Đức Phật Dạy Đạo Làm Người 5 - Tổng Quát Pháp Hành- Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt
Nikāya Giảng Giải
Đức Phật Dạy Đạo Làm Người 5
Tổng Quát Pháp Hành
Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thỉnh giảng sư thuyết pháp PAGEREF _Toc213779383 \h 1
II. Biết ơn, nhớ ơn PAGEREF _Toc213779384 \h 1
III. Tu với cảm thọ PAGEREF _Toc213779385 \h 5
IV. Hòa kính PAGEREF _Toc213779386 \h 10
V. Tâm hiền PAGEREF _Toc213779387 \h 14
I. Thỉnh giảng sư thuyết pháp
Sư cô: Vào giờ này đã vào giờ lớp học, chúng con xin được mạn phép thượng tọa giảng sư cho chúng con được thỉnh giảng sư vào lớp học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lời đầu tiên hàng Tăng Ni cũng như hàng Phật tử chúng con xin thành kính đảnh lễ thượng tọa giảng sư giảng sư, kính bạch chư tôn đức Tăng Ni, kính thưa toàn thể quý Phật tử, rất vui và chào mừng Phật tử đang có mặt trên diễn đàn học phật online cũng như quý Phật tử xem trên trực tiếp kênh YouTube, Facebook chương trình Phật học online do ban hoằng pháp trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với kênh thông tin tổng hợp Phật sự online tổ chức, để nhằm cho quý Phật tử hiểu và hành trì trong đời sống tu học suốt hai mươi bốn giờ trong một ngày. Và giờ này chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư và quý Phật tử được niệm Phật hồng danh của đức bổn sư để chúng con được vào lớp học. Chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư khởi xướng niệm Phật. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô: Kính thưa quý Phật tử trong chương trình Phật học online, ban tổ chức xin trân trọng cung kính giới thiệu giảng sư của chúng ta thượng tọa Thích Minh Thành đến với lớp học của chúng ta hôm nay với đề tài Đức Phật dạy làm người phần năm, kinh giáo thọ Thi-ca-la-việt, để hiểu được nội dung và áp dụng trong đời sống tu học để mong ngày một được thành tựu trên con đường tu học. Và giờ này hàng Phật tử cung kính, trang nghiêm để chuẩn bị vào lớp học và chúng con xin được bái thỉnh thượng tọa giảng sư bắt đầu đi vào buổi pháp thoại của mình. Chúng con xin cung thỉnh đảnh lễ giảng sư bắt đầu. Nam mô A-di- đà Phật.
II. Biết ơn, nhớ ơn
Sư Phụ: Kính bạch chư tôn thiền đức, chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về những lời dạy nguyên chất của Đức Phật về đạo làm người. Nhân cái khóa tu ở tại chỗ đây cho nên hôm nay chúng ta sẽ tổng kết những cái pháp hành căn bản của một người Phật tử. Người Phật tử muốn hạnh phúc, muốn có đời sống an ổn, an lành, an lạc thì cái pháp đầu tiên chúng ta thực tập, học tập và tu tập là cái pháp biết ơn và nhớ ơn, cái pháp đầu tiên và quan trọng nhất của một người tu là biết ơn và nhớ ơn. Trong cuộc đời chúng ta ai là bậc đại ân, đại đức đối với mình ngoài hai đấng sanh thành, nếu mà mình không có biết ơn, nhớ ơn cha mẹ mình thì mình không thể nào biết ơn, nhớ ơn người khác được hết, cho nên cái đạo đức căn bản làm người đó là hiếu hạnh, hiếu thảo, hiếu đạo.
Điều này là cái điều căn bản, là gốc rễ của một con người nên cái pháp đầu tiên là mình làm sao phải có sự tác ý. Mình tác động tâm ý, mình suy xét, suy nghĩ và cái sự tu ở trong kinh Nikāya rất là linh động, rất là dễ làm, khắp mọi chỗ mọi nơi, mọi thời mọi lúc, mọi hoàn cảnh, không phải đợi tới cái lúc mình lên chỗ thờ Phật mới tu mà bất cứ cái chỗ nào mình ngồi nhớ lại ân đức của cha mẹ. Không phải đợi tới cái ngày rằm tháng bảy, không phải tới mùa lễ Vu lan, không phải đợi tới tổ chức thiền biết ơn thì lúc đó mình mới quỳ ở trước cha mẹ mình cảm ơn, xin lỗi bằng những dòng nước mắt mà bất cứ lúc nào, ở đâu, nơi nào và chúng ta có một sự tác ý theo cái chiều hướng của hiếu thảo bất cứ ở nơi nào, ở chỗ nào, ở thời điểm nào, hoàn cảnh nào mình đều có thể thực hành thiền biết ơn ngay tại chỗ mà không cần phải có cha mẹ ở trước mặt,
Mình ngồi đó dùng cái tưởng của mình hồi tưởng lại những hình ảnh, những cảm xúc, những việc mà cha mẹ đã hy sinh cả cuộc đời này cho mình, đã làm cho mình, đã đem lại cái hình hài, này cái vóc dáng này, cái đời sống này, cái tấm thân này, cái gương mặt này, cái đôi mắt này, cái lỗ mũi này, cái miệng này, cái lưỡi này, vầng trán này, mái tóc này, đôi tay, bàn chân này, hình hài này, thân xác này… từng cái chi tiết như vậy mình quán chiếu, mình tư duy, mình chiêm nghiệm, mình hồi tưởng và ngay tại cái chỗ ngồi đó mình thực tập thiền biết ơn dù không có mặt cha mẹ tại chỗ đó. Thời gian chúng ta ở đây rất là ngắn con chỉ nói cái tổng quát thì chúng ta thấy được, thường tác ý như vậy, thường để tâm như vậy, thường chiêm nghiệm, suy nghĩ về cái điều đó thì như vậy mỗi ngày mình đồ lên một chút, mỗi ngày mình tô lên chút, mỗi ngày mình vẽ lên một nét như vậy thì cái bức tranh hiếu thảo, bức tranh ân đức, cái bức tranh cảm ơn, nhớ ơn, biết ơn, nguyện báo ơn đền ơn đó sẽ tô đậm, khắc sâu ở trong thọ; tưởng; hành của mình, trong tim mình, trong lòng mình. Khi trong mình đã đầy ngập một cái tâm biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn, hiếu thảo, hiếu nghĩa, hiếu lễ, hiếu kính, hiếu đạo như vậy khi cha mẹ có chửi mình, la mình mấy câu mình có nổi nóng không? Mình có nói những lời ngỗ nghịch không?
Tại vì bên trong mình là một cái cảm thọ hiếu thảo đầy ngạch, nó sung mãn, nó cùng khắp, cái tâm của mình trở thành một cái căn cứ địa của hiếu thảo. Cái hiếu thảo của mình bây giờ đã trở thành tường đồng vách sắt, nó trở thành cỗ xe, nó trở thành thành quách cho nên mình không thể nào có những lời nói, hành động bất hiếu, bất kính, ngỗ nghịch đối với mẹ. Tu tập cái tâm biết ơn là phải tu tới mức độ đó chứ không phải chỉ làm lễ ngay ngày rầm tháng 7, hay thiền biết ơn khóc hu hu rồi xong, vài bữa trở về vẫn bất kính, bất hiếu, không phải tu như vậy. Thành tựu được cái tâm biết ơn đối với hai đấng sanh, thành rộng ra chút nữa mình tác ý về ông bà, cô bác, chú dì, các cái bậc cùng một huyết thống như bà con, cô bác, anh chị em của mình, những người đã lo cho mình.
Những người lo mình nhiều nhất mình nhớ trước, có những người được bà ngoại nuôi, bà nội nuôi chứ không phải cha mẹ nuôi thì mình lấy những đối tượng đó làm đề tài thiền quán. Mình chiêm nghiệm, mình suy tư, mình nhớ nghĩ, mình tác ý rồi có những người được dì, cô, thím hay chú bác nuôi, hay có ân đức với mình rất là nhiều và mình quán chiếu những hình bóng, hình ảnh đó thực hành thiền biết ơn ngay trong tâm của mình. Như vậy mình lấy những bậc ân nhân, ân đức, ân nghĩa, ân tình đó làm đề mục, làm cái trang kinh, làm bài kinh, làm quyển kinh, làm cuốn kinh, làm cái bàn thờ ở trong tâm của mình thì như vậy chẳng những cha mẹ mà ông bà, cô chú bác, dì, thím ở trong huyết thống, ở trong gia tộc, ở trong gia đình của mình là trong tâm mình đầy ắp một cái cảm thọ, một cái suy nghĩ, những cái hình bóng về cảm ơn, biết ơn và nhớ ơn.
Nếu trong tâm mình đầy ắp cái cảm thọ như vậy khi mình gặp những cái người đó mình có nỡ lòng nào nói những cái lời sân hận với họ không? Mình có những cái cử chỉ bất hiếu, bất kính, vô lễ, ngỗ nghịch không? Tất nhiên là không có, nếu mình có được một cái cảm thọ như vậy, có một cái nội tâm như vậy, có một cái đức hạnh như vậy rồi thì quý vị nghĩ gia đình quý vị có một bậc chân nhân như vậy xuất hiện gia đình hạnh phúc không? An lạc không? Đó là đặc tính của bậc chân, khi bậc chân nhân xuất hiện ở trong một gia đình nào sẽ đem lại lợi ích, đem lại hạnh phúc, đem lại an lạc cho gia đình đó.
"- Bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, sinh ra trong gia đình, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho mẹ cha; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho vợ con; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các người hầu hạ, làm công; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các bạn bè, thân hữu; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các Sa-môn, Bà-la-môn"(Tăng Chi Bộ, Chương V – năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (II). Bậc Chân Nhân)
Bậc chân nhân xuất hiện ở trong gia đình nào là đem lại sự an lạc, đem sự hạnh phúc, đem lại lợi ích, đem lại ngọt ngào, thương tưởng mọi người, đó là đặc tính của bậc chân nhân tức là một con người thật sự là người đó. Chỉ bao nhiêu đây mà tu tập thành tựu thì không có đọa làm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thành tựu được cái tâm biết ơn, nhớ ơn này là một trong năm báo vật hiếm có ở đời, Đức Thế Tôn dạy người biết ơn, nhớ ơn là thế gian chí bảo, báu vật quý báo trên cuộc đời.
"Này các Licchavì, sự xuất hiện của năm châu báu khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?
Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời.
Người thuyết được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
Người hiểu được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
Người thực hành pháp và tùy pháp, sau khi đã hiểu rõ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời.
Người biết ơn, nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm loại châu báu này khó tìm được ở đời" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (V). Bà La Môn Pingiyani)
Mình ở trong chùa cũng vậy, nhìn thấy từ trên thầy, các Ni Sư, các sư cô, huynh đệ, tất cả ai cũng là ân nhân với mình hết, ai cũng giúp đỡ mình hết tu học hết. Nếu nhìn như vậy thì mình nhìn bằng cái ánh nhìn gì? Cái tâm mình có ngọt ngào không? Lời nói mình có hiền hòa không? Cái cử chỉ mình đối đãi với nhau có quý kính, hòa kính không? Cho nên đây là cái đặc tính quyết định của bậc chân nhân, của người tu. Cái tâm thứ hai là cái tâm hiền thiện, hiền lành, hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền từ, mình tập mọi cái cử chỉ, hành động của mình có ý có tứ, nhẹ nhàng, không có làm phiền lòng người khác. Nhiều khi bước chân của mình cũng hung dữ nữa, đi rầm rầm trong khi người ta đang ngồi đọc sách, thế là họ bực mình nên liếc mình, tiếng bước chân của mình thôi mà làm động niệm người khác, bước chân mình không có hiền. Hoặc người ta đang ngồi thiền, đang ngủ thì mình nói cao giọng, la lớn, giật mình thức dậy hết thì như vậy là mình chưa có hiền, bước chân không hiền, lời nói không hiền, hành động, cử chỉ mở cửa cái rầm, bưng chén là bể chén, cầm tô rớt tô, để đũa rớt đũa, rớt muỗng.
