Sám Hối Diệt Ngã 1 - Ý Nghĩa - Lợi Ích & Mục Đích - Bỏ Danh Tướng
Tinh Hoa Nikāya
Giảng Giải Bài Sám Hối Diệt Ngã 1
Ý Nghĩa - Lợi Ích
Mục Đích - Bỏ Danh Tướng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò tu tập PAGEREF _Toc174201091 \h 1
II. Mục đích, ý nghĩa tu tập sám hối diệt ngã PAGEREF _Toc174201092 \h 3
III. Vô thường – trống rỗng PAGEREF _Toc174201093 \h 10
I. Dặn dò tu tập
Trong sự tu học của chúng ta có hai pháp mà nhất định phải thực tập sâu sắc thì mới có thể đứng vững trong dòng pháp Nikāya chính là thực tập tâm hiền và thực hiền diệt ngã. Nếu không vững hai pháp này thì mình sẽ không có chân đứng trong dòng pháp Nikāya cho nên đây là hai sự thực tập tiên quyết mình phải có. Những bài mà Minh Thành chia sẻ là tư liệu để chúng ta mở lên nghe và thực tập tác ý mỗi ngày, chúng ta thực tập lâu dài để hoàn toàn thể nhập vào tâm hiền, để cảm thọ được an tịnh, lắng dịu trong mọi trường hợp.
Hôm qua khi nghe trình pháp Minh Thành có những chỗ hoan hỉ, khói bay vào mắt đúng ra sẽ có cảm thọ khó chịu nhưng mình nhiếp phục cảm thọ kêu nó hiền dịu, chúng ta phải thực tập trong từng cái nhỏ nhiệm như vậy. Trong sự tu học thì tác ý là tuyệt đối quan trọng vì Đức phật đã nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Nếu chúng ta không tác ý thì thiện pháp không sanh khởi được, Thánh pháp không sanh khởi được, tuệ giác không sanh được cho nên trong tu tập thì đại đa số là tác ý, người nào siêng năng tác ý thì người đó sẽ có trí tuệ sắc sảo, sắc bén. Trong bài kinh Niệm chết có cụm từ "tận lực tác động ước muốn", sáu chữ này rất quan trọng.
"Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo trong khi suy xét như vậy, biết được như sau: 'Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta', thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (X). Niệm Chết (2))
Khi tu bất kì pháp nào đều phải dốc hết sức lực tác động tâm ý pháp đó và có ước muốn để thành tựu pháp đó một cách mạnh mẽ, sau đó là tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, chánh niệm tỉnh giác. Trong bài kinh Niệm tử có một vị Tỳ-kheo nói bản thân mong muốn ngày đêm tác ý đến lời Phật dạy.
"Ðược nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm chết.
- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn'. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))
Đoạn này nghĩa không sáng tỏ, tại sao niệm tử mà lại nói như vậy? Nghĩa là ý của vị thầy này nói rằng có thể mình chỉ sống được ngày hôm nay thôi, ngày mai có thể chết. Tiếp theo đó có một vị thầy khác trình pháp cho Đức Phật rằng dù chỉ sống nửa ngày cũng tác ý đến lời dạy của Thế Tôn thì nghĩa Tiếng Việt là có thể vị này chỉ sống được nửa ngày thôi, trong nửa ngày đó vị này cũng nhớ nghĩ đến lời dạy của Thế Tôn cho nên được Thế Tôn khen ngợi niệm tử như vậy rất tốt. Một vị thầy khác nói có thể sau bữa ăn sẽ chết, một vị khác nói có thể ăn chỉ nửa bữa thôi là chết, những vị này đều được Đức Thế Tôn khen ngợi. Khi đọc lời kinh mình không hiểu, không làm sáng được ý nghĩa lời kinh nhưng sáng nay khi ngồi thiền Minh Thành hướng tâm vào bài kinh này thì ý nghĩa lời kinh được sáng tỏ.
Ở Ấn Độ đa số là ăn bằng tay, khi Minh Thành qua Ấn Độ đi thăm các trường thiền quốc tế hoặc qua Thái Lan thăm các trung tâm thiền quốc tế vẫn ăn bốc tay. Trong kinh vị này nói có thể mình chỉ ăn bốn năm miếng ăn là ngã ra chết, nghĩa là bốc tay ăn được bốn năm miếng là chết, vị ấy niệm tử như vậy đó. Vị khác nói có thể đang ăn một miếng hoặc chỉ nửa miếng là chết, vị thầy cuối cùng nói một hơi thở vào nhưng hơi thở ra thì đã chết, vị ấy niệm tử như vậy. Đức Thế Tôn khen các thầy niệm tử như vậy sẽ đạt đến cảnh giới bất tử, Thế Tôn chỉ dạy các thầy phải nhớ niệm chết cho tinh cần, tu tập cho sung mãn thì sẽ chứng ngộ cảnh giới bất tử. Minh Thành chứng kiến dưới quê có một người đang ăn cơm tự nhiên ngã xuống được đưa vào bệnh viện nhưng không kịp, khi chúng ta để tâm vào pháp thì pháp sẽ sáng ra.
II. Mục đích, ý nghĩa tu tập sám hối diệt ngã
Trở về vấn đề thì hai pháp quan trọng là tâm hiền và phương pháp diệt ngã phải được thực tập thường xuyên, đối với người xuất gia phải tác ý diệt dục mỗi ngày. Từ lâu Minh Thành đã mong muốn giảng giải bài sám hối diệt ngã nhưng cũng chưa đủ duyên, lúc trước đã chia sẻ nhưng chưa được trọn vẹn về bài sám hối diệt ngã, đây là bài rất quan trọng trong nghi thức tu tập để những người trong đạo tràng hiểu sâu sắc và đầy đủ về những lời sám hối, tác ý. Chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu kĩ về bài sám hối diệt ngã này, trước khi vào bài thì chúng ta sẽ nói tổng quát về công năng, tác dụng và ý nghĩa của sám hối diệt ngã.
"Bản ngã là duyên đưa đến lỗi lầm, sân hận, chia rẽ, đổ vỡ. Người bản ngã cao, tâm trọng danh, trọng tướng, không trọng pháp thì khó lòng đi vào trong Thánh pháp này. Người tìm danh thì đến với danh. Người tìm pháp thì đến với pháp. Người tìm đến và muốn tu học trong Thánh pháp này thì phải khéo nắm giữ những pháp đã được thấy, được nghe, được học rồi áp dụng vào trong tự thân để nhận diện tự thân, nhận diện những dục, ái, sân, si, bản ngã trong tự thân và như lý tác ý để nhiếp phục chúng, nhiếp phục bản ngã, nhiếp phục cấu uế, lậu hoặc trong tự thân. Nếu giữ cái bản ngã to cao, hoặc bản ngã ngấm ngầm để đi vào trong chánh pháp này, rồi tìm danh, tìm tướng trong chánh pháp thì khó lòng thể nhập vào chánh pháp.
Bản ngã chính là chấp danh. Bản ngã chính là chấp tướng. Người bị bản ngã chi phối thì tìm danh, tìm tướng, tu danh, tu tướng, khó lòng tu tập chánh pháp chân thật của Đức Thế Tôn. Vì vậy, để có thể bước vào trong Chánh pháp, hành giả cần phải thấy rõ cái bản ngã hư ảo do danh tướng của những ngũ uẩn này ám ảnh trong nội tâm mà thành lập. Hành giả cần phải thấy rõ những khổ đau, phiền não mà bản ngã đã mang lại cho mình trong hiện đời và nhiều đời sống trước. Hành giả cần phải thấy rõ bản tánh duyên sanh, vô thường, tạm bợ của danh, của tướng của bản ngã. Nay mặt người, mai mặt thú, mặt súc vật súc sanh hay mặt ma, mặt quỷ, hay những gương mặt thống khổ trong địa ngục… Thật khó biết được những gương mặt ngày mai của mình! Thật là vô thường, biến đổi và đa dạng là những gương mặt ngày mai của tâm vô minh này!
Vì vậy, đừng chấp thủ, đừng bám chặt vào gương mặt tạm bợ của ngày hôm nay rồi nhận nó là mình, là của mình, rồi ta đây, ngã mạn, tự đắc, tự cao, sân si, hóng hách, phách lối, hơn thua, tạo nhiều ác nghiệp… Hãy luôn cẩn thận và luôn nhắc nhở mình sự vô thường của thân mạng này, của gương mặt này, của đời sống này… Một cơn gió độc thổi qua… Một tai nạn xe cộ… Một mạch máu bị đứt vỡ… Tất cả ở hiện tại này sẽ dừng lại, sẽ chấm dứt… Để rồi một gương mặt mới lại xuất hiện, gương mặt của một con ma, hay gương mặt của một con quỷ, hay gương mặt của một con chó, con bò, con heo, con rắn, con trùng, hay những gương mặt con người nhưng dị dạng với những cái đầu to gấp đôi đầu của những đứa bé bình thường với những cặp mắt vô tri, vô giác… Gương mặt nào ở ngày mai sẽ là gương mặt của ta… Vì vậy, hãy coi chừng, có thể chiều nay hoặc sáng mai đã là đời sau của mình, là kiếp sống tiếp theo của mình và mình lại tiếp tục thọ lãnh những gương mặt mới phù hợp với duyên nghiệp mà mình đã làm, đã tạo với gương mặt hôm nay… Như vậy, bản ngã hay sự chấp danh, chấp tướng trước gương mặt này và những gương mặt xung quanh mà không nắm bắt Thánh pháp mà Đức Phật đã truyền trao, đó là một thiệt thòi to lớn, một tai hại to lớn cho người muốn tu học trong Thánh pháp này.
