Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Huấn Luyện Năm Uẩn 2

2026-03-03 00:52:30
HUẤN LUYỆN NĂM UẨN 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò tu học PAGEREF _Toc112675086 \h 1

II. Hướng tâm về giải thoát PAGEREF _Toc112675087 \h 6

III. Bảy pháp không suy giảm PAGEREF _Toc112675088 \h 12

I. Dặn dò tu học

Tâm của mình dễ rơi vào trạng thái lơ là và xem thường, nhàm chán. Đó là một trong những kiết sử, mà kiết sử này rất khó biết. Minh Thành phải tu học 29 năm mới biết ra được kiết sử này, trạng thái đều đều của mình là trạng thái của kiết sử, nó không muốn nỗ lực, không muốn phấn đấu, không nhiệt tâm, tinh cần, không có xuất ly tầm và sự suy tầm để thoát ra. Thiếu những điều này thì không thể đưa đến mục đích, nếu cứ đều đều thì mình phải làm cho nó có những cái mới, đặt ra mục tiêu mới cho mình.

Ví dụ như phải học thuộc bài kinh, phải thiền như thế nào hay thực tập hạnh gì đó. Đề ra mục tiêu trong nội tâm như mình nặng về dục hay bản ngã thì phải quyết tâm trong thời gian nửa tháng hay một tháng là phải chiến đấu với nó. Tự thân tâm mình đặt ra mục tiêu, như vậy mới tiến bộ. Cho nên tại sao mỗi khi thầy về, các huynh đệ thấy thầy luôn có gì khác với các chương trình bình thường của các huynh đệ. Các tâm mình dễ bị đều đều, rồi sinh ra nhàm chán, cuối cùng là chai lì, cho nên người ta phải đi đây đi đó, tiếp xúc cái lạ rồi phấn khởi. Vì xúc sanh thọ; tưởng; hành, mình phải dùng ngũ uẩn để diệt ngũ uẩn.

Bước thứ nhất do mình không biết ngũ uẩn và nhận nó là mình. Bước thứ hai mình đã biết ngũ uẩn là ngũ uẩn vậy mà mình vẫn còn bị mê bị ái, dục, tham chi phối. Dù mình có nhận ra, có biết nhưng sức của nó rất mạnh mẽ như sóng thần, phong ba bão táp. Thành ra lúc mình mới nhận ra là yếu như cây con. Khi còn là cây con thì không được an toàn, không bảo đảm, cho nên khi Nhập lưu rồi mới an toàn, trong giai đoạn bảo vệ cây con này hết sức quan trọng, phải có ánh sáng, nước, phân… cho nên các chú tập sự xuất gia xin thầy về thì thầy nói đừng về.

Về là đi luôn, nhiều trường hợp như vậy lắm. Vì đây là giai đoạn bảo vệ, trong kinh có nhiều ví dụ như hạt giống vừa nảy mầm, hay con nghé mới sanh ra cần sự nuôi nấng của con bò mẹ, xa bò mẹ sẽ nguy hiểm với rất nhiều cọp, sư tử, sói. Cũng vậy, người xuất gia xa Tăng đoàn cũng sẽ gặp nhiều nguy hiểm. Cho nên trong giai đoạn này mình phải ý thức thật sâu sắc, giai đoạn nuôi dưỡng cho tới khi lớn mạnh rồi sẽ nhẹ hơn. Làm sao mà mình cố gắng nuôi dưỡng ngũ uẩn bằng tuệ giác.

Giai đoạn thứ hai là mình đã biết ngũ uẩn là ngũ uẩn nhưng mình không đủ sức, mình bị nó quật ngã lại. Bây giờ mình phải dùng ngũ uẩn để diệt ngũ uẩn, gọi là gậy ông đập lưng ông, lấy độc trị độc, tức là mình dùng tất cả những phép quán 32 thể trược, 9 giai đoạn của một tử thi, bộ xương, giòi, dùng sắc uẩn này để diệt sắc uẩn đam mê, dùng cốt tưởng để tưởng về bộ xương. Đó là mình đang dùng sắc để diệt sắc, dùng con giòi, dùng đống thịt bầy nhầy, dùng niệm tử, cảnh chết, cảnh tai nạn, những cảnh hiểm nguy bệnh hoạn, già khổ, dùng những hình ảnh này để diệt cái vô minh, tham ái, chấp thủ đối với sắc uẩn. Gọi là dùng sắc để diệt sắc.

Mình ưa thích những cảm thọ dục, tham, ái, thích thú. Mình đã quen với cảm giác ta đây, dương dương tự đắc, ngã mạn. Mình nuôi dưỡng những cảm giác này từ lâu nên giờ mình dùng những cảm giác của khổ thánh đế, dùng những cảm giác của sự nhàm chán, não nề, ê chề, những cảm giác rùng rợn, tê tái, chán chường, cảm giác không còn ham muốn nữa để trị cảm giác dục, ái, tham. Tức là dùng thọ diệt thọ. Phải làm cho phát sanh lên cảm giác đau khổ của cuộc đời này, cay đắng, gian trá, lừa gạt, thủ đoạn của thế gian này, những cảnh khốn khổ, ách nạn. Phải sanh khởi lên những cảm giác này cho thật lớn mạnh, làm cho rung chuyển toàn thân tâm. Có những cảm giác như bung vỡ ra như lúc các chú lạy sám hối diệt ngã, nước mắt tuôn trào ra. Dùng cái thọ của trí huệ để diệt cái thọ vô minh, ngã mạn, dục, tham, ái, ta đây. Đây là bí kiếp, dùng thọ diệt thọ.

