Phá Chấp Thọ Tưởng Hành Thức _ Không Gì Là Ta
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
PHÁ CHẤP THỌ TƯỞNG HÀNH THỨC
KHÔNG GÌ LÀ TA - KHÔNG GÌ LÀ CỦA TA
Thích Minh Thành
Khi thầy giảng nhưng nếu trên núi không nghe được thì chúng ta thấy được điều gì? Lỗ tai này là duyên sanh, nó phải lệ thuộc vào những điều kiện, nếu thiếu những điều kiện đó thì cái nghe bất thành, đầy đủ điều kiện thì cái nghe hình thành nhưng khi được hình thành thì lại sân si, nghe được rồi để tham muốn, hơn thua, tranh đấu. Một người bị điếc có tham sân si không? Họ vẫn tham sân si vì tham sân si đó không phải chỉ là từ bên ngoài vào mà là bên trong cũng có, cái tham sân si của chúng ta khi sanh ra đã đi chung với mình. Một đứa trẻ nhỏ có tham sân si không? Nó lấy tiếng khóc làm sức mạnh, hễ cái gì không vừa lòng là khóc lớn lên, giãy giụa lên. Một đứa trẻ nhỏ có bản ngã không, có cái tôi không? Sự la khóc, kêu gào, giãy giụa chính là thể hiện cái tôi đó, chính là thể hiện sự sân, tức giận. Bình sữa là cái tham muốn, đứa trẻ ngậm ti giả hoài không bỏ thì đó là tham ái cho nên tham sân si rất ghê gớm, khi chúng ta sanh ra nó đã đi theo trong xương, trong máu, trong tủy chúng ta. Bình thường người mù không thấy được thì không có xúc sẽ không có thọ, không có sân, không có ái nhưng ngược lại họ vẫn ái, vẫn tham, vẫn sân hận, chấp ngã và vẫn khổ đau. Cho nên chặn duyên tiếp xúc chỉ là một phần bên ngoài vì phiền não này là "nội công ngoại kích", trong ngoài phối hợp gọi là câu sanh phiền não tức là những thứ tham dục, nóng giận, ta đây cùng sanh ra chung với chúng ta, cho nên người mù không thấy, không có nhãn xúc nhưng họ vẫn tham dục, tham ái, sân hận, chấp ngã, khổ đau. Người câm không nói chuyện được thì họ có sân hận, tham dục, si mê không, có sầu bi khổ ưu não không, có ái luyến, ràng buộc, hệ lụy không? Có khi còn nhiều hơn người không câm nữa vì người câm bị ứ động không nói ra được nên ức chế, gọi là thằng câm ăn ớt nghĩa là ăn trúng ớt cay quá nhưng không la lên được chỉ biết ú ớ, vì thế chỉ cần thiếu một duyên thôi thì gặp như không gặp, thấy như không thấy, nghe như không nghe, nói như không nói vì đầu dây bên kia mất sóng mà bên này không biết vẫn nói cuối cùng bên kia không nghe thấy gì, vì thế cái này có mặt nên cái kia mới có, cái này sanh nên cái kia sanh, cái này không nên cái kia cũng không, cái này diệt thì cái kia cũng diệt. Những loài phi nhân không có thân thể như con người, chỉ là cái bóng nhưng họ vẫn đau khổ trong cái tham muốn của họ, họ cũng tức giận trong cái sân hận của họ, họ cũng khổ sầu trong cái tôi, cái chấp ngã của họ. Cho nên mắt; tai; mũi; lưỡi; thân này chỉ là công cụ, là hình nộm, người máy và bên trong là thọ; tưởng; hành; thức dẫn dắt, điều khiển, áp đảo, chi phối chúng ta và bên trong thọ; tưởng; hành; thức là dục tham ái, sân hận, chấp ngã, cho nên định lý giải thoát mà Đức Phật dạy trong Tương Ưng Bộ là:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
-- Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát thân do bốn đại tạo thành này.
Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì họ thấy được cái thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả.
Do vậy, ở đây kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát.
Và này các Tỳ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
Vì sao? Đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi".
Do vậy, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
Này các Tỳ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi đến với thân do bốn đại tạo thành này xem như là tự ngã, hơn là đối với tâm.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỳ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy lý duyên khởi: "Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt".
Này các Tỳ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ, nên lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy được chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, I. Hạng Người Ít Nghe)
Do có duyên tiếp xúc cảm giác ấy là vui thì cái vui khởi lên, nhưng nếu duyên tiếp xúc để đưa đến cảm giác vui bị chấm dứt thì lạc thọ đó bị mất, chấm dứt. Khổ thọ cũng vậy.
Này các Tỳ-kheo do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ, nên khổ thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ ấy diệt, nên khổ thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến khổ thọ ấy diệt, khổ thọ ấy chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, I. Hạng Người Ít Nghe)
Do tiếp xúc mà đưa đến cảm giác khổ nên khổ thọ sanh khởi ra, do duyên tiếp xúc đưa đến cảm giác khổ ấy chấm dứt thì cảm giác khổ ấy bị chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ, nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên bất khổ bất lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc ấy diệt, bất khổ bất lạc thọ ấy chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, II. Hạng Người Ít Nghe)
Do duyên xúc đưa đến cảm giác không khổ không vui thì cảm giác không khổ không vui ấy khởi lên, nhưng cũng do duyên xúc đưa đến cảm giác không khổ không vui ấy chấm dứt thì cảm giác không khổ không vui ấy bị chấm dứt. Hễ tiếp xúc mà sanh ra cảm giác vui thì vui lên, cũng tiếp xúc mà làm cho cảm giác vui đó chấm dứt thì hết vui. Do duyên tiếp xúc mà cảm giác khổ sanh lên và cũng do duyên tiếp xúc mà cảm giác khổ chấm dứt. Do duyên tiếp xúc mà cảm giác đều đều, thường thường sanh khởi và cũng do duyên tiếp xúc mà làm cho chấm dứt cảm giác đều đều, thường thường đó.
Ví như, này các Tỳ-kheo, do hai khúc cây cọ xát hòa hợp nên sức nóng được sanh, lửa được khởi lên. Do hai khúc cây ấy xa lìa tách biệt, nên sức nóng ấy đoạn diệt, sức nóng ấy chấm dứt.
Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với xúc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên viễn ly; do viễn ly nên giải thoát. Trong sự giải thoát trí khởi lên, biết rằng: "Ta đã giải thoát", vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, II. Hạng Người Ít Nghe)
Trong bài kinh này Đức Phật nói chúng ta như thế nào? Kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, có thể muốn rời xa, có thể muốn thoát khỏi đối với cái thân này, những người ngoại đạo ở Ấn Độ tu hành xác, họ lấy hình phạt khổ hạnh, khắc khổ để tu hành chính là họ nhàm chán cái thân, họ lấy những sự ép xác đau đớn để họ giải thoát khỏi cái thân nhưng họ lại mong được sanh lên Thiên giới để có cái thân cao thượng hơn. Họ nhàm chán vì họ thấy thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả, thân này lúc thì tươi tốt lúc thì héo sầu, lúc thì mập mạp lúc thì ốm o, lúc thì khỏe mạnh lúc lại bệnh hoạn, lúc thì nuông chiều lúc lại bị vứt ra nghĩa địa, làm người không được bao lâu mà chớp mắt đã thành thây ma, tử thi, hôm trước là thân xác mà hôm sau là một bộ hài cốt, như vậy gọi là tăng giảm, lấy bỏ (thủ xả). Vì họ thấy cái thân tứ đại này được tăng được giảm, được thủ được xả nên kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát. Đây là những người chưa học Thánh Pháp mà họ vẫn có thể nhàm chán thân, muốn thoát ra, muốn rời xa nhưng cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát. Chữ "không đủ" tức là không đủ trí tuệ, không đủ sự thấy biết, không đủ cái nhìn thâm sâu để có thể nhàm chán, không đủ trí tuệ để xa lìa, thoát ra khỏi tâm ý thức này.
Đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chữ "lâu ngày" nghĩa là đã từ vô biên vô thỉ kiếp như câu kinh Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi). Đã lâu ngày kẻ vô văn phàm phu bị dính mắc, buộc chặt vào đó, họ cho rằng tâm ý thức đó, cảm giác, nghĩ tưởng đó là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi, do vậy kẻ vô văn phàm phu không đủ trí tuệ để có thể rời xa, thoát ra cái tâm thức này. Đức Phật nói thà rằng kẻ vô văn phàm phu cho rằng thân này là mình còn tốt hơn vì thân này do bốn đại tạo thành được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỳ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác. Còn tâm ý này thay đổi liên tục thì tại sao lại cho nó là tôi, là của tôi, một người chưa từng học pháp này, chưa từng nhận diện ngũ uẩn thì có một ai dám nói rằng cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi không? Có ai thấy cảm giác này là sanh diệt, vô thường, khổ đau không? Tất cả đều cho rằng nó là tôi, là của tôi thành ra trong kinh dùng từ "đắm trước" nghĩa là tham đắm, trói cột, chấp thủ, ái luyến, dục tham trong đó. Vị Đa văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy lý duyên khởi: "Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt". Chỉ cần Minh Thành lỡ tay bấm vào màn hình tắt đi là không còn thấy nhau, không còn những cảm xúc, cảm thọ hiện giờ cho nên mới nói Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Nếu một người gọi mà người kia không nghe máy thì không có sanh, cũng vậy, một người gây sự gọi mà mình không nghe máy thì không có xúc, không có xúc thì không có thọ, không có thọ thì không có sự sân hận, còn đằng này có cuộc gọi là lập tức nghe máy.
