Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

GIỚI HẠNH CAO THƯỢNG

2026-03-03 00:55:59
GIỚI HẠNH CAO THƯỢNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Kho báu Chánh Pháp! PAGEREF _Toc112940798 \h 1

I.Thất giác chi PAGEREF _Toc112940799 \h 2

II.Giới hạnh người tu PAGEREF _Toc112940800 \h 4

1.Oai nghi chánh hạnh PAGEREF _Toc112940801 \h 5

1.Sợ hãi trong lỗi nhỏ nhặt PAGEREF _Toc112940802 \h 6

2.Tri túc PAGEREF _Toc112940803 \h 8

Kho báu Chánh Pháp!

Sự tu học của chúng ta nếu nắm vững thì tuyệt vời vô cùng, vì công cuộc tu hành này hết sức thú vị, ngoạn mục, giống như khám phá một kho tàng. Từ khi gặp được pháp này, đi vào tạng kinh Nikāya thì Minh Thành có cảm giác mình đang khám phá kho tàng, kho báu đẹp, hay, thú vị và đầy bất ngờ, đầy lưu ly, xà cừ, mã nảo, san hô, trân châu, hổ phách, kim cương, vàng ròng. Cho nên có niềm vui khó tả, khó chia sẻ, khó giải bày, chỉ biết gặm nhắm thưởng thức. Pháp hỷ là cái nổi trội nhất khi nghe những lời Đức Phật trong tạng kinh, khi mình nghiền ngẫm, tư duy tu tập thiền, thấy giống như một nguồn sinh lực phong phú, đa dạng, dồi dào, sung mãn, bất tận, vô lượng vô biên, vô cùng vô cực, giúp mình có rất nhiều điều thú vị.

Rất tuyệt diệu, kì diệu, vi diệu, không có ngôn từ nào diễn đạt được hết thánh pháp này. Giống như được tắm trong một dòng sông, mà dòng sông đó là hương thủy hải, là một biển nước thơm. Tai mắt của mình, mũi, miệng, mặt…chỗ nào cũng ngấm vào từng lỗ chân lông trong cái thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh đế, thánh lý, thánh thể nhập, thánh tri kiến, thánh tư duy, thánh chánh ngữ.

Tuyệt vời thật là tuyệt vời, không có một cái gì trên thế giới này có thể so sánh, có thể bì kịp, không có một sự nghiệp nào trên hành tinh này có thể với tới nổi. Vì vậy mình phải hân hoan, phấn khởi, vui sướng, hạnh phúc, dấn thân tầm cầu, không hề uổng phí. Hãy làm một cuộc đi tìm kho báu, và bây giờ kho báu sẵn trước mặt, mở ra bước vào lấy. Mình vào rồi sẽ thấy pha lê, mã nảo, xà cừ, trân châu, hổ phách, bạch ngân, mình sẽ thấy các pháp thù thắng vi diệu. Đức Phật nói rất nhẹ, không nói như vậy, nhưng thời đại bây giờ phải nói cái này người ta mới thích. Cho nên mấy kinh được đọc và tụng nhiều là nói cái kết quả, người ta hay nói "sao thầy giảng toàn cái chết, toàn bộ xương, bệnh hoạn". Đó là do người ta chưa thấy được đại viên mãn, đại trí huệ, cho nên bậc tôn quý nhất trên đời của chúng ta đã truyền trao lại cho mình pháp tạng, bảo tàng của giáo pháp - tức pháp bảo. Nào giờ đã có ai diễn dịch chữ pháp bảo là gì chưa? Là bảo tàng của giáo pháp, mình phải có sự dấn thân, nghe, nghiền ngẫm, thẩm sát tư duy, quán chiếu và tu tập thì mình sẽ nếm được hương vị lợi lạc dài lâu, bất tận, dùng hoài không hết.

Mình thấy ngàn non muôn núi, trà xanh trải dài vô tận nhưng sẽ có ngày biến mất. Trà bán không được giá, cà phê không xuất khẩu được người ta không trồng nữa thì mấy cái này sẽ hết, nhưng cái trí huệ mình thể nhập được trong giáo pháp đem lại thì dùng không hết. Cũng như Bắc Băng Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, Ngũ Hồ Tứ Hải mình có thể dùng một cái bát múc nước ngày đêm, rồi tới những kiếp bảy mặt trời xuất hiện thì khô kiệt không còn nước, nhưng trí huệ này, thánh trí này không bao giờ có cái gì múc mà cạn kiệt được. Cho nên sự nghiệp này là sự nghiệp cần phải dấn thân, rất đáng cho mình dấn thân.

