Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Trí Năm Uẩn 9 - Thiên Chấp và Danh Xưng

2026-03-03 00:55:59
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 9

THIÊN CHẤP ĐO LƯỜNG VÀ DANH XƯNG

ĐĐ.Thích Minh Thành giảng

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Cái gì thiên chấp cái ấy được đo lường và danh xưng. Xin thưa đại chúng, khi chúng ta học về thánh trí năm uẩn này thì các huynh đệ đừng sợ, đừng ngại và cũng đừng suy nghĩ rằng "cái này khó quá, mình làm không được", đừng để những suy nghĩ và cảm thọ đó sanh khởi. Mình hãy mở tâm ra để đón nhận với tính cách lắng nghe, học hỏi để hiểu, để biết và để nhận định được cái cốt lõi của kinh tạng Nikāya. Còn việc chúng ta làm là việc khác, nhưng việc chúng ta nhận định là việc khác nữa. Mình đừng lẫn lộn là chuyện này khó quá, làm không được rồi không học. Có những người biết điều đó rất rõ nhưng chưa hẳn người ta làm điều đó, nhưng người ta biết một cách chính xác cái này là cái quý báu, và đối với người học Phật thì luôn luôn cái thấy đúng phải dẫn đầu, một khi có được cái thấy đúng thì nghĩ đúng, nói đúng sẽ theo sau. Cho nên Đức Phật nói này các Tỳ-kheo như sông Hằng chảy về phương Đông, hướng về phương Đông, nghiêng nhập về phương Đông, cũng vậy với chánh tri kiến chảy về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn, nhập vào Niết-bàn.

Minh Thành vừa rồi đứng bên bờ sông Hằng, đó là dòng sông mênh mông, bao la và rộng lớn. Dòng sông này chảy về phương Đông, khi đến đó Minh Thành không cầm được dòng lệ, cảm xúc hết sức sâu sắc. Quý huynh đệ đón xem, có thể Minh Thành sẽ đặt tên là "Chấn động thánh tích", riêng đạo tràng Nikāya là đi hai mươi mấy vị, còn đoàn là 180 người, bay thẳng qua Bồ Đề Đạo Tràng chỉ có ba, bốn tiếng, còn đi vòng là hai ngày mới đến nơi. MC Quỳnh Hương tổ chức và một vị Phật tử là tiến sĩ ở Hà Lan đã mời Minh Thành, thật sự Minh Thành khóc còn hơn cha mẹ mình mất khi đến Bồ Đề Đạo Tràng, đến Lâm-tỳ-ni, vườn Lộc Uyển và Câu Thi Na, những người Ấn Độ khi thấy Minh Thành khóc thì bàng hoàng, không biết chuyện gì xảy ra, vì lúc đó Minh Thành thiền quán, khóc và hét lên vì không kiềm được cảm xúc, lúc đó như có dòng điện chạy co giật toàn thân và tất cả mọi tế bào đều rúng động, như nỗi niềm chất chứa trong lòng để khi đến nơi đó được giải tỏa. Không phải riêng một mình Minh Thành nhưng Minh Thành là khóc nhiều nhất còn những vị khác là khóc sưng mắt. Sẵn dịp nói sông Hằng thì Minh Thành nhắc để các quý huynh đệ thấy rằng khi mình đọc trong kinh thì thấy xa vời, nhưng khi mình đến nơi, tận mắt chứng kiến thì giống như mới ngày hôm qua Đức Thế Tôn cùng các vị thánh chúng vẫn còn đi dọc bên bờ sông Hằng và nói những bài kinh. Xin thưa với các huynh đệ xúc động lắm. Khi đến Lâm-tỳ-ni thì huynh Thiện Trí ở Hà Lan, là người mời Minh Thành đi, mới vừa chỉ cho Minh Thành đây là tảng đá ghi dấu ngay chỗ Bồ Tác đản sanh thì huynh đó xúc động cũng là lúc Minh Thành òa lên khóc nhưng chỗ đó người ta không cho quay phim, rung động hết nhưng Minh Thành không quan tâm đến ai, cảm thọ trong người dâng lên là òa khóc nức nở không kiềm được. Đi chỉ vỏn vẹn sáu ngày, trong đó hết hai ngày đi đường, còn lại bốn ngày thì mỗi một ngày đi một thánh tích. Khi đến núi Linh Thứu là nơi Đức Phật giảng kinh, rồi đi vào hàng của ngài Ma-ha-ca-diếp và ngài A-nan thì Minh Thành cũng khóc, không thể diễn tả được, đặc biệt lắm. Mình phải cố gắng học một cách chân thành những lời Đức Phật dạy. Trở lại vấn đề chánh kiến xuôi về Niết-bàn, chúng ta học giáo trình thánh trí năm uẩn này để chúng ta xác lập chánh kiến, có một cái nhìn nhận chân xác về những lời Phật dạy, để không còn một cái nhìn nhận chung chung, lan man, không rõ ràng.

