Đức Phật Dạy Đạo Vợ Chồng
Kinh Nikāya Giảng Giải
Đức Phật Dạy Đạo Vợ Chồng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Điều thiếu nữ cần học hỏi PAGEREF _Toc204009434 \h 1
II. Cách chồng đối xử với vợ PAGEREF _Toc204009435 \h 4
III. Đức Phật dạy về bảy hạng vợ PAGEREF _Toc204009436 \h 6
IV. Muốn gặp nhau ở đời sau PAGEREF _Toc204009437 \h 11
V. Bốn loại sống chung PAGEREF _Toc204009438 \h 13
VI. Tâm từ PAGEREF _Toc204009439 \h 14
I. Điều thiếu nữ cần học hỏi
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta sẽ nghe Đức Thế Tôn hướng dẫn cho những đôi bạn trẻ thành gia lập thất về đạo đức, về nghĩa tình của vợ chồng. Chúng ta nghe thì chúng ta sẽ rất là bất ngờ vì Đức Thế Tôn là bậc Thiên Nhân sư, thầy của trời người, là bậc chí chơn Chánh Đẳng Giác, không có gì trong thế gian này, trong thế giới này ngài không thấy, không có gì không biết, không có gì ngài không quán triệt và thấu hiểu cho nên gọi là bậc Thế Gian Giải, thông giải tất cả các pháp thế gian. Chúng ta sẽ thấy được thánh trí của Đức Phật chẳng những có thể hướng dẫn các bậc hiền trí đạt đến thánh quả tối thượng xuất ly ngũ uẩn, Thế Tôn còn hướng dẫn cho những người còn ở trong thế gian sống một đời sống đức hạnh, đạo đức, hiền nhân và thành tựu những cái pháp thiện lành, an lạc, thế và xuất thế.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Bhaddiya, trong rừng Jàti. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Uggaha, cháu trai của Mendaka bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nhận lời mời của con, ngày mai đến dùng bữa ăn, với Thế Tôn là người thứ tư.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka biết được Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Uggaha, cháu trai của Mendaka; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka, với tay của mình thân mời và làm cho thỏa mãn Thế Tôn với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka, sau khi Thế Tôn dùng bữa ăn xong, tay rời khỏi bát, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Uggaha, cháu trai của Mendaka bạch Thế Tôn:
- Những đứa con gái này của con, bạch Thế Tôn, sẽ đi về nhà chồng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới chúng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy khuyên dạy chúng, để chúng được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Rồi Thế Tôn nói với các người con gái ấy:
- Này các thiếu nữ, các Con hãy học tập như sau: 'Ðối với những người chồng nào, mẹ cha cho các con, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn khởi lên, đối với vị ấy, chúng ta sẽ thức dậy trước, chúng ta sẽ đi ngủ sau cùng, vui lòng nhận làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương.' Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Điều thứ nhất Đức Phật dạy các cô gái chuẩn bị về nhà chồng là ngủ thì sau nhưng thức dậy thì trước, ngủ muộn dậy sớm, vui lòng làm mọi công việc, xử sự rất đẹp và nói lời dễ thương.
"Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: 'Những ai, chồng ta kính trọng, như mẹ, cha, Sa-môn, Bà-la-môn, chúng ta sẽ tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường và khi họ đến, chúng ta sẽ dâng hiến họ chỗ ngồi và nước.' Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Điều thứ hai là những người nào mà chồng của mình kính trọng, tôn kính thì mình cũng kính trọng, tôn kính, như ở trong gia đình là cha mẹ chồng, bà con bên chồng, hay là trong tôn giáo là các bậc tu hành thì mình sẽ tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cung kính như chồng của mình kính trọng.
"Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: 'Phàm có những công nghiệp trong nhà, hoặc thuộc về len vải hay vải bông, ở đây, chúng ta sẽ phải thông thạo, không được biếng nhác, tự tìm hiểu phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm.' Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Điều thứ ba ở đây là phải để ý học hỏi, thông thạo những công việc bên nhà chồng, trong gia đình chồng làm cái nghề gì thì mình cũng phải để ý để mình biết công việc đó, mình học hỏi, hoặc là mình có thể phụ giúp để sắp đặt công việc cho những người làm trong gia đình của chồng.
"Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: 'Trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, chúng ta sẽ phải biết công việc của họ với công việc đã làm; chúng ta sẽ phải biết sự thiếu sót của họ với công việc không làm. Chúng ta sẽ biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh. Chúng ta sẽ chia các đồ ăn, loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo phần của mình'. Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Điều tiếp theo Đức Phật dạy hết sức là chu đáo, hết sức là tỉ mỉ, tức là mình phải để ý những người làm ở trong gia đình chồng của mình, những người công thợ, những người phụ giúp công việc, mình phải biết họ có thiếu sót gì không, người này giỏi về mặt nào, kém về mặt nào, người này có đau bệnh gì không, hay là mình có những thức ăn mình cũng chia sẻ cho những người làm.
"Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: 'Phàm có tiền bạc, lúa gạo, bạc và vàng người chồng đem về, chúng ta cần phải phòng hộ, bảo vệ chúng, và sẽ gìn giữ để khỏi ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại'. Như vậy, này các Thiếu nữ, các con cần phải học tập. Thành tựu năm pháp này, này các Thiếu nữ, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên có thân khả ái" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Tức là giữ gìn tài sản mà chồng mình vất vả cực khổ đi làm đem về, mình phải biết gìn giữ, phòng hộ, bảo vệ để khỏi bị thất thoát, khỏi bị gặp kẻ trộm cướp, hay là những kẻ phá hoại.
"Hãy thường thương yêu chồng,
Luôn nỗ lực cố gắng,
Người đem lại lạc thú,
Chớ khinh thường người chồng,
Chớ làm chồng không vui,
Chớ làm chồng tức tối,
Với những lời ganh tị.
Chồng cung kính những ai,
Hãy đảnh lễ tất cả,
Vì nàng, người có trí.
Hoạt động thật nhanh nhẹn,
Giữa các người làm việc,
Xử sự thật khả ái,
Biết giữ tài sản chồng.
Người vợ xử như vậy,
Làm thỏa mãn ước vọng,
Ưa thích của người chồng,
Sẽ được sanh tại chỗ,
Các chư thiên khả ái." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Thành tựu năm pháp này sau khi thân hoại mạng chung được sanh ở chung với chư thiên có thân rất là đẹp đẽ. Điều thứ nhất là ngủ thì trễ, dậy thì vậy sớm và vui lòng làm việc, đẹp lòng xử sự, lời nói dễ thương, khi làm việc thì vui vẻ, khi xử sự thì rất là đẹp và đặc biệt là lời nói dễ thương. Mới điều thứ nhất này thôi là mình thấy gia đình là có hạnh phúc chưa ạ? Chúng ta thấy Đức Phật dạy cho các cô dâu tuyệt vời không? Hỡi các cô dâu già, các cô dâu trẻ và các cô dâu tương lai hãy nghe cho kỹ, đó là hai mươi sáu thế kỷ rồi. Điều thứ hai là phải kính trọng những bậc mà chồng mình kính trọng, điều thứ ba phải thông thạo công việc của nhà chồng chứ không phải mình nói rằng "tôi không biết, nghề này tôi không có biết, tôi không làm", không phải như vậy mà phải để tâm học hỏi. Điều tiếp theo là quan tâm những người giúp việc, biết người đó giỏi mặt nào, dở mặt nào, ưu có mặt nào, khuyết mặt nào, biết sức khỏe của từng người và có một cái tấm lòng thương.