Bài kinh này cũng còn được gọi là "phá chấp tâm cho là mình". Do sự tiếp xúc và đưa đến cảm giác vui nên cảm giác vui sanh lên nhưng cũng do sự tiếp xúc đưa đến cảm giác vui ấy diệt thì cảm giác vui đó bị chấm dứt, những cái này đều là pháp duyên sanh. Ví dụ có người khen "sư cô tu hành tinh tấn, tướng hảo trang nghiêm hiền thiện" thì mình thấy vui nhưng đến câu sau "nhưng sư cô còn sân hận quá" thì lập tức lạc thọ lúc trước bị mất đi và khổ thọ sanh ra, trong một câu nói mà cảm thọ sanh diệt biến động và thay đổi nhưng lúc đó mình có thấy xúc sanh thọ và đây là thọ gì không hay là mình nhập cuộc chung, thấy rõ ràng có một người khen mình, mình được khen rồi chạy theo tiếng khen đó nên vui rồi bị chê thì khổ chứ không thấy pháp, chỉ thấy có tôi và của tôi cho nên lạc thọ sanh khởi lên thì tham, khổ thọ sanh khởi lên thì sân, bất khổ bất lạc thọ sanh khởi thì si, vô minh. Vì thế trong sự tu nhận diện các pháp duyên sanh phải rất chánh niệm tỉnh giác, minh trí còn khi xúc chạm vô minh, không thấy tứ đại, không thấy sự sanh diệt, không thấy các loại cảm thọ mà chỉ thấy một cái tôi và của tôi thì chỉ cần một câu nói thôi sẽ làm mình trôi nổi, thăng trầm, chỉ cần một câu nói thôi là mình sầu bi khổ ưu não. Người ta muốn mình cười thì người ta khen vài câu là cười, người ta muốn mình khóc là sỉ vã vài câu là mình bỏ ăn bỏ ngủ vì thế do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ, nên lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy được chấm dứt. Ví dụ có Phật tử đến nói "dáng thầy ngồi trang nghiêm giống Phật, con xin thầy tấm hình", vậy là họ chụp hình tới tấp còn mình ngồi mỉm cười hạnh phúc, đó là do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ, nên lạc thọ sanh khởi. Đến khi những người Phật tử đó đi hết thì mọi chuyện kết thúc nên lạc thọ đó cũng vô thường nhưng khi xúc với duyên lạc thọ thì mình hân hoan, thích thú, chính cái hân hoan, thích thú làm mình khổ vì thích lạc thọ thì sẽ ghét khổ thọ cho nên bài kinh này Đức Phật nói cho chúng ta thấy tính chất duyên sanh và vô thường của các cảm thọ, hễ duyên tiếp xúc làm sanh khởi ra vui thì vui nhưng tiếp xúc mà làm duyên chấm dứt cái vui đó thì hết vui. Chúng sanh cứ chạy đi tìm cảm giác vui, để được cảm giác vui đó họ rất đau khổ, nhọc nhằn, vất vả. Lên mạng chửi người ta lấy đó làm niềm vui, sau đó bị người ta chửi lại, chửi qua chửi lại trên mạng chưa đủ còn đem ra đời cãi tiếp rồi đánh nhau, tất cả những cái đó là ham vui thì khổ vô cùng nhưng họ không biết rằng vì vô minh, vì si mê, hôn ám nên họ lấy khổ làm vui, vui mà làm cho người ta đau khổ thì lấy đó làm vui. Mình ở trong chùa đã lâu, có người đến làm công quả tập sự thì mình lên đàn anh, đàn chị, tỏ vẻ ta đây học hiểu, tu nhiều, ở lâu thì lấy đó làm vui, thích thú, hãnh diện trong đó thì đó là vô minh. Có gì mà vui trong đó? Tại sao mình lại vui trong sự ngu si như vậy? Tại sao không vui trong lục hòa từ ái, khiêm nhã cho nên đặt tâm sai hướng lấy khổ làm vui. Khi các pháp vận hành, sanh khởi thì mình vô minh, chấp ngã, thân kiến, chỉ thấy tôi và của tôi chứ không thấy pháp nên mình mới chạy theo rồi tham sân.
Này các Tỳ-kheo do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ, nên khổ thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ ấy diệt, nên khổ thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến khổ thọ ấy diệt, khổ thọ ấy chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, II. Hạng Người Ít Nghe)
Đức Phật lập lại để mình thấy tính chất duyên sanh của nó, mình tiếp xúc sanh ra cảm giác khổ. Bị rầy la, góp ý, chỉ trích rồi cuối cùng lại khen hoặc gặp những chuyện không hài lòng tức là mình tiếp xúc thì sanh ra cảm giác khổ thọ. Ví dụ đang bình an thì có người đến nói "cô hay tin gì không", nghe câu đó là trong lòng thấy nôn nao vì không có cảm giác toàn thân, không có sự lắng dịu thân tâm, thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn nên mình vội vàng hỏi lại "tin gì" thì người ta báo có người nói ra khuyết điểm của mình, vậy là mình tiếp xúc đưa đến cảm giác khổ thọ nên khổ thọ sanh khởi. Vài ngày sau đó mình vẫn có cảm giác khổ thọ, biết bao suy nghĩ, cảm giác vận hành "tại sao lại nói tôi như vậy", "sao lại đối xử tôi như thế". Đến một ngày mình gặp người đó hỏi thì người đó bác bỏ "chị nghe ai vậy, tôi đâu có nói", thế là mình hết buồn, hết khổ, vậy là do duyên xúc đưa đến khổ thọ ấy diệt nên khổ thọ ấy chấm dứt.
Như vậy đời sống chúng ta là ở trong vòng xoáy của cảm thọ, trong tâm là những dòng cảm thọ của dục ái, tham sân si, bản ngã, bên ngoài là năm dục trưởng dưỡng, ngũ trần bụi bặm. Nếu không có sự thanh lọc, không có sự thiện xảo khéo léo để tâm thì nghe gì, thấy gì cũng có chuyện xảy ra, cũng bị dính mắc. Do duyên tiếp xúc đưa đến cảm giác không khổ không vui nên cảm giác không khổ không vui sanh khởi, do duyên tiếp xúc đưa đến cảm giác không khổ không vui ấy diệt thì cảm giác bất khổ bất lạc được chấm dứt. Sáng dậy lạy kinh, ngồi thiền rồi xả thiền làm công quả thì mình thấy bình thường, không khổ không vui nhưng lỡ sáng nay thức dậy thấy lửa cháy Vân Thủy Đường thì cảm thọ từ bất khổ bất lạc chuyển sang khổ thọ cho nên do tiếp xúc mới đưa đến những cảm thọ đó. Vì thế phải phá tan cảm giác bình an, an toàn vì mình ở trong cảm giác đó sẽ không tiến tu được, cho nên trong sự bình an phải nhắc nhở dịch bệnh, lũ lụt, tai nạn giao thông, những sự tác ý đó nhằm giúp mình đánh tan bất khổ bất lạc để làm mình nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác. Chính vì vậy mới có Như lý tác ý, thiền quán, mới có bộ xương cho mọi người quán chiếu nếu không thức dậy chỉ thấy bình an, không có gì xảy ra.
