Từ Bóng Tối Hướng Đến Ánh Sáng
Kinh Nikāya Giảng Giải
Từ Bóng Tối Hướng Đến Ánh Sáng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn loại người PAGEREF _Toc204010270 \h 1
Bóng tối hướng đến bóng tối PAGEREF _Toc204010271 \h 1
Bóng tối hướng đến ánh sáng PAGEREF _Toc204010272 \h 3
Ánh sáng hướng đến bóng tối PAGEREF _Toc204010273 \h 7
Ánh sáng hướng đến ánh sáng PAGEREF _Toc204010274 \h 9
II. Bố thí PAGEREF _Toc204010275 \h 14
I. Bốn loại người
Kính bạch chư Tăng Ni cùng tất cả quý Phật tử, chúng ta còn một buổi nữa là xong Tương Ưng Kosala, bài kinh Ngọn Núi ngày hôm qua đó là bài kinh cuối bởi vì chúng ta lấy hai cái bài kinh Tổ Mẫu với bà kinh Ngọn Núi đó cái nghĩa nó tương ứng với nhau chúng ta kết hợp. Hôm nay chúng ta qua bài kinh Người và bài kinh về cung thuật.
"Ở tại Sàvatthi.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Thưa Ðại vương, có bốn loại người này có mặt, hiện diện ở đời.
Thế nào là bốn? Sống trong bóng tối và hướng đến bóng tối, sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng, sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối, sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Thế Tôn rất là khéo thuyết, đây cũng là cách thuyết giảng của Đức Phật, khi Đức Phật nói một điều gì thì ngài sẽ giải thích điều đó một cách đầy đủ, rõ ràng, ngài định nghĩa. Khi ngài nói có bốn hạng người như vậy thì ngài giải thích bốn hạng người là sao, cái này chúng ta đã học trong phần nghiệp rồi nên ở đây không giải thích nhiều.
Bóng tối hướng đến bóng tối
"Thưa Ðại vương, và thế nào là người sống trong bóng tối hướng đến bóng tối? Ở đây, thưa Ðại vương, có một số người sanh trong gia đình hạ tiện, gia đình kẻ chiên-đà-la hay gia đình người đan rổ, hay gia đình người làm bẫy sập, hay gia đình người làm xe, hay gia đình người đổ rác nghèo đói, ăn uống thiếu thốn, sanh kế khó khăn, khó kiếm đồ ăn mặc, và người ấy xấu xí khó nhìn, còm lưng, nhiều bệnh, mù lòa, quẹo tay, bại chân, hay nửa thân tê liệt". (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Hôm trước chúng ta đi lên núi thấy người ta giăng mấy cái bẫy bắt mấy con thú rừng, sanh trong gia đình làm bẫy sập là như vậy đó. Danh từ ở trong đây dùng là Chiên-đà-la là những kẻ gọi là thấp hèn nhất, giai cấp thấp nhất thời đó, như vậy đã là khổ sở, khó khăn, nghèo hèn, thấp kém, hạ liệt, kiếm ăn khó khăn rồi đói khát mà còn xấu xí, khó nhìn, còm lưng, nhiều bệnh, chẳng những vậy còn mù lòa, quẹo tay, bại chân. Chúng ta đọc vô đây chúng ta phải tưởng ra cái hình ảnh, phải có những cái cảm xúc, cảm thọ để mình thấy một cái sự xót xa, thương xót những cái hoàn cảnh như vậy, mình phải làm cho những hình ảnh này hiện ra trong tâm của mình, mình cảm thọ được cái cảm giác của những người khổ sở đó. Mù lòa, quẹo tay, bại chân, tay thì quẹo qua quẹo lại, tật nguyền, chân thì bại rồi liệt nửa người, nằm một chỗ.
"Người ấy không nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, không nhận được chỗ nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục" (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Thân thì hành động những cái việc ác, còn nói thì nói những cái lời hung dữ, dối, đâm, độc, nhảm, những lời dối trá, những lời đâm thọc, những lời ác độc, những lời phù phiếm, thân thì sát sanh, trộm cắp, tà dâm, miệng thì nói dối, nói đâm thọc, nói lời ác độc, nói những lời cho chia rẻ người ta, nói lời làm cho người ta nghe phải đau lòng, đau khổ. Trong lòng thì đầy rẫy những cái tham lam, tham dục, sân hận, tức giận, tà kiến cho nên miệng nói ác, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung nhắm mắt chết đi người đó sanh vào cõi dữ, đường ác, vào đọa sứ, địa ngục.
"Thưa Ðại vương, ví như một người đi từ tối tăm này đến tối tăm khác, hay đi từ hắc ám này đến hắc ám khác, hay từ vết máu đỏ này đến vết máu đỏ khác. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong bóng tối, hướng đến bóng tối." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Chúng ta thấy những cái dạng người này có nhiều không? Xung quanh chúng ta nhiều lắm, nghèo khổ là tham lam, ác độc, hung dữ, bệnh tật nhưng mà đầy rẫy sân hận. Tật nguyền, thấp kém, hèn hạ nhưng mà bản ngã rất là cao, rất là hung dữ, kiêu căng, hống hách, tàn bạo. Chúng ta thấy đó là từ chỗ tối tăm này đi đến chỗ tăm tối khác, từ cái hắc ám này đi đến cái hác ám khác, từ cái vết máu đỏ này đi đến cái vết máu đỏ khác.
Bóng tối hướng đến ánh sáng
"Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng? Ở đây, thưa Ðại vương, có một số người sanh trong gia đình hạ tiện, gia đình kẻ chiên-đà-la, hay gia đình người đan rổ, hay gia đình người làm bẫy sập, hay gia đình người làm xe, hay gia đình người đổ rác, nghèo đói, ăn uống thiếu thốn, sanh kế khó khăn, khó kiếm đồ ăn mặc. Và người ấy xấu xí, khó nhìn, còm lưng, nhiều bệnh, mù lòa, quẹo tay, bại chân hay nửa thân tê liệt. Người ấy không nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, không nhận được chỗ nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Do thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, sau khi thân hoại mạng chung người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Thế nào là người sống trong bóng tối mà hướng đến ánh sáng? Người này cũng sanh trong gia đình thấp kém, nghèo khổ, đi nhặt ve chay, lông vịt, phế liệu, mua gánh bán bưng, đi bán vé số, bán hủ tiếu gõ, đi làm thuê làm mướn, ở đợ, rửa chén, giặt đồ, nấu cơm, làm công làm thuê, làm người giúp việc cho người ta, làm thuê vác mướn như vậy, đi hốt rác, đi đổ rác, đi chùi cầu tiêu, đi hút hầm cầu. Đó là xấu xí, hình hài cao có thước ba, thậm chí thước hai, có khi có thước mốt thôi, dị dạng, dị hình, dị tật, tánh tình hiền. Ở trong cái cảnh nghèo, thân thể thì xấu nhưng mà người này thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, nghèo khó, hèn hạ, thấp kém, khổ sở, bệnh hoạn, mù lòa, quẹo tay, bại chân, bán thân bất toại, có nhiều bệnh nhưng mà người này thân làm thiện, từ bỏ sát sanh, biết chia sẻ, biết phóng sanh, biết ăn chay, từ bỏ trộm cắp, biết bố thí, cúng dường, san sẻ cho những người nghèo khổ.
Thấy bà cụ già đi qua đường khó khăn người này sẵn sàng dẫn qua, thấy một em bé đói nghèo người này giúp đỡ, chia sẻ một tô cơm, một gói mì, thấy người đang gặp những cái nguy cấp, tai nạn, người này hỗ trợ giúp đỡ, tương trợ, cứu giúp với thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện như vậy cho nên người này sau khi nhắm mắt ra đi sanh lên thiện thú tức là cõi lành, thiên giới, hoặc là sanh lại cõi đời này. Như vậy thì người này nghèo khổ, thấp hèn, khó khăn, bệnh hoạn, tật nguyền nhưng thân làm thiện, ý nghĩ thiện, miệng nói thiện, thân làm lành, ý nghĩ lành, miệng nói điều lành. Khi người này nhắm mắt, mạng chung thì người này sanh lên cõi lành, thiên giới, cõi trời, hoặc là ở cõi đời này thân phận thay đổi, dung sắc thay đổi, tướng mạo thay đổi, cái phước báo thay đổi.
"Thưa Ðại vương, ví như một người từ đất leo lên kiệu, hay từ kiệu leo lên lưng ngựa, hay từ lưng ngựa leo lên thân voi, hay từ thân voi leo lên lầu. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Chỗ này Đức Thế Tôn nói với nhà vua ngài nói khác, hồi trước mình học ở bên nghiệp không có cái ví dụ này nhưng vì nhà vua chuyên sử dụng cái này cho nên Đức Phật lấy cái này ra ví dụ mà thấy rất là hay. Một người tuy rằng nghèo khổ, xấu xí, tật nguyền, bệnh hoạn nhưng người này lại biết suy nghĩ những điều lành, nói những lời lành, làm những việc thiện cho nên người này sau khi thân hoại mạng chung, sau khi nhắm mắt ra đi một là sanh lại cõi người này là sanh ở đỉnh cao của cõi người, đẹp đẽ, khỏe mạnh, giàu có, địa vị cao quý từ dung sắc cho nến sức khỏe, tài sản và sức mạnh đầy đủ. Chúng ta nhớ năm cái phước của người bố thí, là được tài sản, dung sắc tức là sắc đẹp, sức khỏe, y thuật, cơm áo là thức ăn, quyền vị của người này.
Như vậy Đức Thế Tôn mới ví dụ người đó sanh trở lại cõi đời là được ở cái địa vị cao, đầy đủ các phước báo hoặc là người đó sẽ sanh lên thiên giới. Thiện thú tức chữ thú là thú hướng, chữ thiện là lành, là chỗ mà người này hướng tới là cái chỗ lành, chỗ thiện, chỗ cao, chỗ đẹp, gọi là thiện thú. Ác thú là con đường ác, con đường xấu chứ không phải chữ thú là thú vật, thú đó là cái chỗ thú hướng tới. Con đường mà người hướng tới là con đường lành, là cõi lành, cảnh giới lành, cảnh giới cao thượng, đẹp đẽ, phước báo, nếu không có sanh ở cõi người là sanh lên cõi trời.
Chúng ta thấy Đức Phật ví dụ tuyệt vời lắm, giống như người từ đất leo lên kiệu, đang đứng dưới đất được leo lên cái kiệu ngồi là cao hơn dưới đất, rồi cái từ cái kiệu đó leo lên lưng ngựa. Lên cấp độ nữa từ cái kiệu đó bước lên lưng con ngựa, rồi từ cái lưng con ngựa đó leo lên thân con voi, càng ngày càng cao lên, càng cao càng to lên, càng uy dũng hơn, sức mạnh hơn, rồi từ thân con voi đó leo lên lầu. Đây là những cảnh giới của phước đức trong các cõi giới của nhân thiên, thí dụ cái kiệu đó là vua chúa, là quan quyền, là phước báo của cõi người, lưng con ngựa là lên tới chư Thiên mà những cái tầng thấp, lên tới lưng voi rồi lên tới trên lầu là lên tới phạm thiên, Đế-thích thiên chủ, tức là cái phước đức càng ngày càng lên.
Chúng ta không thể nào mình tưởng tượng được cái quả dị thục của nghiệp, mới thấy tật nguyền, đi què quặc vậy đó, nghèo, mù, đui, điếc, câm ngọng vậy mà đời sau sanh lên trời làm Thiên Bồng Nguyên Soái, sanh lên làm Nguyệt Hạ Tiên Nhân hay là chân nhân gì đó trên cõi trời, sanh lên làm Hằng Nga Tiên Nữ, sanh lên làm Tây Vương Mẫu, thậm chí là Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tứ Đại Thiên Vương, hay thậm chí là sanh lên tới làm Phạm Thiên. Thật sự là mình không có lường cho nên mới nói cái thế giới vô thường này biến huyễn theo nghiệp thiện, nghiệp ác của chúng, sanh theo cái suy nghĩ lành hay là cái suy nghĩ dữ, lời nói lành hay lời nói dữ, hành động lành hay hành động dữ. Nó biến huyễn tạo ra những cái thân tướng, hình hài, những cái đời sống tương xứng với nghiệp.
Chúng ta thấy tuy là cái thân bại liệt đó, bán thân bất toại vậy đó mà biết nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành thì đời sau sanh lên chư thiên hoặc sanh ra làm vua, làm tướng, sanh ra làm tướng quốc phu nhân, hay là hoàng hậu, hoàng phi, công chúa, quận chúa thì chúng ta thấy cái phước thấy tuyệt vời không. Thân nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân làm việc lành, ý nghĩ đều lành, miệng nói lời lành có thể thay đổi hết tất cả. Mình không thể lường được cho nên nhiều khi người đó mình thấy nghèo thiếu, mình xem thường nhưng mà năm bảy năm sau gặp lại là trở thành giám đốc còn dám khinh thường nữa không? Lúc đó ánh nhìn có khác không? Lời nói có khác không? Hành động, thái độ có khác không? Như vậy đừng khinh thường người ta trong khi người ta khó khổ, đừng có là tân bốc người ta trong khi người ta giàu có mà hãy nhìn sâu vào bên trong thiện và ác nghiệp của họ để mình lo tu.