Bị bản ngã chi phối, bị danh tướng khống chế, bị hình thức thống trị, không có mục đích chân chánh khi đến với đạo Phật, không biết mục đích chân chánh trong đạo Phật thì sẽ khó lòng tiếp nhận những nhân duyên thù thắng khi được tiếp cận, được thấy, được nghe Thánh pháp chân thật cao quý thần diệu này. Do đó, sự quán chiếu bản ngã và nhiếp phục bản ngã là một trong những điều đầu tiên cần được tu tập, cần được thực hành để có thể chân chánh bước vào trong chánh pháp vi diệu của Đức Thế Tôn, đó là lý do mà chúng tôi đã biên soạn bài “Sám Hối Diệt Ngã”.
Cách diệt ngã trong bài này là hành giả tập cho tâm mình luôn cúi đầu sát đất dưới chân của tất cả mọi người, dù là người bần tiện hay người cao sang, người lớn tuổi hay người nhỏ tuổi, người tu hay người không tu. Hành giả giữ trong tâm mình hình ảnh thân tướng tứ đại vô thường này quỳ gối với đầu cúi sát xuống đất dưới chân của người. Trong khi thực hành như vậy, hành giả tác ý an trú trong cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, dễ thương, tâm nhẹ nhàng, khả ái và hoan hỉ với cảm thọ khiêm cung, hoan hỉ với hạnh khiêm cung, hạnh quỳ lạy đầu cúi sát đất.
Trong khi đầu cúi sát đất, hành giả thầm tác ý: “Lạy người cho con xin được xả cái bản ngã này ra… Lạy người cho con xin được diệt cái bản ngã tồi tệ xấu xa này… Lạy người cho con xin được xả cái bản ngã hư ảo tạm bợ này vào lòng đất...”. Nếu hành giả tác ý an trú tâm như vậy, an trú tướng như vậy liên tục trong một thời gian dài thì chắc chắn bản ngã trong hành giả sẽ lắng dịu, giảm thiểu, từ đó hành giả sẽ có thể bước vào những Thánh pháp thâm sâu, vi diệu, tế nhị, thanh cao.
Hạnh quỳ gối đầu cúi sát đất này cũng là đức hạnh mà chúng tôi đã tu tập trong nhiều năm trước đây. Nhờ thực hành đức hạnh này mà chúng tôi thấy rõ bản ngã trong tự thân ngày càng lắng dịu, ngày càng nhỏ nhiệm, ngày càng diệt tận, thân tâm luôn sẵn sàng cúi đầu quỳ xuống trước mọi người với tâm khiêm hạ, ngoan hiền, cung kính, hân hoan. Nhờ tu tập thuần thục và an trú trong một tâm ngoan hiền, cung kính như vậy kết hợp với trí về ngũ uẩn trong tự thân thì khi được khen hay khi thành tựu điều gì hành giả không khởi tâm tự mãn, ta đây, bản ngã không phình trương to, không kiêu hãnh, tự đại, tự cao để rồi sau đó rơi vào lầm lỗi, tạo nghiệp rồi phiền não, khổ đau. Đó là ý nghĩa, lợi ích và mục đích của hạnh diệt ngã này và của bài “Sám Hối Diệt Ngã”. (Nghi Thức tu học Nikāya)
Trên đây là nói về ý nghĩ, mục đích và lợi ích của việc thực hành sám hối diệt ngã, tại sao chúng ta phải thực hành hạnh diệt ngã, hạnh diệt ngã có lợi ích gì, mục đích của việc thực tập hành trì hạnh diệt ngã là gì. Như trước nay chúng ta đã tìm hiểu, chúng ta ở trong tâm không thấy không biết, ở trong tâm mê muội, mê lầm, ảo tưởng về một tự ngã, trong cái tưởng của mình có hình bóng của tự thân, trong suy nghĩ của mình có một cái ta, cái tôi, trong cảm giác có một bản ngã ngấm ngầm, trong nhận thức cũng vậy.
Như vậy một sự ảo tưởng về tự ngã, một suy nghĩ sai lệch cho rằng có tôi, một cảm giác lầm lạc về bản ngã có thật và một nhận thức trong vô minh về tự thân, tự ta, tự ngã, bốn cái mê lầm này xoay quanh sắc uẩn này và nó làm hang, làm ổ, làm tổ đối với bộ xương này, đối lớp lớp da này, đối với lớp máu mủ, ruột thịt này, vậy là thọ; tưởng; hành; thức buộc chặt lấy sắc uẩn này, giữ chặt, nắm chặt lấy và làm căn cứ địa, làm hang ổ trong đó. Tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức cho rằng có một cái tôi chỉ là sai lầm, là không thấy không biết đúng sự thật vô minh, si mê, từ đó có ra biết bao dục ái, sân hận, hơn thua, tranh đấu hiện hữu trên cuộc đời này. Đó là gốc rễ của tất cả khổ cảnh, nó tràn ngập khắp thế gian, từ nguyên nhân sâu xa là cho rằng có một bản ngã, có một cái tôi, ta, tao, mi, tớ.
Các bậc Thánh phá được thân kiến này thì hoài nghi, giới cấm thủ cũng tiêu tan, Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất. Cho nên bước đầu tiên tu học chánh pháp là phải nhắm vào tự ngã, chấp ngã để đánh đuổi, dẹp bỏ, diệt tận bằng mọi cách như lời Đức Phật đã dạy "tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác". Trong mọi cảm giác, mọi suy nghĩ, mọi hình bóng, tư tưởng, mọi nhận thức đều phải loại bỏ quan điểm về tự ngã vì cái này đã trở thành một thứ thâm căn cố đế, tích tụ ngàn năm trong nội tâm cho nên đây là cả một sự cố gắng, nỗ lực, tận lực ước muốn diệt tận bản ngã thì mới có khả năng thoát ra khỏi nó, nếu không tất cả thế gian đều gục ngã trước bản ngã, cả thế giới đều gục ngã trước cái tôi.
Đừng nói gì phàm phu mà đến chư thiên và các bậc hiền Thánh thông thường chưa phải là Thánh đệ tử đều không thoát khỏi bản ngã vì nếu thoát khỏi thì các vị đó đã chứng ngộ Niết-bàn, cho nên bản ngã là một thứ rất thâm sâu, vi tế, thật khó giác hiện ra nó nếu không nhận diện ngũ uẩn cẩn trọng. Tất cả chúng sanh đều gục ngã trước cái ta, chết mà không biết mình bị nó hại chết, tất cả sự đau khổ của chúng ta đều bắt nguồn từ sự ảo tưởng về tự ngã. Đây là chỗ quyết định của người học đạo, thành hay bại là ở đây, một người có cái tôi lớn không thể học, không thể tu được, dù có học thì chỉ học kiến thức Phật học thôi, có tu thì chỉ tu ngoài da, làm được một chút thiện pháp mà thôi, không thể thành tựu được trí tuệ chân thật của Đức Phật truyền trao nếu không để ý, để tâm, không dốc lòng tận lực ước muốn để nhiếp phục, chế ngự và diệt tận bản ngã này.
Huynh đệ nói chuyện với nhau rồi lát sau người kia chỉ trích, chê bai thì mình bực bội, khó chịu vì người kia "khinh thường tôi", "chê tôi", "chỉ trích tôi". Bị mất món đồ nào thì "tôi bị mất đồ", "đồ đó của tôi", cái nào cũng gắn chữ "tôi" trong đó nên khổ. Lúc trước được yêu thương mà giờ không được thương nữa nên khổ ,"mình bị ghét", "mình không còn được thương nữa" cho nên tất cả đau khổ trên cuộc đời này đều bắt nguồn từ cái tôi vì nếu không có tôi thì ai chỉ trích ai, ai bị chê bai và ai chê bai, nếu thấy nó chỉ là tứ đại ngũ uẩn thì ai thương ai, ai ghét ai, ai mất đồ, đồ của ai, cái "ai" đã không có thì làm gì có đồ của ai.
Một khi đã thể nhập Thánh trí huệ thì diệt tận cái khổ, đạt được tâm bất động giải thoát, tất cả mọi chuyện trên thế gian này không có gì làm cho tâm dao động vì không có "mình" nữa, nhưng muốn thể nhập được cái này thì đây là cả một công trình tu tập, phải tận lực tác động ước muốn, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, chánh niệm và tỉnh giác. Phải dốc hết sức, tập trung tâm ý nhìn thấy sự chấp ngã đó để nhiếp phục, chế ngự và diệt tận nó, đó là bổn phận của người xuất gia, chỉ có như vậy mới phá được thân kiến để Nhập Lưu, mới phá được cái nhìn sai lầm về thân, mới tham dự vào dòng chảy trí tuệ của các bậc Thánh.