Ví như, này các Tỳ-kheo, do hai khúc cây cọ xát hòa hợp nên sức nóng được sanh, lửa được khởi lên. Do hai khúc cây ấy xa lìa tách biệt, nên sức nóng ấy đoạn diệt, sức nóng ấy chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, II. Hạng Người Ít Nghe)
Cọ xát là tiếp xúc căn với trần sanh khởi ra thức, tạo thành sự tiếp xúc, từ đó sanh ra cảm thọ nhưng trong khi mình sanh khởi một cảm thọ nào đó thì mình có thấy căn – trần – thức – xúc – thọ không? Hay lúc đó mình chỉ có thấy một cái mình, nguyên khối tưởng tôi và của tôi? Nếu mình thấy rõ từng chặng của các pháp thì tâm mình tách rời ra, chính vì vậy mà chúng ta phải thực tập khi đi, đứng, nằm hoặc ngồi thiền đều phải thực tập quán pháp, tách biệt ra cái nào là căn. Ví dụ mình đang ngồi thì con mắt trên mặt là căn, cảnh phía trước là trần, sự rõ biết trước mắt là thức, ba pháp này giao thoa, hội tụ tạo thành sự tiếp xúc của con mắt gọi là nhãn xúc, từ nhãn xúc sanh ra một cảm thọ vui hoặc buồn, thích hoặc không thích, hoặc là thường thường. Mình tập nhận diện như vậy để gỡ ra, phá ra cái tôi đang nhìn thấy, đó là quán duyên sanh, tập nhận diện trong khi ngồi thiền hoặc lúc đi đứng một mình hoặc khi đang quét rác, đây là thân căn, đất đai, lá cây là trần, khởi lên sự rõ biết khi tiếp xúc giữa tay chân, mặt đất và cây chổi, căn – trần – thức – xúc (thân xúc), thọ do thân xúc sanh. Tập nhận diện như vậy, chính cái nhận diện này để phá thân kiến, để phá chấp ngã, mở những bộ phận lắp ráp của chiếc xe ra từng phần, nếu không mình chỉ thấy một cái tôi đang quét thì lúc đó là vô minh, còn nhận diện cái pháp lúc đó sẽ tương ưng với minh phần. Tất cả đều phải Như lý tác ý vì Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật).
Nếu lúc đó mình trơ ra và cầm chổi quét thì chỉ thấy có một cái tôi và một cái của tôi đang quét chứ không thấy được căn – trần – thức – xúc – thọ, khi nấu cơm, rửa chén, giặt đồ, ngồi thiền cũng vậy, phải nhận diện các pháp. Đây chỉ là sự cọ xát của hai thanh gỗ, hai khúc cây làm lửa sanh ra, nếu hai khúc cây này tách biệt ra thì sức nóng đoạn diệt, chấm dứt, các cảm thọ này sẽ lắng dịu, chấm dứt khi căn – trần không giao tiếp nữa, nó là pháp duyên sanh, là pháp sanh diệt, là pháp vô thường, là ảo ảnh, ảo mộng, ảo tưởng. Đối với ba loại cảm thọ đều thấy nhàm chán, nhàm chán đối với sự tiếp xúc, có khi mình nghe lời chê bai mà không thấy sân lại cảm thấy chán. Chán cái gì?
Chán vở tuồng của tham sân si,
Chán vở tuồng của nhân ngã,
Chán vở tuồng của hơn thua,
Chán vở tuồng của ta đây, bỉ thử, thị phi,
Chán vở tuồng của sự vô ân phản trắc, vô thường,
Chán vở tuồng của ngũ uẩn.
Nhàm chán đối với sự tiếp xúc, ngày xưa chưa tu, chưa biết tác ý, chưa có chánh kiến mà nhìn cảnh đẹp sẽ thích, phấn khởi, hân hoan, còn giờ thấy đẹp chỉ thấy nhàm chán, "cái đẹp này giết người", "cái đẹp này trói cột", "cái đẹp này ràng buộc", cái đẹp làm cho người ta tăng trưởng tham dục, thêm lớn lòng tham", "cái đẹp này hãm hại mọi người, làm cho chúng sanh đau khổ, sầu bi ưu não", trong lòng mình có dòng cảm thọ nhàm chán muốn tránh xa, ly tham, không ưa thích. Nhàm chán đối với thọ, sự nhàm chán này làm cho cảm thọ của mình được an tịnh, lắng dịu, sau này mình gặp cảnh khổ hoặc cảnh vui nhưng cảm thọ vẫn an tịnh, lắng dịu, vì do sức nhàm chán, viễn ly, ly tham, sức công phu này thuần thục, kiên cố, vững chắc, nhìn thấy trong đó là tai họa, hoạn nạn và hiểm họa tiềm ẩn. Mình không ưa thích, không mong muốn, không tìm kiếm mà chỉ muốn chấm dứt cảm giác tham muốn "hãy chấm dứt hoàn toàn đi, đoạn tận, an tịnh, lắng dịu đi", không còn khao khát, thèm thuồng, không còn rực cháy đối với các dục nữa mà chỉ thấy nguy hiểm và tác hại. Con cá đang lội mà thấy miếng mồi ngon, nếu nó biết trong miếng mồi đó lưỡi câu sắc bén thì nó có hướng đến miếng mồi hoặc nó có hướng đến lưỡi câu đó không hay là nó tránh càng xa càng tốt? Nó biết đây là hiểm nguy, là phạm trù, là lãnh vực của hiểm nguy và tai họa, đó là bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với dục, thấy trong đó là khổ. Một con cá không biết trong miếng mồi đó có lưỡi câu sắc bén thì nó cứ bơi đến đớp mồi, kẻ vô văn phàm phu cũng như con cá không biết trong miếng mồi có lưỡi câu, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử biết trong đó có lưỡi câu, đớp mồi sẽ mắc câu để người ta muốn làm gì thì làm.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Lưỡi Câu)
Vì thế bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với các xúc, cảnh có đẹp đến đâu cũng không còn thích, con người tiếp xúc càng nhiều chỉ càng tham sân si nên thấy ngao ngán không muốn tiếp xúc, những món đồ đẹp không còn ưa thích nữa vì nó chỉ toàn là mồi nhử của ác ma, của sầu bi khổ ưu não trú ẩn trong đó. Nhàm chán đối với tưởng, những hình bóng trong tâm, nhàm chán đối với hành, nhàm chán những suy nghĩ, nhàm chán mọi sự rõ biết, đừng tin tưởng vào cái rõ biết của mình. Hãy tập nhàm chán sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tập nhàm chán mọi sự suy nghĩ. Chúng ta nghe bài kinh này để thấy Đức Phật dạy mình cách suy nghĩ để tác ý.
-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường (sabbamannità). Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: "Con mắt là của ta". Vị ấy không tư lường các sắc, không tư lường trên các sắc, không tư lường từ các sắc, không tư lường: "Các sắc là của ta". Vị ấy không tư lường nhãn thức, không tư lường trên nhãn thức, không tư lường từ nhãn thức, không tư lường: "Nhãn thức là của ta". Vị ấy không tư lường nhãn xúc, không tư lường trên nhãn xúc, không tư lường từ nhãn xúc, không tư lường: "Nhãn xúc là của ta". Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: "Cảm thọ ấy của ta".... Tai... Mũi... (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VIII. Thích Hợp (1))
Hãy suy nghĩ con mắt này không phải của ta, đừng dựa vào con mắt này, đừng bám vào con mắt này, ta không phải con mắt này, con mắt này không phải của ta. Vị ấy không suy nghĩ về các sắc, chữ "sắc" này bao gồm tất cả mọi thứ, nhà cửa, đồ vật, ruộng vườn, đất đai, giày dép, quần áo… đừng suy nghĩ những thứ đó là của tôi, hãy suy nghĩ những thứ đó là tứ đại vô thường, bất cứ khi nào tâm khởi suy nghĩ về những thứ đó mình đều biết đó là vô thường, tan hoại, tiêu vong. Đừng suy nghĩ nhãn thức là tôi, là của tôi, đừng cho rằng nhãn xúc là tôi, là của tôi. Khi con mắt tiếp xúc khởi lên cảm thọ gì thì vị ấy không nghĩ rằng cảm thọ đó là tôi và của tôi.
Này các Tỳ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu (bhavasatto), vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu... (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Phàm suy xét từ cái gì, suy nghĩ từ cái gì, suy nghĩ cái gì là của ta thì khi nó đổi khác mình sẽ bị sầu bi khổ ưu não, cho nên trong bất kì suy nghĩ nào cho rằng đây là tôi, là của tôi thì phải dẹp phá suy nghĩ đó lập tức, xóa sạch tất cả những suy nghĩ tôi và của tôi. Chúng ta phải nhớ chữ "thế giới" trong kinh Nikāya chính là ngũ uẩn, ngũ uẩn này thích thú hiện hữu nên mới cho rằng đó là tôi, là của tôi. Chúng ta tu thì cần đi ngược lại là không thích thú hiện hữu trong ngũ uẩn, không dựa vào ngũ uẩn, không tham đắm trong ngũ uẩn, tác ý "nó là khổ đau, là kẻ giết người", "tham sân si, chấp ngã là thứ đáng sợ hãi". Lúc xưa Minh Thành đã nghe bài kinh này hai mươi năm nhưng vẫn không hiểu, bây giờ hiểu ra thì ngoài sức tưởng tượng, siêu việt tất cả Thánh hiền thế và xuất thế pháp, không có một ai ngoài bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói được điều này.