Cái đồ nhựa, đồ mủ xuất hiện là do con người không có chánh niệm nhưng đồ nhựa lại độc hại, gây bệnh ung thư cho nên từ cái này kéo tới cái kia, từ cái kia kéo tới cái nọ, rất là nhiều pháp ở trong đó nhưng mà mình không có thấy đâu. cho tâm hiền hòa này, cái tâm hiền lành này rất quan trọng. Phải đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tịnh của mình, cái nhìn của mình tập làm sao mà người ta thấy cái nhìn của mình dễ chịu, cái âm giọng, chất giọng của mình người ta nghe nói thấy dễ gần, cách hành xử của mình ấm áp. Mình tu ở trong lời nói, trong cử chỉ, trong hành động, phải tác ý vì không tác ý thì không tu được, phải nhắc hoài "hiền… hiền… hiền", "đi an tịnh, lắng dịu nè, "mắt thương nhìn người ta, đừng nhìn mắt dữ, mắt ghét". Phải tác ý nhắc nhở cái tâm thường xuyên như vậy, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ là phải để ý cái cảm giác, cái cảm thọ của mình, phải tác động cái suy nghĩ rồi kế đó tất cả pháp lấy dục làm căn bản là phải muốn mình hiền.
III. Tu với cảm thọ
Mình muốn làm con người chân nhân. mình muốn làm con người nghĩa tình, mình muốn làm con người đạo đức, mình muốn làm một con người thanh cao, cao thượng, hiền thiện. Mình không có muốn làm một con người vong ơn bội nghĩa, bất nhân bất hiếu, mình muốn làm con người hiếu nghĩa, mình muốn làm người hiền thiện là tất cả pháp phải lấy dục làm căn bản, phải muốn, mấy ngày nay chúng ta học những câu định lý của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng ta có muốn hiền không? Có muốn trở thành người hiếu thảo không hay là muốn trở thành bất hiếu? Khi mình muốn rồi mình phải để ý, mình tác ý rồi mình phải tu tập cái cảm thọ đó, bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật là cái định lý của tất cả trời đất, vũ trụ vạn vật, mới lấy ba câu thôi, trong đó nó còn bốn năm câu nữa.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Mình phải tu tập cái cảm thọ đó, mình không có tu có cái thọ đó thì làm sao có cái pháp đó? Bởi vì tất cả pháp ở trong cảm thọ mà bây giờ trong kho không có cái món đó, trong cái tâm mình không có cái đức hạnh đó, nó không có cái cảm giác đó, cảm thọ đó, cảm xúc đó thì làm sao thành tựu được cái pháp đó? Cho nên mình tu tập cái cảm thọ hiền lành, hiền thiện, hiền đức, hiền lương, hiền từ, hiền hậu, hiền hòa. Cái hiền này chúng ta kết hợp với hiền thiện và hòa kính, đây là cái tâm thứ ba, phải tập làm sao cái tâm của mình rất là dễ hài hòa, dễ hòa đồng, dễ đoàn kết, dễ hòa hợp, đừng có cái tâm chống đối, cái tâm cãi cọ, cái tâm dễ bực bội, sân hận.
Cho nên con mới dùng cái từ mới, chúng ta nhớ "cãi cha, cãi mẹ, cãi ông, cãi bà, cãi thầy, cãi tổ, cãi trời, cãi Phật xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh". Nhớ cái câu này để học thuộc lòng, cãi là một cái tâm không có hiền hòa, một cái tâm không có nhu nhuyến, một cái tâm không có mềm mại, một cái tâm không có dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, cái tâm cãi đó là cái bản ngã mà cái người đụng đâu cũng cãi hết thì người này làm sao tu học được, rồi gia đình là bất an, vợ chồng nói hai ba câu là gây gỗ, cha mẹ nói cũng cự luôn, cô chú bác, dì nói cũng ăn cơm hớt hết, người ta nói chưa hết câu đã chen ngang thì phải trị được cái tâm này.
Phải tu tập cái tâm rất là hiền lành, rất là hòa kính, nếu cái đó là thiện pháp, là tốt lành, cái đó mang lại lợi ích thì mình phải cúi đầu lắng nghe, chấp nhận học pháp để tu tập, còn cái tâm mình bản ngã cao ngạo, ta đây, lúc nào cũng coi mình hay, mình giỏi, mình tài, mình số một, mình number one thì như vậy không có tu học được, ở trong gia đình cứ bất hòa, cứ tranh cãi, cứ lục đục, cứ rầy rà là bởi vì cái tâm không có hòa kính. Cho nên cái tâm hiền hòa và cái tâm cung kính này rất quan trọng, Chúng ta thấy từ ngày đầu cho tới bây giờ là hai tuần lễ không có một ai cãi lộn ai hết, thấy ngọt ngào, dễ chịu không? Là do từ cái ngày đầu tiên chúng ta được tu cái tâm hòa kính.
Đức Thế Tôn tới thăm các bậc tôn giả khi các ngài đang tĩnh tu, Thế Tôn hỏi các thầy tu học có được an lạc không, an vui không, bạch Thế Tôn chúng con rất là an lạc, bạch Thế Tôn chúng con là tuy là khác thân nhưng mà như đồng một tâm, giống như nước với sữa hòa hợp.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, sữa cùng hòa hợp, cùng đi với sữa; dầu cùng hòa hợp, cùng đi với dầu; thục tô cùng hòa hợp, cùng đi với thục tô; mật ong cùng hòa hợp, cùng đi với mật ong; mật mía cùng hòa hợp, cùng đi với mật mía. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, I. Phẩm Sai Biệt, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Kinh Với Các Bài Kệ)
Chúng ta thấy dầu mà đổ vô nước có hòa hợp được không? Nhưng mà sữa đổ vào nước thì còn tách ra được không? Đó là hòa hợp như sữa với nước, đây cũng là từ được dùng trong kinh, sữa với nước hòa chung với nhau rồi là không có tách ra được, nó trở thành một, cũng vậy, tuy là cái thân khác nhau, cái mặt khác nhau, cái hình hài khác nhau nhưng mà tất cả các vị này đồng một cái tâm là một cái tâm biết ơn, một cái tâm hiền thiện, một cái tâm hòa kính, một cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, một cái tâm luôn luôn quay trở về để nhìn lỗi của mình và phòng hộ căn, hộ trì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, khéo léo xét nét cái lỗi của mình, một cái tâm luôn luôn hướng tới sự diệt tham, diệt sân, diệt si, một cái tâm luôn luôn sống ở trong từ, bi, hỷ, xả, thành ra giống nhau hết. Chính vì vậy mà khác thân nhưng mà như đồng một tâm.
Bây giờ ai cũng hướng tới sự phải rời sân giận, đừng có giận, ở chung với nhau ai cũng hướng tới cái sự không giận, ai cũng hướng tới cái sự không có tôi, ta gì hết, thực hành cái hạnh nùi giẻ, không có tôi gì hết, cái đồ chùi chân, không có tôi nào ở đây, không có ta nào ở đây, không có bản ngã nào ở đây hết, thực hành một cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, cúi đầu lễ lạy, cung kính, biết ơn, trang nghiêm, tôn trọng, đây là những cái khẩu quyết mà chúng ta thực hành, như vậy trên dưới thuận hòa , trong ngoài an ổn, tất cả ở trong gia đình cũng được bình an mà ở trong đạo tràng cũng được tịnh lạc, tất cả ở trong các cái công sở, trong các tập đoàn, trong các đoàn thể ứng dụng được lục hòa của Đức Phật.
Năm đó nhà vua Ba-tư- nặc tám mươi tuổi đi đến lạy dưới chân Thế Tôn cũng tám mươi tuổi, nhà vua lạy xuống và hôn bàn chân Đức Phật thì chúng ta thấy rằng tuyệt vời đến mức độ nào, Thế Tôn mới nói tại sao đại vương lại cung kính Như Lai hết mức như vậy, nhà vua bảo con thấy rất là kỳ lạ ở nơi Thế Tôn những điều mà con không thể nào tưởng tượng nổi cho nên con cung kính Thế Tôn, những việc mà Thế Tôn làm con không thể nào tưởng tượng nổi hết, con không biết suy nghĩ làm sao có thể làm được, thành tựu được những cái pháp tối thượng như vậy.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
-- Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
-- Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
-- Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì'. Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỳ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn. Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì" (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Thật là kỳ diệu!
Thật là vi diệu!
Thật là không thể nghĩ bàn, không thể tưởng tượng được những điều mà Thế Tôn đã làm, đã thành tựu, cái hội chúng của ngài. Thế Tôn đang thuyết pháp mà có một vị ho lên thì một người ngồi kế bên lấy cái tay đó khều nhẹ nói "Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đang thuyết pháp, xin thầy đừng có làm ồn", một tiếng ho thôi mà như vậy.
"Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: 'Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Đạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp'." (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Chúng ta còn nhớ vua A-xà-thế ngỗ nghịch giết cha rồi sau đó hối hận muốn đi sám hối, tìm tất cả mọi cách, tìm các thầy, các đạo sư khác vua không có kính phục, nhưng khi vị đại thần giới thiệu vua đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Nhà vua đi bằng kiệu, sau đó nhà vua đi bộ xuống vô tới giữa đường trong này, nhà vua quay lại ông đại thần nói ngươi muốn giết ta hay sao vậy vì một đại chúng lớn cả ngàn người mà không hề nghe thấy tiếng động, vị đại thần nói không có phản nhà vua, bệ hạ cứ từ từ đi vào sẽ thấy.
"- Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
- Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng" (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa-môn quả)
Khi nhà vua bước vào thì đập vào trong mắt nhà vua một hình ảnh Thế Tôn ngồi sừng sững, nguy nga như núi chúa, chung quanh hơn một ngàn vị thánh Tăng bất động, thanh tịnh ở trong thánh chánh định. Nhà vua thấy hình ảnh đó thôi là sụp xuống lạy, các vị đón nguyên thủ quốc gia đi qua đi lại, đi tới đi lui, nói chuyện này nọ kia, đừng nói chi thời Đức Phật xa xôi, ngay cả cái đạo tràng trang nghiêm, thanh tịnh thì mình thấy bên trong là một cái tâm hiền thiện, một tâm cung kính cho nên đừng nói chia tới cái oai đức của Đức Phật ngày xưa cho nên các vị vua tâm phục khẩu phục, lạy dưới chân của Đức Phật, nói rằng con không thể nào làm được như vậy, không thể nào con làm được như vậy.
Trở lại cái vấn đề mình thấy thánh chúng của Đức Phật là hội chúng tinh ba chứ không phải là hội chúng cặn bả, hội chúng của bậc thánh chứ không phải là hội chúng của phàm, hội chúng thâm sâu chứ không phải là những cái hội chúng tạp nhạp. Tại đâu, nhờ đâu mà được như vậy? Chính là lục hòa kính, đó là cái tâm hiền hòa, cung kính. Mình thấy đại chúng của mình có hiền không? Chỉ mới thực hành được chút tâm hiền mà còn vậy thì huống chi thánh chúng của Đức Phật, cho nên các vị vua, các vị đế vương đi tới lạy sát đất dưới chân của Đức Phật. Hội chúng của Đức Phật lấy cái gì làm nền tảng? Lấy cái gì làm tiêu chí? Lấy cái gì làm cốt lõi? Lấy cái gì làm cái chất liệu để xây dựng? Chính là lục hòa kính, thân hòa ở chung, miệng hòa không có tranh cãi, ý hòa cùng vui để tu, khổ quá trời quá đất rồi vô đây tu chứ vô đây kiếm chuyện để khổ thêm nữa thì bây giờ biết đi đâu. Có nhất chí vậy không?