Một ngày chúng ta khởi tâm ý được bao nhiêu lần để diệt ngã? Chưa nói khởi lên được bao nhiêu tiếng mà chỉ nói là được bao nhiêu lần tác ý để diệt bản ngã, khi bản ngã sanh khởi mình có thấy được nó không, khi nó an trú, khi nó chấm dứt mình có thấy được nó không? Nếu chúng ta không tu học dòng pháp này, không thực tập những phương pháp này thì chúng ta hoàn toàn không thấy không biết, chúng ta hoàn toàn sống ở trong ảo tưởng về tự ngã, về tự thân. Như vậy nói tu để diệt khổ mà nguồn cơn của khổ mình không thấy không biết, gốc rễ của khổ mình không rành không hay, căn bản của khổ mình không thức không tri, vậy thì làm sao có thể nhiếp phục, diệt tận khổ đau này?
Khi ngồi ngoài trời nghe pháp mà thấy lạnh thì có suy nghĩ "tôi lạnh quá, chắc chịu không nổi" thì tác ý lập tức "tôi ở đâu hỡi tâm mê này? Ở đây không có tôi nào cả, đây chỉ là tứ đại ngũ uẩn, đem tứ đại này cầu Thánh pháp bất tử". Khi tác ý như vậy thì ý nghĩ lo lắng, sợ hãi cái lạnh lẽo bị tác ý đánh gục, đánh ngã, đánh đổ. Đối với tu tập mà thấy mệt mỏi, buồn chán cũng phải lập tức tác ý. Đó là chúng ta giải thích thân kiến, bản ngã, chấp ngã, cái mấu chốt, cốt lõi trong sự hành trì, tu tập. Bản ngã là cái duyên đưa đến lỗi lầm, sân hận, chia rẽ, đổ vỡ, mình giận lên là do mình thấy người kia xúc phạm mình, lúc nào cũng có cái tôi, cái mình nên mới giận cho nên giận càng nhiều thì bản ngã càng lớn, người nào hay giận và thường giận thì bản ngã rất cao to. Bản ngã làm chia rẽ và đổ vỡ, những cái này chúng ta đã chia sẻ rất nhiều lần rồi.
Tiếp theo là "người bản ngã cao, tâm trọng danh, trọng tướng, không trọng pháp thì khó lòng đi vào trong Thánh pháp này". Như thế nào là trọng danh và như thế nào là trọng tướng? Hai chữ này đọc đơn sơ nhưng bao trùm trời đất, trọng tướng là chú trọng vào hình thức màu mè, lòe loẹt, suốt ngày chỉ thích tô điểm cho cảnh, cho ngôi chùa, càng ngày càng bị tham ái vào sắc pháp, sắc tướng, vào những màu sắc nhưng trong nội tâm ai đụng vào là đầy tham, sân, si.
Như vậy thì thật đáng tiếc cho cuộc đời tu, chúng ta bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết lục thân quyến thuộc để vào tìm những hình tướng vô thường, những hình tướng sớm nở tối tàn như hoa phù dung, những hình tướng rộn ràng phải mất biết bao thời gian để chuẩn bị để có một buổi lễ, vất vả cực khổ mất ăn bỏ ngủ rồi sân si, chưa kể là dục, ái, tham trong đó, làm để thể hiện cái ta, tôi tài giỏi. Đó là trọng danh, trọng tướng và suốt cuộc đời chúng ta vùi lấp trong danh tướng, cả cuộc đời lấy danh tướng làm sự nghiệp tu hành, cả cuộc đời làm cho ngôi chùa đẹp, cả cuộc đời lấy bằng cấp cho cao để nổi danh.
Đáng thương xót lắm thay!
Nhìn lại nội tâm đầy rẫy những tham muốn, ưa thích, dính mắc, nhìn lại nội tâm đầy rẫy sân hận, bức xúc, gay gắt, cộc cằn, nhìn lại nội tâm là một cái tôi, cái ta to tướng. Cay đắng cho người tu chúng ta, đau khổ cho người tu chúng ta, tủi nhục cho chúng ta, một đời chúng ta cạo bỏ mái tóc, từ giã tình thân thương cao thượng của cha mẹ rồi đi vào làm những chuyện của thế gian để được tiếng khen, đối với đạo lộ của Đức Thế Tôn truyền trao không thấy không biết, chưa từng đặt bước chân lên để đi.
Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di,
Hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị?
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Dịch nghĩa: Chỗ đi năm trước, một bước chẳng dời,
Mờ mịt một đời, lấy gì nương tựa?
Chỉ với hai chữ "danh tướng" có thể giết chết cuộc đời tu của chúng ta, giết chết pháp thân huệ mạng của chúng ta, giết sự nghiệp tu hành đạo hạnh của chúng ta. Đại nghiệp xuất thế của chúng ta sụp đổ hoàn toàn trong những màu sắc lòe loẹt đó, trong những âm thanh náo nhiệt đó, chúng ta mê muội, yêu thích trong đó. Cả đời tu chúng ta đi học chỉ để biết một số kiến thức không thì để biết tụng niệm ê a, không thì làm để được một cái chùa rồi tự mãn.
Xót xa lắm thay!
Đau lòng lắm thay!
Con tim mình đau đớn và đau khổ trong cả đời tu, không gặp được bậc chân nhân, không thấy được bậc chánh kiến chỉ dẫn cho mình đạo lộ Thánh đạo rồi cả đời mù mịt, mờ tối, đi trong bóng đêm. Tu hai ba chục năm không biết mình đang ở đâu, không biết mình đi tới đâu và cũng chẳng biết mình sẽ đến đâu, con đường trước mặt là mịt mù không biết về đâu.
III. Vô thường – trống rỗng
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Vì mù lòa nên mới yêu thích, mới say mê trong những hình sắc đó, mới mê những cái vô thường, mê những đống đất đó, mê những đồ bằng gốm đễ tan vỡ đó. Cả cuộc đời chúng ta phải chiêm nghiệm và quán chiếu hai chữ "danh tướng" này, đó là hình tướng và danh tiếng. Chiếc áo đang mặc trên người, căn phòng, tịnh thất, ngôi chùa, cảnh trí, những món đồ chỉ là sắc tướng. Danh là tiếng khen, là địa vị, danh vọng ở đời, còn địa vị và vị trí mà tất cả chúng ta phải vào là cái mộ, là hủ cốt trên bàn thờ, phải thường nhớ như vậy, dù cho ở địa vị nào đi nữa thì địa vị thật sự là ở dưới lòng đất.
Trăm năm kiếp sống, một phút hơi tàn,
Công danh sự nghiệp áng mây tan,
Phú quý vinh hoa cơn gió thoảng
Ba tấc hơi vừa dứt,
Một ngọn lửa rực hồng,
Nhặt được chỉ nắm tro tàn,
Chôn vùi dưới lòng đất lạnh.
Phải có cái nhìn, cái thấy như vậy mới phá được hết tất cả danh tướng hư ảo trên cuộc đời này, không bị những hình tướng mê hoặc, không bị những tiếng khen, danh lợi lôi kéo, dẫn dắt mình. Phải có cái nhìn sâu sắc và triệt để về danh tướng hư ảo của cuộc đời này thì mới có tịnh tín bất động đối với chánh pháp, đối với sự thật, nếu không danh lợi như gió thổi mình bay mất. Thế Tôn dùng hai hình ảnh là cột trụ chôn sâu dưới đất và bông gòn ở giữa ngã tư, ngã bảy, khi gió thổi thì cột trụ bất động nhưng bông gòn thì bay tứ tung.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỳ-kheo". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IX. Cột Trụ)
Người nào thành tựu được niềm tin xác quyết đối với chánh pháp của Đức Phật thì tâm như trụ đá chôn sâu, còn người nào học phất phơ, vào chùa tu qua loa, không nỗ lực tinh cần, tăng thượng giới – định – tuệ thì chỉ cần một cơn gió thổi nhẹ là bay mất chiếc y, bay niềm tin, bay sự nhận thức trong pháp. Có đến tám ngọn gió thế gian thổi bay hết mọi thứ, tiền tài thổi là bay, lợi lộc thổi là bay, hủy nhục thổi là bay, được khen chê thổi là bay.
"- Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (V).Tùy Chuyển Thế Giới (1))
Một là lợi, hai là suy, ba là hủy, bốn là dự, năm là xưng, sáu là cơ, bảy là khổ, tám là lạc, đó là tám ngọn gió thổi bay chúng ta nếu không có chánh kiến, không có sự tu tập về tri kiến của bậc Thánh. Cái thấy đó phải thấu đáo và cứng chắc trong nội tâm, dù chết cũng không để mất cái thấy biết về vô ngã, vô thường, cái thấy biết về ngũ uẩn vô thường, nó như cột trụ chôn sâu, đó là tịnh tín bất động, nghĩa là lòng tin thanh tịnh bất động, không lay chuyển thì mới có thể chiến thắng nổi hai chữ "danh tướng" của thế gian. Thấy người ta xây chùa đẹp rồi cũng bắt chước vì sợ thua kém người ta, thấy người ta cúng cho thầy thì mình cũng phải làm giống vậy, xưa bày nay làm, bắt chước làm theo chứ không tìm hiểu cái nào đem lại lợi ích thiết thực, thật sự.
Trong ngày giỗ của thầy thì tất cả đại chúng lên hành thiền, tuyên đọc lại những lời dạy Thánh pháp của Đức Phật, cùng nhau giữ sự im lặng của bậc Thánh, trùng tiên lại Thánh pháp, đứng lên nhắc lại công hạnh của thầy, nhắc lại những lời di huấn của Đức Thế Tôn trước giác linh của sư phụ mình sẽ có ý nghĩa tuyệt vời, vi diệu, tối thượng. Mình biết hết những điều này nhưng thấy người ta làm có trống kèn rồi mình cũng làm theo có trống kèn vì sợ không làm thì bị người ta nói.