... Vị ấy không tư lường lưỡi, không tư lường trên lưỡi, không tư lường từ lưỡi, không tư lường: "Lưỡi là của ta". Vị ấy không tư lường các vị, không tư lường trên các vị, không tư lường từ các vị, không tư lường: "Các vị là của ta". Vị ấy không tư lường thiệt thức, không tư lường trên thiệt thức, không tư lường từ thiệt thức, không tư lường: "Thiệt thức là của ta". Vị ấy không tư lường thiệt xúc, không tư lường trên thiệt xúc, không tư lường từ thiệt xúc, không tư lường: "Thiệt xúc là của ta". Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: "Cảm thọ ấy là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Vị ấy không suy nghĩ về cái lưỡi, không có suy nghĩ từ lưỡi, không có suy nghĩ cái lưỡi này là của ta. Vị ấy không suy nghĩ thiệt thức, thiệt xúc, ở đây Minh Thành dịch từ "tư lường" là suy nghĩ cho mọi người dễ hiểu chứ thật ra nó là suy xét, cân đo đong đếm, chấp thủ. Do lưỡi tiếp xúc khởi lên những cảm thọ khổ, vui hay không khổ không vui thì vị ấy không cho rằng cảm thọ ấy là tôi, là của tôi. Vị ấy không cho rằng ý là tôi, là của tôi, vị ấy không suy nghĩ trên ý, không suy nghĩ ý là của tôi.
... Vị ấy không tư lường ý, không tư lường trên ý, không tư lường từ ý, không tư lường: "Ý là của ta". Vị ấy không tư lường các pháp, không tư lường ý thức, không tư lường ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: "Cảm thọ ấy là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Vị ấy không tư lường các pháp, ý thức, ý xúc, thọ do ý xúc sanh.
Này các Tỳ-kheo, xa cho đến uẩn, giới, xứ, vị ấy không có tư lường pháp ấy, không tư lường trên pháp ấy, không tư lường từ pháp ấy, không tư lường: "Pháp ấy là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Tức là vị ấy không suy nghĩ bất cứ một cái gì cho cái đó là ta, là của ta. Trong tất cả suy nghĩ của vị ấy không có bất kì suy nghĩ về cái nào là ta, là của ta, phá sạch hết những cái đó.
Vị ấy không có tư lường như vậy nên không có chấp thủ một sự vật gì trong đời. Do không chấp thủ, nên không dao động (paritassati), do không dao động, vị ấy tự mình được tịch tịnh (parinibbàyati). Vị ấy tuệ tri (pajànati): "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Đây là Đức Phật dạy mình Như ý tác ý, hãy suy nghĩ con mắt này không phải là tôi, là của tôi, đừng dựa vào con mắt này, đừng bám víu vào con mắt này. Hãy suy nghĩ các sắc không phải là của tôi, không phải là của tôi. Hãy suy nghĩ sự rõ biết các sắc này không phải là của tôi, không phải là của tôi. Hãy suy nghĩ khi con mắt tiếp xúc không phải là của tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi. Hãy suy nghĩ những cảm giác, cảm thọ sanh ra do con mắt tiếp xúc là vui, khổ hay không vui không khổ thì những cảm thọ này không phải là của tôi, không phải là của tôi. Lỗ tai, mũi, lưỡi, thân này, thanh; hương; vị; xúc, những cảm giác sanh khởi ra sáu cảm thọ là vui, khổ hay không vui không khổ tất cả những thứ đó không phải là của tôi, không phải là của tôi. Hãy loại bỏ hoàn toàn những suy nghĩ cho là tôi, là của tôi, diệt tận suy nghĩ đó. Năm uẩn, mười tám giới, căn – trần – thức, sắc; thọ; tưởng; hành vị ấy không suy nghĩ trên các pháp ấy, không suy nghĩ từ pháp ấy, không suy nghĩ pháp ấy là của tôi. Ví dụ có người lấy y của mình đem đốt ngay trước mặt mình nhưng mình không nghĩ tấm ý đó của mình thì tâm mình có bị dao động không? Không hề dao động vì tấm vải này không phải là mình, không phải của mình thì ai muốn lấy, muốn xé, muốn đốt cũng không liên quan đến mình nhưng tại sao chỉ cần người ta đến chạm vào thôi là mình bắt đầu khó chịu chứ đừng nói gì đến việc có người đốt tấm y trước mặt mình, làm sao tâm mình bất động được? Vì mình cứ nghĩ tấm y đó là mình, là của mình, tấm y đó là sắc thì sắc đó là của mình, và mình nghĩ như vậy thì mình chấp thủ vào sắc đó và có sự dao động. Vì thế xin nhắc mọi người cần nhớ niệm câu "thân này không phải của tôi, không phải là tôi", phải thường niệm câu "cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi", thường nhắc nhở bản thân để mình tháo gỡ từ từ, "những hình bóng trong tâm này không phải là tôi, không phải của tôi", "những suy nghĩ này không phải là tôi, không phải của tôi", "những sự rõ biết này không phải là tôi, không phải của tôi", "ngũ uẩn này không phải là tôi, không phải của tôi". Vì đó là pháp tan hoại, tan vỡ, tật bệnh, ung nhọt mà mình lại lấy nó là mình, là của mình thì làm sao mình không sầu bi ưu não cho được. Ví dụ có người lại nói "Cô mà tu cái gì? Tu hú" thì lúc đó mình ra sao? Nếu mình có sự quán chiếu các cảm thọ, có sự an trú cảm giác toàn thân, có sự quán chiếu do duyên có lỗ tai, có âm thanh, có sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành nhĩ xúc sanh ra cảm thọ, đây là thọ do nhĩ xúc sanh và cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Nếu mình đã thuần thục trong phép quán này, mình tách tâm ra khỏi cảm thọ đó, mình ra khỏi âm thanh, nhĩ xúc, nhĩ thức, mình không cho lỗ tai này là tôi, không cho âm thanh đó là tôi, không cho sự rõ biết âm thanh đó là tôi, không cho sự tiếp xúc của lỗ tai là tôi, không cho cảm thọ sanh khởi khi lỗ tai tiếp xúc là tôi, là của tôi thì lúc đó tâm mình có dao động, có sân hận không? Không bao giờ, khôn có dính dáng gì đến mình, không phải của tôi cho nên trong kinh mới nói vị ấy không có tư lường như vậy nên không có chấp thủ một sự vật gì trong đời. Do không chấp thủ, nên không dao động (paritassati), do không dao động, vị ấy tự mình được tịch tịnh.
Ví dụ trên là nói đến tấm y và sự phê phán, chê bai mình. Bây giờ đến việc xảy ra ngay trên thân, tai nạn đến, xe cán gãy hai chân, không còn hai chân nữa. Khi nghe nói như vậy thôi là thọ; tưởng; hành đã hoạt động mạnh mẽ rồi, sức quán chiếu vô ngã của chúng ta ở mức độ nào thì chúng ta sẽ có tâm bình an ở mức độ đó, hằng ngày mình đã thực tập quán chiếu tứ đại này không phải là tôi, không phải của tôi nên khi có chuyện xảy ra mình chứng pháp, đắc pháp, ngộ pháp, nếu không khi có chuyện xảy ra mình sẽ đau khổ cùng cực. Bây giờ đến đối diện với cái chết, mình nằm đó lấy hơi lên là mình biết mình chuẩn bị đối diện với cái chết, những cảm giác, tưởng; hành; thức, khi xác thân này rã rời, chuẩn bị tan hoại thì đau đớn cùng cực, nó quằn quại, đau khổ giống như con cua bị bỏ vào nồi nước sôi. Trong kinh ví dụ như người lực sĩ lấy sợi dây siết vào đầu, sợi dây đi từ da vào thịt, từ thịt đi vào xương đến não, cái đau đớn khi sắp chết giống như vậy.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Mahà Cunda và Tôn giả Channa trú ở núi Gijjhakù.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Channa:
-- Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
-- Thưa Hiền giả Sàriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Lúc đó mình không có sự quán chiếu thường trực để thấy rằng thân này không phải là tôi, không phải của tôi thì làm sao mình ra đi bình an nếu không chứng đắc trí tuệ vô ngã, không thấy sự thật? Chính vì vậy Đức Phật dạy mình tác động tâm ý tương ưng với trí tuệ để tháo gỡ, thoát ra, nếu đã thuần thục thì vị ấy không suy nghĩ thân này, những thọ; tưởng; hành; thức là của tôi, là tự ngã của tôi nên vị ấy không chấp thủ một vật gì trên đời, do không chấp thủ nên không dao động, do không dao động nên vị ấy tự mình tịch tịnh. Đến đây vị ấy sẽ biết bằng trí tuệ: Đây là đời sống cuối cùng, chứng nhập Niết-bàn, không còn trở lui trạng thái tham sân si, sầu bi ưu não nữa.
Phải nhớ tác ý thường xuyên trong tâm đối với mỗi suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng. Tất cả chúng ta cùng nhau tinh cần, tinh tấn, kiên trì, chúng ta đi đúng đường thì chắc chắn sẽ đến đích.