Bây giờ ngoài đời khổ quá trời quá đất rồi, con đi vô chùa con tu, mà đi vô chùa tu con gặp khổ nữa thì con chạy đi đâu? Cho nên đệ tử của Đức Phật là những vị đó nhìn thấy được khổ, cảm thọ được cái khổ nên muốn lìa khổ, không có muốn ở trong khổ nữa. Vì thế các vị nghe lời răm rắp Đức Phật hết trơn, chấp nhận học pháp, cái pháp được Thế Tôn đưa ra, các bậc thánh đưa ra thì vị này chấp nhận một cách cam tâm tình nguyện bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả trái tim, bằng tất cả khả năng, năng lực, tâm lực, trí lực, hạnh lực, nguyện lực, sức lực, đạo lực của mình để thực hiện những cái pháp đó, gọi là chấp nhận học pháp, không có chống đối cho nên Đức Phật dạy sáu pháp hòa kính, thân hòa cùng ở, miệng hòa không phải tranh cãi, ý hòa cùng vui với nhau vui để tu chứ không phải vui để buông lung phóng dật.
IV. Hòa kính
Chúng ta nhớ kỹ cái đó vui là để tu, vui là để diệt tham, sân, si, vui là để đánh cho cái bản ngã gục ngã, vui là để cho mình trải cái tình thương của mình rộng lớn, trải cái tâm thương, tâm xót, tâm buông xả của mình cho nên giới cùng giữ với nhau, có lợi cùng chia đều với nhau và cuối cùng là cái chánh tri kiến, cái thấy biết của bậc thánh cùng san sẻ với nhau kiến hòa đồng giải. Như vậy đã hòa được cái miệng, hòa được cái thân là cũng tuyệt vời rồi mà cái này ý cũng hòa luôn, đó là hội chúng tinh ba của Đức Phật, nếu chỉ cần ứng dụng cái này vô gia đình thì gia đình nào mà không bình an, hạnh phúc, thiên hạ thái bình, thế giới an hòa, không còn chiến tranh nữa. Trong tâm của mình là một cái tâm hài hòa, một cái tâm hiền hòa, người ở trong gia đình cũng tu cái tâm hiền hòa thì gia đình đâu có cãi, gia đình không có cãi thì cả phố phường đâu có cãi, cả tỉnh đâu có cãi, hòa bình hết, cả thành phố rồi nhiều thành phố, cả nước, cả quốc độ, nhiều quốc độ, cả hành tinh thì thiên hạ thái bình, chúng sanh an lạc với lục hòa kính.
Cho nên cái tâm tu tiếp tục theo là cái tâm hòa kính rất quan trọng, nhiều khi lúc đầu ở chung thì còn tôn trọng nhau nhưng mà khi về ở chung với nhau thời gian rồi, vợ chồng, anh em cũng vậy, bà con cũng vậy rồi lần lần cái tâm kính trọng lẫn nhau không còn nữa, cứ nhìn những cái điểm xấu của nhau, những cái điểm tiêu cực của nhau, những điểm sai quấy của nhau, những cái điểm dở của nhau mà không thấy cái tốt của nhau. Từ từ mất đi cái tâm hòa, cái tâm kính, cái tâm tôn trọng lẫn nhau rồi sống với nhau bằng cái tập khí, sống nhau bằng cái nghiệp, sống với nhau bằng những cái thói quen, sống với nhau bằng bản ngã, sân si thì như vậy tan nát hết, gia đình đổ vỡ, không còn ý nghĩa là mái ấm nữa mà về tới nhà là cả một cái sự mệt mỏi. Bước vô cái căn nhà đó giống như bước vô địa ngục trần gian, nó về là đánh đập, đó nhậu nhẹt về say là đánh tả tơi, không còn tôn trọng nhau nữa, không còn quý trọng nhau nữa, không còn kính trọng nhau nữa, mất đi chất liệu của hòa kính.
Tại sao lúc mới gặp nhau thì muốn về ở chung với nhau để được hạnh phúc mà cuối cùng về ở chung lại làm đau khổ cho nhau? Tại sao? Tại cái tâm vô minh, tại cái tâm bản ngã, tại cái tâm sân hận, tại cái tập khí, tại cái nghiệp đó cho nên mình ứng dụng được tâm hòa kính này rất là tuyệt vời. Như vậy thì cái tâm đầu tiên là tâm biết ơn, nhớ ơn, cái tâm thứ hai là tâm hiền thiện, cái tâm thứ ba là tâm hòa kính, tiếp theo là tâm khiêm cung, khiêm hạ. Cái tâm này rất quan trọng, cái tâm này mỗi lần buông xuống mỗi lần cao, "nhất hồi phóng hạ nhất hồi cao" nghĩa là khi một cái tôi của mình càng bỏ xuống bao nhiêu thì cái đức độ, cái đạo hạnh của mình nó càng cao lên bấy nhiêu.
Cho nên nhiều khi con nói mấy câu mà mấy chú ngồi chung xe, đi chung mấy chú "sao sư phụ nói giống thần chú quá vậy?". Con nói càng lớn càng nhỏ, càng nhỏ càng lớn, càng lớn càng nhỏ, càng nhỏ càng lớn, càng cao càng thấp, càng thấp càng cao. Tại sao càng lớn là càng nhỏ? Tại sao càng nhỏ lại càng lớn? Tại sao càng cao càng thấp? Càng thấp càng cao? Mình càng tỏ ra mình là lớn, ta đây thì cái đức hạnh mình càng nhỏ, càng phình trương cái ta mình to chừng nào thì cái đức hạnh càng nhỏ chừng đó, cái bản ngã mình nó càng nhỏ thì cái đức hạnh mình càng lớn cho nên càng lớn là càng nhỏ, càng nhỏ càng lớn, càng cao càng thấp, càng thấp càng cao cũng đồng một ý nghĩa như vậy. Mình càng tỏ ra mình địa vị cao, mình ở trên cao thì mình càng thấp, mà cái bản ngã của mình hạ xuống càng thấp thì cái đức hạnh càng cao. Bây giờ chịu cái nào?
Mình tu là đến cái chỗ tan cái bản ngã ra nhưng giờ không biết tu kiểu gì t mà càng ngày nó càng phình lên, trương lên, to cao lên, nó lớn lên thì như vậy cái này là tẩu hoả nhập ma, tu sai đường, tu lạc đường, tu trật cho nên trong thanh quy đạo tràng chúng ta có nói khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, đánh một cái năm chưởng, năm lần lặp lại như vậy. Tức là một cái sự nhấn mạnh này rất là quan trọng của pháp hạnh này, chúng ta sở dĩ đau khổ là vì cái tôi. Mình thấy cái người có cái tôi lớn rồi đi đến đâu có khổ nhiều không ạ? Cái tôi lớn quá đi vô nhà bếp chứ không nổi, cái tôi mà lớn quá lên trên chánh điện một ngàn mét vuông cũng chứa không nổi nữa, cái tôi lớn quá thì ra phòng khách cũng chạy hết trơn, không có phòng nào chứa nổi hết cho nên bậc đạo sư nói cái tôi lớn hơn cả trời đất. Cái thân thì có chút xíu thôi, có thước bảy, thước tám thôi, nhiều khi lùn có thước rưỡi thôi, thước tư cũng có nữa nhưng mà cái tôi của nó lớn hơn trời đất, lớn hơn địa cầu.
Nằm thì bề ngang một thước, bề dài hai thước nằm không giáp nữa nhưng mà tính muốn gom hết thiên hạ, vậy đó rồi khổ đau, làm cho mình khổ, người khổ mà tội nghiệp mấy người ở chung mình mới khổ dữ dằn nhất. Cái người ở gần kế bên mình mới khổ, mình đã khổ mệt rồi mà còn lan cái khổ ra cho người kế bên, bắt bẻ từng chút, nói tiếng cũng cự, làm gì cũng không cho, có cái gì cũng chỉnh hoài. Như vậy làm khổ cho nhau, hành hạ cho nhau, hành tội nhau, hành xác nhau, hành hình nhau rồi hành quyết nhau luôn rồi vào tù. Rước về ở chung để hành tội với nhau, tội nghiệp quá nên tu hành đi, đừng hành tội, nhất chí không? Tu hành để đừng hành tội, cũng là chữ hành thôi thêm chữ tu hành vô chứ mình để chữ hành nó hành tội với nhau.
Cho nên mình sống với một cái nết hết sức là hiền hòa, lúc mình chưa tu thì đứng vương vai ưỡn ngực, vai năm tất rộng mà thân mười thước cao, đứng to cao, ưỡn ngực, hất mặt, vênh váo ta đây nhưng vô đạo tràng tu thì chấp tay cúi đầu. Từ cái hất mặt lên trời, ưỡn ngực thì bây giờ vô tu là chấp tay cúi đầu, mới vô tu đều phải chắp tay cúi đầu xuống cho nên ai ra quỳ lạy là tất cả phải chấp tay cúi đầu xuống hết, phải tập từ từ cho quen, đó là cái sự hành trì khiêm hạ, khiêm cung. Đó là cái dụng ý đó chứ không phải mình thấy ai chấp tay lạy kệ người ta, mình ngồi là cứ ngồi, nhưng mà ở đây không có như vậy, một người chấp là tất cả phải chấp cúi xuống hết từ trên xuống dưới nghe pháp bảo, nghe tuyên thánh chỉ.
Hồi xưa gọi là "Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết ", mở chiếu ra là tất cả quỳ xuống hết, bây giờ nghe tuyên thánh ngữ của Phật là chấp tay cúi đầu hết, đều có dụng ý hết chứ không phải tự nhiên. Đó là sự tập cho mình cái tâm cung kính, khiêm hạ trong khi mình nghe thánh ngữ của Đức Phật, không được ngồi trơ trơ mà phải có một cái thân hành cung kính cúi đầu, đó là cái pháp cung kính, cái pháp khiêm cung, khiêm hạ được thực hành ngay tại chỗ, ngay giảng đường. Đó là mình phải hiểu được cái ý nghĩa tại sao thầy làm, tại sao quý sư làm cái đó, cho nên từ cái chỗ vai năm tấc rộng, lưng mười thước cao như vậy, rồi đứng ưỡn ngực hất mặt lên trời thì bây giờ chấp tay cúi đầu, sau khi cúi đầu một thời gian rồi cho quỳ xuống, bản ngã quỳ mau xuống đất nào, phải quỳ xuống đất mau lên.
Khi nãy là đứng chấp tay còn bây giờ là quỳ xuống chấp tay, khi quỳ xuống chấp tay một thời gian cái rồi lạy. Mình thấy hình ảnh lạy Phật đẹp không? Ngoài Đức Phật ra mình có thi hành đại lễ đó với ai không? Có cha mẹ mình nhưng lúc cha mẹ chết mình mới lạy, còn hằng ngày chỉ lạy Phật thôi, hình ảnh đem năm vóc sát đất, từ cái trán, hai cái khủy tay, hai cái đầu gối lạy xuống chạm đất, ngũ thể đầu địa thì đẹp biết bao nhiêu. Hình ảnh đó chỉ trong giáo pháp của Thế Tôn mới có và đánh cho gục ngã cái bản ngã, bẻ gãy cái bản ngã, diệt tận cái bản ngã, như vậy thì quỳ xuống rồi cho lạy xuống, năm vóc sát đất cho nên mỗi khi mình lạy xuống thì đừng lạy ào ào, đừng lạy như giã gạo, lạy cho có hình thức, đừng cụp cái đầu lên xuống giống cái chày giã gạo.