Mình nhìn thấy một người nghèo khổ, tật nguyền, bệnh hoạn như vậy thì thấy sợ hãi cái quả báo của ác nghiệp. Mình nhìn sâu xa vô tới cái nguyên nhân mà nó tạo ra cái kết quả đó đang đứng trước mắt mình, đang tiếp cận mình. Mình đang gặp, đang thấy, đang nghe, đang tiếp xúc, đang nhìn, đang ngắm, đang cảm thọ và đừng có đừng có nhìn một cách thiển cận, cạn cợt, biểu diện bề ngoài. Hãy nhìn sâu vào cái gì mà nó tạo ra cái hình hài đó, cái hình tướng đó, cái hình thể đó, cái vóc dáng đó, cái đẳng cấp đó, cái con người đó, cái bệnh tật đó, cái sắc tướng xấu xí đó, tật nguyền đó, kém cỏi, hèn hạ, thấp kém đó. Hãy nhìn sâu vào để thấy sợ hãi đối với cái nghiệp ác, bất thiện pháp, chẳng hạn như mình nhìn con rắn mình thấy sợ là không phải sợ con rắn, mình biết rằng cái ác nghiệp, cái tâm độc, cái tâm quanh co, lươn lẹo, luồn lách, không có trực tâm, không có ngay thẳng, không có chân chánh, tâm trường uốn như con lươn, ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm cộng với ác độc, sơ hận thì nó tạo ra một cái thân tướng cứ trườn uốn vậy không ngay thẳng.
Ngày hôm qua chúng ta nghe trình pháp chó sủa rầm rầm, mình nghe vậy mà lòng mình xót xa, đó là cái quả báo của ác nghiệp. Như vậy mình chiêm nghiệm sâu sắc vô mình thấy thì mới có cái thọ ở trong người, mà cái cảm thọ, cái cảm xúc, cái cảm nhận và từ cái cảm nhận, cảm xúc, cảm thọ khi thấy, khi nghe, khi tiếp xúc như vậy bên trong mình tăng trưởng thiện pháp, bên trong mình thấy sợ ác nghiệp và thấy thích thú đối với thiện pháp. Còn nếu mà mình nhìn chó là chó, rắn là rắn, rết là rết, chim là chim thì đó là cái nhìn của phàm phu, nhìn trơ trơ thậm chí còn sanh ra tham ái, tham sân nữa, tham, sân, si.
Nếu mình không nhìn đúng theo cái nghiệp này thì tham, sân, si sanh khởi. Thí dụ mình thấy tiếng con chim hót thích quá, thấy dễ chịu quá, tham ái, khoái dục, muốn thêm nữa chứ mình không biết rằng cái thân đó là cái thân lông lá, cái thân của nghiệp quả, cái thân của đau khổ. Mình nhìn thấy những cái thân tướng dị hình dị dạng của những người dị tật, có cái bệnh mặt quỷ nó ghê gớm, khủng khiếp lắm, nổi cục hết cả cái mặt, không ra con người nữa, có nhiều hình hài khủng khiếp lắm, không có con mắt, không có lỗ mũi hoặc giòi ăn mất cả mũi, miệng, có những chứng bệnh rất khiếp đảm, kinh hoàng, hoảng sợ, mình không thể tưởng tượng được có những cái bệnh tật đến mức độ vậy, có những cái nghiệp quả tới mức độ vậy.
Đó là mới thế giới loài người với loài vật thôi, mình chưa có nhìn thấy được những thế giới của ma, của quỷ thần còn khủng khiếp nữa, dị hình, dị dạng ghê gớm nữa. Tất cả những cái đó là ác nghiệp, thì ác nghiệp Đức Phật nói giống như từ bóng tối đi vào trong bóng tối. Cái thứ hai là sống trong bóng tối mà hướng đến ánh sáng, giống như người đứng dưới đất leo lên kiệu, từ kiệu leo lên lưng ngựa, từ lưng ngựa leo lên lưng voi rồi từ lưng voi leo lên cái lầu cao, đó là nhờ ý nghĩ lành, lời nói lành, thân làm lành. Chúng ta thấy có cần cảm ơn, cần tri ơn rất là nhiều ba cái nghiệp, ba cái thiện hành này không? Phải cảm ơn cái suy nghĩ lành của mình, mình cảm ơn, mình vui, mình thích, mình quý nó, mình biết ơn lời nói lành thiện của mình.
Mình nói nghe dễ thương, cảm ơn những hành động mình đã làm, san sẻ, giúp đỡ, lo lắng, từ tâm, bi tâm, bao dung, tha thứ đối với mọi người. Mình cảm ơn và nhớ hình ảnh từ dưới đất bước lên kiệu, từ kiệu bước lên lưng ngựa rồi từ lưng ngựa bước lên lưng voi, từ lưng voi bước lên lầu cao. Chịu không hay là đứng dưới đất thôi, ngồi bẹp dưới đất hoài thôi? Phải bước lên lầu cao, chúng ta thấy Đức Thế Tôn thương mình vô cùng, ngài dùng biết bao nhiêu ngôn ngữ, hình ảnh, ví dụ, phương tiện, nghĩa lý để mình thấy được cái giá trị, cái lợi ích quý báo của thiện pháp, của phước báo, ngài dùng vô số phương tiện, vô số hình ảnh, vô số ví dụ, vô số ngôn ngữ, vô số pháp nghĩa để mình thấy sợ hãi đối với ác nghiệp, tránh xa ác nghiệp, từ bỏ ác nghiệp, viễn ly ác nghiệp, xả ly ác nghiệp, xuất ly khỏi ác nghiệp.
Chúng ta thấy đó, bao nhiêu lời, bao nhiêu ví dụ, bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu phương tiện, rồi ngài gặp bao nhiêu người từ nhà vua cho đến người hốt phân. Chúng ta thấy tấm lòng của Đức Thế Tôn.
Ánh sáng hướng đến bóng tối
"Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối? Ở đây, thưa Ðại vương, có số người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình gia chủ đại phú, phú hào có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật dụng, nhiều tiền của, ngũ cốc. Người ấy đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy lại nhận được đồ ăn, đồ uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ví như, thưa Ðại vương, một người từ lầu leo xuống thân voi, hay từ thân voi leo xuống lưng ngựa, hay từ lưng ngựa leo xuống chiếc kiệu, hay từ chiếc kiệu leo xuống đất, hay từ đất leo xuống lòng đất tối tăm. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Mọi cái phương tiện của đời sống, cái nhu yếu ăn, mặc, ở, những cái tiện nghi, vật chất, tài sản, dung sắc đẹp đẽ, giàu có, quyền uy, địa vị trong xã hội nhưng mà người ấy thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác cho nên sau khi thân hoại mạng chung người này sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ và địa ngục. Giống như một người từ lầu leo xuống thân voi, từ thân voi leo xuống lưng ngựa, từ lưng ngựa leo xuống kiệu, từ chiếc kiệu leo xuống đất hay là từ đất leo xuống lòng đất tối tăm, leo xuống tới đất mình tưởng tới đó hết rồi nhưng không, rơi xuống vực thẳm tối tăm, những cái hố, những cái hầm, những cái vực tối tăm.
Cái này ngược lại với ở trên cho nên chúng ta thấy cái nhân quả này huyễn hóa, nó vô thường, nó biến hóa, mới vừa là vua đó, mới vừa làm tướng đó, mới vừa làm hoàng hậu, hoàng phi, đệ nhất phu nhân, tướng quốc phu nhân, mới vừa làm thái tử, làm công tử, làm vương tử, mới vừa ở trong một cái địa vị cao tột trên vạn người, được người ta quỳ lạy nhưng mà tích tắc thôi, vừa nhắm mắt là rơi xuống vực sâu giống như người từ cái lầu leo xuống lưng voi, từ lưng voi leo xuống lưng ngựa, rồi từ lưng ngựa leo xuống cái kiệu, từ cái kiệu bước xuống dưới đất, rồi từ đất này rơi xuống dưới cái hầm sâu tối tăm, cái hố đen của hắc ám. Như vậy là do sát sanh, lấy của không cho, trộm cắp, tà dâm, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, nói lời ác độc, đâm bị thóc thọc bị gạo, thêu dệt, chuyện có nói không, chuyện không nói có, chuyện phải thì nói trái, chuyện trái thì nói phải, thấy thì nó không thấy, không thấy thì nói thấy, làm cho ân ái chia lìa, làm cho sanh khởi lên những sự oán hận, hiểu lầm, thù hằn với nhau, những lời nói ác độc rồi trong tâm thì đầy rẫy sự tham muốn, bực bội, sân hận, cau có, hơn thua, đố kỵ, ganh tị, tranh giành, giành giật, tranh đấu, cướp đoạt.
Cho nên từ ở dưới đất leo lên kiệu, từ kiệu leo lên lưng ngựa, từ lưng ngựa leo lên lưng voi, từ lưng voi leo lên trên cái lầu cao như vậy là khó biết nhiêu nhưng mà tới chừng đi xuống thì dễ ợt. Ở đây nói thứ tự chứ nhiều khi từ lầu cao nhảy lọt sẵn xuống hố luôn, từ ở địa vị nhân chủ ở loài người, vua chúa hoặc là quan quyền, thậm chí cái địa vị ở trên chư thiên mà rơi thẳng xuống dưới cái hố đen, xuống vực thẳm cũng do cái ý nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác. Bây giờ mình muốn ở trên lầu cao hay muốn xuống vực thẳm?
Mình có canh chừng ý nghĩ, lời nói và hành động, mình có để ý xem chừng, có quán xét không, có quản lý không, có bảo vệ, trông coi không, có quản thúc, không có phòng hộ không, có nhiếp phục không, có chế ngự không, có đoạn tận những cái ác, bất thiện pháp, những cái thứ nổi loạn bên trong, những cái thứ thúc giục ở bên trong, những thứ réo gọi bên trong, nó rù quến bên trong, nó thỏ thẻ, nó thì thầm, nó thủ thỉ, nó thở than, nó kêu, nó gọi, nó rủ, nó rê, nó dẫn, nó dắt, nó dụ, nó dỗ, phải nhìn thấy những cái bên, những cái cảm giác, nghĩ tưởng suy tư, hình bóng đó. Phải nhìn thấy được cái nào là cái thiện, cái nào là cái bất thiện, cái nào là lành, cái nào là dữ, cái nào là ác, cái nào là tội, cái nào là phước, cái nào nên làm, cái nào không nên làm, cái nào mình nhiếp phục, cái nào là mình phải diệt tận, tẩy sạch. Còn nếu không nhắm mắt là rơi xuống vực sâu, chúng ta học kinh rồi chúng ta thấy đó mới vừa làm hoàng hậu đó nhưng ghen tuông với người ta rồi đổ than lửa vô người cô phi tần kia, lập tức đời sau sanh trở thành cô hồn, ngạ quỷ, bộ xương đi vất vơ vất vưởng ở trên bầu trời rồi lửa than đổ vào cháy đỏ, kêu gào thảm thiết ở trong hư không.
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng LakkhanaII. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)
Còn bây giờ hằng ngày nhan nhãn trước mắt chúng ta là bao nhiêu những cái ác nghiệp khủng khiếp, bây giờ là nó khủng khiếp, đừng để cho nó rơi xuống, lọt xuống cái vực sâu hắc ám tối tăm đó. Như vậy sanh thì đẹp đẽ, giàu có, quan quyền, địa vị cao quý, cao sang mà lại tạo ra ba cái nghiệp ác cho nên mới rơi xuống cái chỗ tăm tối, đó gọi là sống mà từ trong ánh sáng hướng tới bóng tối.
Ánh sáng hướng đến ánh sáng
"Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng? Ở đây, thưa Ðại vương, có người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình gia chủ đại phú, phú hào, có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc. Và người ấy đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy lại nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Do thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, người ấy khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ví như, thưa Ðại vương, một người từ chiếc kiệu này bước qua chiếc kiệu khác, hay từ lưng ngựa này bước qua lưng ngựa khác, hay từ thân voi này bước qua thân voi khác, hay từ lầu này bước qua lầu khác. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong ánh sáng, hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Vừa giàu vừa có địa vị lại còn biết tu hành, làm phước thiện, tu những nghiệp làm, biết tu tập thân, tu tập giới, tu tập tuệ, biết làm phước lành, như vậy là từ chiếc kiệu này bước qua chiếc kiệu kia, từ cái lưng ngựa này qua lưng ngựa kia, từ lưng voi này mà qua lưng voi kia, từ cái ngôi lâu đài này qua ngôi lâu đài kia. Mọi người có thấy thích không? Có chịu không? Chịu lâu đài bước qua hay là chịu đi xuống hố? Đó là từ ánh sáng hướng tới ánh sáng.
"Thưa Ðại vương, những người như vậy có mặt, hiện diện trong đời.
Thưa Ðại vương, người nghèo đói bất tín và xan tham:
Keo kiết, ác tư duy,
Tà kiến, thiếu lễ nghĩa,
Nhiếc mắng và mạ lỵ
Sa-môn, Bà-la-môn,
Cùng các khất sĩ khác;
Không cho, làm phiền nhiễu,
Ngăn chận sự bố thí,
Cơm nước cho người xin;
Ðại vương, người như vậy,
Khi thân hoại mạng chung,
Sanh địa ngục hãi hùng.