Từ từ sự chân thật bị phai nhòa, mờ nhạt, chỉ còn lại những hình thức bề ngoài, những màu sắc lòe loẹt, còn cái thật bên trong lại cực kì hiếm hoi và khó gặp. Chúng ta học đạo là đi tìm cái thật chứ đừng chạy theo hình thức và danh tiếng, một khi đạt được cái lõi thật sự thì mình mới thấy được sự bất khả tư nghì của Thánh trí huệ, không có cái gì trên cuộc đời có thể so sánh được. Vì thế người có bản ngã cao chỉ trọng danh, trọng tướng chứ không trọng pháp, nếu không trọng pháp thì danh tướng di chuyển một chút là bỏ đi chỗ khác hoặc không tu nữa.
Bây giờ vào được bầu làm quản chúng, làm tri sự nhưng có lỗi lầm được nhắc nhở kêu về tu để các chú khác lên làm thì buồn, nghĩ thầy không trọng dụng mình nữa nên bỏ đi. Đó là người đặt nặng vào danh chứ không coi trọng pháp, còn người coi trọng pháp mà được về tu thì lại càng thích, sư phụ thương mới cho tu nhiều. Nếu không tu thì đến chết cũng không hiểu được tâm tư của người thầy, không chỉ trong kiếp này mà nhiều kiếp sau cũng không hiểu.
Bậc trí tuệ là thấy những cái mình không thấy, biết những cái mình không biết, hiểu những cái mình không hiểu, họ đã vượt ra khỏi giới vực của mình nhưng do bản ngã của mình cao nên mình cứ nghĩ theo mình rồi cuối cùng là đổ vỡ, ly tán, không thì phiền giận, oán hờn, mình có phước mà không biết hưởng. Mình được sống trong tâm từ thấm đượm mà mình lại chết khát trong dòng nước mát đó, mình chết khát trong hồ sen, tất cả cũng chỉ vì bản ngã cao, trọng danh tướng chứ không trọng pháp.
Những điều này Minh Thành đã chứng kiến rất nhiều cho nên thật sự là thương cho mình và thương cho người, thương cho hữu tình chúng sanh, đi đâu cũng vác theo bản ngã to đùng như núi Tu-di trên vai, đi đâu cũng phán xét người ta chứ không nhìn lại tự thân mình, đi đâu cũng nhìn ngó, soi mói. Thật sự trụ trì là làm dâu trăm họ, kêu bằng "sư phụ" rồi lạy nhưng lên đây toàn chỉ dạy lại mình, mình chỉ biết ngồi đó nghe rồi cảm ơn chứ còn biết nói gì nữa. Hết cô rồi tới chú, ông, lên là chỉ dạy thầy phải làm như vầy, phải sắp lại như vầy, như vậy thì làm sao tu?
Mình đã lên tới bảo sơn là núi pháp, núi báu mà mình không chịu cầu, không chịu học bảo vật, pháp bảo, chỉ muốn thể hiện, phô trương bản ngã của mình ra, ở nhà con cháu đã mệt mỏi với mình rồi, lên trên đây cũng phình to bản ngã ra nữa. Thật là tội nghiệp, thương thật là thương nhưng không dám nói vì nói là họ giận, bỏ về không tu nữa, có la rầy cũng phải nói nhẹ nhàng. Người xuất gia cũng vậy, vào tu không được do bản ngã quá cao, lúc đầu còn quỳ lạy nhưng thời gian sau dạy lại thầy luôn, điều này có sự liên hệ với bài kinh Người vợ trẻ, Đức Phật đã nói những điều này cách đây 2600 năm trước rồi.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: 'Hãy đi đi, các người có biết được gì!'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: 'Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!'". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV). Người Vợ Trẻ)
Lúc mới vào thì gọi nghiêm trang sư phụ, gặp ai cũng chào lạy một cách rụt rè, e dè, cẩn trọng, giữ gìn nhưng ở một thời gian sau là bung càng ra, hở ra là kẹp, đó là đang thể hiện bản ngã nhưng không hề hay biết, tu một thời gian rồi trở thành người như vậy. Tu trong vô minh, tu trong không thấy không biết, không nhìn lại để nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tự thân, chế ngự bản ngã, diệt tận tham, sân, si.
Nhìn người tu không biết nhiếp phục, không biết chế ngự, không biết quay lại nhìn bản thân rất ngao ngán, cái tôi, cái ta quá lớn, đó là sự nguy hiểm và tác hại của bản ngã mà tự thân người đó không biết cho nên cần thực tập hạnh diệt ngã thật nhiều, ngày nào cũng phải tác ý diệt bản ngã, đập cái bản ngã cho nát ra để khỏi kiếm chuyện, gây sự, vênh váo với ai nữa. Khi bản ngã sanh khởi lên giống như cơn điên, mẹ con, cha con, anh em, thầy trò không còn biết ai nữa, con cái ở xa mấy trăm cây số lên chăm sóc mình nhưng mình sân lên là nó sợ chạy mất, sau đó nhìn lại thấy xấu hổ và sám hối lập tức.
Phải đào sâu vào trong tâm nhìn thấy sự vận hành của các uẩn, nhìn thấy được những ý niệm, những cảm thọ một cách sâu sắc. Đức Thế Tôn đã nhập diệt, hiện tại thì những người tu là những người còn các lậu hoặc, phiền não nên cần nắm chặt vào pháp, tuyệt đối tin vào pháp, đừng hướng ngoại nhìn ra bên ngoài mà hãy nhìn vào nội tâm, an trú trong pháp, nắm chặt vào pháp để tu, không còn gì lay chuyển được. Sám hối diệt ngã có lợi ích vô lượng vô biên, công đức như hư không đưa chúng ta đến Thánh đạo, Thánh quả, Thánh trí, Thánh giải thoát. Vì thế từ ngày hôm nay trở đi phải an trú vào pháp diệt ngã thật nhiều, càng nhiều càng tốt, bên cạnh đó cần tác ý, quán chiếu, hình bóng trong tự thân là quỳ lạy mọi người.
Chúng ta thường nhầm lẫn giữa ái và ngã. Khi mình dự định học nhưng muốn nằm ngủ là dục ái, không ai bắt buộc nhưng tự mình ra thời khóa tu tập rồi mình không làm theo mà chỉ muốn nằm ngủ, đó là dục ái, là mong muốn, thích thú nghỉ ngơi. Bình thường ngủ đúng giờ thì không nói nhưng đây là do mình ấn định, muốn làm nhưng cuối cùng thua sự yêu thích ngủ nghỉ, đó là tham ái chứ không phải bản ngã. Sự yêu thích, thúc giục nằm xuống ngủ, ý hành đó, cảm thọ đó, cái tưởng đó là dục ái chứ không phải bản ngã. Chúng ta cần nhận diện cho chính xác, cái nào ra cái đó, không được lẫn lộn, từ từ chúng ta sẽ thấy được chính xác trong tâm.
Mỗi khi trình pháp cần nói cái nào ra cái đó, sắc ra sắc, thọ ra thọ, tưởng ra tưởng, hành ra hành, thức ra thức, không được nhận diện như phát biểu cảm tưởng, nếu như vậy là mình không rõ pháp. Ngoài ra trong sự học đạo phải phá được giai cấp, nếu mình nghĩ mình lớn hơn, tu lâu hơn, tuổi hạ cao hơn là mình không tu được, cái hơn ở đây là người ta học pháp trước mình, người ta đã thực hành rồi còn mình chưa học, chưa thực hành thì đương nhiên người ta hơn mình cái pháp.
Ở đây không tính tuổi đạo, không tính tuổi đời mà chỉ tính pháp thôi, không trọng danh, không trọng tướng mà chỉ trọng pháp, có như vậy mới hạ gục được bản ngã. Nếu không thì không thể học pháp được, uổng đời tu cho nên phải diệt tận ý niệm cao, thấp, bằng, không có ai ở đây ngoài đống tham, sân, si, bản ngã, hạ thấp cái đống này xuống mới học được pháp, có vậy phép màu mới xuất hiện. Minh Thành học pháp không phải là Hòa Thượng mới học mà ngay cả một vị cư sĩ Minh Thành cũng có thể lạy dưới chân nếu vị đó có chánh pháp.
Ý nghĩ cao, thấp, tuổi hạ lâu hơn là một chướng ngại trong việc học pháp, chỉ có pháp chứ không có tôi, ta, mình ở đây thì mới học được pháp tánh, học đến tận cùng của pháp, mới thể nhập được Thánh trí vô ngã. Tiếp theo là không được gọi nhau bằng chị em vì tuy chỉ là danh từ nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến thọ; tưởng; hành, phải gọi nhau bằng sư cô hoặc là sư tỉ và xưng con. Khi gọi nhau bằng chị em thì những thọ; tưởng; hành của thường tình sẽ gắn trong chữ đó, khi nói những chữ bình thường đó sẽ sanh khởi ra cái thường tình vì Đức Phật đã nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, nên quý thầy cũng phải gọi nhau bằng thầy xưng con.
Nguyện trang trải phước lành này đến với cùng khắp tất cả chúng sanh đang đau khổ, đang bệnh tật trên khắp hành tinh này được thiên nhãn, được an lành, đại dịch sớm ngày chấm dứt.