Mình phải hiểu ý nghĩa việc làm của nó, là khi lạy xuống năm vóc sát đất thì lúc đó mình như tác ý như thế nào? "Con xin chôn vùi cái bản ngã này vào lòng đất, tại chỗ này, giờ phút này, ngay nơi này, cái ta này phải tan vào lòng đất, cái tôi này sẽ được mai táng ngay giờ phút này, sẽ được chôn vùi ngay tại chỗ này. Ta sẽ đưa cái bản ngã này xuống cái huyệt, xuống cái mồ này, đây chính là mồ chôn của bản ngã, trong cái lạy này là mồ chôn bản ngã". Mỗi một cái lạy xuống mình đều phải tác ý như vậy cho nên đừng có lạy cho lẹ, cho mau, phải lạy chậm chậm, từ từ và mình tác ý càng nhiều càng tốt, "cái lạy này là sự chôn vùi cái bản ngã, cái lại này là sự mai táng cái bản ngã, cái lạy này là sự diệt tận cái bản ngã. Ta cho ngươi vào lòng đất ngay tại chỗ này, ngay nơi này, giờ phút này ngươi chết đi. Cái bản ngã, cái tôi, cái ta này, cái hơn thua này, cái đúng sai, cái cao thấp, nhân ngã bỉ thử này ngươi diệt tận hoàn toàn đi, đây là mồ chôn của bản ngã".
Bất cứ cái lạy nào cũng nhớ tác ý như vậy, một ngày mình lạy ít nhất cũng được năm, bảy lạy, mười lạy, hai mươi lạy thì mỗi một ngày như vậy cái trí vô ngã của mình tăng thêm một chút, tăng thêm một chút tăng thêm một chút. Mình lạy riết như vậy thì cái bản ngã này sẽ bị gục ngã, nó sẽ bị bẻ gãy, khi chôn cái bản ngã xuống vẫn chưa xong đâu, nó rã ra, nó phân hủy thành bộ xương. Bộ xương đang lạy, cái bộ xương này một thời gian nữa mục ra, nó bể, nó nát, nó rữa ra, rồi đầu lâu một chỗ, xương sọ, xương sườn, xương ống chân, xương bàn chân, xương mông rời rạt như vậy, nó rệ rã ra một thời gian rồi nát ra thành một đống tro. Khi mình lạy xuống là mình thấy một đống tro tàn, từ cái bộ xương rã nát ra còn một cái đống tro, mình lạy một thời gian nữa là cái đống tro này bốn phương tám hướng gió thổi bay hết trơn.
V. Tâm hiền
Mình đem cái đống tro này đổ nó xuống sông, xuống biển, nó trở thành hư không, trống rỗng, không còn gì nữa hết, trống không, trống rỗng, không có cái ta, không có cái tôi, không có cái hình bóng tự ngã nào trong tâm nữa hết. Chỉ là một nấm tro tàn, chỉ là cát bụi và gió thổi cát bụi này cũng bay luôn, trở thành trống rỗng, trống không, trống trơn hết. Như vậy cái lạy đó là cái lạy diệt ngã, cái lạy vô ngã, cái lạy tan ngã, cái lạy tiêu ngã, cái lạy sạch ngã, cái lạy không còn cái tôi nữa, lạy như vậy tội diệt phước sanh, công đức thành tựu. Lạy như vậy mới giảm được sân si, lạy như vậy mới lắng được những cái tham ái, lạy như vậy mới phá được cái bức màn vô minh, lạy như vậy mới tăng trưởng trí tuệ, lạy như vậy tuệ giác mình càng tỏ sáng, lạy như vậy thì đức khiêm cung, khiêm hạ của mình mới thành tựu. Mỗi cái lại mình đều tác ý hết, đó là cái pháp hành tâm hiền như đất của tôn giả Xá-lợi-phất, chín pháp an trú tâm của bậc tướng quân chánh pháp thánh Tăng.
Trong chín cái pháp an trú tâm đó là cái pháp tâm hiền như đất, cho nó hòa tan vào lòng đất luôn. Mấy hôm nay lạy được mười lạy có nhớ được vậy không? Bất cứ lúc nào mà không phải đợi cái lúc lạy mới quán nữa, ngay cái lúc có người ta lên lạy cúi đầu thì mình cũng cúi xuống vậy luôn, đó là cái đức khiêm cung. Cái cuối cùng ở đây trong cái tổng kết của buổi hôm nay là bốn cái tâm từ, bi, hỷ, xả, cái tâm thương rộng lớn, cái tâm xót rộng lớn, cái tâm vui rộng lớn và cái tâm buông rộng lớn. Thương mình thật nhiều, xót xa những lỗi lầm của mình trong quá khứ, khi mình nhìn lại những thời gian vừa qua, mấy chục năm qua mình đã từng sống, mình coi mình sống thế nào, những cái tham, sân, si của mình, những cái bản ngã, hơn thua của mình, những cái dục ái của mình, cái vô minh, chấp thủ, nhìn thấy là mình rất là xót xa, rất là đau lòng, rất là tủi thân tủi phận cho cái kiếp luân hồi đầy cay đắng, đầy bất an, đầy tai họa, đầy khổ đau này.
Mình thấy mình dâng trào dâng lên một cái cảm giác xót xa, lòng trắc ẩn, nó ray rứt, nó nhức nhói, nó đau đớn, nó quằn hoại, nó thống thiết, nó thảm thiết, nó bi thương. Đó là mình tu tập cái tâm bi, tâm từ, cái sự xót xa đó, mình mới thương thật là thương cái ngũ uẩn này, thương thật là thương cái cảm thọ này và thương thật là thương cái tham, sân, si, vô minh, dục ái này. Như vậy mình trải tâm xót và trải tâm thương cho chính mình rồi mình mới nhìn lại cha mẹ, anh chị em mình cũng đều giống vậy hết, là nạn nhân của tham, sân, si, là nạn nhân của dục ái, là nạn nhân của bản ngã, là nạn nhân của vô minh, là nạn nhân của hơn thua, của chấp thủ, của sự nắm giữ trong cái tâm cấu uế, cấu nhiễm. Mình thương mình thương bao nhiêu thì mình thương họ bấy nhiêu, mình thương cả dòng tộc, cả đại kiến họ, dòng họ của mình như thương mình vậy đó.
Vì tất cả đây là ngũ uẩn, tất cả là tham, sân, si, tất cả là dục ái, tất cả là vô minh, bản ngã, tất cả là mù lòa. Mình thương rộng như vậy rồi bắt đầu mình mới trải ra tới người dưng, mình trải rộng cùng khắp hết tất cả các phương hướng, đông, tây, nam, bắc, bề dọc, bề ngang, trên dưới, cùng khắp, không hận, không sân, vô lượng vô biên. Đó là cái tâm xót và tâm thương, tâm từ, tâm bi vô lượng, đầu tiên mình trải có đối tượng, sau đó là không có đối tượng nữa, phải cùng khắp vô lượng vô biên, không có giới hạn, không có cùng tận tất cả các phương hướng, những cái chúng ta đã được thực tập những cái tâm đó nhớ về nhà thực tập.
Cái tâm vui của mình hoan hỉ, mình hạnh phúc khi mình được tu tập như vậy, mình rúng động, mình cảm động, mình chấn động, mình chào dâng nước mắt nhưng mà mình rất là hạnh phúc, mình rất là sung sướng, mình rất là hoan hỉ, mình rất là hỷ lạc vì vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp đến giờ này mình mới nhìn thấy được ngũ uẩn. Giờ này mình mới nhìn thấy hang ổ, xào huyệt của tham, sân, si, giờ này mình mới thấy được cái bộ mặt thật sự của bản ngã là cái làm cho mình đau khổ vô thỉ kiếp cho đến nay, giờ này mình mới nhìn thấy được nó, mình ưu tư, buồn đau nhưng mà mình vui sướng, hạnh phúc. Đó là hai cái thọ rất là quan trọng ở trong sự tu học, thọ hỷ và thọ ưu, buồn đau là vì bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp mình vô minh, mình tham, sân, si, bản ngã, dục ái, mình hạnh phúc vì bây giờ này mình thấy được nguyên nhân đau khổ, mình đang đi đến con đường diệt khổ. Mình tác ý cho cái vui này, mình vui rồi mình đem cái vui đó lan tỏa cho những người thân thương, nhất là cha mẹ, anh chị em, những người mà nghe mình nói, những người có duyên tức là người đó họ nghe mình nói, mình hướng dẫn họ chịu nghe thì gọi là người có duyên.
Mình lan tỏa cái niềm hoan hỉ đó đến cho họ, cái sự tươi tắn, sự tươi vui, cái sự an vui, cái sự thấm đẫm, thấm đượm, thấm nhuần, thấm gội, thẩm thấu trong toàn bộ châu thân của mình. Cái sự hỷ lạc đó mình lan tỏa cho họ, mình đem đến sự tươi mát, sự thanh lương, sự ngọt ngào, sự ấm áp, sự dễ chịu, sự hiền hòa, sự từ ái, lan tỏa cho họ, làm tất cả mọi cái nhưng trong một cái tâm buông xả tham, sân, si, buông xả kiêu mạn, chấp thủ trong cái bản ngã và cuối cùng là buông xả ngũ uẩn. Cho nên tu nhưng vẫn giúp đỡ, vẫn làm tất cả mọi công việc nhưng mình chú trọng cái tâm xả, chính vì vậy mà mình làm mình không có cư công, mình không có kể công, mình không có khoe công, mình không có chấp công, thành ra lúc mình làm mà tâm mình rất là an lạc, nhẹ nhàng, thảnh thơi, bình an. Mình trú ở trong bốn cái tâm từ, bi, hỷ, xả vô lượng.
Hôm nay chúng ta tổng quát pháp hành mà mình đã học từ ngày đầu tới ngày hôm nay, tâm hiền, tâm biết ơn, tâm hòa kính, tâm khiêm hạ, diệt ngã và tứ vô lượng tâm là tổng kết những gì chúng ta học từ cái ngày đầu đến ngày hôm nay. Chúng ta nắm vững, nắm kỹ, nắm chặt, nắm giữ những cái pháp này để mình thực hành, đây là tổng quát pháp hành kinh tạng Nikāya, chúng ta thực hành những cái pháp này cho đến khi nào chứng đắc, thành tựu, nó ở trong cảm thọ mình, nó không có mất. Lúc nào mình vừa khởi lên cái tâm biết ơn thôi là nó dào dạt, nó dâng đầy ắp trong tâm, mình khởi lên một cái tâm hiền là hiền thiện, dễ chịu, mình khởi là một cái tâm khiêm cung, khiêm hạ là bất cứ lúc nào cũng có thể quỳ mọp xuống lạy người ta dễ ợt, ngọt ngào, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, rất là dễ để cúi xuống lạy tất cả mọi người, bất cứ người đó là ai, khi mình khởi lên cái tâm thương là nó tràn ngập, nó tuôn chảy ra từ bên trong cái tâm thương, tâm xót, tâm mừng, tâm buông cùng khắp, rộng lớn, tất cả mọi phương, vô lượng vô biên, vô cùng, vô tận, tứ vô lượng tâm. Hôm nay chúng ta chia sẻ tới đây ạ.
Sư cô: Ban tổ chức và chúng con xin được thành kính tri ân, niệm ân của thượng tọa giảng sư đã cho hàng đệ tử xuất gia cũng như hàng Phật tử tại gia chúng con một thời pháp thoại thật là thực tế và thật là ý nghĩa trong đời sống. Và hàng đệ tử xuất gia của chúng con cũng như hàng tại gia chúng con phụng giáo y hành theo lời của Phật dạy và theo lời chỉ dạy của thượng tọa. Chúng con sẽ nguyện sống luôn được biết mình như thế nào để thể hiện lòng biết ơn, nhớ ơn và luôn sống trong sự hòa kính, luôn sống trong sự khiêm hạ và luôn sống trong với tâm đại bi. Và giờ này chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư hoan hỉ nhận một lời chúng con xin tri ân và biết ân thượng tọa một thời pháp thoại thật ý nghĩa đến với hàng đệ tử chúng con cũng như hàng xuất gia và tại gia chúng con, và giờ này chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư cùng đại chúng chúng ta chấp tay trang nghiêm, chúng ta xin hồi hướng. Chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư khởi xướng là hồi hướng. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Sư cô: Hàng Tăng Ni chúng con cũng như hàng Phật tử chúng con xin niệm ân và tri ân thượng tọa giảng sư, và giờ này chúng con kính cung thỉnh thượng tọa giảng sư hồi quy phương trượng để nghỉ ngơi. Nam mô hoan hỉ tạng bồ tát ma ha tát.