Dùng những cái tưởng nằm chết, tưởng trương sình, giòi ăn, tưởng kết thúc cuộc đời này, tưởng cái nắm tro tàn, nấm mồ, hũ cốt để diệt cái tưởng cho là đẹp, là hấp dẫn… những cái tưởng tương ưng với dục, ái, vô minh. Những cái tưởng khoan khoái hiện lên là mình dùng cái tưởng này diệt nó. Đây là thánh trí, lúc mặt trời mới mọc thì ánh sáng chiếu thẳng lên, gọi là nhật xuất tiên chiếu. Giai đoạn thứ 2 là mặt trời sẽ phổ quát đều ánh sáng, tất cả đứng bóng giữa trưa, gọi là nhật thăng chuyển chiếu, tức là ánh sáng của mặt trời chiếu sáng cùng khắp mọi nơi. Mặt trời sắp lặn gọi là nhật một hoàn chiếu, tức là trước khi lặn sẽ hực sáng lên lần cuối, hay còn gọi là hoàng hôn. Cho nên đây là giai đoạn mình mới thể nhập cái pháp là phải để cho phát huy hết mức tối đa, đừng nghĩ rằng làm vừa vừa, tàm tạm là được. Đây là giai đoạn mặt trời mới mọc, ánh sáng chiếu thẳng lên hư không.

Khi suy nghĩ bậy bạ hay suy nghĩ làm biếng, suy nghĩ buông lung muốn ăn chơi, muốn ngủ là phải đánh đuổi, dùng lời nói mạnh mẽ, đao to búa lớn diệt sự trạo cử, hôn trầm, giải đãi. Đó là dùng hành diệt hành, đó là sự huấn luyện thâm sâu của năm uẩn. Dùng những lời nói sắc bén, mạnh mẽ, nhất là những lời trong kinh, thậm chí là chửi suốt ngày cái dục "Trâu bò", "Súc sanh", "Súc vật chứ không phải người", mình chửi suốt ngày, dùng hết thời gian để chửi để đánh đuổi những cái hành; thọ; tưởng đó.

Nổi sân lên cũng chửi "Cọp, sói mới vầy chứ người tu không có vậy", "Mình là người tu mà sao hở chút là sân, hở chút là ngã mạn?". Dùng từ thật mạnh để đánh đuổi nó, cho nên trong thân tâm là cả một tuệ lực, là sức mạnh của trí huệ. Khi mình thấy được, phát giác được là lôi đầu nó ra sánh sáng, đem ra sám hối, phát lồ, dập đầu xuống lạy để diệt tận nó. Dùng suy nghĩ để trị suy nghĩ, huấn luyện, giáo dục cái suy nghĩ. Phải làm cho nó đi vào quỹ đạo của thánh đạo, vừa đi lệch ra là phải đánh đuổi để đi vào cho đúng. Bắt nó phải vào khuôn phép.

Trong Tương Ưng Bộ kinh có bài pháp ví dụ về con chim sẻ và con chim ưng, chim sẻ bị chim ưng quắp bay lên hư không, chim sẻ khóc nói "Tại tôi không nghe lời cha mẹ nên giờ mới bị bắt", "Cha mẹ ngươi nói gì?" ,"Cha mẹ nói tôi phải ở trong phạm vi, đừng đi ra ngoài khỏi lãnh vực này. Nếu tôi ở trong đó, không đi ra thì dễ gì bị bắt", chim ưng nói "Ta cho ngươi xuống, ở trong đó đi, ta sẽ bắt ngươi lại lần nữa cho ngươi coi", chim sẻ trốn vào cái hốc có đầy đất đá, chim ưng từ trên lao xuống thật nhanh, đâm đầu vào trúng đá gãy cổ.

Thì lãnh địa, phạm vi của người xuất gia là Tứ Niệm Xứ, đừng ra khỏi đó, ở trong đó ma không bắt được mình. Ma là sắc; thanh; hương; vị; xúc. Năm dục trưởng dưỡng này là ma. Khi mắt tiếp xúc với sắc mà đẹp đẽ, dễ thương thì thích nhìn, đó là ma, mà mình không quay trở lại an trú vào Thân Hành Niệm, an trú vào cảm giác toàn thân trong sự quán chiếu tu tập thì mình bị ma lôi đi. Đó là mình bị chim ưng bắt rồi, bị ma bắt rồi. Vì mình đi ra khỏi lãnh địa của ông bà, cha mẹ, ra khỏi căn nhà trú ẩn của mình mà căn nhà của mình là thánh trí về ngũ uẩn, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, ngũ căn ngũ lực, Thất Giác Chi. Đó là giới vực, là căn nhà tâm linh an ổn của người tu. Cho nên mình phải làu thông nhuần nhuyễn 37 phẩm trợ đạo, phải thông suốt điêu luyện đối với 37 trí tuệ của Bồ Đề phần thì mình mới có thể giảng được một pháp viên mãn. Thành tựu 37 trí mới có thể giảng một pháp đầy đủ trọn vẹn trong 37 Bồ Đề phần. Thành ra dùng hành diệt hành, dùng thức diệt thức.