Thất giác chi

Trong thất giác chi, đầu tiên là niệm giác chi, tức là luôn luôn nhớ, luôn luôn quán xét thân thể, cảm giác, nội tâm và các pháp vận hành trong đó. Khi mình quán xét rồi thì mình có trạch pháp, quyết trạch, cái nào thiện cái nào bất thiện, cái nào chánh cái nào tà, cái nào trí huệ cái nào vô trí, cái nào minh cái nào là vô minh. Đây là trạch pháp giác chi, khi mình nhìn thấy một cách chánh niệm như vậy mình sẽ trạch pháp được, còn mình không có chánh niệm thì mình lẫn lộn hết. Một khi đã trạch pháp giác chi rồi thì mình thấy một con đường hiểm nạn, thú dữ, gai góc và một con đường bình an thì tự nhiên mình nỗ lực đi con đường bình an. Đó gọi là tự động sanh khởi, cho nên Thất giác chi là tự nó sanh ra, các chi phần tự nó sanh khởi. Và mình có sự tác ý thì càng mạnh, mau lẹ, giống như chánh tri kiến đã sanh thì chánh tư duy phải sanh, không thể một người có chánh tri kiến mà không có chánh tư duy, không thể một người có tri kiến của bậc thánh mà lại không có tư duy của bậc thánh. Cũng như vậy, không thể có trạch Thất giác chi mà lại không có tinh tấn giác chi, cho nên trạch pháp sanh rồi thì tinh tấn giác chi sẽ sanh.

Khi tinh tấn giác chi sanh khởi thì có sự nỗ lực, tinh tấn đi trên con đường đó. Khi đó, mình tiếp tục hoan hỷ, đi trên con đường bình an, mát mẻ, tốt đẹp sẽ sanh, đó là hỷ giác chi sẽ sanh, vì đi trên đạo lộ của thánh đạo thì làm sao không hỷ cho được. Cái sự hoan hỷ lúc đầu mạnh nhưng từ từ thân tâm sẽ nhẹ, từ đó sự khinh an sẽ sanh. Sự tinh tấn, nỗ lực đem lại cho mình sự hoan hỷ, khi hoan hỷ rồi thì thân tâm sẽ nhẹ nhàng, khi nhẹ nhàng rồi thì sẽ vào định, từ đó định giác chi sanh khởi, nhẹ nhàng rồi định sẽ sanh khởi chứ cái định này không phải là sự kiềm kẹp, ráng để ngồi đừng có suy nghĩ, tại vì nó từ chánh tri kiến, chánh niệm ở phía đầu được khởi động, đã thấy đúng rồi cho nên không còn chạy theo nữa, dừng lại và có sự bình an nhẹ nhàng của thân và tâm, khinh an là sự nhẹ nhàng thảnh thơi.

Nhẹ nhàng, thảnh thơi này không phải như mình hiểu bình thường, mà sự nhẹ nhàng thảnh thơi này là của bậc thể nhập thánh tri kiến, chuyển tánh hoặc hướng Dự lưu hoặc là Dự Lưu, khác với các thảnh thơi mà mình làm mệt quá rồi được nghỉ, thấy khỏe, thảnh thơi nhẹ nhàng quá, không phải vậy. Thảnh thơi này là của bậc thánh, gọi là thánh thảnh thơi, thánh khinh an, mà sự khinh an này ở trên con đường của bậc thánh, đưa đến thánh quả. Chứ không phải thảnh thơi bình thường, thiếu gì người thảnh thơi, nhưng cái thảnh thơi đó không phải, cái thảnh thơi đó còn thấy ngũ uẩn là mình, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, chưa thành tựu chánh tri kiến. Cái thảnh thơi đó ở trong một cái tôi, trong một cái tự ngã, chưa phải là thảnh thơi ở trong khinh an thất giác chi. Cho nên cái thảnh thơi của bậc Thánh sẽ đưa vào Thánh chánh định.