./.
PHÁ CHẤP THỌ TƯỞNG HÀNH THỨC
KHÔNG GÌ LÀ TA - KHÔNG GÌ LÀ CỦA TA
Thích Minh Thành
Khi thầy giảng nhưng nếu trên núi không nghe được thì chúng ta thấy được điều gì? Lỗ tai này là duyên sanh, nó phải lệ thuộc vào những điều kiện, nếu thiếu những điều kiện đó thì cái nghe bất thành, đầy đủ điều kiện thì cái nghe hình thành nhưng khi được hình thành thì lại sân si, nghe được rồi để tham muốn, hơn thua, tranh đấu. Một người bị điếc có tham sân si không? Họ vẫn tham sân si vì tham sân si đó không phải chỉ là từ bên ngoài vào mà là bên trong cũng có, cái tham sân si của chúng ta khi sanh ra đã đi chung với mình. Một đứa trẻ nhỏ có tham sân si không? Nó lấy tiếng khóc làm sức mạnh, hễ cái gì không vừa lòng là khóc lớn lên, giãy giụa lên. Một đứa trẻ nhỏ có bản ngã không, có cái tôi không? Sự la khóc, kêu gào, giãy giụa chính là thể hiện cái tôi đó, chính là thể hiện sự sân, tức giận. Bình sữa là cái tham muốn, đứa trẻ ngậm ti giả hoài không bỏ thì đó là tham ái cho nên tham sân si rất ghê gớm, khi chúng ta sanh ra nó đã đi theo trong xương, trong máu, trong tủy chúng ta. Bình thường người mù không thấy được thì không có xúc sẽ không có thọ, không có sân, không có ái nhưng ngược lại họ vẫn ái, vẫn tham, vẫn sân hận, chấp ngã và vẫn khổ đau. Cho nên chặn duyên tiếp xúc chỉ là một phần bên ngoài vì phiền não này là "nội công ngoại kích", trong ngoài phối hợp gọi là câu sanh phiền não tức là những thứ tham dục, nóng giận, ta đây cùng sanh ra chung với chúng ta, cho nên người mù không thấy, không có nhãn xúc nhưng họ vẫn tham dục, tham ái, sân hận, chấp ngã, khổ đau. Người câm không nói chuyện được thì họ có sân hận, tham dục, si mê không, có sầu bi khổ ưu não không, có ái luyến, ràng buộc, hệ lụy không? Có khi còn nhiều hơn người không câm nữa vì người câm bị ứ động không nói ra được nên ức chế, gọi là thằng câm ăn ớt nghĩa là ăn trúng ớt cay quá nhưng không la lên được chỉ biết ú ớ, vì thế chỉ cần thiếu một duyên thôi thì gặp như không gặp, thấy như không thấy, nghe như không nghe, nói như không nói vì đầu dây bên kia mất sóng mà bên này không biết vẫn nói cuối cùng bên kia không nghe thấy gì, vì thế cái này có mặt nên cái kia mới có, cái này sanh nên cái kia sanh, cái này không nên cái kia cũng không, cái này diệt thì cái kia cũng diệt. Những loài phi nhân không có thân thể như con người, chỉ là cái bóng nhưng họ vẫn đau khổ trong cái tham muốn của họ, họ cũng tức giận trong cái sân hận của họ, họ cũng khổ sầu trong cái tôi, cái chấp ngã của họ. Cho nên mắt; tai; mũi; lưỡi; thân này chỉ là công cụ, là hình nộm, người máy và bên trong là thọ; tưởng; hành; thức dẫn dắt, điều khiển, áp đảo, chi phối chúng ta và bên trong thọ; tưởng; hành; thức là dục tham ái, sân hận, chấp ngã, cho nên định lý giải thoát mà Đức Phật dạy trong Tương Ưng Bộ là:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
-- Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát thân do bốn đại tạo thành này.
Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì họ thấy được cái thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả.
Do vậy, ở đây kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát.
Và này các Tỳ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
Vì sao? Đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi".
Do vậy, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
Này các Tỳ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi đến với thân do bốn đại tạo thành này xem như là tự ngã, hơn là đối với tâm.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỳ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy lý duyên khởi: "Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt".
Này các Tỳ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ, nên lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy được chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, I. Hạng Người Ít Nghe)
Do có duyên tiếp xúc cảm giác ấy là vui thì cái vui khởi lên, nhưng nếu duyên tiếp xúc để đưa đến cảm giác vui bị chấm dứt thì lạc thọ đó bị mất, chấm dứt. Khổ thọ cũng vậy.
Này các Tỳ-kheo do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ, nên khổ thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ ấy diệt, nên khổ thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến khổ thọ ấy diệt, khổ thọ ấy chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, I. Hạng Người Ít Nghe)
Do tiếp xúc mà đưa đến cảm giác khổ nên khổ thọ sanh khởi ra, do duyên tiếp xúc đưa đến cảm giác khổ ấy chấm dứt thì cảm giác khổ ấy bị chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ, nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên bất khổ bất lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc ấy diệt, bất khổ bất lạc thọ ấy chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, II. Hạng Người Ít Nghe)
Do duyên xúc đưa đến cảm giác không khổ không vui thì cảm giác không khổ không vui ấy khởi lên, nhưng cũng do duyên xúc đưa đến cảm giác không khổ không vui ấy chấm dứt thì cảm giác không khổ không vui ấy bị chấm dứt. Hễ tiếp xúc mà sanh ra cảm giác vui thì vui lên, cũng tiếp xúc mà làm cho cảm giác vui đó chấm dứt thì hết vui. Do duyên tiếp xúc mà cảm giác khổ sanh lên và cũng do duyên tiếp xúc mà cảm giác khổ chấm dứt. Do duyên tiếp xúc mà cảm giác đều đều, thường thường sanh khởi và cũng do duyên tiếp xúc mà làm cho chấm dứt cảm giác đều đều, thường thường đó.
Ví như, này các Tỳ-kheo, do hai khúc cây cọ xát hòa hợp nên sức nóng được sanh, lửa được khởi lên. Do hai khúc cây ấy xa lìa tách biệt, nên sức nóng ấy đoạn diệt, sức nóng ấy chấm dứt.
Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với xúc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên viễn ly; do viễn ly nên giải thoát. Trong sự giải thoát trí khởi lên, biết rằng: "Ta đã giải thoát", vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, II. Hạng Người Ít Nghe)
Trong bài kinh này Đức Phật nói chúng ta như thế nào? Kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, có thể muốn rời xa, có thể muốn thoát khỏi đối với cái thân này, những người ngoại đạo ở Ấn Độ tu hành xác, họ lấy hình phạt khổ hạnh, khắc khổ để tu hành chính là họ nhàm chán cái thân, họ lấy những sự ép xác đau đớn để họ giải thoát khỏi cái thân nhưng họ lại mong được sanh lên Thiên giới để có cái thân cao thượng hơn. Họ nhàm chán vì họ thấy thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả, thân này lúc thì tươi tốt lúc thì héo sầu, lúc thì mập mạp lúc thì ốm o, lúc thì khỏe mạnh lúc lại bệnh hoạn, lúc thì nuông chiều lúc lại bị vứt ra nghĩa địa, làm người không được bao lâu mà chớp mắt đã thành thây ma, tử thi, hôm trước là thân xác mà hôm sau là một bộ hài cốt, như vậy gọi là tăng giảm, lấy bỏ (thủ xả). Vì họ thấy cái thân tứ đại này được tăng được giảm, được thủ được xả nên kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát. Đây là những người chưa học Thánh Pháp mà họ vẫn có thể nhàm chán thân, muốn thoát ra, muốn rời xa nhưng cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát. Chữ "không đủ" tức là không đủ trí tuệ, không đủ sự thấy biết, không đủ cái nhìn thâm sâu để có thể nhàm chán, không đủ trí tuệ để xa lìa, thoát ra khỏi tâm ý thức này.
Đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chữ "lâu ngày" nghĩa là đã từ vô biên vô thỉ kiếp như câu kinh Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi). Đã lâu ngày kẻ vô văn phàm phu bị dính mắc, buộc chặt vào đó, họ cho rằng tâm ý thức đó, cảm giác, nghĩ tưởng đó là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi, do vậy kẻ vô văn phàm phu không đủ trí tuệ để có thể rời xa, thoát ra cái tâm thức này. Đức Phật nói thà rằng kẻ vô văn phàm phu cho rằng thân này là mình còn tốt hơn vì thân này do bốn đại tạo thành được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỳ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác. Còn tâm ý này thay đổi liên tục thì tại sao lại cho nó là tôi, là của tôi, một người chưa từng học pháp này, chưa từng nhận diện ngũ uẩn thì có một ai dám nói rằng cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi không? Có ai thấy cảm giác này là sanh diệt, vô thường, khổ đau không? Tất cả đều cho rằng nó là tôi, là của tôi thành ra trong kinh dùng từ "đắm trước" nghĩa là tham đắm, trói cột, chấp thủ, ái luyến, dục tham trong đó. Vị Đa văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy lý duyên khởi: "Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt". Chỉ cần Minh Thành lỡ tay bấm vào màn hình tắt đi là không còn thấy nhau, không còn những cảm xúc, cảm thọ hiện giờ cho nên mới nói Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Nếu một người gọi mà người kia không nghe máy thì không có sanh, cũng vậy, một người gây sự gọi mà mình không nghe máy thì không có xúc, không có xúc thì không có thọ, không có thọ thì không có sự sân hận, còn đằng này có cuộc gọi là lập tức nghe máy.