Thức là sự rõ biết, mình dùng cái biết của chánh pháp để diệt. Ở ngoài biết chuyện tào lao, chuyện không cần biết, không đáng biết cũng ham biết, muốn biết, tìm để cho biết. Bây giờ mình dùng cái biết của chánh pháp, nghe hoài, nghiền ngẫm, quán chiếu, thấy hoài, phát sanh cảm thọ; tưởng; suy nghĩ; nhận thức về pháp. Toàn bộ ngũ uẩn của mình lọt vào dòng chảy của thánh trí. Mình nhảy vào dòng chảy này để ngấm toàn thân dòng sông của thánh pháp, mình ngâm mình trong thánh trí này. Bất cứ khi nào thấy, nghe, xúc chạm thì cũng đưa về pháp, đừng để lọt ra khỏi pháp. Suy nghĩ một cái gì cũng về pháp, nói cái cũng là nói pháp. Lúc thầy đang tắm cũng nghe kinh, nhà vua cỡi con voi, mọi người dân chạy ra phố "Voi này đẹp quá".

Đức Thế Tôn nghe vậy thì nói với ngài A-nan ở kế bên "Đó chưa phải là con đẹp", "Ông có biết con voi đẹp thật sự là như thế nào không?", "Là thân hành, ý hành, khẩu hành đều không có một chút bất thiện pháp", "Đó là voi đẹp nhất trong chánh pháp". Ngài A-nan bạch Thế Tôn "Cái này tuyệt diệu quá, Thế Tôn nói hay quá". Tức là bất cứ cái gì Đức Phật tiếp xúc đều đưa về pháp, cho nên thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, phụng sự vô thượng.

Khi nghe người ta đánh đàn, xem người ta làm xiếc thì Phật nói những cái đó không phải là thấy, không phải là nghe. Thấy được Như Lai và đệ tử của Như Lai, nghe được chánh pháp thì đó mới là thấy vô thượng, nghe vô thượng. Cái nghe này mới đưa đến chấm dứt khổ, đưa đến Niết-bàn, còn dù cho thấy, nghe, học bất cứ cái gì ở ngoài cũng không phải là vô thượng, học tập chánh pháp mới là học tập vô thượng.

Cho nên năm uẩn của mình vận hành toàn là pháp, gọi là bánh xe chánh pháp chuyển pháp luân trong năm uẩn của mình, sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình đều là pháp, ngũ uẩn của mình là một đại chuyển pháp luân vận hành trong thánh trí. Mọi người có thấy tuyệt diệu không? Phải như vậy thì sớm muộn cũng vào được thánh vị, thánh quả. Những suy nghĩ, những lời nói, cảm giác và tưởng tượng ra khỏi pháp là phải tẩy sạch, từ bỏ.

Cho nên đối với bản thân thầy thì thầy thấy trên cuộc đời này không có gì giá trị bằng thánh pháp này nữa, tất cả mọi các khác đều là vô nghĩa, phù phiếm, bọt bèo, không có gì giá trị bằng thánh trí này. Hãy đội nó trên đầu, hãy tôn kính cái pháp này, hãy thờ, lễ lạy trong mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi khắc chứ không phải đợi lên trước Phật mới lạy, đợi nghe pháp mới tôn kính, sẵn sàng một hơi thở, một sinh mạng này chết vì sự cầu pháp, vì sự cung kính, vì sự thực hành pháp. Những cái học sơ sài, hiểu sơ sơ, chấp nhận hài lòng với những cái nhỏ hẹp thì không thành tựu được mà phải đi đến chỗ cùng cực tận cùng của pháp.

Hãy nói với tâm mình như vậy, ngồi nghe pháp 8-10 tiếng cũng được chứ mới nghe pháp có 1 tiếng là mệt mỏi, không phải dễ để có người ngồi nói chánh pháp cho mình nghe. Khi nghe mà thấm được thì tuyệt diệu, tối thiểu cũng hướng Dự lưu quả, trừ người ngồi đây mà tâm tưởng chỗ khác thì không nói đến.

Cho nên làm sao cho ngũ uẩn của mình trở thành đại pháp luân. Dùng thức diệt thức, dùng những cái biết của chánh pháp để diệt những cái biết tà đạo, tà kiến, tà ngụy, tà ác… Nhiều khi nghe kinh mà có cảm giác còn hơn tắm biển Hawaii, hỷ lạc sung mãn đến từng lỗ chân lông, giống như mình nhảy xuống đại dương của thánh trí, bơi lội trong đó, thấm đượm toàn thân, xúc động toàn thể thân tâm, có khi nước mắt tràn ra vì quá biết ơn Phật, pháp, các bậc hiền thánh Tăng đã kết tập pháp tạng trong hơn 3000 năm qua.