./.
Giảng Giải Bài Sám Hối Diệt Ngã 1
Ý Nghĩa - Lợi Ích
Mục Đích - Bỏ Danh Tướng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò tu tập PAGEREF _Toc174201091 \h 1
II. Mục đích, ý nghĩa tu tập sám hối diệt ngã PAGEREF _Toc174201092 \h 3
III. Vô thường – trống rỗng PAGEREF _Toc174201093 \h 10
I. Dặn dò tu tập
Trong sự tu học của chúng ta có hai pháp mà nhất định phải thực tập sâu sắc thì mới có thể đứng vững trong dòng pháp Nikāya chính là thực tập tâm hiền và thực hiền diệt ngã. Nếu không vững hai pháp này thì mình sẽ không có chân đứng trong dòng pháp Nikāya cho nên đây là hai sự thực tập tiên quyết mình phải có. Những bài mà Minh Thành chia sẻ là tư liệu để chúng ta mở lên nghe và thực tập tác ý mỗi ngày, chúng ta thực tập lâu dài để hoàn toàn thể nhập vào tâm hiền, để cảm thọ được an tịnh, lắng dịu trong mọi trường hợp.
Hôm qua khi nghe trình pháp Minh Thành có những chỗ hoan hỉ, khói bay vào mắt đúng ra sẽ có cảm thọ khó chịu nhưng mình nhiếp phục cảm thọ kêu nó hiền dịu, chúng ta phải thực tập trong từng cái nhỏ nhiệm như vậy. Trong sự tu học thì tác ý là tuyệt đối quan trọng vì Đức phật đã nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Nếu chúng ta không tác ý thì thiện pháp không sanh khởi được, Thánh pháp không sanh khởi được, tuệ giác không sanh được cho nên trong tu tập thì đại đa số là tác ý, người nào siêng năng tác ý thì người đó sẽ có trí tuệ sắc sảo, sắc bén. Trong bài kinh Niệm chết có cụm từ "tận lực tác động ước muốn", sáu chữ này rất quan trọng.
"Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo trong khi suy xét như vậy, biết được như sau: 'Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta', thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (X). Niệm Chết (2))
Khi tu bất kì pháp nào đều phải dốc hết sức lực tác động tâm ý pháp đó và có ước muốn để thành tựu pháp đó một cách mạnh mẽ, sau đó là tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, chánh niệm tỉnh giác. Trong bài kinh Niệm tử có một vị Tỳ-kheo nói bản thân mong muốn ngày đêm tác ý đến lời Phật dạy.
"Ðược nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm chết.
- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn'. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))
Đoạn này nghĩa không sáng tỏ, tại sao niệm tử mà lại nói như vậy? Nghĩa là ý của vị thầy này nói rằng có thể mình chỉ sống được ngày hôm nay thôi, ngày mai có thể chết. Tiếp theo đó có một vị thầy khác trình pháp cho Đức Phật rằng dù chỉ sống nửa ngày cũng tác ý đến lời dạy của Thế Tôn thì nghĩa Tiếng Việt là có thể vị này chỉ sống được nửa ngày thôi, trong nửa ngày đó vị này cũng nhớ nghĩ đến lời dạy của Thế Tôn cho nên được Thế Tôn khen ngợi niệm tử như vậy rất tốt. Một vị thầy khác nói có thể sau bữa ăn sẽ chết, một vị khác nói có thể ăn chỉ nửa bữa thôi là chết, những vị này đều được Đức Thế Tôn khen ngợi. Khi đọc lời kinh mình không hiểu, không làm sáng được ý nghĩa lời kinh nhưng sáng nay khi ngồi thiền Minh Thành hướng tâm vào bài kinh này thì ý nghĩa lời kinh được sáng tỏ.
Ở Ấn Độ đa số là ăn bằng tay, khi Minh Thành qua Ấn Độ đi thăm các trường thiền quốc tế hoặc qua Thái Lan thăm các trung tâm thiền quốc tế vẫn ăn bốc tay. Trong kinh vị này nói có thể mình chỉ ăn bốn năm miếng ăn là ngã ra chết, nghĩa là bốc tay ăn được bốn năm miếng là chết, vị ấy niệm tử như vậy đó. Vị khác nói có thể đang ăn một miếng hoặc chỉ nửa miếng là chết, vị thầy cuối cùng nói một hơi thở vào nhưng hơi thở ra thì đã chết, vị ấy niệm tử như vậy. Đức Thế Tôn khen các thầy niệm tử như vậy sẽ đạt đến cảnh giới bất tử, Thế Tôn chỉ dạy các thầy phải nhớ niệm chết cho tinh cần, tu tập cho sung mãn thì sẽ chứng ngộ cảnh giới bất tử. Minh Thành chứng kiến dưới quê có một người đang ăn cơm tự nhiên ngã xuống được đưa vào bệnh viện nhưng không kịp, khi chúng ta để tâm vào pháp thì pháp sẽ sáng ra.
II. Mục đích, ý nghĩa tu tập sám hối diệt ngã
Trở về vấn đề thì hai pháp quan trọng là tâm hiền và phương pháp diệt ngã phải được thực tập thường xuyên, đối với người xuất gia phải tác ý diệt dục mỗi ngày. Từ lâu Minh Thành đã mong muốn giảng giải bài sám hối diệt ngã nhưng cũng chưa đủ duyên, lúc trước đã chia sẻ nhưng chưa được trọn vẹn về bài sám hối diệt ngã, đây là bài rất quan trọng trong nghi thức tu tập để những người trong đạo tràng hiểu sâu sắc và đầy đủ về những lời sám hối, tác ý. Chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu kĩ về bài sám hối diệt ngã này, trước khi vào bài thì chúng ta sẽ nói tổng quát về công năng, tác dụng và ý nghĩa của sám hối diệt ngã.
"Bản ngã là duyên đưa đến lỗi lầm, sân hận, chia rẽ, đổ vỡ. Người bản ngã cao, tâm trọng danh, trọng tướng, không trọng pháp thì khó lòng đi vào trong Thánh pháp này. Người tìm danh thì đến với danh. Người tìm pháp thì đến với pháp. Người tìm đến và muốn tu học trong Thánh pháp này thì phải khéo nắm giữ những pháp đã được thấy, được nghe, được học rồi áp dụng vào trong tự thân để nhận diện tự thân, nhận diện những dục, ái, sân, si, bản ngã trong tự thân và như lý tác ý để nhiếp phục chúng, nhiếp phục bản ngã, nhiếp phục cấu uế, lậu hoặc trong tự thân. Nếu giữ cái bản ngã to cao, hoặc bản ngã ngấm ngầm để đi vào trong chánh pháp này, rồi tìm danh, tìm tướng trong chánh pháp thì khó lòng thể nhập vào chánh pháp.
Bản ngã chính là chấp danh. Bản ngã chính là chấp tướng. Người bị bản ngã chi phối thì tìm danh, tìm tướng, tu danh, tu tướng, khó lòng tu tập chánh pháp chân thật của Đức Thế Tôn. Vì vậy, để có thể bước vào trong Chánh pháp, hành giả cần phải thấy rõ cái bản ngã hư ảo do danh tướng của những ngũ uẩn này ám ảnh trong nội tâm mà thành lập. Hành giả cần phải thấy rõ những khổ đau, phiền não mà bản ngã đã mang lại cho mình trong hiện đời và nhiều đời sống trước. Hành giả cần phải thấy rõ bản tánh duyên sanh, vô thường, tạm bợ của danh, của tướng của bản ngã. Nay mặt người, mai mặt thú, mặt súc vật súc sanh hay mặt ma, mặt quỷ, hay những gương mặt thống khổ trong địa ngục… Thật khó biết được những gương mặt ngày mai của mình! Thật là vô thường, biến đổi và đa dạng là những gương mặt ngày mai của tâm vô minh này!
Vì vậy, đừng chấp thủ, đừng bám chặt vào gương mặt tạm bợ của ngày hôm nay rồi nhận nó là mình, là của mình, rồi ta đây, ngã mạn, tự đắc, tự cao, sân si, hóng hách, phách lối, hơn thua, tạo nhiều ác nghiệp… Hãy luôn cẩn thận và luôn nhắc nhở mình sự vô thường của thân mạng này, của gương mặt này, của đời sống này… Một cơn gió độc thổi qua… Một tai nạn xe cộ… Một mạch máu bị đứt vỡ… Tất cả ở hiện tại này sẽ dừng lại, sẽ chấm dứt… Để rồi một gương mặt mới lại xuất hiện, gương mặt của một con ma, hay gương mặt của một con quỷ, hay gương mặt của một con chó, con bò, con heo, con rắn, con trùng, hay những gương mặt con người nhưng dị dạng với những cái đầu to gấp đôi đầu của những đứa bé bình thường với những cặp mắt vô tri, vô giác… Gương mặt nào ở ngày mai sẽ là gương mặt của ta… Vì vậy, hãy coi chừng, có thể chiều nay hoặc sáng mai đã là đời sau của mình, là kiếp sống tiếp theo của mình và mình lại tiếp tục thọ lãnh những gương mặt mới phù hợp với duyên nghiệp mà mình đã làm, đã tạo với gương mặt hôm nay… Như vậy, bản ngã hay sự chấp danh, chấp tướng trước gương mặt này và những gương mặt xung quanh mà không nắm bắt Thánh pháp mà Đức Phật đã truyền trao, đó là một thiệt thòi to lớn, một tai hại to lớn cho người muốn tu học trong Thánh pháp này.