Trong Tương Ưng Bộ kinh, tập 3, bài kinh "Vị Tỳ-kheo", có một vị Tỳ-kheo đi đến bạch với Đức Thế Tôn, thỉnh Đức Thế Tôn dạy cho cách tu tập vắn tắt, con sẽ sống một mình, ở yên, không buông lung phóng dật, nhiệt tâm tinh cần. Trong Tương Ưng Bộ Kinh có rất nhiều bài kinh như vầy, các vị Tỳ-kheo đến lễ Phật và xin Phật nói pháp vắn tắt để cho vị đó y theo pháp đó mà về ở một mình để tu. Rất nhiều vị sau khi nghe xong trở về tu là chứng thánh quả.

Bạch thầy, thưa đại chúng. Cái gì thiên chấp cái ấy được đo lường và có danh xưng. "Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn thuyết pháp một cách vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

- Này Tỳ-kheo, cái gì người ta thiên chấp, cái ấy người ta được đo lường. Cái gì người ta được đo lường, cái ấy người ta được xưng danh. Cái gì người ta không thiên chấp, cái ấy người ta không được đo lường. Cái gì người ta không được đo lường, cái ấy người ta không được xưng danh.

- Con đã hiểu, bạch Thế Tôn. Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ.

- Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỳ-kheo, Ông đã hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

- Nếu thiên chấp sắc, bạch Thế Tôn, với sắc, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ. Nếu thiên chấp tưởng. Nếu thiên chấp các hành. Nếu thiên chấp thức, với thức, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh.

- Nếu không thiên chấp sắc, bạch Thế Tôn, với sắc, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ. Nếu không thiên chấp tưởng. Nếu không thiên chấp các hành. Nếu không thiên chấp thức, với thức, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Lành thay, này Tỳ-kheo! Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu một cách rộng rãi như vậy. Nếu thiên chấp sắc, này Tỳ-kheo, với sắc, người ta được đo lường. Với cái gì được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ. Nếu thiên chấp tưởng. Nếu thiên chấp các hành. Nếu thiên chấp thức, với thức, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu không thiên chấp sắc, này Tỳ-kheo, với sắc, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ. Nếu không thiên chấp tưởng. Nếu không thiên chấp các hành. Nếu không thiên chấp thức, với thức, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỳ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

- Rồi vị Tỳ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

- Rồi vị Tỳ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà con nhà lương gia chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

- Vị Tỳ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa" (Chương I.Tương Ưng Uẩn, III. Phẩm Gánh Nặng).

Sự chinh phục của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Kinh "Đáng Được Ăn", Tương Ưng Bộ, tập 3, trang 161. Nhân duyên ở Sàvatthi. Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ đều nhớ đến năm thủ uẩn hay nhớ đến một trong những uẩn này. Thế nào là năm? Này các Tỳ-kheo, có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, thân ta như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến sắc. Hay có người nhớ rằng:“Trong quá khứ, ta có cảm thọ như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thọ. Hay có người nhớ rằng:“Trong quá khứ ta có tưởng, có các hành, có thức như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thức.

- Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: Nay ta bị sắc chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục, như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại. Ta nay bị thọ chinh phục. Ta nay bị tưởng chinh phục. Ta nay bị các hành chinh phục. Ta nay bị thức chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thức chinh phục như vậy, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thức vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thức chinh phục, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với thức quá khứ, không có hoan hỷ đối với thức tương lai, và thực hành sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại.

- Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc, thọ, thưởng, các hành, thức là thường hay vô thường?

- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

- Là khổ, bạch Thế Tôn.

- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái là:“Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Do vậy, này các Tỳ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

- Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng, từ bỏ, không chấp thủ, xa lánh, không thân cận, phân tán, không huân tập.

- Giảm thiểu, không tăng trưởng cái gì? Giảm thiểu, không tăng trưởng sắc, giảm thiểu, không tăng trưởng thọ, tưởng, các hành, giảm thiểu, không tăng trưởng thức.

- Từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Từ bỏ, không chấp thủ sắc, thọ, tưởng, các hành từ bỏ, không chấp thủ thức.Xa lánh, không thân cận cái gì? Xa lánh, không thân cận sắc, thọ, tưởng, các hành xa lánh, không thân cận thức. Phân tán, không huân tập cái g? Phân tán, không huân tập sắc, thọ, tưởng, các hành phân tán, không huân tập thức.

- Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, đối với thọ, đối với tưởng, đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

- Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vị Tỳ-kheo không tăng trưởng, không giảm thiểu. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập.

- Sau khi phân tán, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu cái gì? Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu sắc. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu thọ, tưởng, các hành, không tăng trưởng, không giảm thiểu thức.

- Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ sắc; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ thọ, tưởng, các hành, không từ bỏ, không chấp thủ thức.

- Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận cái gì? Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận sắc; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận thọ, tưởng, các hành, không phân tán, không huân tập thức.

- Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập cái gì? Sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập sắc; sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập thọ, tưởng, các hành không phân tán, không huân tập thức.

- Sau khi phân tán, vị ấy trú, với tâm giải thoát như vậy. Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo ấy được chư Thiên với Thiên chủ, Phạm thiên chúng với Phạm thiên đảnh lễ, dầu cho ở xa:

Ôi, ta đảnh lễ Ông,

Bậc người như lương mã!

Ôi, ta đảnh lễ Ông,

Là bậc tối thắng nhân!

Ta không có chấp trước,

Đối tượng Ông Thiền tư!

Vị Tỳ-kheo đến hỏi Đức Phật xin Ngài dạy cho một cách vắn tắt thì Đức Phật đã dạy "cái gì người ta thiên chấp, cái ấy người ta được đo lường. Cái gì người ta được đo lường, cái ấy người ta được xưng danh". Những cái pháp này rất sâu sắc cho nên mình đọc không phải dễ hiểu, nếu không có trí tuệ căn bản, gọi là căn bản trí của những lời Đức Phật dạy thì đọc không hiểu, mà có hiểu thì cũng không chính xác và không đầy đủ.

Chúng ta thấy rằng khi Đức Phật hỏi thì vị này trả lời rồi Phật kiểm tra lại "Ta nói một cách vắn tắt như vậy thì Ông hiểu một cách rộn rãi như thế nào?", chứ không phải nói hiểu rồi thì Phật cho đi mà phải kiểm tra lại cái thấy, sự nhận định của vị Tỳ-kheo này. Nếu huynh đệ đọc trong Tương Ưng Bộ Kinh thì thấy rất nhiều, khi Đức Phật hỏi lại thì tất cả các vị đều y cứ vào ngũ uẩn để trả lời, đều phải lấy năm uẩn làm cơ sở để trả lời, nếu không lấy năm uẩn làm chân đứng thì như xây nhà không móng. "Nếu thiên chấp sắc, với sắc, người ta được đo lường", với thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy. Tất cả những cái gì Phật nói đều ở năm uẩn, rời năm uẩn ra thì còn gì để nói, sắc là bao trùm hết tất cả thế gian, thọ, tưởng, hành, thức là tâm, ngoài những cái này ra thì còn gì khác để nói. Chỗ này mình phải nắm vững, đây là mật mã của toàn bộ hệ thống giáo pháp của Thế Tôn, trí tuệ về năm uẩn là mật mã để mở ra cánh cửa của đại tạng kinh. Nếu không thành tựu trí năm uẩn, không nhìn ra năm uẩn, không thấy rõ được năm uẩn thì cái tu học của mình không có chân đứng.

"Cái gì người ta thiên chấp thì cái đó người ta sẽ đo lường". Lường là suy lường, là lường xét. Đo là cân đo đong đếm, nhiều ít, cao thấp, đẹp xấu, hơn thua. Thiên là nghiêng. Chấp là bám vào trong đó, nắm chặt, nhưng chấp ở đây Đức Phật giải thích này các Tỳ-kheo nơi nào có dục và tham thì nơi đó có chấp thủ, tức là dục tham đi chung với chấp thủ, tham muốn cái gì thì trong đó có chấp thủ. Chấp thủ sắc, mình chiêm nghiệm sẽ thấy rất rõ, hễ có tham muốn, ưa thích, bám víu vào trong sắc đó thì người đó nhất định sẽ có cân đo đong đếm, mập ốm, giàu nghèo sang hèn…Ví vụ người này ưa thích lỗ mũi thì đương nhiên người này sẽ nhìn thấy và để ý lỗ mũi hoài, để ý lỗ mũi mình và lỗ mũi người khác. Khi người này thấy người khác có lỗ mũi cao, đẹp hơn lỗ mũi mình thì người này ao ước có mũi cao, đẹp như vậy. Có thể người này đi nâng mũi, đây là mình nói cái thô của thế gian, còn nói bình thường là người này sẽ đo lường lỗ mũi, so sánh. Nếu người này có dục tham ái và chấp đối với con mắt thì người này luôn luôn để ý con mắt của mình và con mắt của người khác, người này sẽ thiên chấp và đo lường ở trên con mắt đó. Suốt ngày xem những con mắt đẹp, những nhiếp ảnh gia đi săn ảnh, suốt ngày mở ảnh lên xem, chụp ngày đó, năm đó, tháng đó tại cổng trời, thức sáng đêm để canh, khi mây vừa xuất hiện là chộp ngay khoảng khắc, và bức ảnh này đẹp hơn bức ảnh kia, bức ảnh cuối năm tuyệt vời hơn bức ảnh chụp lúc hè không có mây. Như vậy hễ có thiên chấp là có đo lường, mà có đo lường là có danh xưng, có tên gọi. Từ một cái đó mình hiểu ra tất cả cái khác đều như vậy. Cái này tuyệt diệu vô cùng, có dục và tham là có thiên chấp, mà có thiên chấp là có đo lường, có đo lường là có tên gọi, là xấu, là đẹp, là đẳng cấp cao, vừa hay thấp. Ví dụ người này trước đó có một múi, tập thể dục lên được bốn múi và đang phấn đấu có sáu múi. Khi người này được sáu múi thì đi đâu cũng ở trần. Các huynh đệ thấy không? Xin thưa là sáu múi này vô thường, vài bữa không chăm kĩ lưỡng thì trở lại một múi và sẽ sầu bi khổ ưu não, đây là thiên chấp. Đây là cái pháp tối thượng, giải quyết hết triệt để tất cả khổ đau. Tất cả những cái dục, những cái tham chấp, những cái ái, những cái đo lường, danh xưng là đặt trên sắc uẩn, căn cứ trên sắc uẩn để nói, căn cứ trên sắc uẩn để suy xét, gọi tên. Cho nên cái gì người ta không thiên chấp thì cái ấy người ta không có đo lường, mà cái gì người ta không đo lường thì cái ấy người ta không gọi tên. Đây là chỗ thâm sâu, nếu không thành tựu trí năm uẩn thì thật khó để hiểu.