Tứ Niệm Xứ khởi động ở phần đầu rất sâu sắc, luôn luôn nhìn lại ba mươi hai thể trược, tứ đại và chín giai đoạn mục tử thi. Cốt tưởng luôn luôn được định tướng hiện tiền, quán tưởng về bộ xương, về sự bất tịnh, về sự cấu uế của thân tâm này, từ thân cho đến tâm. Bên thân thì nhìn thấy được sự bất tịnh, cửu khiếu, chín lỗ chảy ra, rồi chín giai đoạn của một thây ma. Về tâm là thấy tất cả các lậu hoặc để diệt tận ô nhiễm, như vậy là phá luôn bất tịnh của thân và bất tịnh của tâm bằng Tứ Niệm Xứ, bằng một sự quán chiếu thật thâm sâu về ba mươi hai thể trược, tứ đại và chín giai đoạn của mục tử thi. Còn ba phần đầu trong quán thân là: Niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động.

Khởi động Thất giác chi là bảy yếu tố đưa đến giác ngộ, chánh giác. Khởi động bằng thánh tri kiến của sự chánh niệm trong Tứ Niệm Xứ, khi vào định rồi thì gọi là thánh chánh định, vào được thánh chánh định rồi lại không bám trụ, không bám chấp trong đó thì cuối cùng là xả giác chi. Xả giác chi không phải là bỏ định, mà là chứng định nhưng không bị chấp trong định gọi là xả. Nhiều người ăn chay mà đi tới đâu cũng khoe, cũng thể hiện cho người ta biết mình là người ăn chay thì người đó chưa có xả giác chi. Có những người ăn chay mà không ai biết là người đó ăn chay, nhưng mà người ta ăn chay bốn mươi năm, người ta không thèm nói tôi ăn chay ra sao, được bao lâu thì đó gọi là xả giác chi. Cũng vậy, có người vào được thiền định rồi đi đâu cũng khoe khoan cho người ta biết mình là thiền sư; cũng có người dù đã chứng nhập đến cảnh thiền thâm sâu, dù họ không thể hiện nhưng trong ngoài được viên mãn. Nói ra để thấy giáo pháp, thánh trí của Đức Phật là đại viên mãn, không thể một tâm nhỏ hẹp, phiến diện mà có thể thành tựu được thánh tri kiến viên mãn; phải là đa diện, đầy đủ đồng đều, tròn đầy, đại viên mãn thì mới vào được sự thấy biết này.

Giới hạnh người tu

Nói về giữ giới, không phải chữ “giữ giới” là xong, chúng ta tưởng đó là giới học nhưng không phải. Trong tạng kinh Nikāya không nói vậy, nói một cách đơn giản, tóm tắt nhất nhưng cũng tám, chín điều "Giữ giới, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Chấp nhận và học tập trong các học pháp: Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, giới hạnh đầy đủ, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác biết tri túc" (Tóm tắt năm uẩn - Chơn Tín Toàn). Được như vậy thì giới mới viên mãn chứ còn nói năm giới, tám giới, mười giới thì không phải vậy, đó là mình chỉ biết được máy móc các con số chứ mình không thấy được tinh thần của giới.

Đương nhiên giới bổn là hết sức quan trọng, sống hộ trì với sự hộ trì của các giới mà mình đã thọ, nhưng mình muốn được cái đó viên mãn thì phải có sự chuẩn bị, tìm phương tiện hỗ trợ. Như mình nói ăn cơm mà không có chén, đũa, muỗng rồi ăn làm sao? Không bếp lấy gì nấu? Thành ra những cái "đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Chấp nhận và học tập trong các học pháp" là những cái để sửa soạn, chuẩn bị. Mình nói đi Sài Gòn thì phải chuẩn bị quần áo, y hậu, đồ đạc, thành ra khi mình nói giới thì nói đơn giản thôi nhưng phải có sự sửa soạn, chuẩn bị.

Minh Thành muốn khai triển những điểm không ai để ý, còn những điểm ai cũng biết thì không nói nhiều. Những điểm chúng ta xem thường, không để ý thì chính những cái này mình không thành tựu được. Đức Phật nói giới là nét đẹp của người xuất gia, chính nhờ giới mà người xuất gia trở nên thanh cao, cao thượng.