Bị bản ngã chi phối, bị danh tướng khống chế, bị hình thức thống trị, không có mục đích chân chánh khi đến với đạo Phật, không biết mục đích chân chánh trong đạo Phật thì sẽ khó lòng tiếp nhận những nhân duyên thù thắng khi được tiếp cận, được thấy, được nghe Thánh pháp chân thật cao quý thần diệu này. Do đó, sự quán chiếu bản ngã và nhiếp phục bản ngã là một trong những điều đầu tiên cần được tu tập, cần được thực hành để có thể chân chánh bước vào trong chánh pháp vi diệu của Đức Thế Tôn, đó là lý do mà chúng tôi đã biên soạn bài “Sám Hối Diệt Ngã”.
Cách diệt ngã trong bài này là hành giả tập cho tâm mình luôn cúi đầu sát đất dưới chân của tất cả mọi người, dù là người bần tiện hay người cao sang, người lớn tuổi hay người nhỏ tuổi, người tu hay người không tu. Hành giả giữ trong tâm mình hình ảnh thân tướng tứ đại vô thường này quỳ gối với đầu cúi sát xuống đất dưới chân của người. Trong khi thực hành như vậy, hành giả tác ý an trú trong cảm giác ngọt ngào, ngoan hiền, dễ thương, tâm nhẹ nhàng, khả ái và hoan hỉ với cảm thọ khiêm cung, hoan hỉ với hạnh khiêm cung, hạnh quỳ lạy đầu cúi sát đất.
Trong khi đầu cúi sát đất, hành giả thầm tác ý: “Lạy người cho con xin được xả cái bản ngã này ra… Lạy người cho con xin được diệt cái bản ngã tồi tệ xấu xa này… Lạy người cho con xin được xả cái bản ngã hư ảo tạm bợ này vào lòng đất...”. Nếu hành giả tác ý an trú tâm như vậy, an trú tướng như vậy liên tục trong một thời gian dài thì chắc chắn bản ngã trong hành giả sẽ lắng dịu, giảm thiểu, từ đó hành giả sẽ có thể bước vào những Thánh pháp thâm sâu, vi diệu, tế nhị, thanh cao.
Hạnh quỳ gối đầu cúi sát đất này cũng là đức hạnh mà chúng tôi đã tu tập trong nhiều năm trước đây. Nhờ thực hành đức hạnh này mà chúng tôi thấy rõ bản ngã trong tự thân ngày càng lắng dịu, ngày càng nhỏ nhiệm, ngày càng diệt tận, thân tâm luôn sẵn sàng cúi đầu quỳ xuống trước mọi người với tâm khiêm hạ, ngoan hiền, cung kính, hân hoan. Nhờ tu tập thuần thục và an trú trong một tâm ngoan hiền, cung kính như vậy kết hợp với trí về ngũ uẩn trong tự thân thì khi được khen hay khi thành tựu điều gì hành giả không khởi tâm tự mãn, ta đây, bản ngã không phình trương to, không kiêu hãnh, tự đại, tự cao để rồi sau đó rơi vào lầm lỗi, tạo nghiệp rồi phiền não, khổ đau. Đó là ý nghĩa, lợi ích và mục đích của hạnh diệt ngã này và của bài “Sám Hối Diệt Ngã”. (Nghi Thức tu học Nikāya)
Trên đây là nói về ý nghĩ, mục đích và lợi ích của việc thực hành sám hối diệt ngã, tại sao chúng ta phải thực hành hạnh diệt ngã, hạnh diệt ngã có lợi ích gì, mục đích của việc thực tập hành trì hạnh diệt ngã là gì. Như trước nay chúng ta đã tìm hiểu, chúng ta ở trong tâm không thấy không biết, ở trong tâm mê muội, mê lầm, ảo tưởng về một tự ngã, trong cái tưởng của mình có hình bóng của tự thân, trong suy nghĩ của mình có một cái ta, cái tôi, trong cảm giác có một bản ngã ngấm ngầm, trong nhận thức cũng vậy.
Như vậy một sự ảo tưởng về tự ngã, một suy nghĩ sai lệch cho rằng có tôi, một cảm giác lầm lạc về bản ngã có thật và một nhận thức trong vô minh về tự thân, tự ta, tự ngã, bốn cái mê lầm này xoay quanh sắc uẩn này và nó làm hang, làm ổ, làm tổ đối với bộ xương này, đối lớp lớp da này, đối với lớp máu mủ, ruột thịt này, vậy là thọ; tưởng; hành; thức buộc chặt lấy sắc uẩn này, giữ chặt, nắm chặt lấy và làm căn cứ địa, làm hang ổ trong đó. Tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức cho rằng có một cái tôi chỉ là sai lầm, là không thấy không biết đúng sự thật vô minh, si mê, từ đó có ra biết bao dục ái, sân hận, hơn thua, tranh đấu hiện hữu trên cuộc đời này. Đó là gốc rễ của tất cả khổ cảnh, nó tràn ngập khắp thế gian, từ nguyên nhân sâu xa là cho rằng có một bản ngã, có một cái tôi, ta, tao, mi, tớ.
Các bậc Thánh phá được thân kiến này thì hoài nghi, giới cấm thủ cũng tiêu tan, Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất. Cho nên bước đầu tiên tu học chánh pháp là phải nhắm vào tự ngã, chấp ngã để đánh đuổi, dẹp bỏ, diệt tận bằng mọi cách như lời Đức Phật đã dạy "tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác". Trong mọi cảm giác, mọi suy nghĩ, mọi hình bóng, tư tưởng, mọi nhận thức đều phải loại bỏ quan điểm về tự ngã vì cái này đã trở thành một thứ thâm căn cố đế, tích tụ ngàn năm trong nội tâm cho nên đây là cả một sự cố gắng, nỗ lực, tận lực ước muốn diệt tận bản ngã thì mới có khả năng thoát ra khỏi nó, nếu không tất cả thế gian đều gục ngã trước bản ngã, cả thế giới đều gục ngã trước cái tôi.
Đừng nói gì phàm phu mà đến chư thiên và các bậc hiền Thánh thông thường chưa phải là Thánh đệ tử đều không thoát khỏi bản ngã vì nếu thoát khỏi thì các vị đó đã chứng ngộ Niết-bàn, cho nên bản ngã là một thứ rất thâm sâu, vi tế, thật khó giác hiện ra nó nếu không nhận diện ngũ uẩn cẩn trọng. Tất cả chúng sanh đều gục ngã trước cái ta, chết mà không biết mình bị nó hại chết, tất cả sự đau khổ của chúng ta đều bắt nguồn từ sự ảo tưởng về tự ngã. Đây là chỗ quyết định của người học đạo, thành hay bại là ở đây, một người có cái tôi lớn không thể học, không thể tu được, dù có học thì chỉ học kiến thức Phật học thôi, có tu thì chỉ tu ngoài da, làm được một chút thiện pháp mà thôi, không thể thành tựu được trí tuệ chân thật của Đức Phật truyền trao nếu không để ý, để tâm, không dốc lòng tận lực ước muốn để nhiếp phục, chế ngự và diệt tận bản ngã này.
Huynh đệ nói chuyện với nhau rồi lát sau người kia chỉ trích, chê bai thì mình bực bội, khó chịu vì người kia "khinh thường tôi", "chê tôi", "chỉ trích tôi". Bị mất món đồ nào thì "tôi bị mất đồ", "đồ đó của tôi", cái nào cũng gắn chữ "tôi" trong đó nên khổ. Lúc trước được yêu thương mà giờ không được thương nữa nên khổ ,"mình bị ghét", "mình không còn được thương nữa" cho nên tất cả đau khổ trên cuộc đời này đều bắt nguồn từ cái tôi vì nếu không có tôi thì ai chỉ trích ai, ai bị chê bai và ai chê bai, nếu thấy nó chỉ là tứ đại ngũ uẩn thì ai thương ai, ai ghét ai, ai mất đồ, đồ của ai, cái "ai" đã không có thì làm gì có đồ của ai.
Một khi đã thể nhập Thánh trí huệ thì diệt tận cái khổ, đạt được tâm bất động giải thoát, tất cả mọi chuyện trên thế gian này không có gì làm cho tâm dao động vì không có "mình" nữa, nhưng muốn thể nhập được cái này thì đây là cả một công trình tu tập, phải tận lực tác động ước muốn, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, chánh niệm và tỉnh giác. Phải dốc hết sức, tập trung tâm ý nhìn thấy sự chấp ngã đó để nhiếp phục, chế ngự và diệt tận nó, đó là bổn phận của người xuất gia, chỉ có như vậy mới phá được thân kiến để Nhập Lưu, mới phá được cái nhìn sai lầm về thân, mới tham dự vào dòng chảy trí tuệ của các bậc Thánh.