Thiên chấp, đo lường và danh xưng ở đâu? Nếu thiên chấp thọ, cảm giác. Cái này bắt đầu sâu sắc, mình có dục, có tham, có ái đối với cảm giác. Ví dụ mình thiên chấp với cái giờ, đúng 8h30 chuông reo mà học lố năm phút là sẽ khác, tất cả tâm đều bị dao động và thấy khó chịu. Vì mình thiên chấp vào tiếng chuông đó, thiên chấp vào cái giờ đó, thiên chấp vào con số đó nên mình có đo lường, có tính toán. Đúng tiếng chuông đó, đúng con số đó, đúng giờ đó phải được nghỉ, và mình có tên gọi "đến giờ rồi", mình không phá được thiên chấp, cái đo lường và danh xưng thì lúc đó lỡ như có thêm năm, mười phút hoặc nữa tiếng, một tiếng đối với người chân chánh cầu pháp cũng bình thường, không có dao động, mà càng hân hoan thích thú. Vừa rồi Minh Thành qua thăm Hòa Thượng Thượng Viên Hạ Giác của chùa Từ Tân, là phó ban hoằng pháp của Hà Nội Phật giáo, Hòa Thượng ngồi nói chuyện với Minh Thành năm tiếng, đàm luận về kinh Nikāya, không ăn cơm luôn, cơm đem lên Hòa Thượng nói để đó, không ăn, nói từ hai giờ chiều đến bảy giờ tối, cho nên không thiên chấp thì không có đo lường, không có đo lường thì không có tên gọi, không có gọi tới giờ ăn cơm. Ví dụ cái phòng của mình ở, mình có thiên chấp vào đó không? Có đo lường chỗ đó không? Có danh xưng chỗ đó không? "Cái phòng này là phòng của tôi, cái đơn này của tôi, cái gường này của tôi", đó là có danh xưng, mà tại sao có? Tại vì có đo lường, vì có thiên chấp, mà có thiên chấp là có tham ái đối với sắc uẩn đó, đối với suy nghĩ đó, đối với cái thức đó, trong đầu của mình hiện ra "đó là phòng của tôi, cái chõng đó là tôi, là của tôi", cảm giác dễ chịu khi bước vào phòng là có liền, mình đi xa, đi lâu mà trở về mở cửa phòng ra thì nó thân thiện, nó dễ chịu vô cùng. Chết! Phải phá tung cảm giác đó, chỗ đó là chỗ chết, dục tham và chấp thủ, ái sẽ đưa đến sầu bi khổ ưu não. Chỗ đó vô thường, vài bữa có người khác vào ở, vài bữa mình được chuyển qua chỗ khác thì lúc đó khổ. Ai thích sắc là người đó thích khổ, ai thích khổ là người đó không thể giải thoát khỏi khổ. Đó là định luật, thành ra khi một cảm giác ái, thích khởi lên như người Phật tử nói với thầy "thầy ơi, đi đâu cũng không bằng nhà của mình", có một bài ca nói rằng thế giới bao la nhưng không bằng nhà mình. Câu này ghê gớm lắm! Đây là vô minh và tham ái hết sức nặng nề nhưng mình nghe lại khoái "thế giới mênh mông bao la nhưng không bằng nhà mình". Tại vì trong đó có tham, có ái, có chấp thủ chứ làm gì có chuyện thế giới bao la, rộng lớn như vậy mà không bằng cái nhà nhỏ của mình, chỉ có dục tham, ái, chấp thủ trong đó, sự đo lường trong đó, danh xưng trong đó, "nhà mình" chính là danh xưng. Cái sắc đó, cái cảm giác khi tiếp xúc với nó, những suy nghĩ về nó, những cái tưởng về nó, cái thức rõ biết về nó thì trong đó có chữ ái to lớn, một chữ chấp to lớn và một cảm giác ấm áp, thân quen, về mà thấy cái gường chỉ muốn nằm xuống, lăn qua trở lại. Trong đó đầy rẫy dục tham, ái, chấp thủ và vô minh, có một bạn trẻ mới mười lăm tuổi có người yêu, cô bạn gái thích một chiếc xe, bé trai này không có tiền mà bạn gái mình thích kiểu xe đó. Cậu này mới gọi Grab đúng ngay chiếc xe đó giết người ta chết để cướp xe đưa cho bạn gái. Xin thưa với các huynh đệ rằng khi tòa tuyên án chung thân thì bé này không thấy sợ hãi, không khóc lóc trong khi mẹ xỉu lên xỉu xuống. Khủng khiếp lắm, một khi đã dục tham, đã thiên chấp thì có chết cũng được, cái ngũ uẩn trùm vô trong đó rồi là đi ra không được, đó là sự đau lòng cho tất cả chúng sanh vô minh và khát ái, không biết đường để thoát ra, chỉ nghĩ để cho bạn gái vui mà giết người hại mình, hủy hoại cả một cuộc đời. Mình nhìn thấy được những sự nguy hại của dục tham, của thiên chấp đối với năm uẩn, mình phải nhìn được nguy hại thì từ từ mình mới giảm tốc để dừng lại, nếu không là không có chỗ dừng, cứ lao tới và cuối cùng là rơi xuống vực sâu.