Ôi Nhân chủ, người vậy,
Ðược gọi sanh bóng tối,
Và hướng đến bóng tối." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Chúng ta thấy cái cách thuyết pháp của Đức Phật không? Chúng ta phải học vì nó vi diệu, mở mấy cái lớp giảng sư đào tạo mà không có học theo cái cách thuyết pháp của Đức Phật. Đức Phật nói có bốn hạng người như thế nào, Đức Phật giải thích từng hạng người, giải thích xong hết trên rồi từng hạng người làm một bài kệ riêng để tóm tắt ý nghĩa đó. Bây giờ thứ nhất Đức Phật giải thích người sanh trong bóng tối hướng tới bóng tối, một người nghèo đói, tật nguyền, bệnh hoạn mà còn không có lòng tin, đây là không có lòng tin nhân quả, không có lòng tin nghiệp báo, không có lòng tin tội phước, không có lòng tin đối với Phật, pháp Tăng rồi lại xan tham nữa, tham lam mà keo kiệt, bủn xỉn, suy nghĩ theo chiều xấu ác, tà kiến thiếu lễ nghĩa. Ở bên trong là một cái nhìn sai lầm, một cái nhìn lệch lạc, một cái nhìn tà bại, còn bên ngoài là một cái đời sống không có biết lễ nghĩa, không biết lễ giáo, không có tình nghĩa.
Cái lễ này hay lắm, nhiều khi nhìn thấy những cái cảnh tôn nghiêm, trang trọng là Minh Thành hay xúc động, hay rơi nước mắt lắm, cầm nước mắt không được. Mình thấy những người biết lễ, biết cung kính là mình thấy xúc động, những người đó thường thường sanh ra trong dòng dõi cao quý, người đó chú trọng lễ nghĩa lắm. Trong hoàng gia Anh Quốc, muốn đào tạo một người ở trong hoàng gia là những cái khóa học rất dài, đi ra sao, đứng ra sao, nói thế nào, cử chỉ làm sao là mình nói bây giờ, còn hồi xưa thời vua chúa thì phải vô cung học rất là nhiều cái lễ nghi phép tắc, đi ra sao, đứng ra sao, chào ra sao, nói ra sao, hành lễ thế nào mà hành lễ với ai là từng cái cấp độ khác nhau. Không biết mình có cái tập khí sao, cái thói quen sao mà Minh Thành nhìn thấy người lễ nghĩa là xúc động lắm, nước mắt chảy.
Thành ra cái lễ nghĩa này là cái quan trọng, người thường thường có lễ thì người đó sanh ra ở trong một cái địa vị cao, địa vị cao người ta mới quen cái đó. Còn cái người mà mình thấy phi lễ đó, không có giữ gìn gì hết, buông thùa, bông đùa, buông thả thì người đó là không ở vị trí cao được, là cái thấp hèn, hạ liệt cho nên cái tập khí, cái thói quen nên thành ra vậy, còn người có cái lễ nghĩa là hay lắm, tuyệt vời lắm, lễ nghĩa là quan trọng lắm, cái lễ tiết, cái lễ phép, cái lễ độ, lễ giáo cho nên ở bên nhà nho là cả một cuốn kinh lễ, phải học đó, thi – thư lễ – nhạc là rất quan trọng. Hàng ngàn năm, mấy ngàn năm tinh hoa của Trung Hoa thành ta cái lễ là quan trọng và cái nghĩa nữa, hồi xưa người ta chú trọng cái lễ nghĩa lắm nhưng bây giờ càng ngày càng mai một.
Người này là cái người tà kiến, thiếu lễ nghĩa, nhiếc mắng và mạ lỵ, hở chút là mắng nhiếc người ta, chửi rủa người ta, mắng nhiếc rồi sỉ vả, mạ lị, hủy nhục những bậc tu hành Sa-môn, Bà-la-môn cùng với những cái người khất sĩ khác. Chẳng những không cho, không bố thí, không cúng dường mà còn làm phiền nhiễu nữa, rồi ngăn chặn sự bố thí của người khác, người ta đem cơm nước, đồ ăn cho người ăn xin thì người này lại xúi dục không cho, đừng có cho, cho chi uổng vậy, như vậy người này khi chết sanh địa ngục hãi hùng, sanh ra trong địa ngục khủng khiếp, đó là người sanh bóng tối và hướng đến bóng tối.
"Ðại vương, người nghèo đói
Có tín, không xan tham,
Bố thí, thiện tư duy,
Có chí, tâm không loạn,
Ðứng dậy và chào đón
Sa-môn, Bà-la-môn,
Cùng các khất sĩ khác,
Tu học hạnh thăng bằng;
Không ngăn sự bố thí,
Cơm nước cho người xin;
Ðại vương, người như vậy,
Khi thân hoại mạng chung,
Ðược sanh lên Thiên giới,
Ôi Nhân chủ, người vậy,
Ðược gọi sanh bóng tối,
Nhưng hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Người thứ hai là từ trong bóng tối hướng đến ánh sáng đó là người này nghèo đói nhưng có lòng tin, không có xan tham. Tuy là nghèo khổ đói thiếu nhưng mà người này có lòng tin nhân quả, có lòng tin tội phước, có lòng tin nghiệp báo, có lòng tin tam bảo, không có xam tham, biết bố thí và suy nghĩ lành, thiện tư duy, suy nghĩ hiền lắm, suy nghĩ những cái điều hiền thiện. Khi gặp những bậc tu hành có đức hạnh thì người này đứng dậy chào đón, cung kính những cái bậc tu hành, những vị đáng kính, tu học một cái hạnh thăng bằng như vậy, không có ngăn cái sự bố thí của người khác, người như vậy đó khi nhắm mắt qua đời được sanh lên cõi trời, người như vậy được gọi là sanh trong bóng tối mà hướng đến ánh sáng.
"Ðại vương, người hào phú,
Bất tín và xan tham,
Keo kiết, ác tư duy,
Tà kiến, không lễ nghĩa,
Nhiếc mắng và mạ lỵ.
Sa-môn, Bà-la-môn,
Cùng các khất sĩ khác,
Không cho, làm phiền nhiễu,
Ngăn chận sự bố thí,
Cơm nước cho người xin.
Ðại vương, người như vậy,
Khi thân hoại mạng chung,
Phải sanh vào địa ngục.
Ôi Nhân chủ, người vậy,
Ðược gọi sanh ánh sáng,
Và hướng đến bóng tối." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Người sanh ở trong ánh sáng mà hướng tới bóng tối là một người hào phú, giàu có nhưng mà không có lòng tin, không tin nhân quả, tội phước, tam bảo lại còn xan tham, keo kiệt, suy nghĩ ác, tà kiến, không có lễ nghĩa, mắng nhiếc, mạ lị những bậc tu hành. Đã không cho mà còn gây phiền nhiễu cho những người tu nữa, ngăn chặn sự bố thí của người khác thì người như vậy khi nhắm mắt phải sanh vào địa ngục. Như vậy gọi là cái người từ ánh sáng hướng đến bóng tối.
"Ðại vương, người hào phú,
Có tín, không xan tham,
Bố thí, thiện tư duy,
Có chí, tâm không loạn.
Ðứng dậy và chào đón,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Cùng các khất sĩ khác,
Tu học hạnh hòa bình,
Không ngăn sự bố thí,
Cơm nước cho người xin.
Ðại vương, người như vậy,
Khi thân hoại mạng chung,
Ðược sanh lên Thiên giới,
Ôi Nhân chủ, người vậy,
Ðược gọi sanh ánh sáng,
Và hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Trong bốn hạng người này mình thuộc về hạng nào ạ? Tự xét coi mình thuộc hạng thứ mấy? Bài kinh cuối cùng tựa đề là Cung Thuật nhưng mà ở trong đây lại nói về bố thí.
II. Bố thí
"Ở tại Sàvatthi.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Chỗ nào, bạch Thế Tôn, bố thí cần phải đem cho?
Thưa Ðại vương, tại chỗ nào, tâm được hoan hỷ." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Vua Ba-tư-nặc hỏi Đức Thế Tôn cần phải bố thí ở đâu, bố thí ở chỗ nào, Đức Phật nói chỗ nào mà nhà vua vui thích để đem cho cái chỗ đó thì nhà vua cho. Chúng ta thấy Đức Phật trả lời ngắn gọn mà hết sức là ý nghĩa, khi mình muốn bố thí thì mình có thích không? Mình thích làm cái đó, mình thích cho cái chỗ đó thì mình mới cho, còn mình bị ép thì mình có muốn cho không? Thí dụ mình đi gặp người ăn xin cứ năn nỉ xin hoài, có nhiều người bực mình không cho, nhưng mà người đó không ai kêu hết, người ta thấy, người ta muốn cho, người ta thích cho thì người ta đem cho. Vì vậy nhà vua hỏi Đức Phật bố thí ở chỗ nào thì Đức Phật nó chỗ nào mà bệ hạ thích, hoan hỉ thì bệ hạ bố thí ở đó, cho ở đó. Cái này là cái ý rất là hay, cái này từ người cho và người nhận phải học cái này, người ta thích, người ta hoan hỉ thì người ta cúng dường, nhất là mình người tu đừng có vận động nhiều, đừng kêu gọi, đừng có đưa ra chương trình này, đưa chương trình kia hoài. Nhiều khi người ta ở nhà khó khăn, khổ nên vô chùa, người ta muốn kiếm cái chỗ được yên mà vô thấy mình kêu thì họ sợ, a không biết chỗ nào nữa.
Đây là chỗ khéo cần học, Đức Phật dạy cái này hay lắm, người ta hoan hỉ người ta bố thí, người ta thích thì người ta làm mà cái này mới đúng nghĩa bố thí. Người ta vui thích, người ta hoan hỉ, người ta mong muốn thì người ta làm.
"Bạch Thế Tôn, chỗ nào cho được quả lớn?
-- Thưa Ðại vương, câu: 'Chỗ nào bố thí cần phải đem cho' khác với câu: 'Chỗ nào cho được quả lớn'." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Hồi nãy thì nên cho chỗ nào, bây giờ hỏi cho chỗ nào thì được kết quả to lớn, lợi ích lớn lao thì Đức Thế Tôn nhấn mạnh khác câu hồi nãy nhà vua hỏi nên cho cái chỗ nào với bây giờ cho chỗ nào thì được cái quả cái kết quả lớn. Hai câu hỏi này khác nhau, chúng ta thấy Đế Vương và Pháp Vương nói chuyện, một bậc là chủ của pháp một bậc kia là chủ của thế gian này. Đây là hai bậc toàn là trí tuệ, toàn là tầm nhìn rộng lớn, một người nhìn pháp giới, một người nhìn cả quốc độ.
"Thưa Ðại vương, cho người trì giới được quả báo lớn. Cho người không giữ giới không được như vậy" (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Chúng ta học ở trong đây chúng ta được nhiều cái trí tuệ lắm, nhiều cái thấy biết lắm và chúng ta thành tựu được nhiều cái khía cạnh, góc độ trong sự tu tập ở trong đời sống này lắm. Bây giờ bố thí cho ai thì được cái kết quả lớn, cái lợi ích lớn thì Đức Thế Tôn trả lời cho cái người trì giới được quả báo lớn, cho người không giữ giới thì không có được như vậy. Chúng ta nhớ nha, đây là những cái góc độ của sự bố thí, đầu tiên là hỏi nên bố thí chỗ nào thì Đức Thế Tôn nói chỗ nào bệ hạ thích, bệ hạ hoan hỉ thì bệ hạ cho, thứ hai là hỏi cho chỗ nào mà mình được cái kết quả lớn, cái lợi ích lớn thì Thế Tôn trả lời cho người trì giới, bố thí cho người giữ giới, người có giới hạnh, giới đức, còn người không có giữ giới thì không có được như vậy.
"Về vấn đề này, thưa Ðại vương, Ta sẽ hỏi Ðại vương, Ðại vương kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời câu hỏi ấy như vậy.
"Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, Ðại vương đang lâm chiến, và cuộc giao tranh đang tiếp diễn dữ dội. Rồi một thanh niên Sát-đế-lỵ đến, không có học tập, không có huấn luyện, không có thực tập, không có phục vụ, rụt rè, sợ hãi, run sợ. Ðại vương có chấp nhận người ấy không? Ðại vương có ủng hộ người ấy không, và một người như vậy có lợi ích gì cho Ðại vương không?
-- Bạch Thế Tôn, con không ủng hộ người ấy và một người như vậy không có lợi ích gì cho con cả. (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Nhà vua đang đánh giặc thì có một người con quan quyền nhưng lại không có học tập, không có huấn luyện, không có trình độ hiểu biết về đánh giặc cũng không có nghề võ gì hết, không có thực tập, không biết phục vụ gì trong quân đội, quân lính hết rồi người này rụt rè, sợ hãi, rung sợ, không biết gì hết thì đại dương có thu nhận người này không, có chấp nhận người này không, có ủng hộ cho người ấy không và người ấy có đem lại lợi ích gì cho đại vương trong lúc đang đánh giặc không. Một người như vậy thì vô ích.
"Rồi một thanh niên Bà-la-môn, không có học tập... Rồi một thanh niên Vessa (thương gia) đến... Rồi một thanh niên Sudda (Thủ-đà: cùng đinh) đến, không có học tập..., ... và một người như vậy không có lợi ích gì cho con cả." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Đức Phật ví dụ tiếp là có một thanh niên Bà-la-môn, hay là một thanh niên thương gia, hay là một thanh niên nghèo khổ cũng y vậy, không có học tập, không có hấn luyện, không có nghề võ cũng không có nghề văn, không biết phục vụ quân đội gì hết, rung rẩy, sợ hãi, yếu đuối, khiếp sợ như vậy thì nhà vua có nhận không. Dạ bạch Thế Tôn, con không có nhận, vô ích, đang đánh giặc mà nhận mấy người này vô làm vướng chân vướng tay thêm nữa thôi.