Phải có tâm khi mình nghe, khi học, khi quán chiếu, cho nên chính vì vậy mà thầy vận dụng vào việc đọc báo bằng tuệ giác. Đứa bé mới 12 tuổi giỡn với con chó, thảy trái táo bất ngờ văng ra cửa sổ rơi từ tầng 24 xuống trúng đầu bé 3 tháng tuổi, trở thành người sống thực vật, 6-7 lần đi chữa trị số tiền lên tới hơn 18 tỷ. Gia đình em bé yêu cầu người làm rơi trái táo đó phải bồi thường, bên kia không đồng ý...

II. Hướng tâm về giải thoát

Khi đọc thì mình thấy không có gì ra khỏi ngũ uẩn, sắc uẩn này là bong bóng, là bọt, chạm tới là vỡ tan, đây cũng là đề mục cho mình thiền quán. Trái táo mình cầm, thảy lên xuống không sao nhưng khi nó rơi từ tầng 24 thì sức mạnh là khủng khiếp. Cuối cùng em bé 3 tháng tuổi sống đời sống thực vật, cái não bị hư, khi mình đọc như vậy thì mình thấy bản chất mong manh, tạm bợ và vô thường của sắc thân này, làm cho mình phát sanh cảm giác nhàn chán, không ham muốn với những của cải, vật chất, danh lợi phù phiếm của đời này. Mình chơi trò chơi cũng là đi theo cảm giác, cũng vì cảm giác đó là gây ra tại họa, bị kiện đòi bồi thường 18 tỷ 600 triệu, rồi còn kiện chủ đầu tư của chung cư lý do chung cư không an toàn, để vật rơi rớt xuống. Kéo ra đủ thứ chuyện, đó là mình đọc báo bằng tuệ giác, quán cho thâm sâu để nó sanh khởi lên.

Sự mê lầm, tham đắm phải được nhìn thấy

Như bọt nước trôi sông,

Như lầu sò chợ bể

Nếu xem đời bằng cặp mắt ấy,

Thần chết không tìm tới được

(Kinh Pháp Cú- Phẩm Thế Gian)

Phải để mình sanh khởi những cảm giác, những khía cạnh của đời sống vô thường này, thành ra trong tạng kinh Nikāya là thâm sâu vô lượng, cái trí phàm phu bình thường khó để có thể hiểu được nếu không có trí quán sâu sắc, rộng lớn. Vì Đức Phật chỉ toàn nói định lý, từ đó mình phải ứng dụng ra ngàn triệu trường hợp thì mình mới thấy được độ thâm sâu và tinh tế, tinh hoa ẩn chứa trong đó.

Này các Tỳ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

Là vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến này: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?

(Tập III. Thiên Uẩn, Chương III. Tương Ưng Kiến, I. Phẩm Dự Lưu)

Mình đọc đoạn này chỉ thấy bình thường, mà thực ra đây là định lý, là thánh trí. Mình phải mở rộng ra trong tất cả các khía cạnh từ con người, sự việc, tình cảm, xã hội trong cuộc sống này để nhìn thấy mọi ngõ ngách của nó. Những tin tức hằng ngày trong báo là tạng kinh Nikāya sống trong thế kỉ 21 vì có gì ra khỏi ngũ uẩn? Có cái gì ra khỏi vô thường, khổ, vô ngã? Vậy khi mình đọc, nghe, nhìn sự vật thì đưa thánh trí vào, đưa tuệ quán vào, gọi là tối thắng tuệ pháp quán, là cái pháp tuệ quán tối cao, tối thượng. Mỗi lần mình nghe thì quán một chút, mình biết thì tư duy một chút, lâu ngày trí huệ được tưới tẩm lớn mạnh. Chứ không phải tự nhiên đùng một cái là chứng quả mà mình phải nuôi dưỡng như một ngày ăn 3 bữa đều đều, phải biết cách nuôi dưỡng và chọn lọc thức ăn phù hợp cho sức khỏe của mình, thì khi nghe, khi thực hành pháp cũng vậy, khi nghe tin tức cũng phải trạch pháp như vậy. Trạch pháp tức là sự chọn lựa.

Có một cô gái người Úc mới 21 tuổi, vừa lái xe chở 2 người bạn vừa cười nói và nhìn điện thoại livestream. Không chú ý nên chạy qua làn xe ngược chiều, tông xe trực diện chết tại chỗ, 2 người bạn đi chung bị thương nặng, lúc vào bệnh viện cũng vẫn còn chụp hình đưa lên Facebook, đó gọi là sống ảo. Bạn mình vừa chết tức thì, còn mình nằm viện mà vẫn chụp hình đưa lên cho mọi người xem.

Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"

(Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định)

Đây là thánh đế thứ nhất của Tứ Thánh Đế. Mình chứng kiến những cảnh tượng mà mình nghĩ "Chết dễ dàng vậy sao lúc ngồi thiền mình yếu đuối quá". Mình chưa bao giờ ngồi thiền chết, chưa khi nào nghe pháp bị bệnh, chưa khi nào công quả nhập viện, như vậy sự tu học của mình thua mấy trò chơi ngoài đời, người ta chơi mà người ta dám chết. Phải lấy tinh thần ăn chơi như vậy chuyển thành tinh thần tu học tinh tấn, nỗ lực, quyết tâm thì sẽ mau Nhập lưu.