Oai nghi chánh hạnh

Giới là đầy đủ oai nghi, chánh hạnh. Oai nghi là cách đi đứng, cách ngồi nằm, đó là oai nghi chính, ngoài đi đứng ngồi nằm ra thì tất cả các cử động gọi là oai nghi phụ. Ví dụ nhai là oai nghi phụ, nuốt là oai nghi phụ, nói chuyện hay ra dấu hay bất cứ hành động nào là oai nghi phụ.

Vậy làm cách nào để đầy đủ oai nghi? Chính là phần niệm thân trong Tứ Niệm Xứ mà tối nào mình cũng tụng. Thứ nhất mình phải để ý đọc, tụng, nhớ, thuộc. Thứ hai là sau khi ra khỏi bàn Phật, khỏi thời pháp, trở về sinh hoạt thường ngày thì phải đem những gì đã học ra thực hành, luôn luôn để tâm vào đó, như vậy gọi là tăng thượng giới học. Chỉ nói chữ giới không là không đủ mà phải gọi là “tăng thượng giới học”, đây là từ của Đức Phật, nhưng sau này chúng ta lượt bớt, chỉ nhắc đến chữ “giới”, “giới, định, tuệ” là xong, lượt bỏ như vậy thì dần dần pháp không còn nữa. Tăng thượng là thêm lên, là phát triển thêm, tiến bước lên, càng ngày càng cao lớn ra, càng viên mãn. Chỉ riêng phần giới mình học đầy đủ thì hết mùa hạ cũng chưa xong, không phải chuyện đơn giản.

Phải nhìn thấy được bằng trí huệ đối với thân thể này, trong Kinh Niệm Xứ Đức Phật dạy phải sống quán thân trên nội thân, quán thân trên ngoại thân, quán trong ngoài thân thể, quán tánh sanh diệt trên thân, sống quán tánh diệt tận trên thân. Sanh diệt trên thân tức là quán thân lúc lạnh lúc mệt, lúc đói lúc no, lúc khát lúc không, lúc nằm lúc ngồi. Nói sâu hơn là biết rõ vệc mình đang làm: bước tới bước lui, ngó tới ngó lui, co tay duỗi chân, ăn uống nhai nếm, đại tiểu tiện…Biết rõ như vậy là đang thực tập giới, oai nghi đầy đủ. Chúng ta tu đúng theo những lời dạy này dù chưa nhập thánh nhưng không phải là phàm, không còn hơi hướng phàm tục nhiều dù cho chưa nhập thánh. Phong thái được chánh niệm kiểm soát từ chút một, gọi là quản lý học tối thượng thừa: quản lý tay, quản lý mắt, quản lý tâm. Từ sự quản lý, canh chừng, đề phòng hộ trì thì chúng ta mới thêm một bước qua hộ trì căn.

Sợ hãi trong lỗi nhỏ nhặt

Như vậy một lỗi lầm phát ra thì không phải dễ, một sơ suất sanh khởi cũng không phải dễ. Cũng như những người hà tiện, họ ngắt từng đồng từng cắt, cất kĩ vào túi, gài hai ba lớp, mỗi lần lấy tiền ra không phải dễ. Cũng vậy, người thường hộ trì căn, thường để ý oai nghi, tế hạnh từ chút một, nếu xảy ra sơ suất lỗi lầm là không phải dễ. Ngài Xá-lợi-phất chỉ cần rớt tấm y trúng một vị Tỳ-kheo là ngài thấy hổ thẹn, xấu hổ, các bậc thánh nhân tu khủng khiếp như vậy. Khi Ngài đắp y nhưng vô tình cái chéo y bay và chạm trúng thầy Tỳ-kheo bên cạnh thì Ngài xấu hổ, hổ thẹn vô cùng.