"-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, Ðại vương đang lâm chiến, và cuộc giao tranh đang tiếp diễn dữ dội. Rồi một thanh niên Sát-đế-lỵ đến, có học tập, có huấn luyện, có thực tập, có phục vụ, không rụt rè, không sợ hãi, không run sợ. Ðại vương có chấp nhận người ấy không? Ðại vương có ủng hộ người ấy không, và một người như vậy có lợi ích gì cho Ðại vương không?
-- Bạch Thế Tôn, con ủng hộ người ấy. Và một người như vậy có lợi ích cho con." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Khi đại vương đang lâm chiến trận, đang lâm trận, đang ở trong cuộc chiến giao tranh dữ dội mà có một thanh niên đến có học tập, có huấn luyện, có thực tập, biết phục vụ, không có rụt rè, sợ hãi, rung sợ, mạnh mẽ, oai hùng, giỏi văn, có nghề võ, rành đánh trận, biết phục vụ, có tài thao lược chinh chiến như vậy đại vương có ủng hộ người ấy không, một người như vậy có lợi ích cho đại dương không. Bạch Thế Tôn con ủng hộ người ấy và một người như vậy có lợi ích cho con, con sẽ ủng hộ người ấy, con sẽ chấp nhận người ấy, người như vậy có lợi ích trong lúc đang đánh giặc đang lâm
"-- Cũng vậy, thưa Ðại vương, dầu cho một người có xuất gia từ một gia đình nào, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đoạn trừ năm chi và hội đủ năm chi. Bố thí cho một người như vậy có quả báo lớn."(Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Chúng ta thấy Đức Phật nói chuyện với vua thì Đức Phật lấy những cái ví dụ ở trong chiến trận, ở trong triều đình thì nhà vua rất là dễ hiểu. Thế nào là năm chi được đoạn trừ?
"Tham dục được đoạn trừ, sân được đoạn trừ, hôn trầm thụy miên được đoạn trừ, trạo hối được đoạn trừ, nghi được đoạn trừ. Năm chi này được đoạn trừ." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Cúng dường, bố thí cho người đã đoạn tận năm triền cái, tham sân, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi sẽ có quả báo lớn, lợi ích lớn.
"Thế nào là năm chi được hội đủ? Vô học giới uẩn được hội đủ, vô học định uẩn được hội đủ, vô học tuệ uẩn được hội đủ, vô học giải thoát uẩn được hội đủ, vô học giải thoát tri kiến uẩn được hội đủ. Năm chi này được hội đủ.
Chính một người như vậy, năm chi được đoạn trừ, năm chi được hội đủ, bố thí cho người như vậy được quả báo lớn." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Ở trên là Đức Phật nói giới, dưới này Đức Phật mở rộng ra tức là đoạn năm triền cái và thành tựu năm cái pháp vô uẩn, thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến của bậc A-la-hán thánh Tăng. Chúng ta phải hội đủ cái vô học giới uẩn, giới của bậc vô học, định của bậc vô học, tuệ của bậc vô học, giải thoát của bậc vô học và giải thoát tri kiến của bậc vô học. Như vậy gọi là năm chi được hội đủ và bố thí, cúng dường cho những vị ấy sẽ được quả báo lớn, lợi ích lớn, chúng ta thấy ba cấp độ giới, kế đó là người đoạn trừ được năm triền cái và người thành tựu được năm cái vô học uẩn. Mình chưa tới đâu hết thì mình phải cố gắng.
"Thế Tôn nói như vậy. Rồi bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vị vua đang lâm chiến,
Sẽ giữ lại thanh niên,
Cung thuật được thiện xảo,
Dõng mãnh đầy khí lực.
Nhà vua không tuyển chọn,
Theo tiêu chuẩn thọ sanh.
Cũng vậy, người có trí,
Kính lễ bậc hạ sanh,
Bậc này sống Thánh hạnh,
Nhẫn nhục và hiền hòa.
Hãy làm cốc thoải mái
Dựng nhà cho đa văn,
Rừng khô làm bể nước,
Hiểm trở, mở đường đi.
Với tâm tư thanh tịnh,
Hãy cho kẻ trực tâm,
Cho đồ ăn, đồ uống,
Cho vải mặc, trú xá.
Như mây giông gầm thét,
Chớp sáng trăm đầu mây,
Nước mưa ào ào xuống,
Tràn đầy đất thấp cao.
Cũng vậy, bậc thiện tín,
Ða văn, trữ đồ ăn,
Thỏa mãn kẻ khất sĩ.
Kẻ trí tâm hoan hỷ,
Phân phát vật ăn uống,
Nói "Cho, hãy đem cho".
Như vậy, la, gầm, thét,
Mưa móc như thần mưa,
Các công đức to lớn,
Do bố thí mang lại,
Ðem mưa ân, mưa móc,
Trên những người bố thí." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Chúng ta giải thích cái bài kệ này, vị vua đang ra chiến trường, đang lâm trận thì sẽ giữ lại một người thanh niên khéo léo bắn cung, tức là biết những cái võ nghệ ở trong chiến trận, sẽ giữ lại người mạnh mẽ, đầy khí lực chứ nhà vua không có tuyển chọn theo cái tiêu chuẩn của thọ sanh. Tức là không phải chọn cái giai cấp mà là chọn cái tài năng, cái thực lực của người đó, cũng vậy, cái người có trí kính lễ những cái người hạ sanh, tức là người sanh sau, người nhỏ hơn mình, bậc có trí sẽ sẵn sàng cung kính và đảnh lễ những người nhỏ hơn mình vì những người này sống thánh hạnh. Tại sao người có trí lại cung kính và đảnh lễ người nhỏ hơn mình? Tại vì người nhỏ đó là người sống hạnh của bậc thánh, người ta không có cần coi địa vị là cao, người kia là thấp, tuổi người ta, lớn tuổi người kia nhỏ mà người ta chú trọng vô cái đức hạnh hiền thiện, cao thượng, thánh thiện của người kia cho nên người ta cung kính, đảnh lễ. Vì người này là người nhẫn nhục, hiền hòa, người tu hành thánh đạo cho nên ở đây Đức Thế Tôn mới nói hãy làm cốc thoải mái tức là xây thất, làm cốc để cho các vị đó tu, dựng nhà cho đa văn là dựng nhà lên cho những bậc đa Văn Thánh đệ tử, những người tu hành nghe nhiều thánh pháp của Đức Phật, gọi là hãy làm cốc thoải mái, dựng nhà cho đa văn.
Rừng khô làm bể nước,
Hiểm trở, mở đường đi.
Nếu mà cái rừng khô khan thì đào hồ, đào giếng cho có nước cho mấy vị đó ở tu, sử dụng, hiểm trở thì mở đường đi cho các vị đó đi cho thông thoáng. Hãy đem cúng dường, bố thí cho người có tâm ngay thẳng, kẻ trực tâm, hãy đem cho họ đồ ăn, đồ uống, vải mặc, cho nhà cửa, phòng ốc, tịnh thất.
Như mây giông gầm thét,
Chớp sáng trăm đầu mây,
Nước mưa ào ào xuống,
Tràn đầy đất thấp cao.
Đây là một cái ví dụ thôi, sấm chớp gầm thét và mưa ào ào xuống, tức là nói lên cái lòng tin, cung kính, cúng dường, bố thí đối với những vị có đức hạnh tu hành, một cái tâm chân thành, tha thiết vậy đó. Cũng vậy người thiện nam tín nữ có lòng tin thì hãy đem đồ ăn để bố thí, cúng dường những bậc đa văn, những vị khất sĩ vì sẽ được công đức to lớn do bố thí mang lại như đem Ân mưa móc trên những người bố thí cái công đức. Cái công đức đó nhiều giống như mưa đổ xuống ào ạt như vậy. Đó là Đức Thế Tôn nói chuyện với vua Ba-tư-nặc, chúng ta thấy được trí tuệ của ngài rất là tuyệt diệu đó gọi là khế lý khế cơ, khi nào nhà vua trình bày cái gì thì Đức Phật lấy cái đó Đức Phật nói.
Đức phật thường nói nhà vua về cái thiện, cái ác, cái phước, Đức Phật nói về cái vô thường, cái sanh tử. Đức Phật khuyến khích để cho nhà vua biết cung kính, biết đảnh lễ, biết cúng dường những bậc tu hành dầu cho những người đó sanh trong giai cấp thấp nghèo hay là tuổi nhỏ, nhưng vì người đó tu thánh hạnh, đời sống cao thượng cho nên Đức Phật khuyến khích để tạo ruộng phước cho nhà vua gieo trồng vào trong cái ruộng phước vô thượng ở đời, để nhà vua được lợi ích ở trong hiện tại và tương lai. Chúng ta nhớ cái bài kinh Đại Thực thì nhà vua nhớ kêu người thanh niên nhớ bài kệ của Thế Tôn, mỗi bữa ăn của nhà vua đọc lên thì được thưởng một trăm đồng tiền vàng, nhà vua cảm thán Đức Thế Tôn thương tưởng ta ngay cả trong đời hiện tại và đời tương lai.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi thanh niên Sudassana:
-- Này Bạn, hãy đi đến và học thuộc lòng bài kệ từ Thế Tôn và trong khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy. Ta sẽ cấp thường nhật cho ông một trăm đồng tiền vàng.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala tuần tự hạn chế, cho đến chỉ ăn nhiều nhất là một nàlika.
Vua Pasenadi sau một thời gian, thân thể được khỏe mạnh, tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng sau đây: Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, III. Đại Thực: Ăn nhiều)
Chúng ta thấy đó là tình nghĩa của hai vị Đế Vương và Pháp Vương, một người thì vua của pháp, một người là vua ở đời, pháp chủ và quốc chủ, nhân chủ. Trong kinh ghi lại vua Ba-tư-nặc lạy dưới chân Đức Phật, hôn lên chân Đức Phật, xoa bóp bàn chân, Đức Thế Tôn hỏi tại sao nhà vua lại hết lòng cung kính, đảnh lễ ta như vậy vì hai người bằng tuổi nhau, năm đó cũng tám mươi với nhau, đó là năm cuối cùng của Đức Phật.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
-- Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
-- Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
-- Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì" (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Nhà vua hết lời ca ngợi, xưng tán, chúc tụng Đức Thế Tôn và chúng ta thấy được tình nghĩa của hai vị Phật và vua. Qua đây chúng ta học được rất là nhiều điều, nhất là các cái vị cư sĩ, hay là tu sĩ, chúng ta thấy cái cuộc đối thoại của hai ngài đem lại lợi lạc 2600 năm sau để chúng ta thấy được cái giá trị, cái ý nghĩa. Thứ nhất là từ bóng tối hướng tới bóng tối, từ bóng tối hướng tới ánh sáng, từ ánh sáng mà hướng tới bóng, rồi từ ánh sáng mà hướng tới ánh sáng, cái ví dụ là ví dụ giống như từ dưới đất leo lên kiệu, từ kiệu lên lưng ngựa, từ lưng ngựa lên lưng voi, rồi từ lưng voi lên lầu cao. Bây giờ ngược lại từ ánh sáng mà lại đi hướng tới bóng tối thì là từ lầu cao xuống lưng voi, từ lưng voi xuống lưng ngựa, từ lưng ngựa xuống kiệu, rồi từ kiệu xuống đất, rồi từ đất xuống hố, xuống vực sâu. Chúng ta thấy cái hình ảnh tuyệt vời không? Như vậy bây giờ muốn đi lên hay muốn đi xuống vực? Muốn hướng tới ánh sáng hay là muốn hướng về bóng tối? Muốn hướng tới ánh sáng là suy nghĩ cái gì cũng suy nghĩ thiện lành hết, nói cái gì cũng lựa lời lành nói hết, làm cái gì cũng lựa việc lành mà làm, an lạc, bình an, an ổn.
Hôm qua đó thầy Thiện Huệ dùng điểm tâm chung với Minh Thành chia sẻ thì Minh Thành thấy cũng rất là hoan hỉ, thầy nói niềm vui nhất sướng nhất của thầy, hạnh phúc nhất khi về đây là ở bốn tháng trong chúng không có một cái xích mích, không có một cái sức mẻ, không có ai cãi ai hết, thầy nói rằng là hiếm có khó gặp, hiền thiện thì đó là một cái niềm Minh Thành thấy rất là an ủi, rất là hoan hỉ, rất là vui. Thầy nói về đây bốn tháng trời an cư kiết hạ, tu tập với đại chúng mà không nghe có ai cự với ai hết, êm ấm, công việc thì lo làm, tới giờ tu thì tu, tới giờ học thì lên học rồi xuống, mạnh ai người nấy lo tu, lo học, êm êm ấm ấm, hài hài hòa hòa, tương kính với nhau, an hòa, chúng ta ráng cố gắng giữ gìn cái sự hòa hợp này, cùng nhau hướng tới ánh sáng đi vào trong ánh sáng rồi leo lên chứ đừng để rơi xuống cái hố, rơi xuống vực sâu.
Hôm nay mưa bão nhưng mà chúng ta cũng cố gắng, bên ngoài mưa bão mà lòng mình vẫn an trú vào pháp, chúng ta vẫn cố gắng tinh tấn học pháp, tu hành, Kính chúc tất cả quý vị bên ngoài mưa bão nhưng mà trong tâm vẫn bình yên trong pháp.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này.
Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần và dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài.
Mong tất cả có được trí tuệ thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.