Mạng sống này chết vô duyên, vô cớ, vừa chạy xe vừa mở livestream để khoe Facebook cho mấy chục người bạn biết, vui cười lúc đó. Thì đọc báo như vậy tức là đang đọc kinh. Trong kịch Ngao- sò- ốc hến có nghệ sĩ Giang Châu đóng vai trùm sò, vừa mới mất cách đây không lâu, thọ 67 tuổi sau thời gian bệnh thoái hóa não. Những người nổi tiếng xung quanh mình, những người có tên tuổi, có địa vị, những người bạn quen biết, ông bà, cô bác lần lượt ra đi hết. Đây là điều lo sợ mà không ai để ý điều này, không ai ngồi lại để lo, thậm chí già bệnh gần chết cũng không lo "Chừng nào chết là chết", cái này không phải giỏi mà là vô minh.

Tại sao Đức Phật tuổi trẻ, có địa vị, danh vọng, đẹp đẽ mà Ngài lại suy tư về cái già, bệnh, chết của con người? Đây là một trí huệ cực kì sâu xa, có mấy người hiểu được tại sao Phật lại suy tư về già, bệnh, chết trong khi lúc đó Ngài vẫn còn rất trẻ. Bây giờ thầy đi nói pháp có mấy người bỏ chạy, thầy chấp nhận điều đó, ai nghe nổi thì nghe, vì bây giờ thiếu gì người nói chuyện vui. Người ta ngồi nghe thấy thầy nói không vui, làm cho người ta suy nghĩ ray rứt, nhưng chính cái sợ, cái ray rứt đó để tìm lối thoát.

Đó gọi là xuất ly tầm, là sự suy tầm về sự thoát ra, là sự suy tư về sự giải thoát, xuất ly đạo lộ mới là con đường giải thoát. Còn mình nói cho người ta vui thích, thấy cõi đời này cái gì cũng hạnh phúc, cái gì cũng đam mê hết thì mình đang nói pháp gì? Đó có phải là pháp ly tham không? Đây là sự khổ tâm mà mấy người biết được. Từ khi bắt đầu mầm móng để đạo Phật xuất hiện trên đời này là từ chỗ này, đó là căn nguyên của Phật giáo, đó cũng là nguyên do để hình thành nên đạo Phật.

Lý do tại sao có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện trên đời này và mục đích của đạo Phật đều ở chỗ thấy được cái khổ trong sanh, già, bệnh, chết để đoạn diệt, đi ra khỏi nó. Đó gọi là chánh tông của đạo Phật, là cốt lõi, là tủy, là tinh hoa, là hồng tâm, là trái tim của bậc Chánh Đẳng Giác. Tất cả mọi người đều không thấy khổ, có đau khổ thì khóc, đau buồn một chút vậy thôi rồi cũng si mê trở lại, vào sở thú ngay chỗ không có hàng rào bảo vệ, đứng tự sướng bị voi đạp vào người là nhập viện hay là thò tay vào chuồng cọp rồi bị nó ngoạm lấy cánh tay là bị thương nguyên cái tay. Chỉ là sự vui sướng trên cái khổ, cái mê chứ thật chất có cái gì mà vui, cũng như trường hợp vừa lái xe vừa chụp hình.

Đức Phật chia ra làm 2 pháp, thứ nhất là nhân thiên pháp và thứ hai bất tử pháp môn. Nhân thiên pháp là những phương pháp mà con người làm phước, làm lành để họ hưởng phước báo lành thiện có đời sống ở cõi trời, cõi người. Còn cái pháp thật sự mà Đức Phật nói cho người xuất gia là bất tử pháp môn, gọi là chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này. Mình chiêm nghiệm sẽ thấy tuyệt vời, nhiều khi mình thấy người ta giành giật, hơn thua, ganh tỵ, thậm chí là đụng chạm tới lợi ích của mình thì cũng thấy nhẹ nhàng vì mình đã có vé lên máy bay, đi vào cửa bất tử, ai giành thì giành còn mình đã từ bỏ, ly tham.

Cái hướng của mình là đi ra thì giành giật trong đây để làm gì? Ở đây thì mới tranh đấu, ở đây thì mới hơn thua, cao thấp, tật đố còn mình đã đi ra thì "thôi kệ, ai giành thì giành đi". Mình sẽ có cảm giác kì diệu, hồi xưa cũng học thiền quán, nghiền ngẫm đầy đủ nhưng sao đụng chuyện vẫn còn nhiệt tâm, còn bây giờ bắt đầu nguội lạnh lần lần, đã bắt đầu viễn ly xa lìa mọi thứ. Mình có cảm giác khó tả, cho nên mình học lợi ích của bậc Dự lưu, thấy pháp là không cùng với người khác chia sẻ được, trí huệ không chia sẻ cho người khác được, một khi mình thành tựu cái trí huệ có hướng bước ra thì trí huệ đó không thể nào một người không thấy pháp có thể hiểu nổi, có thể chia sẻ được.