Cái gì người ta không thiên chấp thì cái ấy người ta không đo lường, mà cái gì không đo lường thì cái ấy người ta không có danh xưng. Tại vì người ta không có dục tham, không có thiên chấp, không có so sánh thì không chạy theo những danh xưng giả hiệu, những tên gọi đó. Để mình trị cái không thiên chấp, không dục tham là phải nhìn bảy trí về sắc, phải thấy được sắc là gì, sắc tập khởi, sắc doạn diệt, sự nguy hại của sắc, vị ngọt của sắc, sự thoát ly khỏi sắc, mình phải thành tựu bảy trí tuệ về sắc uẩn và mình phải luôn luôn quán chiếu Thân Hành Niệm, sáu phương pháp để thấu suốt được bản chất của sắc uẩn này, niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi, phải quán thâm sâu về cái này nếu không thật sự khó. Đừng nói chi những suy nghĩ vi tế, những hình bóng, những nghĩ tưởng bên trong dính trong dục tham mình không thấy do không thành tựu trí huệ về năm uẩn, suy nghĩ lòng vòng trong thọ, hành, thức.

Vị Tỳ-kheo sau khi nghe lời Phật dạy là sống một mình tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, không bao lâu là đạt "mục đích mà con nhà lương gia chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến vô thượng cứu cánh Phạm hạnh". Đó là các bậc A-la-hán ngày xưa, các bậc này được Phật dạy pháp cho là về đoạn tận dục tham ái trong năm uẩn và thành tựu. Vì đúng chánh pháp, thấy rõ đường đi, thực hành theo là có kết quả. Bây giờ mình cứ nói dục tham và chấp nhưng chấp cái gì, rồi cái gì chấp? Sắp tới Minh Thành sẽ đem bài "Chấp thủ và cái bị chấp thủ" trong Tương Ưng Sáu Xứ giảng trên Linh Quy Pháp Ấn, mình phải nắm và phải biết thì mới có khả năng tháo gỡ nó ra.