Từ Bóng Tối Hướng Đến Ánh Sáng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn loại người PAGEREF _Toc204010270 \h 1
Bóng tối hướng đến bóng tối PAGEREF _Toc204010271 \h 1
Bóng tối hướng đến ánh sáng PAGEREF _Toc204010272 \h 3
Ánh sáng hướng đến bóng tối PAGEREF _Toc204010273 \h 7
Ánh sáng hướng đến ánh sáng PAGEREF _Toc204010274 \h 9
II. Bố thí PAGEREF _Toc204010275 \h 14
I. Bốn loại người
Kính bạch chư Tăng Ni cùng tất cả quý Phật tử, chúng ta còn một buổi nữa là xong Tương Ưng Kosala, bài kinh Ngọn Núi ngày hôm qua đó là bài kinh cuối bởi vì chúng ta lấy hai cái bài kinh Tổ Mẫu với bà kinh Ngọn Núi đó cái nghĩa nó tương ứng với nhau chúng ta kết hợp. Hôm nay chúng ta qua bài kinh Người và bài kinh về cung thuật.
"Ở tại Sàvatthi.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Thưa Ðại vương, có bốn loại người này có mặt, hiện diện ở đời.
Thế nào là bốn? Sống trong bóng tối và hướng đến bóng tối, sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng, sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối, sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Thế Tôn rất là khéo thuyết, đây cũng là cách thuyết giảng của Đức Phật, khi Đức Phật nói một điều gì thì ngài sẽ giải thích điều đó một cách đầy đủ, rõ ràng, ngài định nghĩa. Khi ngài nói có bốn hạng người như vậy thì ngài giải thích bốn hạng người là sao, cái này chúng ta đã học trong phần nghiệp rồi nên ở đây không giải thích nhiều.
Bóng tối hướng đến bóng tối
"Thưa Ðại vương, và thế nào là người sống trong bóng tối hướng đến bóng tối? Ở đây, thưa Ðại vương, có một số người sanh trong gia đình hạ tiện, gia đình kẻ chiên-đà-la hay gia đình người đan rổ, hay gia đình người làm bẫy sập, hay gia đình người làm xe, hay gia đình người đổ rác nghèo đói, ăn uống thiếu thốn, sanh kế khó khăn, khó kiếm đồ ăn mặc, và người ấy xấu xí khó nhìn, còm lưng, nhiều bệnh, mù lòa, quẹo tay, bại chân, hay nửa thân tê liệt". (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Hôm trước chúng ta đi lên núi thấy người ta giăng mấy cái bẫy bắt mấy con thú rừng, sanh trong gia đình làm bẫy sập là như vậy đó. Danh từ ở trong đây dùng là Chiên-đà-la là những kẻ gọi là thấp hèn nhất, giai cấp thấp nhất thời đó, như vậy đã là khổ sở, khó khăn, nghèo hèn, thấp kém, hạ liệt, kiếm ăn khó khăn rồi đói khát mà còn xấu xí, khó nhìn, còm lưng, nhiều bệnh, chẳng những vậy còn mù lòa, quẹo tay, bại chân. Chúng ta đọc vô đây chúng ta phải tưởng ra cái hình ảnh, phải có những cái cảm xúc, cảm thọ để mình thấy một cái sự xót xa, thương xót những cái hoàn cảnh như vậy, mình phải làm cho những hình ảnh này hiện ra trong tâm của mình, mình cảm thọ được cái cảm giác của những người khổ sở đó. Mù lòa, quẹo tay, bại chân, tay thì quẹo qua quẹo lại, tật nguyền, chân thì bại rồi liệt nửa người, nằm một chỗ.
"Người ấy không nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, không nhận được chỗ nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục" (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Thân thì hành động những cái việc ác, còn nói thì nói những cái lời hung dữ, dối, đâm, độc, nhảm, những lời dối trá, những lời đâm thọc, những lời ác độc, những lời phù phiếm, thân thì sát sanh, trộm cắp, tà dâm, miệng thì nói dối, nói đâm thọc, nói lời ác độc, nói những lời cho chia rẻ người ta, nói lời làm cho người ta nghe phải đau lòng, đau khổ. Trong lòng thì đầy rẫy những cái tham lam, tham dục, sân hận, tức giận, tà kiến cho nên miệng nói ác, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung nhắm mắt chết đi người đó sanh vào cõi dữ, đường ác, vào đọa sứ, địa ngục.
"Thưa Ðại vương, ví như một người đi từ tối tăm này đến tối tăm khác, hay đi từ hắc ám này đến hắc ám khác, hay từ vết máu đỏ này đến vết máu đỏ khác. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong bóng tối, hướng đến bóng tối." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Chúng ta thấy những cái dạng người này có nhiều không? Xung quanh chúng ta nhiều lắm, nghèo khổ là tham lam, ác độc, hung dữ, bệnh tật nhưng mà đầy rẫy sân hận. Tật nguyền, thấp kém, hèn hạ nhưng mà bản ngã rất là cao, rất là hung dữ, kiêu căng, hống hách, tàn bạo. Chúng ta thấy đó là từ chỗ tối tăm này đi đến chỗ tăm tối khác, từ cái hắc ám này đi đến cái hác ám khác, từ cái vết máu đỏ này đi đến cái vết máu đỏ khác.
Bóng tối hướng đến ánh sáng
"Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng? Ở đây, thưa Ðại vương, có một số người sanh trong gia đình hạ tiện, gia đình kẻ chiên-đà-la, hay gia đình người đan rổ, hay gia đình người làm bẫy sập, hay gia đình người làm xe, hay gia đình người đổ rác, nghèo đói, ăn uống thiếu thốn, sanh kế khó khăn, khó kiếm đồ ăn mặc. Và người ấy xấu xí, khó nhìn, còm lưng, nhiều bệnh, mù lòa, quẹo tay, bại chân hay nửa thân tê liệt. Người ấy không nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, không nhận được chỗ nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Do thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, sau khi thân hoại mạng chung người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Thế nào là người sống trong bóng tối mà hướng đến ánh sáng? Người này cũng sanh trong gia đình thấp kém, nghèo khổ, đi nhặt ve chay, lông vịt, phế liệu, mua gánh bán bưng, đi bán vé số, bán hủ tiếu gõ, đi làm thuê làm mướn, ở đợ, rửa chén, giặt đồ, nấu cơm, làm công làm thuê, làm người giúp việc cho người ta, làm thuê vác mướn như vậy, đi hốt rác, đi đổ rác, đi chùi cầu tiêu, đi hút hầm cầu. Đó là xấu xí, hình hài cao có thước ba, thậm chí thước hai, có khi có thước mốt thôi, dị dạng, dị hình, dị tật, tánh tình hiền. Ở trong cái cảnh nghèo, thân thể thì xấu nhưng mà người này thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, nghèo khó, hèn hạ, thấp kém, khổ sở, bệnh hoạn, mù lòa, quẹo tay, bại chân, bán thân bất toại, có nhiều bệnh nhưng mà người này thân làm thiện, từ bỏ sát sanh, biết chia sẻ, biết phóng sanh, biết ăn chay, từ bỏ trộm cắp, biết bố thí, cúng dường, san sẻ cho những người nghèo khổ.
Thấy bà cụ già đi qua đường khó khăn người này sẵn sàng dẫn qua, thấy một em bé đói nghèo người này giúp đỡ, chia sẻ một tô cơm, một gói mì, thấy người đang gặp những cái nguy cấp, tai nạn, người này hỗ trợ giúp đỡ, tương trợ, cứu giúp với thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện như vậy cho nên người này sau khi nhắm mắt ra đi sanh lên thiện thú tức là cõi lành, thiên giới, hoặc là sanh lại cõi đời này. Như vậy thì người này nghèo khổ, thấp hèn, khó khăn, bệnh hoạn, tật nguyền nhưng thân làm thiện, ý nghĩ thiện, miệng nói thiện, thân làm lành, ý nghĩ lành, miệng nói điều lành. Khi người này nhắm mắt, mạng chung thì người này sanh lên cõi lành, thiên giới, cõi trời, hoặc là ở cõi đời này thân phận thay đổi, dung sắc thay đổi, tướng mạo thay đổi, cái phước báo thay đổi.
"Thưa Ðại vương, ví như một người từ đất leo lên kiệu, hay từ kiệu leo lên lưng ngựa, hay từ lưng ngựa leo lên thân voi, hay từ thân voi leo lên lầu. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Chỗ này Đức Thế Tôn nói với nhà vua ngài nói khác, hồi trước mình học ở bên nghiệp không có cái ví dụ này nhưng vì nhà vua chuyên sử dụng cái này cho nên Đức Phật lấy cái này ra ví dụ mà thấy rất là hay. Một người tuy rằng nghèo khổ, xấu xí, tật nguyền, bệnh hoạn nhưng người này lại biết suy nghĩ những điều lành, nói những lời lành, làm những việc thiện cho nên người này sau khi thân hoại mạng chung, sau khi nhắm mắt ra đi một là sanh lại cõi người này là sanh ở đỉnh cao của cõi người, đẹp đẽ, khỏe mạnh, giàu có, địa vị cao quý từ dung sắc cho nến sức khỏe, tài sản và sức mạnh đầy đủ. Chúng ta nhớ năm cái phước của người bố thí, là được tài sản, dung sắc tức là sắc đẹp, sức khỏe, y thuật, cơm áo là thức ăn, quyền vị của người này.
Như vậy Đức Thế Tôn mới ví dụ người đó sanh trở lại cõi đời là được ở cái địa vị cao, đầy đủ các phước báo hoặc là người đó sẽ sanh lên thiên giới. Thiện thú tức chữ thú là thú hướng, chữ thiện là lành, là chỗ mà người này hướng tới là cái chỗ lành, chỗ thiện, chỗ cao, chỗ đẹp, gọi là thiện thú. Ác thú là con đường ác, con đường xấu chứ không phải chữ thú là thú vật, thú đó là cái chỗ thú hướng tới. Con đường mà người hướng tới là con đường lành, là cõi lành, cảnh giới lành, cảnh giới cao thượng, đẹp đẽ, phước báo, nếu không có sanh ở cõi người là sanh lên cõi trời.
Chúng ta thấy Đức Phật ví dụ tuyệt vời lắm, giống như người từ đất leo lên kiệu, đang đứng dưới đất được leo lên cái kiệu ngồi là cao hơn dưới đất, rồi cái từ cái kiệu đó leo lên lưng ngựa. Lên cấp độ nữa từ cái kiệu đó bước lên lưng con ngựa, rồi từ cái lưng con ngựa đó leo lên thân con voi, càng ngày càng cao lên, càng cao càng to lên, càng uy dũng hơn, sức mạnh hơn, rồi từ thân con voi đó leo lên lầu. Đây là những cảnh giới của phước đức trong các cõi giới của nhân thiên, thí dụ cái kiệu đó là vua chúa, là quan quyền, là phước báo của cõi người, lưng con ngựa là lên tới chư Thiên mà những cái tầng thấp, lên tới lưng voi rồi lên tới trên lầu là lên tới phạm thiên, Đế-thích thiên chủ, tức là cái phước đức càng ngày càng lên.
Chúng ta không thể nào mình tưởng tượng được cái quả dị thục của nghiệp, mới thấy tật nguyền, đi què quặc vậy đó, nghèo, mù, đui, điếc, câm ngọng vậy mà đời sau sanh lên trời làm Thiên Bồng Nguyên Soái, sanh lên làm Nguyệt Hạ Tiên Nhân hay là chân nhân gì đó trên cõi trời, sanh lên làm Hằng Nga Tiên Nữ, sanh lên làm Tây Vương Mẫu, thậm chí là Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tứ Đại Thiên Vương, hay thậm chí là sanh lên tới làm Phạm Thiên. Thật sự là mình không có lường cho nên mới nói cái thế giới vô thường này biến huyễn theo nghiệp thiện, nghiệp ác của chúng, sanh theo cái suy nghĩ lành hay là cái suy nghĩ dữ, lời nói lành hay lời nói dữ, hành động lành hay hành động dữ. Nó biến huyễn tạo ra những cái thân tướng, hình hài, những cái đời sống tương xứng với nghiệp.
Chúng ta thấy tuy là cái thân bại liệt đó, bán thân bất toại vậy đó mà biết nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành thì đời sau sanh lên chư thiên hoặc sanh ra làm vua, làm tướng, sanh ra làm tướng quốc phu nhân, hay là hoàng hậu, hoàng phi, công chúa, quận chúa thì chúng ta thấy cái phước thấy tuyệt vời không. Thân nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân làm việc lành, ý nghĩ đều lành, miệng nói lời lành có thể thay đổi hết tất cả. Mình không thể lường được cho nên nhiều khi người đó mình thấy nghèo thiếu, mình xem thường nhưng mà năm bảy năm sau gặp lại là trở thành giám đốc còn dám khinh thường nữa không? Lúc đó ánh nhìn có khác không? Lời nói có khác không? Hành động, thái độ có khác không? Như vậy đừng khinh thường người ta trong khi người ta khó khổ, đừng có là tân bốc người ta trong khi người ta giàu có mà hãy nhìn sâu vào bên trong thiện và ác nghiệp của họ để mình lo tu.