Cho nên càng nói là càng biết ơn Đức Thế Tôn, không có lời nào diễn tả được hết ân đức của Ngài, mình phải học để phá tung hết tất cả 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 xúc, 6 thọ, 6 tưởng, 6 tư, 6 ái, 6 tầm, 6 tứ, 6 xứ, thập nhị xứ, thập bát giới thì Đức Phật phá hết tất cả những cái đó, có lúc mình nghe thì hơi sợ lúc đầu nhưng một khi đã thâm nhập, suy tư, thiền quán từ từ cho ngấm vào rồi thì đây đúng là thần dược, diệu dược. Khi gặp chuyện rồi mình mới thấy thánh pháp này rất kì diệu nhờ những lúc nghe hoài, suy tư, quán chiếu hoài như vậy.

Này các Tỳ-kheo hãy tin tưởng nơi Như Lai. Đây là đạo lộ, con đường ta đã chứng ngộ. Các ông tinh tấn thực hành theo đạo lộ này thì các ông sẽ chứng ngộ như Ta.

Khi nghe những lời này thật sự xúc động, rưng rưng nước mắt vì cái tâm đại bi của Đức Phật mà mình không hiểu hết được. Khi nào mình thành tựu chánh tri kiến thì mình mới có thể hiểu phần nào chính xác về Đức Phật. Không thể có người nào vĩ đại có thể so sánh ngang bằng với Ngài, đó là một chúng sanh duy nhất trong tam thiên, đại thiên thế giới này. Hôm nay tới mùa Phật đản kỉ niệm Đức Thế Tôn, mình không có gắn đèn, cờ, treo lộng gì hết mà hãy thắp sáng thánh trí của Đức Phật truyền trao. Đó là báo ơn sâu sắc nhất của mình đối với Đức Phật. Hãy tôn trọng bậc đạo sư, tôn trọng chánh pháp, tôn trọng sự hổ thẹn, sự sợ hãi, tôn trọng sự tinh tấn, không phóng dật, tôn trọng thiền định.

Hãy xem những điều đó còn hơn cả sinh mạng của mình rồi một ngày nào đó hoa trái sẽ nở, mình sẽ thấy không uổng phí mà ngược lại còn xứng đáng. Hãy buông bỏ tất cả, thậm chí cả sinh mạng của mình, làm sao phải đoạt cho được cái trí huệ mà Đức Phật truyền trao, phải chứng ngộ, chứng đạt rồi mình sẽ thấy xứng đáng. Dù cho có tan nát thân này ra ngàn vạn lần cũng xứng đáng, rất là xứng đáng. Thầy sợ cái vô thường đến bất lúc nào cho nên khi có cảm xúc là thầy chia sẻ để chúng ta cùng tu học và những người trong tương lai muốn tu học cũng thấy được đạo lộ. Vô thường bất ngờ lắm, đang nói chuyện là tự nhiên muốn nổi sân lên, thì cái chết cũng giống vậy, bất thình lình tới không hẹn trước. Làm sao cô gái lái xe 21 tuổi ở Úc biết đó là giây phút cuối cùng của cuộc đời cô?

Cho nên còn hơi thở nào thì hãy đem hết tất cả trái tim, tấm lòng của mình để tôn thờ, đảnh lễ cung kính đối với pháp bằng cách nghe, nghiền ngẫm, thực tập. Đừng xem thường, kinh nghiệm bản thân của Minh Thành cả một cuộc đời là cung kính pháp đến cùng cực cho nên ngày hôm nay thấy được pháp. Đó là kinh nghiệm xương máu, khi thầy thấy người nào không cung kính pháp, hoặc là cung kính chưa đủ mức độ, đã khuyến khích nhiều lần nhưng không được thì thôi vì mình biết người đó không thể chứng nhập được, được cái duyên bao nhiêu thì hay bấy nhiêu, chứ thật ra phải đem cả sinh mạng thì mới chứng pháp được nhanh chóng, tối thiểu sẽ thấy pháp.

Thật sự tuyệt diệu cho đời sống này! Trong kiếp vô thường mong manh này mà mình nắm được cái phao thì hãy bơi đi, lội đi để nhận lại sự bình an, đại bình an là giáo pháp này, an ổn tuyệt đối là đạo lộ này, lợi mình lợi người, lợi cả chúng sanh là thánh trí này, vi diệu tối thượng là những lời của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya. Mình muốn chánh pháp được hưng thịnh, lớn mạnh thì phải thực hành theo lời Đức Phật chứ không phải mình suy nghĩ làm cái này là Phật pháp hưng thịnh.

III. Bảy pháp không suy giảm

Bảy pháp không bị suy giảm tức là làm cho tăng toàn Phật giáo lớn mạnh,.

 Này các Tỳ-kheo, thế nào là bảy pháp không bị suy giảm? Này các Tỳ-kheo, khi nào chúng Tỳ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII, Bảy Pháp, III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ), (III). Vị Tỳ-kheo).

Tụ họp để làm gì? Tụ họp để tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng định học, tuệ học. Tụ họp để tăng thượng giải thoát tri kiến học. Những cái này mới làm Phật pháp hưng thịnh, cho nên phải thành tựu trí viên mãn thì sau đó mình mới hiểu thấu được trọn vẹn. Tụ họp để nói pháp ly tham, thực hành pháp ly tham thì tụ họp đó càng đông đảo chừng nào thì chúng Tỳ-kheo sẽ càng lớn mạnh, tức là Tăng đoàn không bị suy giảm. Các chú tập sự xuất gia, các thầy có làm theo lời Đức Phật không? Một ngày tụ họp mấy lần?