Sự chinh phục của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chỗ này hết sức sâu sắc, bao quát hết tất cả. Nếu có một người nào "nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ đều nhớ đến năm thủ uẩn", "có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, thân ta như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến sắc". Bây giờ mình suy nghĩ hay mình tưởng tượng thì nếu mình nghĩ trước kia thân thể tôi là như vầy, bây giờ thân thể tôi như vậy và sau này tôi sẽ như thế. Thì đó là nhớ về sắc, có khi ngồi một mình lại nhớ lại hồi mười tuổi, mười lăm tuổi đã từng yêu như thế nào, đã từng khổ như thế nào lại cạo đầu vào chùa, mình đã từng trải qua những tuổi thơ cơ cực, vất vả, mình đã từng bị mẹ ghẻ hành hạ, mình đã từng anh chị la mắng hay bị những hoàn cảnh éo le, nhớ lại thân thể mình như vậy, dáng vóc như vậy, con người mình như vậy thì đó là mình nhớ lại cái sắc uẩn của quá khứ, nói kỹ sẽ là sắc tưởng quá khứ. Mình đã từng có cảm giác như vậy khi lớn lên, những cảm giác đi học về mẹ đứng chờ ngoài cửa cho củ khoai lang, cái bánh, hay là dọn cơm sẵn, những cảm giác khóc nức nở khi bị ba đánh đòn, những cảm giác lớn lên vào trường bị bạn bè khinh khi, lấn lướt, ức hiếp, những hình ảnh, cảm giác, cái tưởng hiện ra, những suy nghĩ ùa về, sống lại thì tất cả những cái đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức của quá khứ. Quá khứ tôi đã như vậy, có một thân thể như vậy, có những cảm giác như vậy, những cái tưởng như vậy, những cái suy nghĩ như vậy, những cái nhận thức của tôi như vậy và bây giờ tôi đã như vầy và sau này tôi sẽ như thế đó. Tất cả cái đó là ngũ uẩn của quá khứ, của hiện tại và của tương lai. Có cái nào đi ngoài năm uẩn không? Tất cả những suy nghĩ, tưởng tượng, thân thể của mình có cái nào ra khỏi năm uẩn không? Nó bao trùm hết trời đất vũ trụ, trong khi mình nhớ lại những cảnh được thương yêu thì mình có thích không? Có tham đắm trong đó không? Đây là cảm thọ, cũng có tưởng và hành, là ái, là dục, là tham, chấp thủ nằm trong đó. Một là mình khoái, thích thú, mong muốn tìm lại cảm giác đó. Hai là bực bội, sân hận, cái sâu xa trong này là ý xúc, là sự tiếp xúc sâu xa ở bên trong, những cảnh này đã mười lăm năm, hai chục năm trước nhưng giờ mình nhớ lại những hình bóng đó, ánh mắt đó, nụ cười đó và cái nắm tay ấm áp, làm cho mình lưu luyến, bịn rịn, nhớ nhung rồi những lời mắng chửi làm mình sân hận, tức tối và nhập cuộc vào trong đó mà không biết đó là sắc quá khứ, thọ của quá khứ, thức quá khứ, hành quá khứ mà cho đó là những kỉ niệm của tôi và tự ngã của tôi, mình bị đắm chìm trong đó và không đi ra được. Không thiên chấp, không đo lường, không danh xưng, biết sắc là vô thường, này các Tỳ-kheo thọ vô thường, thức vô thường, là trống rỗng và vô ngã. Trở về với thực tại, chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh táo là mình an trú ngay thực tại, còn cái này mình đi đắm chìm trong quá khứ là mình chết chìm trong đó. Ngũ uẩn chi phối cả cuộc đời của mình và vô lượng kiếp của mình đều trong đây.

"Vị Đa văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: Nay ta bị sắc chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục, như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục". Một vị đa văn thánh đệ tử, một người tu học Phật suy nghĩ những hình ảnh hiện lên thì tác ý như thế nào? Ở đây Đức Phật đang chỉ cách như lý tác ý, chỉ cách quán chiếu để mình thoát ra. Hiện tại ta bị tiền chinh phục, bị hình dáng thiếu nữ trẻ đẹp chinh phục, bị chiếc xe đó chinh phục, bị những cảm giác êm ái, thân thương chinh phục, nếu như nay ta bị chinh phục ta cũng phải nhớ rằng trước kia ta cũng đã bị sắc chinh phục. Bây giờ ta bị chinh phục thì trước kia ta cũng bị chinh phục như bây giờ ta bị chinh phục nếu như ta hoan hỷ đối với cái sắc tương lai thì ta bị chinh phục nữa. Đã bị chinh phục, đang bị chinh phục và sẽ bị chinh phục nếu ta thích thú trong sắc, câu này cực kì sâu sắc. Khi mình bị cái gì chinh phục, mình phải dập đầu trước Phật, bây giờ "con bị bóng hồng đó chinh phục con rồi, giống như ngày xưa con cũng từng bị một ngàn đóa hoa hồng chinh phục trong vô lượng kiếp. Từ trẻ đến giờ ít nhất cũng hàng chục", hàng chục dưới miền Tây cũng hết mười sáu hoặc mười tám, "nếu con còn ưa thích cái sắc này thì mai đây con cũng bị chinh phục, không phải hàng chục mà lên tới hàng tá, hàng trăm. Thế Tôn hãy gia hộ cho con thánh trí về năm uẩn, gia hộ cho con quyết tâm mạnh mẽ để con từ bỏ cái sắc khốn đốn và hoạn nạn này. Cái sắc này chinh phục con và con đã chiến bại trong nhiều kiếp rồi Thế Tôn ơi. Cái sắc này đã làm con đau khổ trong vô lượng vô biên kiếp. Ngày xưa con đã mê, tới giờ con cũng mê thì tương lai con vẫn mê. Trong vô lượng kiếp sau con vẫn si mê, si ám với cái sắc này. Thế Tôn ơi! Xin hãy cho con có sức mạnh để nhìn thấy con bạch cốt tinh này". Quán chiếu đống thịt bầy nhầy này để văng óc, văng mỡ ra, văng đầu lâu ra một đống tóc, máu mủ. "Con phải quán Thế Tôn ơi! Con phải làm con ngoan của Ngài, con phải nghe lời Ngài dạy, phải quán chiếu tứ đại bất tịnh và chín giai đoạn của một tử thi. Quyết tâm ly tham, yểm ly từ bỏ, chấm dứt sự tham ái, đau khổ trong đống thịt dơ bẩn này, cái thân lủng lỗ xấu hổ này. Thế Tôn ơi!". Đây chính là như lý tác ý, sự quán chiếu mỗi khi dục tham ái, sân si sanh khởi. "Con bị chinh phục bởi những cảm giác này, con đã gục ngã bởi những cảm giác này. Ngày xưa con đã từng gục ngã, nếu con hoan hỷ với cảm giác này thì tương lai con cũng bị những cảm giác này chinh phục nữa. Suốt vòng luân hồi này con mãi mãi là kẻ chiến bại hay sao? Trong khi Thế Tôn và những bậc A-la-hán là những bậc sát tặc, giết được giặc phiền não, nhiếp phục và chinh phục là đấng chiến thắng. Con là đệ tử Thế Tôn con quyết định phải nỗ lực, thăng tiến lên. Con không thể mãi mãi bị sắc, thọ, tưởng, những suy nghĩ chinh phục. Con phải chinh phục lại ngũ uẩn, con phải chinh phục được lòng dục tham, lòng khát ái đối với những sắc, thọ, tưởng, hành, thức này".

"Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại". Đây là bí pháp, đây là chánh pháp tối thượng, là đạo lộ giải thoát. Do vị ấy quán chiếu như vậy, do suy nghĩ như vậy và do tác ý như vậy nên không luyến tiếc đối với sắc ở quá khứ. Sắc ở quá khứ là vô thường, chỉ còn là bóng dáng. Không hoan hỷ đối với sắc ở vị lai, Minh Thành mới hay một tin có một vị thượng tọa bị ung thư máu đã qua đời và một vị Hòa Thượng thông tin cho Minh Thành hay do vị thượng tọa mới mất nên được sắc phong lên làm Hòa Thượng, Minh Thành nghe tin đó thì đau lòng, quán chiếu lại đời tu của mình. Tới lúc mình lên được tới Hòa Thượng, chữ Hòa Thượng viết tắt là HT cũng là hỏa táng, còn thượng tọa viết tắt là TT là từ từ vào lò, cho nên chẳng có cái gì ở trong danh xưng đó, nếu không đạt được thánh trí thì cũng chỉ là hữu danh vô thực. Vị này thông tin là thượng tọa đó mất rồi mới được phong lên Hòa Thượng, Minh Thành nghe xong là muốn rụng rời, cuộc đời này chẳng có cái gì là chắc vậy mà mình chết không biết bao nhiêu lần để đi tìm cái hư danh đó, mình bị sắc chinh phục, bị những cảm giác và nghĩ tưởng đó chinh phục. Mình ngồi thiền mà những hình bóng, suy nghĩ sanh khởi lên thì mình có dám từ bỏ một cách mạnh mẽ không hay là mình đi theo đó. Nếu những hình ảnh dễ thương, khả ái liên hệ tới dục hấp dẫn là mình vẫn đi theo, mình không phát giác ra được nó là cái gì. Mình phải phân loại ra đây là hành uẩn hay thọ uẩn, tưởng uẩn, hay là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, phải thấy rõ nó là cái gì thì sau đó mới có biện pháp xử lý nó. Tu cái này là đánh phá trực diện vào những tham sân si, dục ái đối với ngũ uẩn, đây là thánh pháp tối thượng của Đức Thế Tôn, thánh trí năm uẩn này là bom nguyên tử phá địa ngục tham sân si cho nên mình "không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại". Ôi cha! Tuyệt diệu làm sao! Đây là con đường xuất ly, là đạo lộ giải thoát. Bắt đầu tu cho tới chung cuộc sự tu không rời khỏi những chữ này, đây là quán triệt trước sau từ bước đầu tiên cho đến bước cuối cùng. Những sắc trong hiện tại mà mình nhìn thấy là đồ dỏm, đồ tạm bợ, có cái gì trong này mà dục, mà tham, mà ưa thích. Mình quán như vậy hoài thì sẽ nhả ra từ từ, cuối cùng mình nhìn thấy nhẹ nhàng, lỡ có mất đồ đạc thì cũng bình thường, mình quán như vậy thì thậm chí cái chết có cận kề cũng không sao. Đó là thánh quả!