./.
Đức Phật Dạy Đạo Làm Người 5
Tổng Quát Pháp Hành
Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thỉnh giảng sư thuyết pháp PAGEREF _Toc213779383 \h 1
II. Biết ơn, nhớ ơn PAGEREF _Toc213779384 \h 1
III. Tu với cảm thọ PAGEREF _Toc213779385 \h 5
IV. Hòa kính PAGEREF _Toc213779386 \h 10
V. Tâm hiền PAGEREF _Toc213779387 \h 14
I. Thỉnh giảng sư thuyết pháp
Sư cô: Vào giờ này đã vào giờ lớp học, chúng con xin được mạn phép thượng tọa giảng sư cho chúng con được thỉnh giảng sư vào lớp học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lời đầu tiên hàng Tăng Ni cũng như hàng Phật tử chúng con xin thành kính đảnh lễ thượng tọa giảng sư giảng sư, kính bạch chư tôn đức Tăng Ni, kính thưa toàn thể quý Phật tử, rất vui và chào mừng Phật tử đang có mặt trên diễn đàn học phật online cũng như quý Phật tử xem trên trực tiếp kênh YouTube, Facebook chương trình Phật học online do ban hoằng pháp trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với kênh thông tin tổng hợp Phật sự online tổ chức, để nhằm cho quý Phật tử hiểu và hành trì trong đời sống tu học suốt hai mươi bốn giờ trong một ngày. Và giờ này chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư và quý Phật tử được niệm Phật hồng danh của đức bổn sư để chúng con được vào lớp học. Chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư khởi xướng niệm Phật. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô: Kính thưa quý Phật tử trong chương trình Phật học online, ban tổ chức xin trân trọng cung kính giới thiệu giảng sư của chúng ta thượng tọa Thích Minh Thành đến với lớp học của chúng ta hôm nay với đề tài Đức Phật dạy làm người phần năm, kinh giáo thọ Thi-ca-la-việt, để hiểu được nội dung và áp dụng trong đời sống tu học để mong ngày một được thành tựu trên con đường tu học. Và giờ này hàng Phật tử cung kính, trang nghiêm để chuẩn bị vào lớp học và chúng con xin được bái thỉnh thượng tọa giảng sư bắt đầu đi vào buổi pháp thoại của mình. Chúng con xin cung thỉnh đảnh lễ giảng sư bắt đầu. Nam mô A-di- đà Phật.
II. Biết ơn, nhớ ơn
Sư Phụ: Kính bạch chư tôn thiền đức, chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về những lời dạy nguyên chất của Đức Phật về đạo làm người. Nhân cái khóa tu ở tại chỗ đây cho nên hôm nay chúng ta sẽ tổng kết những cái pháp hành căn bản của một người Phật tử. Người Phật tử muốn hạnh phúc, muốn có đời sống an ổn, an lành, an lạc thì cái pháp đầu tiên chúng ta thực tập, học tập và tu tập là cái pháp biết ơn và nhớ ơn, cái pháp đầu tiên và quan trọng nhất của một người tu là biết ơn và nhớ ơn. Trong cuộc đời chúng ta ai là bậc đại ân, đại đức đối với mình ngoài hai đấng sanh thành, nếu mà mình không có biết ơn, nhớ ơn cha mẹ mình thì mình không thể nào biết ơn, nhớ ơn người khác được hết, cho nên cái đạo đức căn bản làm người đó là hiếu hạnh, hiếu thảo, hiếu đạo.
Điều này là cái điều căn bản, là gốc rễ của một con người nên cái pháp đầu tiên là mình làm sao phải có sự tác ý. Mình tác động tâm ý, mình suy xét, suy nghĩ và cái sự tu ở trong kinh Nikāya rất là linh động, rất là dễ làm, khắp mọi chỗ mọi nơi, mọi thời mọi lúc, mọi hoàn cảnh, không phải đợi tới cái lúc mình lên chỗ thờ Phật mới tu mà bất cứ cái chỗ nào mình ngồi nhớ lại ân đức của cha mẹ. Không phải đợi tới cái ngày rằm tháng bảy, không phải tới mùa lễ Vu lan, không phải đợi tới tổ chức thiền biết ơn thì lúc đó mình mới quỳ ở trước cha mẹ mình cảm ơn, xin lỗi bằng những dòng nước mắt mà bất cứ lúc nào, ở đâu, nơi nào và chúng ta có một sự tác ý theo cái chiều hướng của hiếu thảo bất cứ ở nơi nào, ở chỗ nào, ở thời điểm nào, hoàn cảnh nào mình đều có thể thực hành thiền biết ơn ngay tại chỗ mà không cần phải có cha mẹ ở trước mặt,
Mình ngồi đó dùng cái tưởng của mình hồi tưởng lại những hình ảnh, những cảm xúc, những việc mà cha mẹ đã hy sinh cả cuộc đời này cho mình, đã làm cho mình, đã đem lại cái hình hài, này cái vóc dáng này, cái đời sống này, cái tấm thân này, cái gương mặt này, cái đôi mắt này, cái lỗ mũi này, cái miệng này, cái lưỡi này, vầng trán này, mái tóc này, đôi tay, bàn chân này, hình hài này, thân xác này… từng cái chi tiết như vậy mình quán chiếu, mình tư duy, mình chiêm nghiệm, mình hồi tưởng và ngay tại cái chỗ ngồi đó mình thực tập thiền biết ơn dù không có mặt cha mẹ tại chỗ đó. Thời gian chúng ta ở đây rất là ngắn con chỉ nói cái tổng quát thì chúng ta thấy được, thường tác ý như vậy, thường để tâm như vậy, thường chiêm nghiệm, suy nghĩ về cái điều đó thì như vậy mỗi ngày mình đồ lên một chút, mỗi ngày mình tô lên chút, mỗi ngày mình vẽ lên một nét như vậy thì cái bức tranh hiếu thảo, bức tranh ân đức, cái bức tranh cảm ơn, nhớ ơn, biết ơn, nguyện báo ơn đền ơn đó sẽ tô đậm, khắc sâu ở trong thọ; tưởng; hành của mình, trong tim mình, trong lòng mình. Khi trong mình đã đầy ngập một cái tâm biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn, hiếu thảo, hiếu nghĩa, hiếu lễ, hiếu kính, hiếu đạo như vậy khi cha mẹ có chửi mình, la mình mấy câu mình có nổi nóng không? Mình có nói những lời ngỗ nghịch không?
Tại vì bên trong mình là một cái cảm thọ hiếu thảo đầy ngạch, nó sung mãn, nó cùng khắp, cái tâm của mình trở thành một cái căn cứ địa của hiếu thảo. Cái hiếu thảo của mình bây giờ đã trở thành tường đồng vách sắt, nó trở thành cỗ xe, nó trở thành thành quách cho nên mình không thể nào có những lời nói, hành động bất hiếu, bất kính, ngỗ nghịch đối với mẹ. Tu tập cái tâm biết ơn là phải tu tới mức độ đó chứ không phải chỉ làm lễ ngay ngày rầm tháng 7, hay thiền biết ơn khóc hu hu rồi xong, vài bữa trở về vẫn bất kính, bất hiếu, không phải tu như vậy. Thành tựu được cái tâm biết ơn đối với hai đấng sanh, thành rộng ra chút nữa mình tác ý về ông bà, cô bác, chú dì, các cái bậc cùng một huyết thống như bà con, cô bác, anh chị em của mình, những người đã lo cho mình.
Những người lo mình nhiều nhất mình nhớ trước, có những người được bà ngoại nuôi, bà nội nuôi chứ không phải cha mẹ nuôi thì mình lấy những đối tượng đó làm đề tài thiền quán. Mình chiêm nghiệm, mình suy tư, mình nhớ nghĩ, mình tác ý rồi có những người được dì, cô, thím hay chú bác nuôi, hay có ân đức với mình rất là nhiều và mình quán chiếu những hình bóng, hình ảnh đó thực hành thiền biết ơn ngay trong tâm của mình. Như vậy mình lấy những bậc ân nhân, ân đức, ân nghĩa, ân tình đó làm đề mục, làm cái trang kinh, làm bài kinh, làm quyển kinh, làm cuốn kinh, làm cái bàn thờ ở trong tâm của mình thì như vậy chẳng những cha mẹ mà ông bà, cô chú bác, dì, thím ở trong huyết thống, ở trong gia tộc, ở trong gia đình của mình là trong tâm mình đầy ắp một cái cảm thọ, một cái suy nghĩ, những cái hình bóng về cảm ơn, biết ơn và nhớ ơn.
Nếu trong tâm mình đầy ắp cái cảm thọ như vậy khi mình gặp những cái người đó mình có nỡ lòng nào nói những cái lời sân hận với họ không? Mình có những cái cử chỉ bất hiếu, bất kính, vô lễ, ngỗ nghịch không? Tất nhiên là không có, nếu mình có được một cái cảm thọ như vậy, có một cái nội tâm như vậy, có một cái đức hạnh như vậy rồi thì quý vị nghĩ gia đình quý vị có một bậc chân nhân như vậy xuất hiện gia đình hạnh phúc không? An lạc không? Đó là đặc tính của bậc chân, khi bậc chân nhân xuất hiện ở trong một gia đình nào sẽ đem lại lợi ích, đem lại hạnh phúc, đem lại an lạc cho gia đình đó.
"- Bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, sinh ra trong gia đình, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho mẹ cha; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho vợ con; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các người hầu hạ, làm công; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các bạn bè, thân hữu; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các Sa-môn, Bà-la-môn"(Tăng Chi Bộ, Chương V – năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (II). Bậc Chân Nhân)
Bậc chân nhân xuất hiện ở trong gia đình nào là đem lại sự an lạc, đem sự hạnh phúc, đem lại lợi ích, đem lại ngọt ngào, thương tưởng mọi người, đó là đặc tính của bậc chân nhân tức là một con người thật sự là người đó. Chỉ bao nhiêu đây mà tu tập thành tựu thì không có đọa làm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thành tựu được cái tâm biết ơn, nhớ ơn này là một trong năm báo vật hiếm có ở đời, Đức Thế Tôn dạy người biết ơn, nhớ ơn là thế gian chí bảo, báu vật quý báo trên cuộc đời.
"Này các Licchavì, sự xuất hiện của năm châu báu khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?
Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời.
Người thuyết được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
Người hiểu được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
Người thực hành pháp và tùy pháp, sau khi đã hiểu rõ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời.
Người biết ơn, nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm loại châu báu này khó tìm được ở đời" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (V). Bà La Môn Pingiyani)
Mình ở trong chùa cũng vậy, nhìn thấy từ trên thầy, các Ni Sư, các sư cô, huynh đệ, tất cả ai cũng là ân nhân với mình hết, ai cũng giúp đỡ mình hết tu học hết. Nếu nhìn như vậy thì mình nhìn bằng cái ánh nhìn gì? Cái tâm mình có ngọt ngào không? Lời nói mình có hiền hòa không? Cái cử chỉ mình đối đãi với nhau có quý kính, hòa kính không? Cho nên đây là cái đặc tính quyết định của bậc chân nhân, của người tu. Cái tâm thứ hai là cái tâm hiền thiện, hiền lành, hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền từ, mình tập mọi cái cử chỉ, hành động của mình có ý có tứ, nhẹ nhàng, không có làm phiền lòng người khác. Nhiều khi bước chân của mình cũng hung dữ nữa, đi rầm rầm trong khi người ta đang ngồi đọc sách, thế là họ bực mình nên liếc mình, tiếng bước chân của mình thôi mà làm động niệm người khác, bước chân mình không có hiền. Hoặc người ta đang ngồi thiền, đang ngủ thì mình nói cao giọng, la lớn, giật mình thức dậy hết thì như vậy là mình chưa có hiền, bước chân không hiền, lời nói không hiền, hành động, cử chỉ mở cửa cái rầm, bưng chén là bể chén, cầm tô rớt tô, để đũa rớt đũa, rớt muỗng.