II. Cách chồng đối xử với vợ
Có nhiều bài kinh Đức Phật dạy người làm chủ đối với những cái người làm công hay lắm, mình phải để ý những người làm việc đó ưu mặt nào, khuyết mặt nào, giỏi mặt nào, dở mặt nào, mạnh mặt nào, yếu mặt nào để mình sắp xếp công việc cho những người làm trong gia đình. Điều đặc biệt ở đây là lâu lâu mình cho họ cái ân huệ, những cái thực phẩm, nếu mình sống và cư xử như vậy thì những người làm có hết lòng với mình không? Nhiều khi mình chỉ thấy cái trước mắt, mình nghĩ thuê họ thì trả tiền cho họ nhưng mình không có tình, không có nghĩa, không có quan tâm, không có thương người ta, có những điều có khi rất là nhỏ mà người ta giúp cho mình thì l nó còn gấp bao nhiêu lần những cái đó, nếu người ta không hài lòng về mình thì những điều rất là nhỏ mình cũng thất thoát rất lớn cho nên Đức Phật dạy hết sức là chu đáo.
Điều cuối cùng là giữ của, phải biết giữ cho chồng vất vả cực khổ đem về, mình không có xài phung phí, mình mua cái túi sách hàng hiệu năm ngàn đô la, rồi mình xài những mỹ phẩm cao cấp, thí dụ vậy. Như vậy là Đức Phật dạy mình phải biết giữ gìn, bảo vệ để chẳng những lo cho gia đình mà còn bố thí được cho người nghèo, lo cho cha mẹ rồi một phần nào cúng dường.
"Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ; Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc." (Trường Bộ Kinh, 31. Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt)
Hồi nãy là vợ đối với chồng, bây giờ Đức Phật dạy chồng đối với vợ, Đức Phật nhấn mạnh hai lần kính trọng vợ, không bất kính với vợ, hai lần nhấn mạnh vì chỗ này rất quan trọng. Lúc đầu mình tương kính như tân, kính nhau như là khách vậy đó, khi mình về ở chung rồi mình không còn tôn trọng nhau nữa, lâu ngày mình bung ra những cái thói quen, những cái gì mà mình che đậy hồi trước bây giờ về là mình bung ra hết, rồi mình xem thường nhau, rồi lần lần có những hành động, những lời nói, những cử chỉ rồi lần lần sẽ mất đi hạnh phúc của gia đình, mất đi sự tôn trọng, tôn kính, kính trọng cho nên Đức Phật dạy lặp lại hai lần kính trọng vợ, rồi không bất kính đối với vợ.
Tại sao Đức Phật nhấn mạnh chỗ khéo tiếp đón bà con? Chỗ này chúng ta thấy có quan trọng không? Nhiều khi khách đến mà cái mặt của mình không có hài lòng, chỗ này là cái chỗ thất bại nhiều lắm tại vì người phụ nữ có cảm thọ, cảm xúc nhiều lắm, dễ biểu hiện ra gương mặt ở ngoài lắm cho nên khi mình vừa lòng ai nhìn mặt biết liền, mà mình không ưa là biểu hiện ra liền. Khách tới nhà mà cái mặt chủ nhà không vui thì người ta có thiện cảm không? Chúng ta biết khách rất là nhiều hạng, thí dụ như những bậc Sa-môn, những bậc tu hành thì những bậc đó là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người, chẳng hạn như khách là những bậc ân đức của bên gia đình chồng như ông bà, cô bác, những người ân nghĩa, thậm chí những đối tác làm ăn, hay là những người con, người cháu, cho nên tất cả những người khách rất quan trọng, cả một cái nghệ thuật, một cái đạo tiếp khách.
Dạ con xin thưa chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí nếu m ở đây mà khách lên mà cái mặt con khó chịu thì có ai ngồi đây với con không ạ? Cho nên cái đạo tiếp khách hết sức quan trọng, đó là đạo, là cả một sự tu tập chánh niệm tỉnh giác, từ tâm, quan tâm, cả một cái tâm hiền, tâm từ, nói theo ngoài đời là nghệ thuật. Phải có một cái tâm, có một cái tấm lòng, từng cử chỉ, hành động của mình đối với người đến nhà mình, đến với mình, người ta thương, người ta quý, người ta mến người ta mới đến. Thành ra nhiều khi con tiếp khách có một lần thôi mà mấy bà già nửa vòng trái đất mười năm sau mỗi năm là gửi thuốc tây về cho chư Tăng chư Ni và điện thoại về khóc với con "con nhớ thầy quá". Cái nhà bếp mà chúng ta ăn cơm giờ là cũng cô Phật tử, nói là cô Phật tử nhưng mà cô đạo Thiên Chúa, con tiếp một lần hai mẹ con ngay mùa dịch mưa bão, con bưng từng món, có bao nhiêu trong tủ lạnh con đem ra đãi hết. Hai mẹ con khóc và xin cúng dường sửa lại cái nhà bếp đó chứ nhà bếp lúc trước quý vị đi vô là đụng cái đầu.
III. Đức Phật dạy về bảy hạng vợ
Thành ra cái này là con học của Đức Phật, khi người ta đến với mình bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả tình thương, bằng tất cả sự quan tâm của mình thì mình sẽ thấy sự ngọt ngào, cái hoa và trái trổ ra là hai trăm vị đang ngồi đây tu. Chúng ta hoan hỉ không? Mình biết khéo tiếp khách thì ở nhà hay ra đường, đi đến chỗ nào cũng là bạn hết, trong nhà mình không có khéo tiếp khách mình đi ra ngoài đường là mình bơ vơ, lang thang, không ai không ai muốn tiếp mình hết, thành ra những cái này là Đức Phật nhấn mạnh ở trong đây rất là hay, rất là quan trọng. Đức Phật dạy có bảy loại vợ, bảy hạng vợ, bảy dạng vợ.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến trú xứ của Anàthapindika; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Lúc bấy giờ, trong trú xứ của gia chủ Anàthapindika có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng. Rồi Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
- Này Gia chủ, vì sao trong nhà của Ông lại có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng như những người đánh cá đang giành giựt cá?" (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, Chương (IX). Các Người Vợ)
Thế Tôn đi đến chỗ của ông Cấp-cô-độc thì Thế Tôn nghe ở trong nhà nói chuyện to tiếng, lớn tiếng, cao tiếng, ngài hỏi cư sĩ gia chủ vì sao trong nhà ông có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng, nói to tiếng như bạn hàng tôm, bạn hàng cá vậy.
"- Bạch Thế Tôn, có nàng dâu Sujàtà giàu có đến đây từ một gia đình giàu có. Nàng không vâng lời mẹ chồng, không vâng lời cha chồng, không vâng lời chồng, cũng không cung kính, không tôn trọng, không lễ bái, không cúng dường Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cho gọi nàng dâu Sujàtà:
- Hãy đến đây Sujàtà!
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Nàng dâu Sujàtà vâng đáp Thế Tôn, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nàng dâu Sujàtà đang ngồi một bên:
- Này Sujàtà có bảy loại vợ này cho người đàn ông. Thế nào là bảy? Vợ như người sát nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như người chủ nhân, vợ như người mẹ, vợ như người chị, vợ như người bạn, vợ như người nữ tỳ. Này Sujàtà, có bảy loại vợ cho người đàn ông. Và con thuộc loại vợ nào?
- Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn, con không hiểu rõ ý nghĩa một cách rộng rãi. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn.
- Vậy này Sujàtà, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng Sujàtà vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Ai tâm bị uế nhiễm,
Không từ mẫn thương người,
Thích thú những người khác,
Khinh rẻ người chồng mình,
Bị mua chuộc bằng tiền,
Hăng say giết hại người,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ sát nhân.
Còn hạng nữ nhân nào,
Tiêu xài tài sản chồng,
Do công nghiệp đem lại,
Hay thương nghiệp, nông nghiệp,
Do vậy, nếu muốn trộm,
Dầu có ít đi nữa,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ ăn trộm.
Không ưa thích làm việc,
Biếng nhác, nhưng ăn nhiều,
Ác khẩu và bạo ác,
Phát ngôn lời khó chịu,
Mọi cố gắng của chồng,
Ðàn áp và chỉ huy,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi là vợ chủ nhân.
Ai luôn luôn từ mẫn,
Có lòng thương xót người,
Săn sóc giúp đỡ chồng,
Như mẹ chăm sóc con,
Tài sản chồng cất chứa,
Biết hộ trì gìn giữ,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như mẹ,
Ai như người em gái,
Ðối xử với chị lớn,
Biết cung kính tôn trọng,
Ðối với người chồng mình,
Với tâm biết tàm quí,
Tùy thuận phục vụ chồng,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như chị.
Ai ở đời thấy chồng,
Tâm hoan hỉ vui vẻ,
Như người bạn tốt lành,
Ðã lâu từ xa về,
Sanh gia đình hiền đức,
Giữ giới, dạ trung thành,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như bạn.
Không tức giận, an tịnh,
Không sợ hình phạt, trượng,
Tâm tư không hiềm hận,
Nhẫn nhục đối với chồng,
Không phẫn nộ tức giận,
Tùy thuận lời chồng dạy,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ nữ tỳ.
Ở đời các hạng vợ,
Ðược gọi vợ sát nhân,
Kể cả vợ ăn trộm,
Và cả vợ chủ nhân,
Vợ ấy không giữ giới,
Ác khẩu và vô lễ
Khi thân hoại mạng chung,
Bị sanh vào địa ngục.
Ở đời các hạng vợ,
Như mẹ, chị và bạn,
Và người vợ được gọi,
Là vợ như nữ tỳ,
An trú trên giới đức,
Khéo phòng hộ lâu ngày,
Khi thân hoại mạng chung,
Ðược sanh lên thiện thú" (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, Chương (IX). Các Người Vợ)
Như vậy vợ giống như sát nhân, ăn trộm, như chủ nhân, không có giữ giới hạnh, ác khẩu, vô lễ thì khi nhắm mắt xuống địa ngục. Người vợ như mẹ, như chị, như bạn và như nữ tỳ, như người hầu giữ gìn giới đức sau khi nhắm mắt sanh lên đỉnh cao của cõi người, hoặc là cõi trời.
"Này Sujàtà, có bảy loại vợ này đối với người đàn ông. Con thuộc hạng người nào?
- Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, Thế Tôn hãy xem con là người vợ đối với chồng như người vợ nữ tỳ." (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, Chương (IX). Các Người Vợ)
Bảy dạng này mình thuộc về hạng nào thì tự chiêm nghiệm, suy xét. Chúng ta thấy Thế Tôn dạy không có còn sót một cái gì hết, đó gọi là Chánh Biến Tri, viên mãn giác trong tất cả mọi lĩnh vực, khía cạnh, góc độ trên thế gian này, trên thế giới này. Khi ngài nói cái gì là nói tới tận cùng, thấu đáo, viên mãn, đầy đủ, tròn vẹn hết tất cả, chúng ta chỉ cần ứng dụng theo đây thôi. suốt cuộc đời của người vợ học những bài kinh này thôi thì hiện tại là vợ hiền dâu thảo, tương lai là sanh lên cõi trời.
IV. Muốn gặp nhau ở đời sau
Cho nên tùy cái nhân duyên mà Đức Phật sẽ dạy những cái bài kinh, đây là một bài kinh cũng rất là đặc biệt, bài kinh này là hai vợ chồng muốn thấy mặt nhau ở đời này và đời sau.
"Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:
- Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (V). Xứng Ðôi (1))
Những cặp vợ chồng như vậy hiếm có không ạ? Cực hiếm, rất hiếm. Sau đó Thế Tôn dạy:
"- Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (V). Xứng Ðôi (1))
Thứ nhất phải cùng một niềm tin, thí dụ ông chồng quy y tam bảo, giữ gìn năm giới thì người vợ cũng phải quy y tam bảo, giữ gìn năm giới, cùng tin tưởng Phật, Pháp, Tăng, người vợ giữ giới hạnh, chồng cũng giữ giới hạnh đầy đủ năm cái giới đó, người vợ thích bố thí, thích cúng dường, người chồng cũng thích bố thí, thích cúng dường giống như vậy thì gọi là đồng thí. Đồng trí tuệ là người chồng cũng tu tập, nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, vợ cũng nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, biết bố thí, cúng dường, làm phước, biết chia sẻ đến những người nghèo khổ thì như vậy hai người này không những thấy nhau trong đời này mà còn có thể gặp nhau ở đời sau.
"Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỉ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (V). Xứng Ðôi (1))
V. Bốn loại sống chung
Chánh mạng là nuôi sống chân chánh ai, cư sĩ không làm năm nghề: không bán thịt, không bán rượu, không bán thuốc độc và không bán người. Người cư sĩ chánh mạng nuôi sống, gọi là sống đúng, làm nghề chân chánh là phải từ bỏ năm cái nghề bán rượu, bán thịt, bán thuốc độc, bán vũ khí và bán người.
"Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn?
-Đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ.
-Đê tiện nam sống chúng với Thiên nữ.
-Thiên nam sống chúng với đê tiện nữ.
-Thiên nam sống chung với Thiên nữ.
Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ?
-Ở đây, này các Gia chủ, người chồng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.
-Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối. Như vậy, này các Gia chủ là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ.
Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ?
-Ở đây, này gia chủ, người chồng sát sanh... nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.
-Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình không với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ.
Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với một đê tiện nữ?
-Ở đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh... không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.
-Nhưng người vợ là người sát sanh, lấy của không cho... nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ là Thiên nam sống chung với đê tiện nữ.
Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với Thiên nữ?
-Ở đây, này các Gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh... không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn,
-Và người vợ cũng là người không sát sanh... không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.
Này các Gia chủ, có bốn loại chung sống này." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (III). Sống Chung (1))
Hôm nay Minh Thành thay mặt cho chư tăng, chư Ni kính chúc cho đôi bạn trẻ sẽ trở thành thiên nam sống chung với thiên nữ. Giờ này hai bạn có muốn nói những lời chia sẻ với nhau không? Cố gắng nhớ những gì Đức Phật đã dạy, những bài kinh này là tư lương, là cái hành trang là cái bí quyết hạnh phúc cho tất cả gia đình trên toàn cầu này, thậm chí là mười ngàn thế giới, tam thiên, đại thiên thế giới. Tất cả các cặp vợ chồng biết ứng dụng những lời kinh này sẽ hạnh phúc, an lạc dài lâu trong hiện tại và nhiều kiếp.
VI. Tâm từ
Thầy Thiện Huệ:
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm từ của ta.
Tâm từ này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía dưới,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tâm vui này hiền thiện,
Tâm vui này hiền hòa,
Tâm vui này dễ mến,
Tâm vui này dễ thương.
Tâm vui này lan tỏa,
Lan tràn khắp mọi nơi,
Tâm vui vẩy tay mời
Chúng sanh rời đau khổ.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm vui này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
./.
Đức Phật Dạy Đạo Vợ Chồng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Điều thiếu nữ cần học hỏi PAGEREF _Toc204009434 \h 1
II. Cách chồng đối xử với vợ PAGEREF _Toc204009435 \h 4
III. Đức Phật dạy về bảy hạng vợ PAGEREF _Toc204009436 \h 6
IV. Muốn gặp nhau ở đời sau PAGEREF _Toc204009437 \h 11
V. Bốn loại sống chung PAGEREF _Toc204009438 \h 13
VI. Tâm từ PAGEREF _Toc204009439 \h 14
I. Điều thiếu nữ cần học hỏi
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta sẽ nghe Đức Thế Tôn hướng dẫn cho những đôi bạn trẻ thành gia lập thất về đạo đức, về nghĩa tình của vợ chồng. Chúng ta nghe thì chúng ta sẽ rất là bất ngờ vì Đức Thế Tôn là bậc Thiên Nhân sư, thầy của trời người, là bậc chí chơn Chánh Đẳng Giác, không có gì trong thế gian này, trong thế giới này ngài không thấy, không có gì không biết, không có gì ngài không quán triệt và thấu hiểu cho nên gọi là bậc Thế Gian Giải, thông giải tất cả các pháp thế gian. Chúng ta sẽ thấy được thánh trí của Đức Phật chẳng những có thể hướng dẫn các bậc hiền trí đạt đến thánh quả tối thượng xuất ly ngũ uẩn, Thế Tôn còn hướng dẫn cho những người còn ở trong thế gian sống một đời sống đức hạnh, đạo đức, hiền nhân và thành tựu những cái pháp thiện lành, an lạc, thế và xuất thế.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Bhaddiya, trong rừng Jàti. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Uggaha, cháu trai của Mendaka bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nhận lời mời của con, ngày mai đến dùng bữa ăn, với Thế Tôn là người thứ tư.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka biết được Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Uggaha, cháu trai của Mendaka; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka, với tay của mình thân mời và làm cho thỏa mãn Thế Tôn với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka, sau khi Thế Tôn dùng bữa ăn xong, tay rời khỏi bát, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Uggaha, cháu trai của Mendaka bạch Thế Tôn:
- Những đứa con gái này của con, bạch Thế Tôn, sẽ đi về nhà chồng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới chúng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy khuyên dạy chúng, để chúng được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Rồi Thế Tôn nói với các người con gái ấy:
- Này các thiếu nữ, các Con hãy học tập như sau: 'Ðối với những người chồng nào, mẹ cha cho các con, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn khởi lên, đối với vị ấy, chúng ta sẽ thức dậy trước, chúng ta sẽ đi ngủ sau cùng, vui lòng nhận làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương.' Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Điều thứ nhất Đức Phật dạy các cô gái chuẩn bị về nhà chồng là ngủ thì sau nhưng thức dậy thì trước, ngủ muộn dậy sớm, vui lòng làm mọi công việc, xử sự rất đẹp và nói lời dễ thương.
"Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: 'Những ai, chồng ta kính trọng, như mẹ, cha, Sa-môn, Bà-la-môn, chúng ta sẽ tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường và khi họ đến, chúng ta sẽ dâng hiến họ chỗ ngồi và nước.' Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Điều thứ hai là những người nào mà chồng của mình kính trọng, tôn kính thì mình cũng kính trọng, tôn kính, như ở trong gia đình là cha mẹ chồng, bà con bên chồng, hay là trong tôn giáo là các bậc tu hành thì mình sẽ tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cung kính như chồng của mình kính trọng.
"Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: 'Phàm có những công nghiệp trong nhà, hoặc thuộc về len vải hay vải bông, ở đây, chúng ta sẽ phải thông thạo, không được biếng nhác, tự tìm hiểu phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm.' Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Điều thứ ba ở đây là phải để ý học hỏi, thông thạo những công việc bên nhà chồng, trong gia đình chồng làm cái nghề gì thì mình cũng phải để ý để mình biết công việc đó, mình học hỏi, hoặc là mình có thể phụ giúp để sắp đặt công việc cho những người làm trong gia đình của chồng.
"Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: 'Trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, chúng ta sẽ phải biết công việc của họ với công việc đã làm; chúng ta sẽ phải biết sự thiếu sót của họ với công việc không làm. Chúng ta sẽ biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh. Chúng ta sẽ chia các đồ ăn, loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo phần của mình'. Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Điều tiếp theo Đức Phật dạy hết sức là chu đáo, hết sức là tỉ mỉ, tức là mình phải để ý những người làm ở trong gia đình chồng của mình, những người công thợ, những người phụ giúp công việc, mình phải biết họ có thiếu sót gì không, người này giỏi về mặt nào, kém về mặt nào, người này có đau bệnh gì không, hay là mình có những thức ăn mình cũng chia sẻ cho những người làm.
"Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: 'Phàm có tiền bạc, lúa gạo, bạc và vàng người chồng đem về, chúng ta cần phải phòng hộ, bảo vệ chúng, và sẽ gìn giữ để khