Nhị quả; dọn khấm khá hơn phân nửa là Tam quả, những rác thô dọn sạch hết là Bất lai, không còn trở lại cuộc đời này nữa vì người này không còn ưa thích thân xác này nữa, không còn đam mê thân xác này nữa nên không trở lại nên mới gọi là Bất lai, nhân quả rất rõ ràng. Đức Thế Tôn đã lấy ví dụ những đứa trẻ chơi nhà chòi bằng đất trong Tương Ưng Bộ kinh rất rõ, khi nào những đứa trẻ ấy không còn lòng dục, lòng tham, lòng ái với căn nhà bằng đất sét đó thì những đứa trẻ này sẽ phá tan, phá nát ngôi nhà bằng đất này, không chơi với nó nữa. Này các Tỳ-kheo, cũng vậy, khi nào các ông không còn lòng dục, lòng tham, lòng khao, lòng khát đối với ngũ uẩn này thì các ông không còn tiếp tục tái tạo ra ngũ uẩn nữa.

Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.

Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.

Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.

... thọ... tưởng... các hành...

... Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.

Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Chúng Sanh)

Đây là thánh trí siêu việt của Như Lai, của Thế Tôn, của bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác. Thật là tuyệt vời, tối thượng! Nếu đã dọn sạch hết rác thô, những lòng dục, lòng tham ái, sân hận, bản ngã thô thiển sạch hết thì vĩnh biệt thế gian đầy hôi dơ, không trở lại nữa. Còn mình muốn ra mà ra không được vì mình bị lòng tham dục ái lôi đầu, kéo mình vào. Trên miệng thì nói muốn giải thoát mà sâu thẳm bên trong thì lại không muốn nên không đi ra được. Nếu đã diệt sạch hết tất cả những sự nhỏ nhiệm, chi tiết, một vết nhỏ cũng không còn, sạch hoàn toàn thì đó là lậu tận.

Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa. (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, 1.I. Vô Thường).

Trạng thái này là trạng thái dục tham ái đối với ngũ uẩn. Tham, mê, yêu thích, chấp, giữ, khao khát đối với ngũ uẩn, vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, đó gọi là trạng thái này. Như một người trước đây không biết chữ mà giờ họ đã biết chữ nên bây giờ họ không còn trở lại trạng thái dốt nữa, từ đây về sau. Nhìn vào nội tâm đầy cấu uế, tham dục, sân hận, bản ngã thật là khủng khiếp, hằng ngày phải nghe những tin tức, phải chứng kiến những cảnh tượng giết hại, cướp giật, đâm chém, lừa gạt, mưu mô hãm hại. Thật là ê chề! Thật là chán chê! Thật là ngao ngán! Tất cả những cái đó là bày hiện ra nội tâm cấu nhiễm, đưa ra những hành động cấu nhiễm, làm cho xã hội bị cấu nhiễm. Sự tu của chúng ta là một cuộc thanh lọc vĩ đại, chúng ta là những người đang thanh lọc, tẩy sạch những rác bẩn, cấu uế, ô nhiễm, cấu nhiễm từ bên trong lẫn bên ngoài, phải ý thức mình đang làm cái gì, mình phải làm như thế nào cho đúng. Hằng ngày trong tất cả mọi hành động, cử chỉ, việc làm của mình đều nhìn vào trong đẩy để tẩy rửa, làm vệ sinh, thanh lọc. Đó là ý nghĩa của chữ TU trong kinh Nikāya, nhưng điều đặc biệt là nhìn thấy rồi tu mà cảm thấy hạnh phúc. Giữa một thế gian đầy rẫy tham sân si, bản ngã, giữa một sự hơn thua, tranh giành mà mình bước ra để nhìn cuộc đời này.

Người trí dẹp phóng dật,

Với hạnh không phóng dật,

Leo lầu cao trí tuệ,

Không sầu, nhìn khổ sầu,

Bậc trí đứng núi cao,

Nhìn kẻ ngu, đất bằng.

(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 28)

Hạnh phúc, hân hoan khi mình đi trên con đường tối thượng này, không còn một phước báo, công đức nào bằng việc này. Trong vô lượng vô biên kiếp sanh tử vừa qua giờ này mình mới chụp được cái phao thần thánh như vậy. Thật là vi diệu làm sao nên phải nỗ lực quét rác, thanh tẩy, thanh lọc, làm cho thân tâm được sạch sẽ, mới mẻ.

./.