Bài kinh này cũng còn được gọi là "phá chấp tâm cho là mình". Do sự tiếp xúc và đưa đến cảm giác vui nên cảm giác vui sanh lên nhưng cũng do sự tiếp xúc đưa đến cảm giác vui ấy diệt thì cảm giác vui đó bị chấm dứt, những cái này đều là pháp duyên sanh. Ví dụ có người khen "sư cô tu hành tinh tấn, tướng hảo trang nghiêm hiền thiện" thì mình thấy vui nhưng đến câu sau "nhưng sư cô còn sân hận quá" thì lập tức lạc thọ lúc trước bị mất đi và khổ thọ sanh ra, trong một câu nói mà cảm thọ sanh diệt biến động và thay đổi nhưng lúc đó mình có thấy xúc sanh thọ và đây là thọ gì không hay là mình nhập cuộc chung, thấy rõ ràng có một người khen mình, mình được khen rồi chạy theo tiếng khen đó nên vui rồi bị chê thì khổ chứ không thấy pháp, chỉ thấy có tôi và của tôi cho nên lạc thọ sanh khởi lên thì tham, khổ thọ sanh khởi lên thì sân, bất khổ bất lạc thọ sanh khởi thì si, vô minh. Vì thế trong sự tu nhận diện các pháp duyên sanh phải rất chánh niệm tỉnh giác, minh trí còn khi xúc chạm vô minh, không thấy tứ đại, không thấy sự sanh diệt, không thấy các loại cảm thọ mà chỉ thấy một cái tôi và của tôi thì chỉ cần một câu nói thôi sẽ làm mình trôi nổi, thăng trầm, chỉ cần một câu nói thôi là mình sầu bi khổ ưu não. Người ta muốn mình cười thì người ta khen vài câu là cười, người ta muốn mình khóc là sỉ vã vài câu là mình bỏ ăn bỏ ngủ vì thế do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ, nên lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy được chấm dứt. Ví dụ có Phật tử đến nói "dáng thầy ngồi trang nghiêm giống Phật, con xin thầy tấm hình", vậy là họ chụp hình tới tấp còn mình ngồi mỉm cười hạnh phúc, đó là do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ, nên lạc thọ sanh khởi. Đến khi những người Phật tử đó đi hết thì mọi chuyện kết thúc nên lạc thọ đó cũng vô thường nhưng khi xúc với duyên lạc thọ thì mình hân hoan, thích thú, chính cái hân hoan, thích thú làm mình khổ vì thích lạc thọ thì sẽ ghét khổ thọ cho nên bài kinh này Đức Phật nói cho chúng ta thấy tính chất duyên sanh và vô thường của các cảm thọ, hễ duyên tiếp xúc làm sanh khởi ra vui thì vui nhưng tiếp xúc mà làm duyên chấm dứt cái vui đó thì hết vui. Chúng sanh cứ chạy đi tìm cảm giác vui, để được cảm giác vui đó họ rất đau khổ, nhọc nhằn, vất vả. Lên mạng chửi người ta lấy đó làm niềm vui, sau đó bị người ta chửi lại, chửi qua chửi lại trên mạng chưa đủ còn đem ra đời cãi tiếp rồi đánh nhau, tất cả những cái đó là ham vui thì khổ vô cùng nhưng họ không biết rằng vì vô minh, vì si mê, hôn ám nên họ lấy khổ làm vui, vui mà làm cho người ta đau khổ thì lấy đó làm vui. Mình ở trong chùa đã lâu, có người đến làm công quả tập sự thì mình lên đàn anh, đàn chị, tỏ vẻ ta đây học hiểu, tu nhiều, ở lâu thì lấy đó làm vui, thích thú, hãnh diện trong đó thì đó là vô minh. Có gì mà vui trong đó? Tại sao mình lại vui trong sự ngu si như vậy? Tại sao không vui trong lục hòa từ ái, khiêm nhã cho nên đặt tâm sai hướng lấy khổ làm vui. Khi các pháp vận hành, sanh khởi thì mình vô minh, chấp ngã, thân kiến, chỉ thấy tôi và của tôi chứ không thấy pháp nên mình mới chạy theo rồi tham sân.
Này các Tỳ-kheo do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ, nên khổ thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ ấy diệt, nên khổ thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến khổ thọ ấy diệt, khổ thọ ấy chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, II. Hạng Người Ít Nghe)
Đức Phật lập lại để mình thấy tính chất duyên sanh của nó, mình tiếp xúc sanh ra cảm giác khổ. Bị rầy la, góp ý, chỉ trích rồi cuối cùng lại khen hoặc gặp những chuyện không hài lòng tức là mình tiếp xúc thì sanh ra cảm giác khổ thọ. Ví dụ đang bình an thì có người đến nói "cô hay tin gì không", nghe câu đó là trong lòng thấy nôn nao vì không có cảm giác toàn thân, không có sự lắng dịu thân tâm, thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn nên mình vội vàng hỏi lại "tin gì" thì người ta báo có người nói ra khuyết điểm của mình, vậy là mình tiếp xúc đưa đến cảm giác khổ thọ nên khổ thọ sanh khởi. Vài ngày sau đó mình vẫn có cảm giác khổ thọ, biết bao suy nghĩ, cảm giác vận hành "tại sao lại nói tôi như vậy", "sao lại đối xử tôi như thế". Đến một ngày mình gặp người đó hỏi thì người đó bác bỏ "chị nghe ai vậy, tôi đâu có nói", thế là mình hết buồn, hết khổ, vậy là do duyên xúc đưa đến khổ thọ ấy diệt nên khổ thọ ấy chấm dứt.
Như vậy đời sống chúng ta là ở trong vòng xoáy của cảm thọ, trong tâm là những dòng cảm thọ của dục ái, tham sân si, bản ngã, bên ngoài là năm dục trưởng dưỡng, ngũ trần bụi bặm. Nếu không có sự thanh lọc, không có sự thiện xảo khéo léo để tâm thì nghe gì, thấy gì cũng có chuyện xảy ra, cũng bị dính mắc. Do duyên tiếp xúc đưa đến cảm giác không khổ không vui nên cảm giác không khổ không vui sanh khởi, do duyên tiếp xúc đưa đến cảm giác không khổ không vui ấy diệt thì cảm giác bất khổ bất lạc được chấm dứt. Sáng dậy lạy kinh, ngồi thiền rồi xả thiền làm công quả thì mình thấy bình thường, không khổ không vui nhưng lỡ sáng nay thức dậy thấy lửa cháy Vân Thủy Đường thì cảm thọ từ bất khổ bất lạc chuyển sang khổ thọ cho nên do tiếp xúc mới đưa đến những cảm thọ đó. Vì thế phải phá tan cảm giác bình an, an toàn vì mình ở trong cảm giác đó sẽ không tiến tu được, cho nên trong sự bình an phải nhắc nhở dịch bệnh, lũ lụt, tai nạn giao thông, những sự tác ý đó nhằm giúp mình đánh tan bất khổ bất lạc để làm mình nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác. Chính vì vậy mới có Như lý tác ý, thiền quán, mới có bộ xương cho mọi người quán chiếu nếu không thức dậy chỉ thấy bình an, không có gì xảy ra.