Đó là lý do tại sao mỗi khi thầy thấy người nào vắng mặt vào giờ tu hay giờ nghe pháp là thầy phải hỏi, coi chừng suy giảm, thối đọa, trừ trường hợp đặc biệt. "Bây giờ tôi chỉ muốn ở riêng" là coi chừng, có vấn đề, phải để ý. Tới giờ tu, giờ học là lấy lý do để trốn, vậy là thối đọa, suy giảm. Phải nhớ từ này suy giảm, phải có mặt để tu, để học, để thiền định, không có lấy lý do để trốn, vậy là suy thoái rồi. Bình thường không thấy ăn cơm, sáng không ăn, trưa chiều cũng không thấy ăn, ngày mai cũng không ăn thì người này bị bệnh. Thì cái pháp cũng vậy, không thấy vào nghe pháp, không thấy ngồi thiền, không thấy tụng kinh thì cái kia là thân bệnh còn cái này là tâm bệnh. Kinh nghiệm của trưởng lão, giờ tu không thấy, giờ học không thấy, giờ hành trì không thấy mặt thì là bệnh, suy giảm. Cho nên mình thường hội tụ trong pháp như vậy, đó là sự lớn mạnh, đại chúng sẽ được hòa hợp, sẽ được thăng tiến trên đạo quả trong lục hòa.

Này các Tỳ-kheo, khi nào chúng Tỳ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII, Bảy Pháp, III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ), (III). Vị Tỳ-kheo).

Khi bắt đầu tụ họp là phải tụ họp trong ý niệm đoàn kết, ngồi lại đoàn kết để tu học, để chia sẻ kiến hòa đồng giải, cùng san sẻ những tri kiến trí huệ. Chứ không phải ngồi lại để gây chuyện, để moi móc thị phi với nhau, tất cả những người này bị suy giảm hết. Làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết tức là "Sao huynh làm việc đó không được? Để đệ phụ", "Nhà cốt lớn quá sao quét một mình, để đệ phụ", hay là dọn pháp tòa coi có thiếu cái gì không để phụ hay là tự động nhìn thấy là phụ dọn, những chương trình tu học mình làm trong ý niệm đoàn kết, hòa hợp giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau. Thì như vậy là lớn mạnh, không bị suy giảm trong đạo tràng, trong ngôi chùa, trong thiền viện, trong tùng lâm. Cho nên vắng mặt phải có lý do chính đáng và phải xin phép.

Này các Tỳ-kheo, khi nào chúng Tỳ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII, Bảy Pháp, III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ), (III). Vị Tỳ-kheo).

Không ban hành những luật lệ không được ban hành, nghĩa là không tự động nảy ra ý định rồi ban hành thêm luật mới. Luật mới từ đâu ra? Có trong kinh, trong luật không? Đối chiếu với kinh và so sánh với luật, nếu đúng thì mới thọ trì, chứ không phải suy nghĩ ra rồi ban hành luật, không có đúng pháp. Không căn cứ vào trí huệ trong pháp và luật là không được. Không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, tức là những luật lệ đã ban hành rồi thì không được hủy bỏ mà phải tuân thủ. Cho nên lúc Đức Thế Tôn nói với ngài A-nan sau khi Ta nhập diệt rồi có thể những cái giới nhỏ nhặt có thể lược bỏ, tùy theo hoàn cảnh địa phương.

Khi kết tập kinh điển, ngài Ca-diếp mới hỏi giới nào là giới nhỏ nhặt? Đức Thế Tôn có nói rõ ra là giới nào không? Vì vậy phải giữ lại hết các giới, cuối cùng bây giờ mới còn truyền trì lại giới luật tạng chứ mạnh ai muốn bỏ là bỏ thì tới giờ mình còn lại gì? Điều này cho thấy công lao của các vị thánh Tăng trong 2600 năm qua đã giữ gìn hết tất cả tạng kinh và tạng luật. Còn bây giờ mình đọc vào là làm biếng, khó hiểu vì câu kinh cứ lập tới lập lui, nhưng nếu không lập lại như vậy thì bây giờ làm sao còn cho mình học?

Đó là vô minh, sự phủi ơn, "Đọc kinh sao thấy lập tới lập lui hoài, khó hiểu nên ngán quá", bây giờ mình hiểu ra thì thấy cái đó là vô minh, si mê, vô ơn, phải sám hối, do mình chưa có trí huệ nên mình không biết sự khó khăn, gian khổ của các bậc thánh Tăng. Không cần thuộc nhiều, thử thuộc một Thiên Uẩn trong Tương Ưng Uẩn thôi, có nổi không? Vậy mà các ngài phải học hết mấy chục ngàn trang, từ người này truyền người kia, từ người kia truyền người nọ gần 3000 năm. Cho nên không phải muốn ban hành là ban hành, muốn bỏ là bỏ. Phải cố gắng sống đúng với những học giới được ban hành,

Này các Tỳ-kheo, khi nào chúng Tỳ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỳ-kheo Thượng tọa, những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc Thầy của chúng Tăng và nghe theo những lời dạy của những vị này, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII, Bảy Pháp, III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ), (III). Vị Tỳ-kheo).