Cho nên Minh Thành rất tâm đắc câu "thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt", rất tuyệt vời. Câu này phải để trên bàn thờ lạy mỗi ngày. Một lỗi nhỏ thôi nhưng mình phạm phải thì phải thấy nhục nhã, xấu hổ, tàm quý. Tu như vậy mới có cảm, có xúc, mới có sắc bén, có nhạy. Còn tu càng nhiều rồi càng vô cảm, trơ trơ, lỗi lầm đầy đầu mà nói không có gì thì không thể tu được. Lỗi nhỏ đó lúc đầu như nước chảy từ từ, dần dần trở thành sâu rộng, như một biển đại dương của tội lỗi, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chứ không phải bình thường.

Nhiều lúc Minh Thành tiếp xúc với Phật tử, hay là học trò trong chùa, các vị có những hành vi, lời nói làm Minh Thành cảm thấy sợ nhưng người đó điếc không sợ súng. Cho nên câu "thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt" là thánh đạo, thánh quả, thánh trí. Phải luôn luôn kiểm soát lại thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, và bao gồm cả ý nghiệp. Thường trực kiểm soát thân, hành động của thân, lời nói của miệng. Phải run sợ, hoảng sợ đối với lỗi lầm, tại sao đối với thầy mà mình có những hành vi, lời nói như vậy, tại sao đối với sư huynh mình lại có những hành động bất kính như vậy, sân hận như vậy, đây là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Làm cho mình phát sanh ra cảm giác sợ hãi khủng bố, tại sao mình lại như vậy và phải dập đầu sám hối ngay tức khắc thì mới đẩy ra khỏi cơ thể, thân tâm mình những cảm giác bất thiện pháp, vô tàm vô quý, không biết xấu hổ và sợ hãi, không cho nó lưu trú và tồn tại thì từ từ nó mới đi đến chỗ thanh tịnh. Còn mình phạm lỗi lầm đầy ra mà chai sạn, ương ngạnh, trơ trơ thì tu một ngàn tăng kì kiếp nữa cũng không thành tựu, mà ác nghiệp còn càng khủng khiếp hơn. Tu như vậy thì làm sao thấy được các lậu hoặc vi tế.

Thầy trụ trì chùa Hoằng Pháp rất kĩ chỗ oai nghi này, đi chỗ đâu cũng giảng oai nghi, đi qua Mỹ cũng giảng oai nghi, Phật tử hỏi "sao thầy cứ giảng cái này, tụi con biết rồi", nhưng biết rồi có làm được không? Từ chỗ kĩ oai nghi từ chút như vậy này mà thầy tổ chức một khóa tu mấy chục ngàn người mà không có một tiếng động. Đó là sự nhỏ nhặt, kĩ lưỡng từ chút mà làm được như vậy, làm cho lan rộng sức ảnh hưởng của Phật giáo ra toàn quốc và khắp thế giới. Từ những ác nghiệp, tham sân si, lậu hoặc, từ những mưu mô, dối trá của nội tâm mà mình liên minh với nó trong nội tâm và nó dẫn mình đi, từ đó mình sụp hố xuống vực sâu, tại vì từ chỗ mình không "thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt", không "chấp nhận và học tập trong các học pháp", cho nên chúng ta phải học được bốn điều sợ hãi, vận dụng được.

Những kĩ sư Minh Thành từng giao tiếp ở Thung lũng Silicon, tại San Jose, bắc Cali, các vị làm việc cho những hãng lớn như Apple, Samsung, chế tạo ra những con chip nhỏ xíu trong laptop mình dùng. Qua đó, chúng ta thấy được địa vị, học vấn càng cao chừng nào thì người ta làm những cái cực vi, cực nhỏ chừng đó. Cũng vậy, mỗi một bậc thánh nhận, bậc đạo hạnh, bậc trí huệ nhìn ra được những điều nhỏ nhặt, tinh vi mà người bình thường không nhìn ra được, đây gọi là thánh nhân, thánh trí.