Cái đồ nhựa, đồ mủ xuất hiện là do con người không có chánh niệm nhưng đồ nhựa lại độc hại, gây bệnh ung thư cho nên từ cái này kéo tới cái kia, từ cái kia kéo tới cái nọ, rất là nhiều pháp ở trong đó nhưng mà mình không có thấy đâu. cho tâm hiền hòa này, cái tâm hiền lành này rất quan trọng. Phải đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tịnh của mình, cái nhìn của mình tập làm sao mà người ta thấy cái nhìn của mình dễ chịu, cái âm giọng, chất giọng của mình người ta nghe nói thấy dễ gần, cách hành xử của mình ấm áp. Mình tu ở trong lời nói, trong cử chỉ, trong hành động, phải tác ý vì không tác ý thì không tu được, phải nhắc hoài "hiền… hiền… hiền", "đi an tịnh, lắng dịu nè, "mắt thương nhìn người ta, đừng nhìn mắt dữ, mắt ghét". Phải tác ý nhắc nhở cái tâm thường xuyên như vậy, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ là phải để ý cái cảm giác, cái cảm thọ của mình, phải tác động cái suy nghĩ rồi kế đó tất cả pháp lấy dục làm căn bản là phải muốn mình hiền.
III. Tu với cảm thọ
Mình muốn làm con người chân nhân. mình muốn làm con người nghĩa tình, mình muốn làm con người đạo đức, mình muốn làm một con người thanh cao, cao thượng, hiền thiện. Mình không có muốn làm một con người vong ơn bội nghĩa, bất nhân bất hiếu, mình muốn làm con người hiếu nghĩa, mình muốn làm người hiền thiện là tất cả pháp phải lấy dục làm căn bản, phải muốn, mấy ngày nay chúng ta học những câu định lý của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng ta có muốn hiền không? Có muốn trở thành người hiếu thảo không hay là muốn trở thành bất hiếu? Khi mình muốn rồi mình phải để ý, mình tác ý rồi mình phải tu tập cái cảm thọ đó, bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật là cái định lý của tất cả trời đất, vũ trụ vạn vật, mới lấy ba câu thôi, trong đó nó còn bốn năm câu nữa.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Mình phải tu tập cái cảm thọ đó, mình không có tu có cái thọ đó thì làm sao có cái pháp đó? Bởi vì tất cả pháp ở trong cảm thọ mà bây giờ trong kho không có cái món đó, trong cái tâm mình không có cái đức hạnh đó, nó không có cái cảm giác đó, cảm thọ đó, cảm xúc đó thì làm sao thành tựu được cái pháp đó? Cho nên mình tu tập cái cảm thọ hiền lành, hiền thiện, hiền đức, hiền lương, hiền từ, hiền hậu, hiền hòa. Cái hiền này chúng ta kết hợp với hiền thiện và hòa kính, đây là cái tâm thứ ba, phải tập làm sao cái tâm của mình rất là dễ hài hòa, dễ hòa đồng, dễ đoàn kết, dễ hòa hợp, đừng có cái tâm chống đối, cái tâm cãi cọ, cái tâm dễ bực bội, sân hận.
Cho nên con mới dùng cái từ mới, chúng ta nhớ "cãi cha, cãi mẹ, cãi ông, cãi bà, cãi thầy, cãi tổ, cãi trời, cãi Phật xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh". Nhớ cái câu này để học thuộc lòng, cãi là một cái tâm không có hiền hòa, một cái tâm không có nhu nhuyến, một cái tâm không có mềm mại, một cái tâm không có dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, cái tâm cãi đó là cái bản ngã mà cái người đụng đâu cũng cãi hết thì người này làm sao tu học được, rồi gia đình là bất an, vợ chồng nói hai ba câu là gây gỗ, cha mẹ nói cũng cự luôn, cô chú bác, dì nói cũng ăn cơm hớt hết, người ta nói chưa hết câu đã chen ngang thì phải trị được cái tâm này.
Phải tu tập cái tâm rất là hiền lành, rất là hòa kính, nếu cái đó là thiện pháp, là tốt lành, cái đó mang lại lợi ích thì mình phải cúi đầu lắng nghe, chấp nhận học pháp để tu tập, còn cái tâm mình bản ngã cao ngạo, ta đây, lúc nào cũng coi mình hay, mình giỏi, mình tài, mình số một, mình number one thì như vậy không có tu học được, ở trong gia đình cứ bất hòa, cứ tranh cãi, cứ lục đục, cứ rầy rà là bởi vì cái tâm không có hòa kính. Cho nên cái tâm hiền hòa và cái tâm cung kính này rất quan trọng, Chúng ta thấy từ ngày đầu cho tới bây giờ là hai tuần lễ không có một ai cãi lộn ai hết, thấy ngọt ngào, dễ chịu không? Là do từ cái ngày đầu tiên chúng ta được tu cái tâm hòa kính.
Đức Thế Tôn tới thăm các bậc tôn giả khi các ngài đang tĩnh tu, Thế Tôn hỏi các thầy tu học có được an lạc không, an vui không, bạch Thế Tôn chúng con rất là an lạc, bạch Thế Tôn chúng con là tuy là khác thân nhưng mà như đồng một tâm, giống như nước với sữa hòa hợp.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, sữa cùng hòa hợp, cùng đi với sữa; dầu cùng hòa hợp, cùng đi với dầu; thục tô cùng hòa hợp, cùng đi với thục tô; mật ong cùng hòa hợp, cùng đi với mật ong; mật mía cùng hòa hợp, cùng đi với mật mía. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, I. Phẩm Sai Biệt, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Kinh Với Các Bài Kệ)
Chúng ta thấy dầu mà đổ vô nước có hòa hợp được không? Nhưng mà sữa đổ vào nước thì còn tách ra được không? Đó là hòa hợp như sữa với nước, đây cũng là từ được dùng trong kinh, sữa với nước hòa chung với nhau rồi là không có tách ra được, nó trở thành một, cũng vậy, tuy là cái thân khác nhau, cái mặt khác nhau, cái hình hài khác nhau nhưng mà tất cả các vị này đồng một cái tâm là một cái tâm biết ơn, một cái tâm hiền thiện, một cái tâm hòa kính, một cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, một cái tâm luôn luôn quay trở về để nhìn lỗi của mình và phòng hộ căn, hộ trì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, khéo léo xét nét cái lỗi của mình, một cái tâm luôn luôn hướng tới sự diệt tham, diệt sân, diệt si, một cái tâm luôn luôn sống ở trong từ, bi, hỷ, xả, thành ra giống nhau hết. Chính vì vậy mà khác thân nhưng mà như đồng một tâm.
Bây giờ ai cũng hướng tới sự phải rời sân giận, đừng có giận, ở chung với nhau ai cũng hướng tới cái sự không giận, ai cũng hướng tới cái sự không có tôi, ta gì hết, thực hành cái hạnh nùi giẻ, không có tôi gì hết, cái đồ chùi chân, không có tôi nào ở đây, không có ta nào ở đây, không có bản ngã nào ở đây hết, thực hành một cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, cúi đầu lễ lạy, cung kính, biết ơn, trang nghiêm, tôn trọng, đây là những cái khẩu quyết mà chúng ta thực hành, như vậy trên dưới thuận hòa , trong ngoài an ổn, tất cả ở trong gia đình cũng được bình an mà ở trong đạo tràng cũng được tịnh lạc, tất cả ở trong các cái công sở, trong các tập đoàn, trong các đoàn thể ứng dụng được lục hòa của Đức Phật.
Năm đó nhà vua Ba-tư- nặc tám mươi tuổi đi đến lạy dưới chân Thế Tôn cũng tám mươi tuổi, nhà vua lạy xuống và hôn bàn chân Đức Phật thì chúng ta thấy rằng tuyệt vời đến mức độ nào, Thế Tôn mới nói tại sao đại vương lại cung kính Như Lai hết mức như vậy, nhà vua bảo con thấy rất là kỳ lạ ở nơi Thế Tôn những điều mà con không thể nào tưởng tượng nổi cho nên con cung kính Thế Tôn, những việc mà Thế Tôn làm con không thể nào tưởng tượng nổi hết, con không biết suy nghĩ làm sao có thể làm được, thành tựu được những cái pháp tối thượng như vậy.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
-- Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
-- Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
-- Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì'. Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỳ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn. Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì" (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Thật là kỳ diệu!
Thật là vi diệu!
Thật là không thể nghĩ bàn, không thể tưởng tượng được những điều mà Thế Tôn đã làm, đã thành tựu, cái hội chúng của ngài. Thế Tôn đang thuyết pháp mà có một vị ho lên thì một người ngồi kế bên lấy cái tay đó khều nhẹ nói "Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đang thuyết pháp, xin thầy đừng có làm ồn", một tiếng ho thôi mà như vậy.
"Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: 'Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Đạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp'." (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Chúng ta còn nhớ vua A-xà-thế ngỗ nghịch giết cha rồi sau đó hối hận muốn đi sám hối, tìm tất cả mọi cách, tìm các thầy, các đạo sư khác vua không có kính phục, nhưng khi vị đại thần giới thiệu vua đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Nhà vua đi bằng kiệu, sau đó nhà vua đi bộ xuống vô tới giữa đường trong này, nhà vua quay lại ông đại thần nói ngươi muốn giết ta hay sao vậy vì một đại chúng lớn cả ngàn người mà không hề nghe thấy tiếng động, vị đại thần nói không có phản nhà vua, bệ hạ cứ từ từ đi vào sẽ thấy.
"- Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
- Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng" (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa-môn quả)
Khi nhà vua bước vào thì đập vào trong mắt nhà vua một hình ảnh Thế Tôn ngồi sừng sững, nguy nga như núi chúa, chung quanh hơn một ngàn vị thánh Tăng bất động, thanh tịnh ở trong thánh chánh định. Nhà vua thấy hình ảnh đó thôi là sụp xuống lạy, các vị đón nguyên thủ quốc gia đi qua đi lại, đi tới đi lui, nói chuyện này nọ kia, đừng nói chi thời Đức Phật xa xôi, ngay cả cái đạo tràng trang nghiêm, thanh tịnh thì mình thấy bên trong là một cái tâm hiền thiện, một tâm cung kính cho nên đừng nói chia tới cái oai đức của Đức Phật ngày xưa cho nên các vị vua tâm phục khẩu phục, lạy dưới chân của Đức Phật, nói rằng con không thể nào làm được như vậy, không thể nào con làm được như vậy.
Trở lại cái vấn đề mình thấy thánh chúng của Đức Phật là hội chúng tinh ba chứ không phải là hội chúng cặn bả, hội chúng của bậc thánh chứ không phải là hội chúng của phàm, hội chúng thâm sâu chứ không phải là những cái hội chúng tạp nhạp. Tại đâu, nhờ đâu mà được như vậy? Chính là lục hòa kính, đó là cái tâm hiền hòa, cung kính. Mình thấy đại chúng của mình có hiền không? Chỉ mới thực hành được chút tâm hiền mà còn vậy thì huống chi thánh chúng của Đức Phật, cho nên các vị vua, các vị đế vương đi tới lạy sát đất dưới chân của Đức Phật. Hội chúng của Đức Phật lấy cái gì làm nền tảng? Lấy cái gì làm tiêu chí? Lấy cái gì làm cốt lõi? Lấy cái gì làm cái chất liệu để xây dựng? Chính là lục hòa kính, thân hòa ở chung, miệng hòa không có tranh cãi, ý hòa cùng vui để tu, khổ quá trời quá đất rồi vô đây tu chứ vô đây kiếm chuyện để khổ thêm nữa thì bây giờ biết đi đâu. Có nhất chí vậy không?