Ví như, này các Tỳ-kheo, do hai khúc cây cọ xát hòa hợp nên sức nóng được sanh, lửa được khởi lên. Do hai khúc cây ấy xa lìa tách biệt, nên sức nóng ấy đoạn diệt, sức nóng ấy chấm dứt. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, II. Hạng Người Ít Nghe)
Cọ xát là tiếp xúc căn với trần sanh khởi ra thức, tạo thành sự tiếp xúc, từ đó sanh ra cảm thọ nhưng trong khi mình sanh khởi một cảm thọ nào đó thì mình có thấy căn – trần – thức – xúc – thọ không? Hay lúc đó mình chỉ có thấy một cái mình, nguyên khối tưởng tôi và của tôi? Nếu mình thấy rõ từng chặng của các pháp thì tâm mình tách rời ra, chính vì vậy mà chúng ta phải thực tập khi đi, đứng, nằm hoặc ngồi thiền đều phải thực tập quán pháp, tách biệt ra cái nào là căn. Ví dụ mình đang ngồi thì con mắt trên mặt là căn, cảnh phía trước là trần, sự rõ biết trước mắt là thức, ba pháp này giao thoa, hội tụ tạo thành sự tiếp xúc của con mắt gọi là nhãn xúc, từ nhãn xúc sanh ra một cảm thọ vui hoặc buồn, thích hoặc không thích, hoặc là thường thường. Mình tập nhận diện như vậy để gỡ ra, phá ra cái tôi đang nhìn thấy, đó là quán duyên sanh, tập nhận diện trong khi ngồi thiền hoặc lúc đi đứng một mình hoặc khi đang quét rác, đây là thân căn, đất đai, lá cây là trần, khởi lên sự rõ biết khi tiếp xúc giữa tay chân, mặt đất và cây chổi, căn – trần – thức – xúc (thân xúc), thọ do thân xúc sanh. Tập nhận diện như vậy, chính cái nhận diện này để phá thân kiến, để phá chấp ngã, mở những bộ phận lắp ráp của chiếc xe ra từng phần, nếu không mình chỉ thấy một cái tôi đang quét thì lúc đó là vô minh, còn nhận diện cái pháp lúc đó sẽ tương ưng với minh phần. Tất cả đều phải Như lý tác ý vì Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật).
Nếu lúc đó mình trơ ra và cầm chổi quét thì chỉ thấy có một cái tôi và một cái của tôi đang quét chứ không thấy được căn – trần – thức – xúc – thọ, khi nấu cơm, rửa chén, giặt đồ, ngồi thiền cũng vậy, phải nhận diện các pháp. Đây chỉ là sự cọ xát của hai thanh gỗ, hai khúc cây làm lửa sanh ra, nếu hai khúc cây này tách biệt ra thì sức nóng đoạn diệt, chấm dứt, các cảm thọ này sẽ lắng dịu, chấm dứt khi căn – trần không giao tiếp nữa, nó là pháp duyên sanh, là pháp sanh diệt, là pháp vô thường, là ảo ảnh, ảo mộng, ảo tưởng. Đối với ba loại cảm thọ đều thấy nhàm chán, nhàm chán đối với sự tiếp xúc, có khi mình nghe lời chê bai mà không thấy sân lại cảm thấy chán. Chán cái gì?
Chán vở tuồng của tham sân si,
Chán vở tuồng của nhân ngã,
Chán vở tuồng của hơn thua,
Chán vở tuồng của ta đây, bỉ thử, thị phi,
Chán vở tuồng của sự vô ân phản trắc, vô thường,
Chán vở tuồng của ngũ uẩn.
Nhàm chán đối với sự tiếp xúc, ngày xưa chưa tu, chưa biết tác ý, chưa có chánh kiến mà nhìn cảnh đẹp sẽ thích, phấn khởi, hân hoan, còn giờ thấy đẹp chỉ thấy nhàm chán, "cái đẹp này giết người", "cái đẹp này trói cột", "cái đẹp này ràng buộc", cái đẹp làm cho người ta tăng trưởng tham dục, thêm lớn lòng tham", "cái đẹp này hãm hại mọi người, làm cho chúng sanh đau khổ, sầu bi ưu não", trong lòng mình có dòng cảm thọ nhàm chán muốn tránh xa, ly tham, không ưa thích. Nhàm chán đối với thọ, sự nhàm chán này làm cho cảm thọ của mình được an tịnh, lắng dịu, sau này mình gặp cảnh khổ hoặc cảnh vui nhưng cảm thọ vẫn an tịnh, lắng dịu, vì do sức nhàm chán, viễn ly, ly tham, sức công phu này thuần thục, kiên cố, vững chắc, nhìn thấy trong đó là tai họa, hoạn nạn và hiểm họa tiềm ẩn. Mình không ưa thích, không mong muốn, không tìm kiếm mà chỉ muốn chấm dứt cảm giác tham muốn "hãy chấm dứt hoàn toàn đi, đoạn tận, an tịnh, lắng dịu đi", không còn khao khát, thèm thuồng, không còn rực cháy đối với các dục nữa mà chỉ thấy nguy hiểm và tác hại. Con cá đang lội mà thấy miếng mồi ngon, nếu nó biết trong miếng mồi đó lưỡi câu sắc bén thì nó có hướng đến miếng mồi hoặc nó có hướng đến lưỡi câu đó không hay là nó tránh càng xa càng tốt? Nó biết đây là hiểm nguy, là phạm trù, là lãnh vực của hiểm nguy và tai họa, đó là bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với dục, thấy trong đó là khổ. Một con cá không biết trong miếng mồi đó có lưỡi câu sắc bén thì nó cứ bơi đến đớp mồi, kẻ vô văn phàm phu cũng như con cá không biết trong miếng mồi có lưỡi câu, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử biết trong đó có lưỡi câu, đớp mồi sẽ mắc câu để người ta muốn làm gì thì làm.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Lưỡi Câu)
Vì thế bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với các xúc, cảnh có đẹp đến đâu cũng không còn thích, con người tiếp xúc càng nhiều chỉ càng tham sân si nên thấy ngao ngán không muốn tiếp xúc, những món đồ đẹp không còn ưa thích nữa vì nó chỉ toàn là mồi nhử của ác ma, của sầu bi khổ ưu não trú ẩn trong đó. Nhàm chán đối với tưởng, những hình bóng trong tâm, nhàm chán đối với hành, nhàm chán những suy nghĩ, nhàm chán mọi sự rõ biết, đừng tin tưởng vào cái rõ biết của mình. Hãy tập nhàm chán sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tập nhàm chán mọi sự suy nghĩ. Chúng ta nghe bài kinh này để thấy Đức Phật dạy mình cách suy nghĩ để tác ý.
-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường (sabbamannità). Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: "Con mắt là của ta". Vị ấy không tư lường các sắc, không tư lường trên các sắc, không tư lường từ các sắc, không tư lường: "Các sắc là của ta". Vị ấy không tư lường nhãn thức, không tư lường trên nhãn thức, không tư lường từ nhãn thức, không tư lường: "Nhãn thức là của ta". Vị ấy không tư lường nhãn xúc, không tư lường trên nhãn xúc, không tư lường từ nhãn xúc, không tư lường: "Nhãn xúc là của ta". Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: "Cảm thọ ấy của ta".... Tai... Mũi... (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VIII. Thích Hợp (1))
Hãy suy nghĩ con mắt này không phải của ta, đừng dựa vào con mắt này, đừng bám vào con mắt này, ta không phải con mắt này, con mắt này không phải của ta. Vị ấy không suy nghĩ về các sắc, chữ "sắc" này bao gồm tất cả mọi thứ, nhà cửa, đồ vật, ruộng vườn, đất đai, giày dép, quần áo… đừng suy nghĩ những thứ đó là của tôi, hãy suy nghĩ những thứ đó là tứ đại vô thường, bất cứ khi nào tâm khởi suy nghĩ về những thứ đó mình đều biết đó là vô thường, tan hoại, tiêu vong. Đừng suy nghĩ nhãn thức là tôi, là của tôi, đừng cho rằng nhãn xúc là tôi, là của tôi. Khi con mắt tiếp xúc khởi lên cảm thọ gì thì vị ấy không nghĩ rằng cảm thọ đó là tôi và của tôi.
Này các Tỳ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu (bhavasatto), vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu... (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Phàm suy xét từ cái gì, suy nghĩ từ cái gì, suy nghĩ cái gì là của ta thì khi nó đổi khác mình sẽ bị sầu bi khổ ưu não, cho nên trong bất kì suy nghĩ nào cho rằng đây là tôi, là của tôi thì phải dẹp phá suy nghĩ đó lập tức, xóa sạch tất cả những suy nghĩ tôi và của tôi. Chúng ta phải nhớ chữ "thế giới" trong kinh Nikāya chính là ngũ uẩn, ngũ uẩn này thích thú hiện hữu nên mới cho rằng đó là tôi, là của tôi. Chúng ta tu thì cần đi ngược lại là không thích thú hiện hữu trong ngũ uẩn, không dựa vào ngũ uẩn, không tham đắm trong ngũ uẩn, tác ý "nó là khổ đau, là kẻ giết người", "tham sân si, chấp ngã là thứ đáng sợ hãi". Lúc xưa Minh Thành đã nghe bài kinh này hai mươi năm nhưng vẫn không hiểu, bây giờ hiểu ra thì ngoài sức tưởng tượng, siêu việt tất cả Thánh hiền thế và xuất thế pháp, không có một ai ngoài bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói được điều này.