Một ngày chúng ta khởi tâm ý được bao nhiêu lần để diệt ngã? Chưa nói khởi lên được bao nhiêu tiếng mà chỉ nói là được bao nhiêu lần tác ý để diệt bản ngã, khi bản ngã sanh khởi mình có thấy được nó không, khi nó an trú, khi nó chấm dứt mình có thấy được nó không? Nếu chúng ta không tu học dòng pháp này, không thực tập những phương pháp này thì chúng ta hoàn toàn không thấy không biết, chúng ta hoàn toàn sống ở trong ảo tưởng về tự ngã, về tự thân. Như vậy nói tu để diệt khổ mà nguồn cơn của khổ mình không thấy không biết, gốc rễ của khổ mình không rành không hay, căn bản của khổ mình không thức không tri, vậy thì làm sao có thể nhiếp phục, diệt tận khổ đau này?
Khi ngồi ngoài trời nghe pháp mà thấy lạnh thì có suy nghĩ "tôi lạnh quá, chắc chịu không nổi" thì tác ý lập tức "tôi ở đâu hỡi tâm mê này? Ở đây không có tôi nào cả, đây chỉ là tứ đại ngũ uẩn, đem tứ đại này cầu Thánh pháp bất tử". Khi tác ý như vậy thì ý nghĩ lo lắng, sợ hãi cái lạnh lẽo bị tác ý đánh gục, đánh ngã, đánh đổ. Đối với tu tập mà thấy mệt mỏi, buồn chán cũng phải lập tức tác ý. Đó là chúng ta giải thích thân kiến, bản ngã, chấp ngã, cái mấu chốt, cốt lõi trong sự hành trì, tu tập. Bản ngã là cái duyên đưa đến lỗi lầm, sân hận, chia rẽ, đổ vỡ, mình giận lên là do mình thấy người kia xúc phạm mình, lúc nào cũng có cái tôi, cái mình nên mới giận cho nên giận càng nhiều thì bản ngã càng lớn, người nào hay giận và thường giận thì bản ngã rất cao to. Bản ngã làm chia rẽ và đổ vỡ, những cái này chúng ta đã chia sẻ rất nhiều lần rồi.
Tiếp theo là "người bản ngã cao, tâm trọng danh, trọng tướng, không trọng pháp thì khó lòng đi vào trong Thánh pháp này". Như thế nào là trọng danh và như thế nào là trọng tướng? Hai chữ này đọc đơn sơ nhưng bao trùm trời đất, trọng tướng là chú trọng vào hình thức màu mè, lòe loẹt, suốt ngày chỉ thích tô điểm cho cảnh, cho ngôi chùa, càng ngày càng bị tham ái vào sắc pháp, sắc tướng, vào những màu sắc nhưng trong nội tâm ai đụng vào là đầy tham, sân, si.
Như vậy thì thật đáng tiếc cho cuộc đời tu, chúng ta bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết lục thân quyến thuộc để vào tìm những hình tướng vô thường, những hình tướng sớm nở tối tàn như hoa phù dung, những hình tướng rộn ràng phải mất biết bao thời gian để chuẩn bị để có một buổi lễ, vất vả cực khổ mất ăn bỏ ngủ rồi sân si, chưa kể là dục, ái, tham trong đó, làm để thể hiện cái ta, tôi tài giỏi. Đó là trọng danh, trọng tướng và suốt cuộc đời chúng ta vùi lấp trong danh tướng, cả cuộc đời lấy danh tướng làm sự nghiệp tu hành, cả cuộc đời làm cho ngôi chùa đẹp, cả cuộc đời lấy bằng cấp cho cao để nổi danh.
Đáng thương xót lắm thay!
Nhìn lại nội tâm đầy rẫy những tham muốn, ưa thích, dính mắc, nhìn lại nội tâm đầy rẫy sân hận, bức xúc, gay gắt, cộc cằn, nhìn lại nội tâm là một cái tôi, cái ta to tướng. Cay đắng cho người tu chúng ta, đau khổ cho người tu chúng ta, tủi nhục cho chúng ta, một đời chúng ta cạo bỏ mái tóc, từ giã tình thân thương cao thượng của cha mẹ rồi đi vào làm những chuyện của thế gian để được tiếng khen, đối với đạo lộ của Đức Thế Tôn truyền trao không thấy không biết, chưa từng đặt bước chân lên để đi.
Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di,
Hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị?
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Dịch nghĩa: Chỗ đi năm trước, một bước chẳng dời,
Mờ mịt một đời, lấy gì nương tựa?
Chỉ với hai chữ "danh tướng" có thể giết chết cuộc đời tu của chúng ta, giết chết pháp thân huệ mạng của chúng ta, giết sự nghiệp tu hành đạo hạnh của chúng ta. Đại nghiệp xuất thế của chúng ta sụp đổ hoàn toàn trong những màu sắc lòe loẹt đó, trong những âm thanh náo nhiệt đó, chúng ta mê muội, yêu thích trong đó. Cả đời tu chúng ta đi học chỉ để biết một số kiến thức không thì để biết tụng niệm ê a, không thì làm để được một cái chùa rồi tự mãn.
Xót xa lắm thay!
Đau lòng lắm thay!
Con tim mình đau đớn và đau khổ trong cả đời tu, không gặp được bậc chân nhân, không thấy được bậc chánh kiến chỉ dẫn cho mình đạo lộ Thánh đạo rồi cả đời mù mịt, mờ tối, đi trong bóng đêm. Tu hai ba chục năm không biết mình đang ở đâu, không biết mình đi tới đâu và cũng chẳng biết mình sẽ đến đâu, con đường trước mặt là mịt mù không biết về đâu.
III. Vô thường – trống rỗng
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Vì mù lòa nên mới yêu thích, mới say mê trong những hình sắc đó, mới mê những cái vô thường, mê những đống đất đó, mê những đồ bằng gốm đễ tan vỡ đó. Cả cuộc đời chúng ta phải chiêm nghiệm và quán chiếu hai chữ "danh tướng" này, đó là hình tướng và danh tiếng. Chiếc áo đang mặc trên người, căn phòng, tịnh thất, ngôi chùa, cảnh trí, những món đồ chỉ là sắc tướng. Danh là tiếng khen, là địa vị, danh vọng ở đời, còn địa vị và vị trí mà tất cả chúng ta phải vào là cái mộ, là hủ cốt trên bàn thờ, phải thường nhớ như vậy, dù cho ở địa vị nào đi nữa thì địa vị thật sự là ở dưới lòng đất.
Trăm năm kiếp sống, một phút hơi tàn,
Công danh sự nghiệp áng mây tan,
Phú quý vinh hoa cơn gió thoảng
Ba tấc hơi vừa dứt,
Một ngọn lửa rực hồng,
Nhặt được chỉ nắm tro tàn,
Chôn vùi dưới lòng đất lạnh.
Phải có cái nhìn, cái thấy như vậy mới phá được hết tất cả danh tướng hư ảo trên cuộc đời này, không bị những hình tướng mê hoặc, không bị những tiếng khen, danh lợi lôi kéo, dẫn dắt mình. Phải có cái nhìn sâu sắc và triệt để về danh tướng hư ảo của cuộc đời này thì mới có tịnh tín bất động đối với chánh pháp, đối với sự thật, nếu không danh lợi như gió thổi mình bay mất. Thế Tôn dùng hai hình ảnh là cột trụ chôn sâu dưới đất và bông gòn ở giữa ngã tư, ngã bảy, khi gió thổi thì cột trụ bất động nhưng bông gòn thì bay tứ tung.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỳ-kheo". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IX. Cột Trụ)
Người nào thành tựu được niềm tin xác quyết đối với chánh pháp của Đức Phật thì tâm như trụ đá chôn sâu, còn người nào học phất phơ, vào chùa tu qua loa, không nỗ lực tinh cần, tăng thượng giới – định – tuệ thì chỉ cần một cơn gió thổi nhẹ là bay mất chiếc y, bay niềm tin, bay sự nhận thức trong pháp. Có đến tám ngọn gió thế gian thổi bay hết mọi thứ, tiền tài thổi là bay, lợi lộc thổi là bay, hủy nhục thổi là bay, được khen chê thổi là bay.
"- Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (V).Tùy Chuyển Thế Giới (1))
Một là lợi, hai là suy, ba là hủy, bốn là dự, năm là xưng, sáu là cơ, bảy là khổ, tám là lạc, đó là tám ngọn gió thổi bay chúng ta nếu không có chánh kiến, không có sự tu tập về tri kiến của bậc Thánh. Cái thấy đó phải thấu đáo và cứng chắc trong nội tâm, dù chết cũng không để mất cái thấy biết về vô ngã, vô thường, cái thấy biết về ngũ uẩn vô thường, nó như cột trụ chôn sâu, đó là tịnh tín bất động, nghĩa là lòng tin thanh tịnh bất động, không lay chuyển thì mới có thể chiến thắng nổi hai chữ "danh tướng" của thế gian. Thấy người ta xây chùa đẹp rồi cũng bắt chước vì sợ thua kém người ta, thấy người ta cúng cho thầy thì mình cũng phải làm giống vậy, xưa bày nay làm, bắt chước làm theo chứ không tìm hiểu cái nào đem lại lợi ích thiết thực, thật sự.
Trong ngày giỗ của thầy thì tất cả đại chúng lên hành thiền, tuyên đọc lại những lời dạy Thánh pháp của Đức Phật, cùng nhau giữ sự im lặng của bậc Thánh, trùng tiên lại Thánh pháp, đứng lên nhắc lại công hạnh của thầy, nhắc lại những lời di huấn của Đức Thế Tôn trước giác linh của sư phụ mình sẽ có ý nghĩa tuyệt vời, vi diệu, tối thượng. Mình biết hết những điều này nhưng thấy người ta làm có trống kèn rồi mình cũng làm theo có trống kèn vì sợ không làm thì bị người ta nói.