Đại đa số bây giờ học cũng xem thường, tu cũng xem thường, làm việc cũng xem thường, bị nhắc có khi còn sân si, trong miệng không nói nhưng bụng nghĩ sao khó khăn quá. Vì thế không có cơ hội hướng thượng, tăng thượng giới học, mà không có thì thối đọa. Phải để ý từ chút một, từ cái đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nhai, nếm, nuốt…luôn luôn phải nhìn lại, coi có hợp với oai nghi chánh hạnh không, có đầy đủ oai nghi không, có thủ hộ các căn không, có chánh niệm tỉnh giác không. Phật nói nếu không có hai pháp hổ thẹn và sợ hãi này là cha không ra cha, con không ra con, mẹ không ra mẹ, thầy không ra thầy, trò không ra trò, xã hội này đảo lộn, sụp đổ hết các luân lý đạo đức chứ đừng nói chi là thánh hiền. Những vụ án kinh hoàng ngoài xã hội làm cho mình khiếp sợ. Một khi hai pháp tàm quý không còn, tức là xấu hổ và sợ hãi không còn nữa thì sụp đổ hết các luân lý đạo đức, thế giới đi đến chỗ diệt vong.

Chính vì vậy, chánh giới uẩn này hết sức quan trọng, không giữ giới sẽ đi vào những loài súc sanh, trở thành những con vật trâu, bò, heo, gà, chó, ngựa…không mặc quần áo vì những con đó có biết gì đâu, chính là từ chỗ không có giới hạnh, buông thả, thả lỏng các căn. Thành ra phải "chấp nhận và học tập trong các học pháp". Tất cả những lời Đức Phật dạy trong tạng kinh Nikāya chúng ta phải học, phải chấp nhận, phải đem ra thực hành. Điều gì làm chưa được thì biết rằng cái này làm chưa được; điều nào đã có làm nhưng chưa đầy đủ thì phải biết mình có làm nhưng chưa đầy đủ; cái gì chưa làm được thì phải biết rằng mình chưa làm được. Tối thiểu chúng ta phải biết, phải nghe, phải hiểu những điều đó; nếu chưa từng nghe, chưa từng hiểu, chưa từng biết thì tất nhiên sẽ không biết cái gì mà làm. Vì vậy, người tu chúng ta phải cố gắng làm được hai điều: luận bàn chánh pháp và im lặng của bậc thánh. Bình thường không nói, khi nói là nói Chánh pháp, còn không là im lặng của thiền định, của bậc thánh.

Tri túc

Người tu chúng ta luôn phải chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc, luôn luôn thấy rõ được thân thể, cảm giác, nội tâm. Hai chữ biết tri túc này vô cùng tuyệt diệu. Bài kinh “Thanh Tịnh” trong Trường Bộ Kinh, tập II:

"Một pháp mới Ta thuyết giảng để ngăn chặn các lậu hoặc ngay trong hiện tại. Này Cunda, Ta không thuyết pháp, chỉ để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai mà thôi. Ta thuyết pháp vừa để ngăn chận các lậu hoặc ngay trong hiện tại mà cũng để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai nữa". Sự thuyết pháp của Như Lai không phải là sự hứa hẹn viễn vông xa vời, sự thuyết pháp của Ngài không chỉ diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai mà còn ngăn chặn các lậu hoặc trong hiện tại, tức là thiết thực hiện tại. Những cái mê lầm, say mê ngay trong hiện tại có thể ngăn chặn và diệt trừ.

"Do vậy, tấm y mà Ta cho phép các ông mặc, như vậy vừa đủ cho các ông ngăn chận lạnh, ngăn chận nóng, ngăn chận sự xúc chạm của các loài ruồi muỗi, của gió, mặt trời và các loài rắn, và các che dấu sự hổ thẹn". Cái tấm y, tấm áo Ta cho các ông mặc là vừa đủ cho các ông ngăn chặn lạnh, nóng, gió, mưa, tránh sự xúc chạm của ruồi, muỗi, rắn, và che đậy sự xấu hổ.

"Các món ăn khất thực mà Ta cho phép các ông dùng, như vậy vừa đủ để nuôi dưỡng thân thể, giúp thân thể sống còn, tránh khỏi nguy hại và giúp đời sống phạm hạnh với hy vọng: ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới. Nhờ vậy đời sống của ta mới khỏi bị lầm lỗi và ta sống an lạc". Các món ăn khất thực mà Ta cho phép các ông dùng là vừa đủ để nuôi dưỡng thân thể, giúp cho sống còn, tránh khỏi sự nguy hại, đói khát, và hi vọng diệt trừ cảm thọ cũ mà không khởi sanh các cảm thọ mới, ta khỏi bị lỗi lầm và sống an lạc.