Mình nhìn thấy một người nghèo khổ, tật nguyền, bệnh hoạn như vậy thì thấy sợ hãi cái quả báo của ác nghiệp. Mình nhìn sâu xa vô tới cái nguyên nhân mà nó tạo ra cái kết quả đó đang đứng trước mắt mình, đang tiếp cận mình. Mình đang gặp, đang thấy, đang nghe, đang tiếp xúc, đang nhìn, đang ngắm, đang cảm thọ và đừng có đừng có nhìn một cách thiển cận, cạn cợt, biểu diện bề ngoài. Hãy nhìn sâu vào cái gì mà nó tạo ra cái hình hài đó, cái hình tướng đó, cái hình thể đó, cái vóc dáng đó, cái đẳng cấp đó, cái con người đó, cái bệnh tật đó, cái sắc tướng xấu xí đó, tật nguyền đó, kém cỏi, hèn hạ, thấp kém đó. Hãy nhìn sâu vào để thấy sợ hãi đối với cái nghiệp ác, bất thiện pháp, chẳng hạn như mình nhìn con rắn mình thấy sợ là không phải sợ con rắn, mình biết rằng cái ác nghiệp, cái tâm độc, cái tâm quanh co, lươn lẹo, luồn lách, không có trực tâm, không có ngay thẳng, không có chân chánh, tâm trường uốn như con lươn, ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm cộng với ác độc, sơ hận thì nó tạo ra một cái thân tướng cứ trườn uốn vậy không ngay thẳng.
Ngày hôm qua chúng ta nghe trình pháp chó sủa rầm rầm, mình nghe vậy mà lòng mình xót xa, đó là cái quả báo của ác nghiệp. Như vậy mình chiêm nghiệm sâu sắc vô mình thấy thì mới có cái thọ ở trong người, mà cái cảm thọ, cái cảm xúc, cái cảm nhận và từ cái cảm nhận, cảm xúc, cảm thọ khi thấy, khi nghe, khi tiếp xúc như vậy bên trong mình tăng trưởng thiện pháp, bên trong mình thấy sợ ác nghiệp và thấy thích thú đối với thiện pháp. Còn nếu mà mình nhìn chó là chó, rắn là rắn, rết là rết, chim là chim thì đó là cái nhìn của phàm phu, nhìn trơ trơ thậm chí còn sanh ra tham ái, tham sân nữa, tham, sân, si.
Nếu mình không nhìn đúng theo cái nghiệp này thì tham, sân, si sanh khởi. Thí dụ mình thấy tiếng con chim hót thích quá, thấy dễ chịu quá, tham ái, khoái dục, muốn thêm nữa chứ mình không biết rằng cái thân đó là cái thân lông lá, cái thân của nghiệp quả, cái thân của đau khổ. Mình nhìn thấy những cái thân tướng dị hình dị dạng của những người dị tật, có cái bệnh mặt quỷ nó ghê gớm, khủng khiếp lắm, nổi cục hết cả cái mặt, không ra con người nữa, có nhiều hình hài khủng khiếp lắm, không có con mắt, không có lỗ mũi hoặc giòi ăn mất cả mũi, miệng, có những chứng bệnh rất khiếp đảm, kinh hoàng, hoảng sợ, mình không thể tưởng tượng được có những cái bệnh tật đến mức độ vậy, có những cái nghiệp quả tới mức độ vậy.
Đó là mới thế giới loài người với loài vật thôi, mình chưa có nhìn thấy được những thế giới của ma, của quỷ thần còn khủng khiếp nữa, dị hình, dị dạng ghê gớm nữa. Tất cả những cái đó là ác nghiệp, thì ác nghiệp Đức Phật nói giống như từ bóng tối đi vào trong bóng tối. Cái thứ hai là sống trong bóng tối mà hướng đến ánh sáng, giống như người đứng dưới đất leo lên kiệu, từ kiệu leo lên lưng ngựa, từ lưng ngựa leo lên lưng voi rồi từ lưng voi leo lên cái lầu cao, đó là nhờ ý nghĩ lành, lời nói lành, thân làm lành. Chúng ta thấy có cần cảm ơn, cần tri ơn rất là nhiều ba cái nghiệp, ba cái thiện hành này không? Phải cảm ơn cái suy nghĩ lành của mình, mình cảm ơn, mình vui, mình thích, mình quý nó, mình biết ơn lời nói lành thiện của mình.
Mình nói nghe dễ thương, cảm ơn những hành động mình đã làm, san sẻ, giúp đỡ, lo lắng, từ tâm, bi tâm, bao dung, tha thứ đối với mọi người. Mình cảm ơn và nhớ hình ảnh từ dưới đất bước lên kiệu, từ kiệu bước lên lưng ngựa rồi từ lưng ngựa bước lên lưng voi, từ lưng voi bước lên lầu cao. Chịu không hay là đứng dưới đất thôi, ngồi bẹp dưới đất hoài thôi? Phải bước lên lầu cao, chúng ta thấy Đức Thế Tôn thương mình vô cùng, ngài dùng biết bao nhiêu ngôn ngữ, hình ảnh, ví dụ, phương tiện, nghĩa lý để mình thấy được cái giá trị, cái lợi ích quý báo của thiện pháp, của phước báo, ngài dùng vô số phương tiện, vô số hình ảnh, vô số ví dụ, vô số ngôn ngữ, vô số pháp nghĩa để mình thấy sợ hãi đối với ác nghiệp, tránh xa ác nghiệp, từ bỏ ác nghiệp, viễn ly ác nghiệp, xả ly ác nghiệp, xuất ly khỏi ác nghiệp.
Chúng ta thấy đó, bao nhiêu lời, bao nhiêu ví dụ, bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu phương tiện, rồi ngài gặp bao nhiêu người từ nhà vua cho đến người hốt phân. Chúng ta thấy tấm lòng của Đức Thế Tôn.
Ánh sáng hướng đến bóng tối
"Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối? Ở đây, thưa Ðại vương, có số người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình gia chủ đại phú, phú hào có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật dụng, nhiều tiền của, ngũ cốc. Người ấy đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy lại nhận được đồ ăn, đồ uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ví như, thưa Ðại vương, một người từ lầu leo xuống thân voi, hay từ thân voi leo xuống lưng ngựa, hay từ lưng ngựa leo xuống chiếc kiệu, hay từ chiếc kiệu leo xuống đất, hay từ đất leo xuống lòng đất tối tăm. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Mọi cái phương tiện của đời sống, cái nhu yếu ăn, mặc, ở, những cái tiện nghi, vật chất, tài sản, dung sắc đẹp đẽ, giàu có, quyền uy, địa vị trong xã hội nhưng mà người ấy thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác cho nên sau khi thân hoại mạng chung người này sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ và địa ngục. Giống như một người từ lầu leo xuống thân voi, từ thân voi leo xuống lưng ngựa, từ lưng ngựa leo xuống kiệu, từ chiếc kiệu leo xuống đất hay là từ đất leo xuống lòng đất tối tăm, leo xuống tới đất mình tưởng tới đó hết rồi nhưng không, rơi xuống vực thẳm tối tăm, những cái hố, những cái hầm, những cái vực tối tăm.
Cái này ngược lại với ở trên cho nên chúng ta thấy cái nhân quả này huyễn hóa, nó vô thường, nó biến hóa, mới vừa là vua đó, mới vừa làm tướng đó, mới vừa làm hoàng hậu, hoàng phi, đệ nhất phu nhân, tướng quốc phu nhân, mới vừa làm thái tử, làm công tử, làm vương tử, mới vừa ở trong một cái địa vị cao tột trên vạn người, được người ta quỳ lạy nhưng mà tích tắc thôi, vừa nhắm mắt là rơi xuống vực sâu giống như người từ cái lầu leo xuống lưng voi, từ lưng voi leo xuống lưng ngựa, rồi từ lưng ngựa leo xuống cái kiệu, từ cái kiệu bước xuống dưới đất, rồi từ đất này rơi xuống dưới cái hầm sâu tối tăm, cái hố đen của hắc ám. Như vậy là do sát sanh, lấy của không cho, trộm cắp, tà dâm, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, nói lời ác độc, đâm bị thóc thọc bị gạo, thêu dệt, chuyện có nói không, chuyện không nói có, chuyện phải thì nói trái, chuyện trái thì nói phải, thấy thì nó không thấy, không thấy thì nói thấy, làm cho ân ái chia lìa, làm cho sanh khởi lên những sự oán hận, hiểu lầm, thù hằn với nhau, những lời nói ác độc rồi trong tâm thì đầy rẫy sự tham muốn, bực bội, sân hận, cau có, hơn thua, đố kỵ, ganh tị, tranh giành, giành giật, tranh đấu, cướp đoạt.
Cho nên từ ở dưới đất leo lên kiệu, từ kiệu leo lên lưng ngựa, từ lưng ngựa leo lên lưng voi, từ lưng voi leo lên trên cái lầu cao như vậy là khó biết nhiêu nhưng mà tới chừng đi xuống thì dễ ợt. Ở đây nói thứ tự chứ nhiều khi từ lầu cao nhảy lọt sẵn xuống hố luôn, từ ở địa vị nhân chủ ở loài người, vua chúa hoặc là quan quyền, thậm chí cái địa vị ở trên chư thiên mà rơi thẳng xuống dưới cái hố đen, xuống vực thẳm cũng do cái ý nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác. Bây giờ mình muốn ở trên lầu cao hay muốn xuống vực thẳm?
Mình có canh chừng ý nghĩ, lời nói và hành động, mình có để ý xem chừng, có quán xét không, có quản lý không, có bảo vệ, trông coi không, có quản thúc, không có phòng hộ không, có nhiếp phục không, có chế ngự không, có đoạn tận những cái ác, bất thiện pháp, những cái thứ nổi loạn bên trong, những cái thứ thúc giục ở bên trong, những thứ réo gọi bên trong, nó rù quến bên trong, nó thỏ thẻ, nó thì thầm, nó thủ thỉ, nó thở than, nó kêu, nó gọi, nó rủ, nó rê, nó dẫn, nó dắt, nó dụ, nó dỗ, phải nhìn thấy những cái bên, những cái cảm giác, nghĩ tưởng suy tư, hình bóng đó. Phải nhìn thấy được cái nào là cái thiện, cái nào là cái bất thiện, cái nào là lành, cái nào là dữ, cái nào là ác, cái nào là tội, cái nào là phước, cái nào nên làm, cái nào không nên làm, cái nào mình nhiếp phục, cái nào là mình phải diệt tận, tẩy sạch. Còn nếu không nhắm mắt là rơi xuống vực sâu, chúng ta học kinh rồi chúng ta thấy đó mới vừa làm hoàng hậu đó nhưng ghen tuông với người ta rồi đổ than lửa vô người cô phi tần kia, lập tức đời sau sanh trở thành cô hồn, ngạ quỷ, bộ xương đi vất vơ vất vưởng ở trên bầu trời rồi lửa than đổ vào cháy đỏ, kêu gào thảm thiết ở trong hư không.
"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng LakkhanaII. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)
Còn bây giờ hằng ngày nhan nhãn trước mắt chúng ta là bao nhiêu những cái ác nghiệp khủng khiếp, bây giờ là nó khủng khiếp, đừng để cho nó rơi xuống, lọt xuống cái vực sâu hắc ám tối tăm đó. Như vậy sanh thì đẹp đẽ, giàu có, quan quyền, địa vị cao quý, cao sang mà lại tạo ra ba cái nghiệp ác cho nên mới rơi xuống cái chỗ tăm tối, đó gọi là sống mà từ trong ánh sáng hướng tới bóng tối.
Ánh sáng hướng đến ánh sáng
"Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng? Ở đây, thưa Ðại vương, có người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình gia chủ đại phú, phú hào, có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc. Và người ấy đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy lại nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Do thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, người ấy khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ví như, thưa Ðại vương, một người từ chiếc kiệu này bước qua chiếc kiệu khác, hay từ lưng ngựa này bước qua lưng ngựa khác, hay từ thân voi này bước qua thân voi khác, hay từ lầu này bước qua lầu khác. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong ánh sáng, hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Vừa giàu vừa có địa vị lại còn biết tu hành, làm phước thiện, tu những nghiệp làm, biết tu tập thân, tu tập giới, tu tập tuệ, biết làm phước lành, như vậy là từ chiếc kiệu này bước qua chiếc kiệu kia, từ cái lưng ngựa này qua lưng ngựa kia, từ lưng voi này mà qua lưng voi kia, từ cái ngôi lâu đài này qua ngôi lâu đài kia. Mọi người có thấy thích không? Có chịu không? Chịu lâu đài bước qua hay là chịu đi xuống hố? Đó là từ ánh sáng hướng tới ánh sáng.
"Thưa Ðại vương, những người như vậy có mặt, hiện diện trong đời.
Thưa Ðại vương, người nghèo đói bất tín và xan tham:
Keo kiết, ác tư duy,
Tà kiến, thiếu lễ nghĩa,
Nhiếc mắng và mạ lỵ
Sa-môn, Bà-la-môn,
Cùng các khất sĩ khác;
Không cho, làm phiền nhiễu,
Ngăn chận sự bố thí,
Cơm nước cho người xin;
Ðại vương, người như vậy,
Khi thân hoại mạng chung,
Sanh địa ngục hãi hùng.
Ôi Nhân chủ, người vậy,
Ðược gọi sanh bóng tối,
Và hướng đến bóng tối." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Chúng ta thấy cái cách thuyết pháp của Đức Phật không? Chúng ta phải học vì nó vi diệu, mở mấy cái lớp giảng sư đào tạo mà không có học theo cái cách thuyết pháp của Đức Phật. Đức Phật nói có bốn hạng người như thế nào, Đức Phật giải thích từng hạng người, giải thích xong hết trên rồi từng hạng người làm một bài kệ riêng để tóm tắt ý nghĩa đó. Bây giờ thứ nhất Đức Phật giải thích người sanh trong bóng tối hướng tới bóng tối, một người nghèo đói, tật nguyền, bệnh hoạn mà còn không có lòng tin, đây là không có lòng tin nhân quả, không có lòng tin nghiệp báo, không có lòng tin tội phước, không có lòng tin đối với Phật, pháp Tăng rồi lại xan tham nữa, tham lam mà keo kiệt, bủn xỉn, suy nghĩ theo chiều xấu ác, tà kiến thiếu lễ nghĩa. Ở bên trong là một cái nhìn sai lầm, một cái nhìn lệch lạc, một cái nhìn tà bại, còn bên ngoài là một cái đời sống không có biết lễ nghĩa, không biết lễ giáo, không có tình nghĩa.
Cái lễ này hay lắm, nhiều khi nhìn thấy những cái cảnh tôn nghiêm, trang trọng là Minh Thành hay xúc động, hay rơi nước mắt lắm, cầm nước mắt không được. Mình thấy những người biết lễ, biết cung kính là mình thấy xúc động, những người đó thường thường sanh ra trong dòng dõi cao quý, người đó chú trọng lễ nghĩa lắm. Trong hoàng gia Anh Quốc, muốn đào tạo một người ở trong hoàng gia là những cái khóa học rất dài, đi ra sao, đứng ra sao, nói thế nào, cử chỉ làm sao là mình nói bây giờ, còn hồi xưa thời vua chúa thì phải vô cung học rất là nhiều cái lễ nghi phép tắc, đi ra sao, đứng ra sao, chào ra sao, nói ra sao, hành lễ thế nào mà hành lễ với ai là từng cái cấp độ khác nhau. Không biết mình có cái tập khí sao, cái thói quen sao mà Minh Thành nhìn thấy người lễ nghĩa là xúc động lắm, nước mắt chảy.
Thành ra cái lễ nghĩa này là cái quan trọng, người thường thường có lễ thì người đó sanh ra ở trong một cái địa vị cao, địa vị cao người ta mới quen cái đó. Còn cái người mà mình thấy phi lễ đó, không có giữ gìn gì hết, buông thùa, bông đùa, buông thả thì người đó là không ở vị trí cao được, là cái thấp hèn, hạ liệt cho nên cái tập khí, cái thói quen nên thành ra vậy, còn người có cái lễ nghĩa là hay lắm, tuyệt vời lắm, lễ nghĩa là quan trọng lắm, cái lễ tiết, cái lễ phép, cái lễ độ, lễ giáo cho nên ở bên nhà nho là cả một cuốn kinh lễ, phải học đó, thi – thư lễ – nhạc là rất quan trọng. Hàng ngàn năm, mấy ngàn năm tinh hoa của Trung Hoa thành ta cái lễ là quan trọng và cái nghĩa nữa, hồi xưa người ta chú trọng cái lễ nghĩa lắm nhưng bây giờ càng ngày càng mai một.
Người này là cái người tà kiến, thiếu lễ nghĩa, nhiếc mắng và mạ lỵ, hở chút là mắng nhiếc người ta, chửi rủa người ta, mắng nhiếc rồi sỉ vả, mạ lị, hủy nhục những bậc tu hành Sa-môn, Bà-la-môn cùng với những cái người khất sĩ khác. Chẳng những không cho, không bố thí, không cúng dường mà còn làm phiền nhiễu nữa, rồi ngăn chặn sự bố thí của người khác, người ta đem cơm nước, đồ ăn cho người ăn xin thì người này lại xúi dục không cho, đừng có cho, cho chi uổng vậy, như vậy người này khi chết sanh địa ngục hãi hùng, sanh ra trong địa ngục khủng khiếp, đó là người sanh bóng tối và hướng đến bóng tối.
"Ðại vương, người nghèo đói
Có tín, không xan tham,
Bố thí, thiện tư duy,
Có chí, tâm không loạn,
Ðứng dậy và chào đón
Sa-môn, Bà-la-môn,
Cùng các khất sĩ khác,
Tu học hạnh thăng bằng;
Không ngăn sự bố thí,
Cơm nước cho người xin;
Ðại vương, người như vậy,
Khi thân hoại mạng chung,
Ðược sanh lên Thiên giới,
Ôi Nhân chủ, người vậy,
Ðược gọi sanh bóng tối,
Nhưng hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Người thứ hai là từ trong bóng tối hướng đến ánh sáng đó là người này nghèo đói nhưng có lòng tin, không có xan tham. Tuy là nghèo khổ đói thiếu nhưng mà người này có lòng tin nhân quả, có lòng tin tội phước, có lòng tin nghiệp báo, có lòng tin tam bảo, không có xam tham, biết bố thí và suy nghĩ lành, thiện tư duy, suy nghĩ hiền lắm, suy nghĩ những cái điều hiền thiện. Khi gặp những bậc tu hành có đức hạnh thì người này đứng dậy chào đón, cung kính những cái bậc tu hành, những vị đáng kính, tu học một cái hạnh thăng bằng như vậy, không có ngăn cái sự bố thí của người khác, người như vậy đó khi nhắm mắt qua đời được sanh lên cõi trời, người như vậy được gọi là sanh trong bóng tối mà hướng đến ánh sáng.
"Ðại vương, người hào phú,
Bất tín và xan tham,
Keo kiết, ác tư duy,
Tà kiến, không lễ nghĩa,
Nhiếc mắng và mạ lỵ.
Sa-môn, Bà-la-môn,
Cùng các khất sĩ khác,
Không cho, làm phiền nhiễu,
Ngăn chận sự bố thí,
Cơm nước cho người xin.
Ðại vương, người như vậy,
Khi thân hoại mạng chung,
Phải sanh vào địa ngục.
Ôi Nhân chủ, người vậy,
Ðược gọi sanh ánh sáng,
Và hướng đến bóng tối." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Người sanh ở trong ánh sáng mà hướng tới bóng tối là một người hào phú, giàu có nhưng mà không có lòng tin, không tin nhân quả, tội phước, tam bảo lại còn xan tham, keo kiệt, suy nghĩ ác, tà kiến, không có lễ nghĩa, mắng nhiếc, mạ lị những bậc tu hành. Đã không cho mà còn gây phiền nhiễu cho những người tu nữa, ngăn chặn sự bố thí của người khác thì người như vậy khi nhắm mắt phải sanh vào địa ngục. Như vậy gọi là cái người từ ánh sáng hướng đến bóng tối.
"Ðại vương, người hào phú,
Có tín, không xan tham,
Bố thí, thiện tư duy,
Có chí, tâm không loạn.
Ðứng dậy và chào đón,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Cùng các khất sĩ khác,
Tu học hạnh hòa bình,
Không ngăn sự bố thí,
Cơm nước cho người xin.
Ðại vương, người như vậy,
Khi thân hoại mạng chung,
Ðược sanh lên Thiên giới,
Ôi Nhân chủ, người vậy,
Ðược gọi sanh ánh sáng,
Và hướng đến ánh sáng." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba. I. Người)
Trong bốn hạng người này mình thuộc về hạng nào ạ? Tự xét coi mình thuộc hạng thứ mấy? Bài kinh cuối cùng tựa đề là Cung Thuật nhưng mà ở trong đây lại nói về bố thí.
II. Bố thí
"Ở tại Sàvatthi.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Chỗ nào, bạch Thế Tôn, bố thí cần phải đem cho?
Thưa Ðại vương, tại chỗ nào, tâm được hoan hỷ." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Vua Ba-tư-nặc hỏi Đức Thế Tôn cần phải bố thí ở đâu, bố thí ở chỗ nào, Đức Phật nói chỗ nào mà nhà vua vui thích để đem cho cái chỗ đó thì nhà vua cho. Chúng ta thấy Đức Phật trả lời ngắn gọn mà hết sức là ý nghĩa, khi mình muốn bố thí thì mình có thích không? Mình thích làm cái đó, mình thích cho cái chỗ đó thì mình mới cho, còn mình bị ép thì mình có muốn cho không? Thí dụ mình đi gặp người ăn xin cứ năn nỉ xin hoài, có nhiều người bực mình không cho, nhưng mà người đó không ai kêu hết, người ta thấy, người ta muốn cho, người ta thích cho thì người ta đem cho. Vì vậy nhà vua hỏi Đức Phật bố thí ở chỗ nào thì Đức Phật nó chỗ nào mà bệ hạ thích, hoan hỉ thì bệ hạ bố thí ở đó, cho ở đó. Cái này là cái ý rất là hay, cái này từ người cho và người nhận phải học cái này, người ta thích, người ta hoan hỉ thì người ta cúng dường, nhất là mình người tu đừng có vận động nhiều, đừng kêu gọi, đừng có đưa ra chương trình này, đưa chương trình kia hoài. Nhiều khi người ta ở nhà khó khăn, khổ nên vô chùa, người ta muốn kiếm cái chỗ được yên mà vô thấy mình kêu thì họ sợ, a không biết chỗ nào nữa.
Đây là chỗ khéo cần học, Đức Phật dạy cái này hay lắm, người ta hoan hỉ người ta bố thí, người ta thích thì người ta làm mà cái này mới đúng nghĩa bố thí. Người ta vui thích, người ta hoan hỉ, người ta mong muốn thì người ta làm.
"Bạch Thế Tôn, chỗ nào cho được quả lớn?
-- Thưa Ðại vương, câu: 'Chỗ nào bố thí cần phải đem cho' khác với câu: 'Chỗ nào cho được quả lớn'." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Hồi nãy thì nên cho chỗ nào, bây giờ hỏi cho chỗ nào thì được kết quả to lớn, lợi ích lớn lao thì Đức Thế Tôn nhấn mạnh khác câu hồi nãy nhà vua hỏi nên cho cái chỗ nào với bây giờ cho chỗ nào thì được cái quả cái kết quả lớn. Hai câu hỏi này khác nhau, chúng ta thấy Đế Vương và Pháp Vương nói chuyện, một bậc là chủ của pháp một bậc kia là chủ của thế gian này. Đây là hai bậc toàn là trí tuệ, toàn là tầm nhìn rộng lớn, một người nhìn pháp giới, một người nhìn cả quốc độ.
"Thưa Ðại vương, cho người trì giới được quả báo lớn. Cho người không giữ giới không được như vậy" (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Chúng ta học ở trong đây chúng ta được nhiều cái trí tuệ lắm, nhiều cái thấy biết lắm và chúng ta thành tựu được nhiều cái khía cạnh, góc độ trong sự tu tập ở trong đời sống này lắm. Bây giờ bố thí cho ai thì được cái kết quả lớn, cái lợi ích lớn thì Đức Thế Tôn trả lời cho cái người trì giới được quả báo lớn, cho người không giữ giới thì không có được như vậy. Chúng ta nhớ nha, đây là những cái góc độ của sự bố thí, đầu tiên là hỏi nên bố thí chỗ nào thì Đức Thế Tôn nói chỗ nào bệ hạ thích, bệ hạ hoan hỉ thì bệ hạ cho, thứ hai là hỏi cho chỗ nào mà mình được cái kết quả lớn, cái lợi ích lớn thì Thế Tôn trả lời cho người trì giới, bố thí cho người giữ giới, người có giới hạnh, giới đức, còn người không có giữ giới thì không có được như vậy.
"Về vấn đề này, thưa Ðại vương, Ta sẽ hỏi Ðại vương, Ðại vương kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời câu hỏi ấy như vậy.
"Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, Ðại vương đang lâm chiến, và cuộc giao tranh đang tiếp diễn dữ dội. Rồi một thanh niên Sát-đế-lỵ đến, không có học tập, không có huấn luyện, không có thực tập, không có phục vụ, rụt rè, sợ hãi, run sợ. Ðại vương có chấp nhận người ấy không? Ðại vương có ủng hộ người ấy không, và một người như vậy có lợi ích gì cho Ðại vương không?
-- Bạch Thế Tôn, con không ủng hộ người ấy và một người như vậy không có lợi ích gì cho con cả. (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Nhà vua đang đánh giặc thì có một người con quan quyền nhưng lại không có học tập, không có huấn luyện, không có trình độ hiểu biết về đánh giặc cũng không có nghề võ gì hết, không có thực tập, không biết phục vụ gì trong quân đội, quân lính hết rồi người này rụt rè, sợ hãi, rung sợ, không biết gì hết thì đại dương có thu nhận người này không, có chấp nhận người này không, có ủng hộ cho người ấy không và người ấy có đem lại lợi ích gì cho đại vương trong lúc đang đánh giặc không. Một người như vậy thì vô ích.
"Rồi một thanh niên Bà-la-môn, không có học tập... Rồi một thanh niên Vessa (thương gia) đến... Rồi một thanh niên Sudda (Thủ-đà: cùng đinh) đến, không có học tập..., ... và một người như vậy không có lợi ích gì cho con cả." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Đức Phật ví dụ tiếp là có một thanh niên Bà-la-môn, hay là một thanh niên thương gia, hay là một thanh niên nghèo khổ cũng y vậy, không có học tập, không có hấn luyện, không có nghề võ cũng không có nghề văn, không biết phục vụ quân đội gì hết, rung rẩy, sợ hãi, yếu đuối, khiếp sợ như vậy thì nhà vua có nhận không. Dạ bạch Thế Tôn, con không có nhận, vô ích, đang đánh giặc mà nhận mấy người này vô làm vướng chân vướng tay thêm nữa thôi.