Mình xem lại coi mình có thực hành những cái này không? Tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỳ-kheo Thượng tọa, tức là những vị trưởng thượng tu học lâu ngày. Những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc Thầy của chúng Tăng, mình nghe theo lời dạy của các vị này thì chúng Tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Tại sao các bậc tôn đức lớn đến là mình phải ra tới cửa lạy dưới đất là do mình học theo trong kinh dạy. Nghe theo nếu đó là chánh pháp.

Này các Tỳ-kheo, khi nào chúng Tỳ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII, Bảy Pháp, III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ), (III). Vị Tỳ-kheo).

Nếu cho Tăng đoàn lớn mạnh, cho Phật giáo phát triển thì không phải làm gì bên ngoài mà là trong nội tâm không bị chi phối bởi tham ái. Vì tham ái này tác thành một đời sống khác, tiếp tục luân hồi sanh tử, tái sanh đầu thai nữa. Phải tu tập quán chiếu, đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm không để nó áp đảo mình. Đây là bổn phận, là trách nhiệm, tới chừng nào ái bị diệt hết là chứng ngộ Niết-bàn, gọi là đại công cáo thành, thành tựu cứu cánh Phạm hạnh. Cả mục đích duy nhất của mình chỉ có vậy. Trong kinh dùng từ không bị chi phối bởi tham ái rất nhẹ chứ chưa nói đến diệt tận hết tham ái là bậc A-la-hán, mình có nhưng không chi phối thì đó là nói bước đầu mình có thể chế ngự được. Tới lúc mình diệt tận thì xong, ca khúc khải hoàn, báo đáp hết bốn ơn ba cõi, tới lúc này muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, còn giờ phải vào khuôn phép.

Này các Tỳ-kheo, khi nào chúng Tỳ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII, Bảy Pháp, III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ), (III). Vị Tỳ-kheo).

Chỗ nhàn tịnh là chỗ vắng vẻ, không có nhiều công việc, không có rộn ràng, không có tất bật, lăng xăng. Chỗ mình đang ngồi đây có phải nhàn tịnh không? Trong tâm mình có nhàn chưa? Có tịnh chưa? Cảnh vật hết sức quan trọng, nếu không có cảnh nhàn tịnh thì cái tâm khó nhàn tịnh, Đức Phật dạy chỗ đã có hoàn cảnh tốt đẹp, có chánh pháp, tu tiến thì có đánh đuổi cũng không đi. Còn chỗ lại khất thực không được, pháp không có, tâm không yên định thì không cần xin phép cũng bỏ đi. Còn chỗ yên tịnh, có đại chúng, có thầy, có chánh pháp, tu tiến bộ thì đánh đuổi cũng khi đi, chết cũng không đi, theo vị đó suốt đời. Trái Đất này có sụp đổ đi nữa thì những lời này cũng không có sai vì đây là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Giác, không thể có sự sai khác, lời của Như lai là không có sự sai. Phải tin tưởng tuyệt đối và có niềm tin bất động đối với pháp. Một lời nói của Đức Như Lai là không có sự sai khác, phải sống ở chỗ nhàn tịnh thì chúng Tỳ-kheo không bị suy giảm.

Này các Tỳ-kheo, khi nào chúng Tỳ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở. Và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở được sống an lạc, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII, Bảy Pháp, III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ), (III). Vị Tỳ-kheo).

Tự thân của mình phải an trú trong chánh niệm, khiến cho những người đồng tu có thiện chí chưa đến thì muốn đến chỗ mình để ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở được sống an lạc. Tự mình phải sống an trú trong chánh niệm trước, cái này quan trọng, tự mình là quan trọng trước hết, tối ngày cứ lo người ta mà không có chánh niệm là hư chuyện. Các thầy ở Linh Quy Pháp Ấn dễ thương, các chú tập sự hiền lành, có chánh pháp tu hành đúng lời Đức Phật thì mọi người muốn đến. Chứ không phải tiếng lành đồn xa, lại có 3 ngày là đi hết là không được, có danh mà không có thực, có tiếng mà không có miếng. Phải là sự thật, làm sao phải luôn thực hành 6 pháp hòa kính, không được quên.

Tất cả thân hành, khẩu hành, ý hành, những suy nghĩ, lời nói và hành động phải luôn từ ái trước mặt và sau lưng các bạn đồng tu, các bạn đồng phạm hạnh. Cố gắng giữ gìn giới pháp, những lợi dưỡng cúng dường chia đồng đều, cùng chung chia sẻ với nhau để thể nhập thánh trí, thể nhập tri kiến của bậc thánh, thượng nhân pháp, cái tri kiến thù thắng, xứng đáng với bậc thánh.

Này các Tỳ-kheo, khi nào bảy pháp không làm suy giảm này được duy trì giữa các vị Tỳ-kheo, khi nào các Tỳ-kheo được dạy bảy pháp không làm suy giảm này, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII, Bảy Pháp, III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ), (III). Vị Tỳ-kheo).

./.