"Nhà cửa nào mà Ta cho phép các ông an trú, như vậy vừa đủ cho các ông ngăn chận lạnh, ngăn chận nóng, ngăn chận sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, mặt trời và các loài rắn, chỉ với mục đích tránh thoát sự nguy hiểm của thời tiết, và an hưởng đời sống tịnh cư. Các dược phẩm và thuốc trị bịnh mà Ta cho phép các ông dùng, như vậy vừa đủ để ngăn chận các cảm thọ đau ốm khởi lên và để gìn giữ sức khỏe". Tuyệt vời và xúc động lắm, cái y cái áo Ta cho các ông mặc là vừa đủ che sự nóng, lạnh, tránh sự xúc chạm của ruồi muỗi thôi, ngoài ra không có gì để trau chuốt. Hiểu được như vậy thì mới thấy tấm lòng đại từ, đại bi của Đức Thế Tôn. Người đời chạy theo những vật chất nên người ta khổ, bây giờ mình tu nếu không khéo là cũng sẽ bị dính vào.

Những món ăn khất thực mà Ta cho phép các ông dùng để nuôi dưỡng, để sống còn, tránh đói khát cho thân thể tồn tại để tu học. Có dịp, Minh Thành sẽ cho ôm bình bát đi khất thực dài dài ngoài đường để cho mọi người biết cảm giác đó, để thấy được thật sự mình là người ăn xin, không có gì mà đáng ta đây, tự cao tự đại, chỉ là kẻ thấp hèn, sống nhờ vào sự bố thí của người khác. "Diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới", những cảm thọ đã từng nếm, hương vị món ăn làm sanh khởi lên những cảm giác, những suy nghĩ thì phải dẹp bỏ, không chạy theo. Khi ăn những món ăn mới, phải nhiếp niệm, quán chiếu, không để cho cảm thọ tham đắm, dục tham đối với món ăn sanh khởi nữa. Đây là phần thức ăn tập khởi cho nên sắc tập khởi, không còn dục, không còn ái, không còn tham đối với thức ăn, khi không còn dục, tham, ái đối với thức ăn thì sắc không tập khởi nữa, mới chấm dứt luân hồi.

Ví dụ, trước mặt mình được dọn ra bảy, tám món ăn thì thọ, tưởng, hành tập khởi, những hình bóng của món ăn khi xưa đã từng ăn, những cảm giác đã có, những suy nghĩ khởi lên thì đó là cảm thọ cũ. Khi khởi lên những thọ, tưởng, hành đó mình không chạy theo, đó là diệt trừ các cảm thọ cũ, như vậy mới là cách ăn cơm của bậc thánh. Người bình thường khao khát đi tìm những thứ đó, còn người tu chặn lại, không đi theo hướng đó, phải kiểm soát, nhiếp phục nó. Điều tuyệt diệu, tối thượng nhất là giáo pháp ly tham, triệt để ly tham. Khi ăn thì cảm thọ mới lại sanh, lúc để thức ăn vào miệng là xúc chạm, cảm thọ mới khởi lên, không cho cảm thọ mới sanh, không phải mình không có cảm giác mà là chánh niệm tỉnh giác, trú xả, không chạy theo cảm giác đó.

"Nhà cửa nào mà Ta cho phép các ngươi an trú, như vậy vừa đủ ngăn chận lạnh, nóng, ngăn chận sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, các loại rắn, tránh sự nguy hiểm của thời tiết, ảnh hưởng đến đời sống tịnh cư": Cái chòi, cái cốc, cái thất, cái phòng chỉ để ngăn chặn nóng lạnh, là chỗ che nóng, che mưa để tịnh cư, độc cư thiền tịnh chứ không phải chiếm hữu "chỗ này chỗ của tôi, chỗ này của sư huynh". Thuốc men cũng vậy, sống biết đủ là tuyệt vời lắm, mình đã giải thoát được phân nửa, có gì ăn nấy, cho chỗ nào ở chỗ nấy, y ai cúng gì mặc nấy, thậm chí tốt quá không dám dùng, tiếc phước nên đi cúng cho mấy vị đức độ, nhiều thì chia cho mấy sư đệ hoặc người nghèo. Đây là ăn, mặc, ở, thuốc men, phải biết đủ, không tích chứa, không gom góp mà phải thí xả, cúng dường, san sẻ, sớt chia cho mọi người.