Bây giờ ngoài đời khổ quá trời quá đất rồi, con đi vô chùa con tu, mà đi vô chùa tu con gặp khổ nữa thì con chạy đi đâu? Cho nên đệ tử của Đức Phật là những vị đó nhìn thấy được khổ, cảm thọ được cái khổ nên muốn lìa khổ, không có muốn ở trong khổ nữa. Vì thế các vị nghe lời răm rắp Đức Phật hết trơn, chấp nhận học pháp, cái pháp được Thế Tôn đưa ra, các bậc thánh đưa ra thì vị này chấp nhận một cách cam tâm tình nguyện bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả trái tim, bằng tất cả khả năng, năng lực, tâm lực, trí lực, hạnh lực, nguyện lực, sức lực, đạo lực của mình để thực hiện những cái pháp đó, gọi là chấp nhận học pháp, không có chống đối cho nên Đức Phật dạy sáu pháp hòa kính, thân hòa cùng ở, miệng hòa không phải tranh cãi, ý hòa cùng vui với nhau vui để tu chứ không phải vui để buông lung phóng dật.
IV. Hòa kính
Chúng ta nhớ kỹ cái đó vui là để tu, vui là để diệt tham, sân, si, vui là để đánh cho cái bản ngã gục ngã, vui là để cho mình trải cái tình thương của mình rộng lớn, trải cái tâm thương, tâm xót, tâm buông xả của mình cho nên giới cùng giữ với nhau, có lợi cùng chia đều với nhau và cuối cùng là cái chánh tri kiến, cái thấy biết của bậc thánh cùng san sẻ với nhau kiến hòa đồng giải. Như vậy đã hòa được cái miệng, hòa được cái thân là cũng tuyệt vời rồi mà cái này ý cũng hòa luôn, đó là hội chúng tinh ba của Đức Phật, nếu chỉ cần ứng dụng cái này vô gia đình thì gia đình nào mà không bình an, hạnh phúc, thiên hạ thái bình, thế giới an hòa, không còn chiến tranh nữa. Trong tâm của mình là một cái tâm hài hòa, một cái tâm hiền hòa, người ở trong gia đình cũng tu cái tâm hiền hòa thì gia đình đâu có cãi, gia đình không có cãi thì cả phố phường đâu có cãi, cả tỉnh đâu có cãi, hòa bình hết, cả thành phố rồi nhiều thành phố, cả nước, cả quốc độ, nhiều quốc độ, cả hành tinh thì thiên hạ thái bình, chúng sanh an lạc với lục hòa kính.
Cho nên cái tâm tu tiếp tục theo là cái tâm hòa kính rất quan trọng, nhiều khi lúc đầu ở chung thì còn tôn trọng nhau nhưng mà khi về ở chung với nhau thời gian rồi, vợ chồng, anh em cũng vậy, bà con cũng vậy rồi lần lần cái tâm kính trọng lẫn nhau không còn nữa, cứ nhìn những cái điểm xấu của nhau, những cái điểm tiêu cực của nhau, những điểm sai quấy của nhau, những cái điểm dở của nhau mà không thấy cái tốt của nhau. Từ từ mất đi cái tâm hòa, cái tâm kính, cái tâm tôn trọng lẫn nhau rồi sống với nhau bằng cái tập khí, sống nhau bằng cái nghiệp, sống với nhau bằng những cái thói quen, sống với nhau bằng bản ngã, sân si thì như vậy tan nát hết, gia đình đổ vỡ, không còn ý nghĩa là mái ấm nữa mà về tới nhà là cả một cái sự mệt mỏi. Bước vô cái căn nhà đó giống như bước vô địa ngục trần gian, nó về là đánh đập, đó nhậu nhẹt về say là đánh tả tơi, không còn tôn trọng nhau nữa, không còn quý trọng nhau nữa, không còn kính trọng nhau nữa, mất đi chất liệu của hòa kính.
Tại sao lúc mới gặp nhau thì muốn về ở chung với nhau để được hạnh phúc mà cuối cùng về ở chung lại làm đau khổ cho nhau? Tại sao? Tại cái tâm vô minh, tại cái tâm bản ngã, tại cái tâm sân hận, tại cái tập khí, tại cái nghiệp đó cho nên mình ứng dụng được tâm hòa kính này rất là tuyệt vời. Như vậy thì cái tâm đầu tiên là tâm biết ơn, nhớ ơn, cái tâm thứ hai là tâm hiền thiện, cái tâm thứ ba là tâm hòa kính, tiếp theo là tâm khiêm cung, khiêm hạ. Cái tâm này rất quan trọng, cái tâm này mỗi lần buông xuống mỗi lần cao, "nhất hồi phóng hạ nhất hồi cao" nghĩa là khi một cái tôi của mình càng bỏ xuống bao nhiêu thì cái đức độ, cái đạo hạnh của mình nó càng cao lên bấy nhiêu.
Cho nên nhiều khi con nói mấy câu mà mấy chú ngồi chung xe, đi chung mấy chú "sao sư phụ nói giống thần chú quá vậy?". Con nói càng lớn càng nhỏ, càng nhỏ càng lớn, càng lớn càng nhỏ, càng nhỏ càng lớn, càng cao càng thấp, càng thấp càng cao. Tại sao càng lớn là càng nhỏ? Tại sao càng nhỏ lại càng lớn? Tại sao càng cao càng thấp? Càng thấp càng cao? Mình càng tỏ ra mình là lớn, ta đây thì cái đức hạnh mình càng nhỏ, càng phình trương cái ta mình to chừng nào thì cái đức hạnh càng nhỏ chừng đó, cái bản ngã mình nó càng nhỏ thì cái đức hạnh mình càng lớn cho nên càng lớn là càng nhỏ, càng nhỏ càng lớn, càng cao càng thấp, càng thấp càng cao cũng đồng một ý nghĩa như vậy. Mình càng tỏ ra mình địa vị cao, mình ở trên cao thì mình càng thấp, mà cái bản ngã của mình hạ xuống càng thấp thì cái đức hạnh càng cao. Bây giờ chịu cái nào?
Mình tu là đến cái chỗ tan cái bản ngã ra nhưng giờ không biết tu kiểu gì t mà càng ngày nó càng phình lên, trương lên, to cao lên, nó lớn lên thì như vậy cái này là tẩu hoả nhập ma, tu sai đường, tu lạc đường, tu trật cho nên trong thanh quy đạo tràng chúng ta có nói khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, đánh một cái năm chưởng, năm lần lặp lại như vậy. Tức là một cái sự nhấn mạnh này rất là quan trọng của pháp hạnh này, chúng ta sở dĩ đau khổ là vì cái tôi. Mình thấy cái người có cái tôi lớn rồi đi đến đâu có khổ nhiều không ạ? Cái tôi lớn quá đi vô nhà bếp chứ không nổi, cái tôi mà lớn quá lên trên chánh điện một ngàn mét vuông cũng chứa không nổi nữa, cái tôi lớn quá thì ra phòng khách cũng chạy hết trơn, không có phòng nào chứa nổi hết cho nên bậc đạo sư nói cái tôi lớn hơn cả trời đất. Cái thân thì có chút xíu thôi, có thước bảy, thước tám thôi, nhiều khi lùn có thước rưỡi thôi, thước tư cũng có nữa nhưng mà cái tôi của nó lớn hơn trời đất, lớn hơn địa cầu.
Nằm thì bề ngang một thước, bề dài hai thước nằm không giáp nữa nhưng mà tính muốn gom hết thiên hạ, vậy đó rồi khổ đau, làm cho mình khổ, người khổ mà tội nghiệp mấy người ở chung mình mới khổ dữ dằn nhất. Cái người ở gần kế bên mình mới khổ, mình đã khổ mệt rồi mà còn lan cái khổ ra cho người kế bên, bắt bẻ từng chút, nói tiếng cũng cự, làm gì cũng không cho, có cái gì cũng chỉnh hoài. Như vậy làm khổ cho nhau, hành hạ cho nhau, hành tội nhau, hành xác nhau, hành hình nhau rồi hành quyết nhau luôn rồi vào tù. Rước về ở chung để hành tội với nhau, tội nghiệp quá nên tu hành đi, đừng hành tội, nhất chí không? Tu hành để đừng hành tội, cũng là chữ hành thôi thêm chữ tu hành vô chứ mình để chữ hành nó hành tội với nhau.
Cho nên mình sống với một cái nết hết sức là hiền hòa, lúc mình chưa tu thì đứng vương vai ưỡn ngực, vai năm tất rộng mà thân mười thước cao, đứng to cao, ưỡn ngực, hất mặt, vênh váo ta đây nhưng vô đạo tràng tu thì chấp tay cúi đầu. Từ cái hất mặt lên trời, ưỡn ngực thì bây giờ vô tu là chấp tay cúi đầu, mới vô tu đều phải chắp tay cúi đầu xuống cho nên ai ra quỳ lạy là tất cả phải chấp tay cúi đầu xuống hết, phải tập từ từ cho quen, đó là cái sự hành trì khiêm hạ, khiêm cung. Đó là cái dụng ý đó chứ không phải mình thấy ai chấp tay lạy kệ người ta, mình ngồi là cứ ngồi, nhưng mà ở đây không có như vậy, một người chấp là tất cả phải chấp cúi xuống hết từ trên xuống dưới nghe pháp bảo, nghe tuyên thánh chỉ.
Hồi xưa gọi là "Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết ", mở chiếu ra là tất cả quỳ xuống hết, bây giờ nghe tuyên thánh ngữ của Phật là chấp tay cúi đầu hết, đều có dụng ý hết chứ không phải tự nhiên. Đó là sự tập cho mình cái tâm cung kính, khiêm hạ trong khi mình nghe thánh ngữ của Đức Phật, không được ngồi trơ trơ mà phải có một cái thân hành cung kính cúi đầu, đó là cái pháp cung kính, cái pháp khiêm cung, khiêm hạ được thực hành ngay tại chỗ, ngay giảng đường. Đó là mình phải hiểu được cái ý nghĩa tại sao thầy làm, tại sao quý sư làm cái đó, cho nên từ cái chỗ vai năm tấc rộng, lưng mười thước cao như vậy, rồi đứng ưỡn ngực hất mặt lên trời thì bây giờ chấp tay cúi đầu, sau khi cúi đầu một thời gian rồi cho quỳ xuống, bản ngã quỳ mau xuống đất nào, phải quỳ xuống đất mau lên.
Khi nãy là đứng chấp tay còn bây giờ là quỳ xuống chấp tay, khi quỳ xuống chấp tay một thời gian cái rồi lạy. Mình thấy hình ảnh lạy Phật đẹp không? Ngoài Đức Phật ra mình có thi hành đại lễ đó với ai không? Có cha mẹ mình nhưng lúc cha mẹ chết mình mới lạy, còn hằng ngày chỉ lạy Phật thôi, hình ảnh đem năm vóc sát đất, từ cái trán, hai cái khủy tay, hai cái đầu gối lạy xuống chạm đất, ngũ thể đầu địa thì đẹp biết bao nhiêu. Hình ảnh đó chỉ trong giáo pháp của Thế Tôn mới có và đánh cho gục ngã cái bản ngã, bẻ gãy cái bản ngã, diệt tận cái bản ngã, như vậy thì quỳ xuống rồi cho lạy xuống, năm vóc sát đất cho nên mỗi khi mình lạy xuống thì đừng lạy ào ào, đừng lạy như giã gạo, lạy cho có hình thức, đừng cụp cái đầu lên xuống giống cái chày giã gạo.
Mình phải hiểu ý nghĩa việc làm của nó, là khi lạy xuống năm vóc sát đất thì lúc đó mình như tác ý như thế nào? "Con xin chôn vùi cái bản ngã này vào lòng đất, tại chỗ này, giờ phút này, ngay nơi này, cái ta này phải tan vào lòng đất, cái tôi này sẽ được mai táng ngay giờ phút này, sẽ được chôn vùi ngay tại chỗ này. Ta sẽ đưa cái bản ngã này xuống cái huyệt, xuống cái mồ này, đây chính là mồ chôn của bản ngã, trong cái lạy này là mồ chôn bản ngã". Mỗi một cái lạy xuống mình đều phải tác ý như vậy cho nên đừng có lạy cho lẹ, cho mau, phải lạy chậm chậm, từ từ và mình tác ý càng nhiều càng tốt, "cái lạy này là sự chôn vùi cái bản ngã, cái lại này là sự mai táng cái bản ngã, cái lạy này là sự diệt tận cái bản ngã. Ta cho ngươi vào lòng đất ngay tại chỗ này, ngay nơi này, giờ phút này ngươi chết đi. Cái bản ngã, cái tôi, cái ta này, cái hơn thua này, cái đúng sai, cái cao thấp, nhân ngã bỉ thử này ngươi diệt tận hoàn toàn đi, đây là mồ chôn của bản ngã".