"-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, Ðại vương đang lâm chiến, và cuộc giao tranh đang tiếp diễn dữ dội. Rồi một thanh niên Sát-đế-lỵ đến, có học tập, có huấn luyện, có thực tập, có phục vụ, không rụt rè, không sợ hãi, không run sợ. Ðại vương có chấp nhận người ấy không? Ðại vương có ủng hộ người ấy không, và một người như vậy có lợi ích gì cho Ðại vương không?
-- Bạch Thế Tôn, con ủng hộ người ấy. Và một người như vậy có lợi ích cho con." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Khi đại vương đang lâm chiến trận, đang lâm trận, đang ở trong cuộc chiến giao tranh dữ dội mà có một thanh niên đến có học tập, có huấn luyện, có thực tập, biết phục vụ, không có rụt rè, sợ hãi, rung sợ, mạnh mẽ, oai hùng, giỏi văn, có nghề võ, rành đánh trận, biết phục vụ, có tài thao lược chinh chiến như vậy đại vương có ủng hộ người ấy không, một người như vậy có lợi ích cho đại dương không. Bạch Thế Tôn con ủng hộ người ấy và một người như vậy có lợi ích cho con, con sẽ ủng hộ người ấy, con sẽ chấp nhận người ấy, người như vậy có lợi ích trong lúc đang đánh giặc đang lâm
"-- Cũng vậy, thưa Ðại vương, dầu cho một người có xuất gia từ một gia đình nào, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đoạn trừ năm chi và hội đủ năm chi. Bố thí cho một người như vậy có quả báo lớn."(Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Chúng ta thấy Đức Phật nói chuyện với vua thì Đức Phật lấy những cái ví dụ ở trong chiến trận, ở trong triều đình thì nhà vua rất là dễ hiểu. Thế nào là năm chi được đoạn trừ?
"Tham dục được đoạn trừ, sân được đoạn trừ, hôn trầm thụy miên được đoạn trừ, trạo hối được đoạn trừ, nghi được đoạn trừ. Năm chi này được đoạn trừ." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Cúng dường, bố thí cho người đã đoạn tận năm triền cái, tham sân, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi sẽ có quả báo lớn, lợi ích lớn.
"Thế nào là năm chi được hội đủ? Vô học giới uẩn được hội đủ, vô học định uẩn được hội đủ, vô học tuệ uẩn được hội đủ, vô học giải thoát uẩn được hội đủ, vô học giải thoát tri kiến uẩn được hội đủ. Năm chi này được hội đủ.
Chính một người như vậy, năm chi được đoạn trừ, năm chi được hội đủ, bố thí cho người như vậy được quả báo lớn." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Ở trên là Đức Phật nói giới, dưới này Đức Phật mở rộng ra tức là đoạn năm triền cái và thành tựu năm cái pháp vô uẩn, thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến của bậc A-la-hán thánh Tăng. Chúng ta phải hội đủ cái vô học giới uẩn, giới của bậc vô học, định của bậc vô học, tuệ của bậc vô học, giải thoát của bậc vô học và giải thoát tri kiến của bậc vô học. Như vậy gọi là năm chi được hội đủ và bố thí, cúng dường cho những vị ấy sẽ được quả báo lớn, lợi ích lớn, chúng ta thấy ba cấp độ giới, kế đó là người đoạn trừ được năm triền cái và người thành tựu được năm cái vô học uẩn. Mình chưa tới đâu hết thì mình phải cố gắng.
"Thế Tôn nói như vậy. Rồi bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vị vua đang lâm chiến,
Sẽ giữ lại thanh niên,
Cung thuật được thiện xảo,
Dõng mãnh đầy khí lực.
Nhà vua không tuyển chọn,
Theo tiêu chuẩn thọ sanh.
Cũng vậy, người có trí,
Kính lễ bậc hạ sanh,
Bậc này sống Thánh hạnh,
Nhẫn nhục và hiền hòa.
Hãy làm cốc thoải mái
Dựng nhà cho đa văn,
Rừng khô làm bể nước,
Hiểm trở, mở đường đi.
Với tâm tư thanh tịnh,
Hãy cho kẻ trực tâm,
Cho đồ ăn, đồ uống,
Cho vải mặc, trú xá.
Như mây giông gầm thét,
Chớp sáng trăm đầu mây,
Nước mưa ào ào xuống,
Tràn đầy đất thấp cao.
Cũng vậy, bậc thiện tín,
Ða văn, trữ đồ ăn,
Thỏa mãn kẻ khất sĩ.
Kẻ trí tâm hoan hỷ,
Phân phát vật ăn uống,
Nói "Cho, hãy đem cho".
Như vậy, la, gầm, thét,
Mưa móc như thần mưa,
Các công đức to lớn,
Do bố thí mang lại,
Ðem mưa ân, mưa móc,
Trên những người bố thí." (Tương Ưng Kosala, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)
Chúng ta giải thích cái bài kệ này, vị vua đang ra chiến trường, đang lâm trận thì sẽ giữ lại một người thanh niên khéo léo bắn cung, tức là biết những cái võ nghệ ở trong chiến trận, sẽ giữ lại người mạnh mẽ, đầy khí lực chứ nhà vua không có tuyển chọn theo cái tiêu chuẩn của thọ sanh. Tức là không phải chọn cái giai cấp mà là chọn cái tài năng, cái thực lực của người đó, cũng vậy, cái người có trí kính lễ những cái người hạ sanh, tức là người sanh sau, người nhỏ hơn mình, bậc có trí sẽ sẵn sàng cung kính và đảnh lễ những người nhỏ hơn mình vì những người này sống thánh hạnh. Tại sao người có trí lại cung kính và đảnh lễ người nhỏ hơn mình? Tại vì người nhỏ đó là người sống hạnh của bậc thánh, người ta không có cần coi địa vị là cao, người kia là thấp, tuổi người ta, lớn tuổi người kia nhỏ mà người ta chú trọng vô cái đức hạnh hiền thiện, cao thượng, thánh thiện của người kia cho nên người ta cung kính, đảnh lễ. Vì người này là người nhẫn nhục, hiền hòa, người tu hành thánh đạo cho nên ở đây Đức Thế Tôn mới nói hãy làm cốc thoải mái tức là xây thất, làm cốc để cho các vị đó tu, dựng nhà cho đa văn là dựng nhà lên cho những bậc đa Văn Thánh đệ tử, những người tu hành nghe nhiều thánh pháp của Đức Phật, gọi là hãy làm cốc thoải mái, dựng nhà cho đa văn.
Rừng khô làm bể nước,
Hiểm trở, mở đường đi.
Nếu mà cái rừng khô khan thì đào hồ, đào giếng cho có nước cho mấy vị đó ở tu, sử dụng, hiểm trở thì mở đường đi cho các vị đó đi cho thông thoáng. Hãy đem cúng dường, bố thí cho người có tâm ngay thẳng, kẻ trực tâm, hãy đem cho họ đồ ăn, đồ uống, vải mặc, cho nhà cửa, phòng ốc, tịnh thất.
Như mây giông gầm thét,
Chớp sáng trăm đầu mây,
Nước mưa ào ào xuống,
Tràn đầy đất thấp cao.
Đây là một cái ví dụ thôi, sấm chớp gầm thét và mưa ào ào xuống, tức là nói lên cái lòng tin, cung kính, cúng dường, bố thí đối với những vị có đức hạnh tu hành, một cái tâm chân thành, tha thiết vậy đó. Cũng vậy người thiện nam tín nữ có lòng tin thì hãy đem đồ ăn để bố thí, cúng dường những bậc đa văn, những vị khất sĩ vì sẽ được công đức to lớn do bố thí mang lại như đem Ân mưa móc trên những người bố thí cái công đức. Cái công đức đó nhiều giống như mưa đổ xuống ào ạt như vậy. Đó là Đức Thế Tôn nói chuyện với vua Ba-tư-nặc, chúng ta thấy được trí tuệ của ngài rất là tuyệt diệu đó gọi là khế lý khế cơ, khi nào nhà vua trình bày cái gì thì Đức Phật lấy cái đó Đức Phật nói.
Đức phật thường nói nhà vua về cái thiện, cái ác, cái phước, Đức Phật nói về cái vô thường, cái sanh tử. Đức Phật khuyến khích để cho nhà vua biết cung kính, biết đảnh lễ, biết cúng dường những bậc tu hành dầu cho những người đó sanh trong giai cấp thấp nghèo hay là tuổi nhỏ, nhưng vì người đó tu thánh hạnh, đời sống cao thượng cho nên Đức Phật khuyến khích để tạo ruộng phước cho nhà vua gieo trồng vào trong cái ruộng phước vô thượng ở đời, để nhà vua được lợi ích ở trong hiện tại và tương lai. Chúng ta nhớ cái bài kinh Đại Thực thì nhà vua nhớ kêu người thanh niên nhớ bài kệ của Thế Tôn, mỗi bữa ăn của nhà vua đọc lên thì được thưởng một trăm đồng tiền vàng, nhà vua cảm thán Đức Thế Tôn thương tưởng ta ngay cả trong đời hiện tại và đời tương lai.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi thanh niên Sudassana:
-- Này Bạn, hãy đi đến và học thuộc lòng bài kệ từ Thế Tôn và trong khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy. Ta sẽ cấp thường nhật cho ông một trăm đồng tiền vàng.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala tuần tự hạn chế, cho đến chỉ ăn nhiều nhất là một nàlika.
Vua Pasenadi sau một thời gian, thân thể được khỏe mạnh, tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng sau đây: Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, III. Đại Thực: Ăn nhiều)
Chúng ta thấy đó là tình nghĩa của hai vị Đế Vương và Pháp Vương, một người thì vua của pháp, một người là vua ở đời, pháp chủ và quốc chủ, nhân chủ. Trong kinh ghi lại vua Ba-tư-nặc lạy dưới chân Đức Phật, hôn lên chân Đức Phật, xoa bóp bàn chân, Đức Thế Tôn hỏi tại sao nhà vua lại hết lòng cung kính, đảnh lễ ta như vậy vì hai người bằng tuổi nhau, năm đó cũng tám mươi với nhau, đó là năm cuối cùng của Đức Phật.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
-- Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
-- Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
-- Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì" (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Nhà vua hết lời ca ngợi, xưng tán, chúc tụng Đức Thế Tôn và chúng ta thấy được tình nghĩa của hai vị Phật và vua. Qua đây chúng ta học được rất là nhiều điều, nhất là các cái vị cư sĩ, hay là tu sĩ, chúng ta thấy cái cuộc đối thoại của hai ngài đem lại lợi lạc 2600 năm sau để chúng ta thấy được cái giá trị, cái ý nghĩa. Thứ nhất là từ bóng tối hướng tới bóng tối, từ bóng tối hướng tới ánh sáng, từ ánh sáng mà hướng tới bóng, rồi từ ánh sáng mà hướng tới ánh sáng, cái ví dụ là ví dụ giống như từ dưới đất leo lên kiệu, từ kiệu lên lưng ngựa, từ lưng ngựa lên lưng voi, rồi từ lưng voi lên lầu cao. Bây giờ ngược lại từ ánh sáng mà lại đi hướng tới bóng tối thì là từ lầu cao xuống lưng voi, từ lưng voi xuống lưng ngựa, từ lưng ngựa xuống kiệu, rồi từ kiệu xuống đất, rồi từ đất xuống hố, xuống vực sâu. Chúng ta thấy cái hình ảnh tuyệt vời không? Như vậy bây giờ muốn đi lên hay muốn đi xuống vực? Muốn hướng tới ánh sáng hay là muốn hướng về bóng tối? Muốn hướng tới ánh sáng là suy nghĩ cái gì cũng suy nghĩ thiện lành hết, nói cái gì cũng lựa lời lành nói hết, làm cái gì cũng lựa việc lành mà làm, an lạc, bình an, an ổn.
Hôm qua đó thầy Thiện Huệ dùng điểm tâm chung với Minh Thành chia sẻ thì Minh Thành thấy cũng rất là hoan hỉ, thầy nói niềm vui nhất sướng nhất của thầy, hạnh phúc nhất khi về đây là ở bốn tháng trong chúng không có một cái xích mích, không có một cái sức mẻ, không có ai cãi ai hết, thầy nói rằng là hiếm có khó gặp, hiền thiện thì đó là một cái niềm Minh Thành thấy rất là an ủi, rất là hoan hỉ, rất là vui. Thầy nói về đây bốn tháng trời an cư kiết hạ, tu tập với đại chúng mà không nghe có ai cự với ai hết, êm ấm, công việc thì lo làm, tới giờ tu thì tu, tới giờ học thì lên học rồi xuống, mạnh ai người nấy lo tu, lo học, êm êm ấm ấm, hài hài hòa hòa, tương kính với nhau, an hòa, chúng ta ráng cố gắng giữ gìn cái sự hòa hợp này, cùng nhau hướng tới ánh sáng đi vào trong ánh sáng rồi leo lên chứ đừng để rơi xuống cái hố, rơi xuống vực sâu.
Hôm nay mưa bão nhưng mà chúng ta cũng cố gắng, bên ngoài mưa bão mà lòng mình vẫn an trú vào pháp, chúng ta vẫn cố gắng tinh tấn học pháp, tu hành, Kính chúc tất cả quý vị bên ngoài mưa bão nhưng mà trong tâm vẫn bình yên trong pháp.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này.
Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần và dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài.
Mong tất cả có được trí tuệ thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.