Sự thấy biết đủ chỉ đơn giản vậy thôi nhưng lợi ích là vô cùng tận, chỗ ở của mình không có gì quý, không cần khóa cửa cũng được. Còn nếu có đồ quý mà không khóa của là lo lắng, ngồi nghe pháp mà cứ lo mất đồ. Nếu không có đồ thì có gì nữa đâu mà mất, bao nhiêu đây thôi cũng giúp mình dễ vào định, vì có tâm yên định. Cho nên đối với người tu, không sở hữu là vì lý do này. Người ta đi tìm sở hữu, chiếm hữu, lấy cái đó làm vui; còn người tu là hướng tới cái không sở hữu, lòng bình an, không lo lắng, không sợ hãi, không tìm kiếm, không giữ gìn nên không sợ mất. Vô sở hữu là chỗ hướng tới của người tu, tu thành tựu là mình không còn gì nữa hết, chứ không phải tu thành tựu là được bảy chùa. Đỉnh cao của tu là không còn gì nữa, không có gì nữa, không có “mình” luôn. Vì có mình thì thương mình, mà thương mình thì có lo cho mình, có lo cho mình thì có sợ cho mình. Không có mình thì không có thương mình, không lo, không sợ. Có cái của mình thì sợ mất; còn không có cái của mình thì mình đâu có lo sợ.

Lúc đầu có mấy Phật tử nói với Minh Thành là làm bãi đậu xe tốn tiền lắm, khi có xe lên chùa thì phải lấy chút tiền bù lại, Minh Thành mới nói rằng tất cả đất đai ở đây, chùa chiềng, cả Linh Quy Pháp Ấn này là của bá gia bá tánh gộp lại, không phải của mình. Bây giờ mình làm cái này ra là để phục vụ lại mọi người, đó là lẽ đương nhiên. Có những người doanh nhân thành đạt, giới trí thức đến đây tâm sự với Minh Thành: "Con đi đến đây có cảm giác thật sự là chùa, con không thấy màu sắc của kinh doanh từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, con thích điểm đó". Đây là bản sắc thực chất của một ngôi chùa Phật giáo, chính là ứng dụng tinh thần của Đức Thế Tôn.

Ăn uống cũng vậy, đói là vào ăn, có là đãi hết, không phân biệt giàu nghèo hay giá cả, cứ việc đãi hết vì đồ trong kho đâu phải của mình, đồ đó của người ta cúng rồi mình cúng lại cho người khác. Đây chính là vô sở hữu - là sự hướng tới của người tu. Quan niệm của Minh Thành là cúng nhiều làm nhiều, cúng vừa làm vừa, cúng ít làm ít, không cúng khỏi làm, vì không có cái nào là của mình, phải khắc ba chữ “vô sở hữu” lên trán. Người ta vô bếp mà mình la này kia thì đó là tâm phàm phu hạ liệt, thấp hèn, si mê, bản ngã, vô minh, không phải là người tu, dù cho có cạo tóc đi nữa cũng không phải là người tu, không biết xấu hổ nhục nhã.

Chúng ta phải học thật kĩ về giới hạnh, đức hạnh, nết hạnh, đạo hạnh của một người xuất gia, bằng không là mình làm trò cười cho hàng thức giả. Giống như đứa ăn mày mà mặc áo lông bào, đó là đại tội. Áo cà sa đâu phải người bình thường có thể mặc, đây là biểu tượng của bậc thánh nhân, mình không được khoác áo đó lên mượn đạo tạo đời. Thân mặc cà sa, cạo tóc mà tâm đầy rẫy tham sân si, bản ngã, ganh tị, tật đố thì sẽ đau khổ lâu dài, địa ngục, ác thú và đọa xứ khi nhắm mắt. Đừng xem thường chiếc áo này, đừng xem thường cái đầu tròn này, đừng xem thường giới hạnh này, vô sở hữu thì khỏe vì không có cái gì của mình, mọi người cùng nhau làm. Điều duy nhất chúng ta có được chính là Thánh trí Năm uẩn, đi trên con đường ly tham, tiến đến chỗ đoạn tận các lậu hoặc.

./.