Bất cứ cái lạy nào cũng nhớ tác ý như vậy, một ngày mình lạy ít nhất cũng được năm, bảy lạy, mười lạy, hai mươi lạy thì mỗi một ngày như vậy cái trí vô ngã của mình tăng thêm một chút, tăng thêm một chút tăng thêm một chút. Mình lạy riết như vậy thì cái bản ngã này sẽ bị gục ngã, nó sẽ bị bẻ gãy, khi chôn cái bản ngã xuống vẫn chưa xong đâu, nó rã ra, nó phân hủy thành bộ xương. Bộ xương đang lạy, cái bộ xương này một thời gian nữa mục ra, nó bể, nó nát, nó rữa ra, rồi đầu lâu một chỗ, xương sọ, xương sườn, xương ống chân, xương bàn chân, xương mông rời rạt như vậy, nó rệ rã ra một thời gian rồi nát ra thành một đống tro. Khi mình lạy xuống là mình thấy một đống tro tàn, từ cái bộ xương rã nát ra còn một cái đống tro, mình lạy một thời gian nữa là cái đống tro này bốn phương tám hướng gió thổi bay hết trơn.
V. Tâm hiền
Mình đem cái đống tro này đổ nó xuống sông, xuống biển, nó trở thành hư không, trống rỗng, không còn gì nữa hết, trống không, trống rỗng, không có cái ta, không có cái tôi, không có cái hình bóng tự ngã nào trong tâm nữa hết. Chỉ là một nấm tro tàn, chỉ là cát bụi và gió thổi cát bụi này cũng bay luôn, trở thành trống rỗng, trống không, trống trơn hết. Như vậy cái lạy đó là cái lạy diệt ngã, cái lạy vô ngã, cái lạy tan ngã, cái lạy tiêu ngã, cái lạy sạch ngã, cái lạy không còn cái tôi nữa, lạy như vậy tội diệt phước sanh, công đức thành tựu. Lạy như vậy mới giảm được sân si, lạy như vậy mới lắng được những cái tham ái, lạy như vậy mới phá được cái bức màn vô minh, lạy như vậy mới tăng trưởng trí tuệ, lạy như vậy tuệ giác mình càng tỏ sáng, lạy như vậy thì đức khiêm cung, khiêm hạ của mình mới thành tựu. Mỗi cái lại mình đều tác ý hết, đó là cái pháp hành tâm hiền như đất của tôn giả Xá-lợi-phất, chín pháp an trú tâm của bậc tướng quân chánh pháp thánh Tăng.
Trong chín cái pháp an trú tâm đó là cái pháp tâm hiền như đất, cho nó hòa tan vào lòng đất luôn. Mấy hôm nay lạy được mười lạy có nhớ được vậy không? Bất cứ lúc nào mà không phải đợi cái lúc lạy mới quán nữa, ngay cái lúc có người ta lên lạy cúi đầu thì mình cũng cúi xuống vậy luôn, đó là cái đức khiêm cung. Cái cuối cùng ở đây trong cái tổng kết của buổi hôm nay là bốn cái tâm từ, bi, hỷ, xả, cái tâm thương rộng lớn, cái tâm xót rộng lớn, cái tâm vui rộng lớn và cái tâm buông rộng lớn. Thương mình thật nhiều, xót xa những lỗi lầm của mình trong quá khứ, khi mình nhìn lại những thời gian vừa qua, mấy chục năm qua mình đã từng sống, mình coi mình sống thế nào, những cái tham, sân, si của mình, những cái bản ngã, hơn thua của mình, những cái dục ái của mình, cái vô minh, chấp thủ, nhìn thấy là mình rất là xót xa, rất là đau lòng, rất là tủi thân tủi phận cho cái kiếp luân hồi đầy cay đắng, đầy bất an, đầy tai họa, đầy khổ đau này.
Mình thấy mình dâng trào dâng lên một cái cảm giác xót xa, lòng trắc ẩn, nó ray rứt, nó nhức nhói, nó đau đớn, nó quằn hoại, nó thống thiết, nó thảm thiết, nó bi thương. Đó là mình tu tập cái tâm bi, tâm từ, cái sự xót xa đó, mình mới thương thật là thương cái ngũ uẩn này, thương thật là thương cái cảm thọ này và thương thật là thương cái tham, sân, si, vô minh, dục ái này. Như vậy mình trải tâm xót và trải tâm thương cho chính mình rồi mình mới nhìn lại cha mẹ, anh chị em mình cũng đều giống vậy hết, là nạn nhân của tham, sân, si, là nạn nhân của dục ái, là nạn nhân của bản ngã, là nạn nhân của vô minh, là nạn nhân của hơn thua, của chấp thủ, của sự nắm giữ trong cái tâm cấu uế, cấu nhiễm. Mình thương mình thương bao nhiêu thì mình thương họ bấy nhiêu, mình thương cả dòng tộc, cả đại kiến họ, dòng họ của mình như thương mình vậy đó.
Vì tất cả đây là ngũ uẩn, tất cả là tham, sân, si, tất cả là dục ái, tất cả là vô minh, bản ngã, tất cả là mù lòa. Mình thương rộng như vậy rồi bắt đầu mình mới trải ra tới người dưng, mình trải rộng cùng khắp hết tất cả các phương hướng, đông, tây, nam, bắc, bề dọc, bề ngang, trên dưới, cùng khắp, không hận, không sân, vô lượng vô biên. Đó là cái tâm xót và tâm thương, tâm từ, tâm bi vô lượng, đầu tiên mình trải có đối tượng, sau đó là không có đối tượng nữa, phải cùng khắp vô lượng vô biên, không có giới hạn, không có cùng tận tất cả các phương hướng, những cái chúng ta đã được thực tập những cái tâm đó nhớ về nhà thực tập.
Cái tâm vui của mình hoan hỉ, mình hạnh phúc khi mình được tu tập như vậy, mình rúng động, mình cảm động, mình chấn động, mình chào dâng nước mắt nhưng mà mình rất là hạnh phúc, mình rất là sung sướng, mình rất là hoan hỉ, mình rất là hỷ lạc vì vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp đến giờ này mình mới nhìn thấy được ngũ uẩn. Giờ này mình mới nhìn thấy hang ổ, xào huyệt của tham, sân, si, giờ này mình mới thấy được cái bộ mặt thật sự của bản ngã là cái làm cho mình đau khổ vô thỉ kiếp cho đến nay, giờ này mình mới nhìn thấy được nó, mình ưu tư, buồn đau nhưng mà mình vui sướng, hạnh phúc. Đó là hai cái thọ rất là quan trọng ở trong sự tu học, thọ hỷ và thọ ưu, buồn đau là vì bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp mình vô minh, mình tham, sân, si, bản ngã, dục ái, mình hạnh phúc vì bây giờ này mình thấy được nguyên nhân đau khổ, mình đang đi đến con đường diệt khổ. Mình tác ý cho cái vui này, mình vui rồi mình đem cái vui đó lan tỏa cho những người thân thương, nhất là cha mẹ, anh chị em, những người mà nghe mình nói, những người có duyên tức là người đó họ nghe mình nói, mình hướng dẫn họ chịu nghe thì gọi là người có duyên.
Mình lan tỏa cái niềm hoan hỉ đó đến cho họ, cái sự tươi tắn, sự tươi vui, cái sự an vui, cái sự thấm đẫm, thấm đượm, thấm nhuần, thấm gội, thẩm thấu trong toàn bộ châu thân của mình. Cái sự hỷ lạc đó mình lan tỏa cho họ, mình đem đến sự tươi mát, sự thanh lương, sự ngọt ngào, sự ấm áp, sự dễ chịu, sự hiền hòa, sự từ ái, lan tỏa cho họ, làm tất cả mọi cái nhưng trong một cái tâm buông xả tham, sân, si, buông xả kiêu mạn, chấp thủ trong cái bản ngã và cuối cùng là buông xả ngũ uẩn. Cho nên tu nhưng vẫn giúp đỡ, vẫn làm tất cả mọi công việc nhưng mình chú trọng cái tâm xả, chính vì vậy mà mình làm mình không có cư công, mình không có kể công, mình không có khoe công, mình không có chấp công, thành ra lúc mình làm mà tâm mình rất là an lạc, nhẹ nhàng, thảnh thơi, bình an. Mình trú ở trong bốn cái tâm từ, bi, hỷ, xả vô lượng.
Hôm nay chúng ta tổng quát pháp hành mà mình đã học từ ngày đầu tới ngày hôm nay, tâm hiền, tâm biết ơn, tâm hòa kính, tâm khiêm hạ, diệt ngã và tứ vô lượng tâm là tổng kết những gì chúng ta học từ cái ngày đầu đến ngày hôm nay. Chúng ta nắm vững, nắm kỹ, nắm chặt, nắm giữ những cái pháp này để mình thực hành, đây là tổng quát pháp hành kinh tạng Nikāya, chúng ta thực hành những cái pháp này cho đến khi nào chứng đắc, thành tựu, nó ở trong cảm thọ mình, nó không có mất. Lúc nào mình vừa khởi lên cái tâm biết ơn thôi là nó dào dạt, nó dâng đầy ắp trong tâm, mình khởi lên một cái tâm hiền là hiền thiện, dễ chịu, mình khởi là một cái tâm khiêm cung, khiêm hạ là bất cứ lúc nào cũng có thể quỳ mọp xuống lạy người ta dễ ợt, ngọt ngào, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, rất là dễ để cúi xuống lạy tất cả mọi người, bất cứ người đó là ai, khi mình khởi lên cái tâm thương là nó tràn ngập, nó tuôn chảy ra từ bên trong cái tâm thương, tâm xót, tâm mừng, tâm buông cùng khắp, rộng lớn, tất cả mọi phương, vô lượng vô biên, vô cùng, vô tận, tứ vô lượng tâm. Hôm nay chúng ta chia sẻ tới đây ạ.
Sư cô: Ban tổ chức và chúng con xin được thành kính tri ân, niệm ân của thượng tọa giảng sư đã cho hàng đệ tử xuất gia cũng như hàng Phật tử tại gia chúng con một thời pháp thoại thật là thực tế và thật là ý nghĩa trong đời sống. Và hàng đệ tử xuất gia của chúng con cũng như hàng tại gia chúng con phụng giáo y hành theo lời của Phật dạy và theo lời chỉ dạy của thượng tọa. Chúng con sẽ nguyện sống luôn được biết mình như thế nào để thể hiện lòng biết ơn, nhớ ơn và luôn sống trong sự hòa kính, luôn sống trong sự khiêm hạ và luôn sống trong với tâm đại bi. Và giờ này chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư hoan hỉ nhận một lời chúng con xin tri ân và biết ân thượng tọa một thời pháp thoại thật ý nghĩa đến với hàng đệ tử chúng con cũng như hàng xuất gia và tại gia chúng con, và giờ này chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư cùng đại chúng chúng ta chấp tay trang nghiêm, chúng ta xin hồi hướng. Chúng con xin cung thỉnh thượng tọa giảng sư khởi xướng là hồi hướng. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Sư cô: Hàng Tăng Ni chúng con cũng như hàng Phật tử chúng con xin niệm ân và tri ân thượng tọa giảng sư, và giờ này chúng con kính cung thỉnh thượng tọa giảng sư hồi quy phương trượng để nghỉ ngơi. Nam mô hoan hỉ tạng bồ tát ma ha tát.
./.