... Vị ấy không tư lường lưỡi, không tư lường trên lưỡi, không tư lường từ lưỡi, không tư lường: "Lưỡi là của ta". Vị ấy không tư lường các vị, không tư lường trên các vị, không tư lường từ các vị, không tư lường: "Các vị là của ta". Vị ấy không tư lường thiệt thức, không tư lường trên thiệt thức, không tư lường từ thiệt thức, không tư lường: "Thiệt thức là của ta". Vị ấy không tư lường thiệt xúc, không tư lường trên thiệt xúc, không tư lường từ thiệt xúc, không tư lường: "Thiệt xúc là của ta". Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: "Cảm thọ ấy là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Vị ấy không suy nghĩ về cái lưỡi, không có suy nghĩ từ lưỡi, không có suy nghĩ cái lưỡi này là của ta. Vị ấy không suy nghĩ thiệt thức, thiệt xúc, ở đây Minh Thành dịch từ "tư lường" là suy nghĩ cho mọi người dễ hiểu chứ thật ra nó là suy xét, cân đo đong đếm, chấp thủ. Do lưỡi tiếp xúc khởi lên những cảm thọ khổ, vui hay không khổ không vui thì vị ấy không cho rằng cảm thọ ấy là tôi, là của tôi. Vị ấy không cho rằng ý là tôi, là của tôi, vị ấy không suy nghĩ trên ý, không suy nghĩ ý là của tôi.
... Vị ấy không tư lường ý, không tư lường trên ý, không tư lường từ ý, không tư lường: "Ý là của ta". Vị ấy không tư lường các pháp, không tư lường ý thức, không tư lường ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: "Cảm thọ ấy là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Vị ấy không tư lường các pháp, ý thức, ý xúc, thọ do ý xúc sanh.
Này các Tỳ-kheo, xa cho đến uẩn, giới, xứ, vị ấy không có tư lường pháp ấy, không tư lường trên pháp ấy, không tư lường từ pháp ấy, không tư lường: "Pháp ấy là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Tức là vị ấy không suy nghĩ bất cứ một cái gì cho cái đó là ta, là của ta. Trong tất cả suy nghĩ của vị ấy không có bất kì suy nghĩ về cái nào là ta, là của ta, phá sạch hết những cái đó.
Vị ấy không có tư lường như vậy nên không có chấp thủ một sự vật gì trong đời. Do không chấp thủ, nên không dao động (paritassati), do không dao động, vị ấy tự mình được tịch tịnh (parinibbàyati). Vị ấy tuệ tri (pajànati): "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, IX. Thích Hợp (2))
Đây là Đức Phật dạy mình Như ý tác ý, hãy suy nghĩ con mắt này không phải là tôi, là của tôi, đừng dựa vào con mắt này, đừng bám víu vào con mắt này. Hãy suy nghĩ các sắc không phải là của tôi, không phải là của tôi. Hãy suy nghĩ sự rõ biết các sắc này không phải là của tôi, không phải là của tôi. Hãy suy nghĩ khi con mắt tiếp xúc không phải là của tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi. Hãy suy nghĩ những cảm giác, cảm thọ sanh ra do con mắt tiếp xúc là vui, khổ hay không vui không khổ thì những cảm thọ này không phải là của tôi, không phải là của tôi. Lỗ tai, mũi, lưỡi, thân này, thanh; hương; vị; xúc, những cảm giác sanh khởi ra sáu cảm thọ là vui, khổ hay không vui không khổ tất cả những thứ đó không phải là của tôi, không phải là của tôi. Hãy loại bỏ hoàn toàn những suy nghĩ cho là tôi, là của tôi, diệt tận suy nghĩ đó. Năm uẩn, mười tám giới, căn – trần – thức, sắc; thọ; tưởng; hành vị ấy không suy nghĩ trên các pháp ấy, không suy nghĩ từ pháp ấy, không suy nghĩ pháp ấy là của tôi. Ví dụ có người lấy y của mình đem đốt ngay trước mặt mình nhưng mình không nghĩ tấm ý đó của mình thì tâm mình có bị dao động không? Không hề dao động vì tấm vải này không phải là mình, không phải của mình thì ai muốn lấy, muốn xé, muốn đốt cũng không liên quan đến mình nhưng tại sao chỉ cần người ta đến chạm vào thôi là mình bắt đầu khó chịu chứ đừng nói gì đến việc có người đốt tấm y trước mặt mình, làm sao tâm mình bất động được? Vì mình cứ nghĩ tấm y đó là mình, là của mình, tấm y đó là sắc thì sắc đó là của mình, và mình nghĩ như vậy thì mình chấp thủ vào sắc đó và có sự dao động. Vì thế xin nhắc mọi người cần nhớ niệm câu "thân này không phải của tôi, không phải là tôi", phải thường niệm câu "cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi", thường nhắc nhở bản thân để mình tháo gỡ từ từ, "những hình bóng trong tâm này không phải là tôi, không phải của tôi", "những suy nghĩ này không phải là tôi, không phải của tôi", "những sự rõ biết này không phải là tôi, không phải của tôi", "ngũ uẩn này không phải là tôi, không phải của tôi". Vì đó là pháp tan hoại, tan vỡ, tật bệnh, ung nhọt mà mình lại lấy nó là mình, là của mình thì làm sao mình không sầu bi ưu não cho được. Ví dụ có người lại nói "Cô mà tu cái gì? Tu hú" thì lúc đó mình ra sao? Nếu mình có sự quán chiếu các cảm thọ, có sự an trú cảm giác toàn thân, có sự quán chiếu do duyên có lỗ tai, có âm thanh, có sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành nhĩ xúc sanh ra cảm thọ, đây là thọ do nhĩ xúc sanh và cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Nếu mình đã thuần thục trong phép quán này, mình tách tâm ra khỏi cảm thọ đó, mình ra khỏi âm thanh, nhĩ xúc, nhĩ thức, mình không cho lỗ tai này là tôi, không cho âm thanh đó là tôi, không cho sự rõ biết âm thanh đó là tôi, không cho sự tiếp xúc của lỗ tai là tôi, không cho cảm thọ sanh khởi khi lỗ tai tiếp xúc là tôi, là của tôi thì lúc đó tâm mình có dao động, có sân hận không? Không bao giờ, khôn có dính dáng gì đến mình, không phải của tôi cho nên trong kinh mới nói vị ấy không có tư lường như vậy nên không có chấp thủ một sự vật gì trong đời. Do không chấp thủ, nên không dao động (paritassati), do không dao động, vị ấy tự mình được tịch tịnh.
Ví dụ trên là nói đến tấm y và sự phê phán, chê bai mình. Bây giờ đến việc xảy ra ngay trên thân, tai nạn đến, xe cán gãy hai chân, không còn hai chân nữa. Khi nghe nói như vậy thôi là thọ; tưởng; hành đã hoạt động mạnh mẽ rồi, sức quán chiếu vô ngã của chúng ta ở mức độ nào thì chúng ta sẽ có tâm bình an ở mức độ đó, hằng ngày mình đã thực tập quán chiếu tứ đại này không phải là tôi, không phải của tôi nên khi có chuyện xảy ra mình chứng pháp, đắc pháp, ngộ pháp, nếu không khi có chuyện xảy ra mình sẽ đau khổ cùng cực. Bây giờ đến đối diện với cái chết, mình nằm đó lấy hơi lên là mình biết mình chuẩn bị đối diện với cái chết, những cảm giác, tưởng; hành; thức, khi xác thân này rã rời, chuẩn bị tan hoại thì đau đớn cùng cực, nó quằn quại, đau khổ giống như con cua bị bỏ vào nồi nước sôi. Trong kinh ví dụ như người lực sĩ lấy sợi dây siết vào đầu, sợi dây đi từ da vào thịt, từ thịt đi vào xương đến não, cái đau đớn khi sắp chết giống như vậy.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Mahà Cunda và Tôn giả Channa trú ở núi Gijjhakù.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Channa:
-- Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
-- Thưa Hiền giả Sàriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Lúc đó mình không có sự quán chiếu thường trực để thấy rằng thân này không phải là tôi, không phải của tôi thì làm sao mình ra đi bình an nếu không chứng đắc trí tuệ vô ngã, không thấy sự thật? Chính vì vậy Đức Phật dạy mình tác động tâm ý tương ưng với trí tuệ để tháo gỡ, thoát ra, nếu đã thuần thục thì vị ấy không suy nghĩ thân này, những thọ; tưởng; hành; thức là của tôi, là tự ngã của tôi nên vị ấy không chấp thủ một vật gì trên đời, do không chấp thủ nên không dao động, do không dao động nên vị ấy tự mình tịch tịnh. Đến đây vị ấy sẽ biết bằng trí tuệ: Đây là đời sống cuối cùng, chứng nhập Niết-bàn, không còn trở lui trạng thái tham sân si, sầu bi ưu não nữa.
Phải nhớ tác ý thường xuyên trong tâm đối với mỗi suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng. Tất cả chúng ta cùng nhau tinh cần, tinh tấn, kiên trì, chúng ta đi đúng đường thì chắc chắn sẽ đến đích.
./.