"Ta nay bị thọ chinh phục. Ta nay bị tưởng chinh phục. Ta nay bị các hành chinh phục. Ta nay bị thức chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thức chinh phục như vậy, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thức vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thọ, tưởng, hành thức chinh phục, như nay ta bị thọ, tưởng, hành, thức hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, không có hoan hỷ đối với thọ, tưởng, hành, thức tương lai, và thực hành sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại". Chữ ly tham hay vô cùng, Đức Phật giải thích ly tham trong kinh là sắc, thọ, tưởng, hành, thức là pháp ly tham, là cái không đáng để mình tham. Chữ ly tham ở đây Đức Phật nói là cái tính chất của sắc, đó là tánh chất không đáng để mình tham, tại vì nó vô thường, tan hoại, đổ nát thì làm sao mình lại tham. Cho nên bản chất, tính chất của nó là bản tánh không đáng để mình tham, gọi là tính ly tham của pháp. Thành ra ly tham này bản tính của pháp là như vậy, còn mình tu mà mình tương ứng được với bản tính đó thì chứng thánh quả. Cho nên chánh tri kiến là để thấy được đống sắc này có tính chất không đáng để mình tham, khi mình quán bất tịnh, quán cái sự dơ bẩn, hôi thối, tan vỡ của nó thì mình thấy nó là cái không đáng để mình tham, như vậy gọi là tính ly tham của ngũ uẩn. Những cảm giác cũng vậy, sanh diệt liên hồi, mới yêu rồi hận, thân rồi thành thù, những cảm giác này cũng không đáng để mình tham. Những hình bóng trong nội tâm cũng vậy, là cái không đáng để mình tham, những suy nghĩ trong vô minh, khát ái, trong nghiệp cũng không đáng để mình tham. Đây là một trong những đề tài trong cuốn "Nghi thức tu học Nikāya", trong đó hai mươi lăm pháp quán thì có quán tánh ly tham của năm uẩn, huynh đệ đọc sẽ hiểu được từ này. Quán tánh ly tham là quán sát, chiêm nghiệm, tư duy, nghiềm ngẫm cái tính chất không đáng để tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

-Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ như thế nào tất cả những vật chất, những thân thể, những hoàn cảnh, những cái sắc, cảm giác, nghĩ tưởng… là vô thường hay thường?

-Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là:“Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
-Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Do vậy, này các Tỳ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là:“Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Đây là định lý của giải thoát, không phải chuyện đơn giản, không phải đọc qua là có thể hiểu mà phải quán các câu này năm mươi năm, một ngày vừa đọc một ngàn lần vừa quán, quán cho tới ngày chết thì thôi. Bất cứ cái gì vừa khởi lên mình đều nói rằng "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", "đây là thứ vô thường, phiền phức", khi vừa khởi lên cái bực thì "mệt quá mày ơi, tối ngày cứ thầm thì, thủ thỉ bực người này giận người kia để làm gì". Mình phải làm cho tâm mình là một nội tâm tịnh chỉ, làm cho nó lắng dịu, bình an. Đây là sự tu tối thượng, còn đằng này thậm chí có lên ngồi thiền thì bao nhiêu suy nghĩ, cái tưởng hiện trong đầu liên tục, mình không biết cách dừng vì không biết như lý tác ý. Thứ nhất mình không nhìn thấy cái nào ra cái nấy, không nhìn ra được năm uẩn, các huynh đệ đừng sợ, phải thực tập ba pháp, phải thực tập cảm giác toàn thân cho vững, tiếp theo là thực tập nhận diện năm uẩn từ từ. Khi mình đã thấy được năm uẩn thì rất tuyệt vời, mình đã có chân đứng trong pháp và luật, có mảnh đất để xây chùa còn không là trắng tay. Mỗi khi khởi lên những thọ, tưởng, hành mình phải nói "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", để cho cái mối kiết sử của mình được nới lỏng ra từ từ, mình mở được ba mối là Nhập lưu (Tu-đà-hoàn), mình mở được năm mối là Bất lai (A-na-hàm), mình mở được mười mối là A-la-hán.

Mình đang bị mười kiết sử, năm thượng phần và năm hạ phần trói buộc. Mở ra được hết thì mình là người tự do tự tại. Mở được ba sợi đầu thôi là đi hoằng pháp chinh phục thế giới, chinh phục vũ trụ và chư Thiên cũng phải đảnh lễ dưới chân. Mở được ba sợi đầu là vừa phá thân kiến, nhìn thấy năm uẩn và phá được chấp ngã của vô minh thì lúc đó đã là bốn đôi tám chúng, đã đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Phá được thân kiến, thành tựu chánh kiến. Khủng khiếp như vậy cho nên phải nỗ lực, đừng phi như lý tác ý, đừng suy nghĩ ngược lại mà phải suy nghĩ phương diện tích cực, tinh tấn và cảm thấy hạnh phúc vô cùng khi trong thời đại mạt pháp mà mình lại tìm được thánh pháp bị lãng quên hơn 2000 năm qua. Phải cố gắng, vui sướng, hạnh phúc, hoan hỷ, cảm nhận sự tuyệt vời này để mình bám vào đó, dùng cả tính mạng, tâm lực, trí lực, sức lực, nguyện lực, hạnh lực để dấn thân vào trí huệ này thì quý huynh đệ sẽ có cơ hội tuyệt vời trong vô lượng vô biên kiếp.

Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.