Từ từ sự chân thật bị phai nhòa, mờ nhạt, chỉ còn lại những hình thức bề ngoài, những màu sắc lòe loẹt, còn cái thật bên trong lại cực kì hiếm hoi và khó gặp. Chúng ta học đạo là đi tìm cái thật chứ đừng chạy theo hình thức và danh tiếng, một khi đạt được cái lõi thật sự thì mình mới thấy được sự bất khả tư nghì của Thánh trí huệ, không có cái gì trên cuộc đời có thể so sánh được. Vì thế người có bản ngã cao chỉ trọng danh, trọng tướng chứ không trọng pháp, nếu không trọng pháp thì danh tướng di chuyển một chút là bỏ đi chỗ khác hoặc không tu nữa.
Bây giờ vào được bầu làm quản chúng, làm tri sự nhưng có lỗi lầm được nhắc nhở kêu về tu để các chú khác lên làm thì buồn, nghĩ thầy không trọng dụng mình nữa nên bỏ đi. Đó là người đặt nặng vào danh chứ không coi trọng pháp, còn người coi trọng pháp mà được về tu thì lại càng thích, sư phụ thương mới cho tu nhiều. Nếu không tu thì đến chết cũng không hiểu được tâm tư của người thầy, không chỉ trong kiếp này mà nhiều kiếp sau cũng không hiểu.
Bậc trí tuệ là thấy những cái mình không thấy, biết những cái mình không biết, hiểu những cái mình không hiểu, họ đã vượt ra khỏi giới vực của mình nhưng do bản ngã của mình cao nên mình cứ nghĩ theo mình rồi cuối cùng là đổ vỡ, ly tán, không thì phiền giận, oán hờn, mình có phước mà không biết hưởng. Mình được sống trong tâm từ thấm đượm mà mình lại chết khát trong dòng nước mát đó, mình chết khát trong hồ sen, tất cả cũng chỉ vì bản ngã cao, trọng danh tướng chứ không trọng pháp.
Những điều này Minh Thành đã chứng kiến rất nhiều cho nên thật sự là thương cho mình và thương cho người, thương cho hữu tình chúng sanh, đi đâu cũng vác theo bản ngã to đùng như núi Tu-di trên vai, đi đâu cũng phán xét người ta chứ không nhìn lại tự thân mình, đi đâu cũng nhìn ngó, soi mói. Thật sự trụ trì là làm dâu trăm họ, kêu bằng "sư phụ" rồi lạy nhưng lên đây toàn chỉ dạy lại mình, mình chỉ biết ngồi đó nghe rồi cảm ơn chứ còn biết nói gì nữa. Hết cô rồi tới chú, ông, lên là chỉ dạy thầy phải làm như vầy, phải sắp lại như vầy, như vậy thì làm sao tu?
Mình đã lên tới bảo sơn là núi pháp, núi báu mà mình không chịu cầu, không chịu học bảo vật, pháp bảo, chỉ muốn thể hiện, phô trương bản ngã của mình ra, ở nhà con cháu đã mệt mỏi với mình rồi, lên trên đây cũng phình to bản ngã ra nữa. Thật là tội nghiệp, thương thật là thương nhưng không dám nói vì nói là họ giận, bỏ về không tu nữa, có la rầy cũng phải nói nhẹ nhàng. Người xuất gia cũng vậy, vào tu không được do bản ngã quá cao, lúc đầu còn quỳ lạy nhưng thời gian sau dạy lại thầy luôn, điều này có sự liên hệ với bài kinh Người vợ trẻ, Đức Phật đã nói những điều này cách đây 2600 năm trước rồi.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: 'Hãy đi đi, các người có biết được gì!'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: 'Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!'". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV). Người Vợ Trẻ)
Lúc mới vào thì gọi nghiêm trang sư phụ, gặp ai cũng chào lạy một cách rụt rè, e dè, cẩn trọng, giữ gìn nhưng ở một thời gian sau là bung càng ra, hở ra là kẹp, đó là đang thể hiện bản ngã nhưng không hề hay biết, tu một thời gian rồi trở thành người như vậy. Tu trong vô minh, tu trong không thấy không biết, không nhìn lại để nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tự thân, chế ngự bản ngã, diệt tận tham, sân, si.
Nhìn người tu không biết nhiếp phục, không biết chế ngự, không biết quay lại nhìn bản thân rất ngao ngán, cái tôi, cái ta quá lớn, đó là sự nguy hiểm và tác hại của bản ngã mà tự thân người đó không biết cho nên cần thực tập hạnh diệt ngã thật nhiều, ngày nào cũng phải tác ý diệt bản ngã, đập cái bản ngã cho nát ra để khỏi kiếm chuyện, gây sự, vênh váo với ai nữa. Khi bản ngã sanh khởi lên giống như cơn điên, mẹ con, cha con, anh em, thầy trò không còn biết ai nữa, con cái ở xa mấy trăm cây số lên chăm sóc mình nhưng mình sân lên là nó sợ chạy mất, sau đó nhìn lại thấy xấu hổ và sám hối lập tức.
Phải đào sâu vào trong tâm nhìn thấy sự vận hành của các uẩn, nhìn thấy được những ý niệm, những cảm thọ một cách sâu sắc. Đức Thế Tôn đã nhập diệt, hiện tại thì những người tu là những người còn các lậu hoặc, phiền não nên cần nắm chặt vào pháp, tuyệt đối tin vào pháp, đừng hướng ngoại nhìn ra bên ngoài mà hãy nhìn vào nội tâm, an trú trong pháp, nắm chặt vào pháp để tu, không còn gì lay chuyển được. Sám hối diệt ngã có lợi ích vô lượng vô biên, công đức như hư không đưa chúng ta đến Thánh đạo, Thánh quả, Thánh trí, Thánh giải thoát. Vì thế từ ngày hôm nay trở đi phải an trú vào pháp diệt ngã thật nhiều, càng nhiều càng tốt, bên cạnh đó cần tác ý, quán chiếu, hình bóng trong tự thân là quỳ lạy mọi người.
Chúng ta thường nhầm lẫn giữa ái và ngã. Khi mình dự định học nhưng muốn nằm ngủ là dục ái, không ai bắt buộc nhưng tự mình ra thời khóa tu tập rồi mình không làm theo mà chỉ muốn nằm ngủ, đó là dục ái, là mong muốn, thích thú nghỉ ngơi. Bình thường ngủ đúng giờ thì không nói nhưng đây là do mình ấn định, muốn làm nhưng cuối cùng thua sự yêu thích ngủ nghỉ, đó là tham ái chứ không phải bản ngã. Sự yêu thích, thúc giục nằm xuống ngủ, ý hành đó, cảm thọ đó, cái tưởng đó là dục ái chứ không phải bản ngã. Chúng ta cần nhận diện cho chính xác, cái nào ra cái đó, không được lẫn lộn, từ từ chúng ta sẽ thấy được chính xác trong tâm.
Mỗi khi trình pháp cần nói cái nào ra cái đó, sắc ra sắc, thọ ra thọ, tưởng ra tưởng, hành ra hành, thức ra thức, không được nhận diện như phát biểu cảm tưởng, nếu như vậy là mình không rõ pháp. Ngoài ra trong sự học đạo phải phá được giai cấp, nếu mình nghĩ mình lớn hơn, tu lâu hơn, tuổi hạ cao hơn là mình không tu được, cái hơn ở đây là người ta học pháp trước mình, người ta đã thực hành rồi còn mình chưa học, chưa thực hành thì đương nhiên người ta hơn mình cái pháp.
Ở đây không tính tuổi đạo, không tính tuổi đời mà chỉ tính pháp thôi, không trọng danh, không trọng tướng mà chỉ trọng pháp, có như vậy mới hạ gục được bản ngã. Nếu không thì không thể học pháp được, uổng đời tu cho nên phải diệt tận ý niệm cao, thấp, bằng, không có ai ở đây ngoài đống tham, sân, si, bản ngã, hạ thấp cái đống này xuống mới học được pháp, có vậy phép màu mới xuất hiện. Minh Thành học pháp không phải là Hòa Thượng mới học mà ngay cả một vị cư sĩ Minh Thành cũng có thể lạy dưới chân nếu vị đó có chánh pháp.
Ý nghĩ cao, thấp, tuổi hạ lâu hơn là một chướng ngại trong việc học pháp, chỉ có pháp chứ không có tôi, ta, mình ở đây thì mới học được pháp tánh, học đến tận cùng của pháp, mới thể nhập được Thánh trí vô ngã. Tiếp theo là không được gọi nhau bằng chị em vì tuy chỉ là danh từ nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến thọ; tưởng; hành, phải gọi nhau bằng sư cô hoặc là sư tỉ và xưng con. Khi gọi nhau bằng chị em thì những thọ; tưởng; hành của thường tình sẽ gắn trong chữ đó, khi nói những chữ bình thường đó sẽ sanh khởi ra cái thường tình vì Đức Phật đã nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, nên quý thầy cũng phải gọi nhau bằng thầy xưng con.
Nguyện trang trải phước lành này đến với cùng khắp tất cả chúng sanh đang đau khổ, đang bệnh tật trên khắp hành tinh này được thiên nhãn, được an lành, đại dịch sớm ngày chấm dứt.
./.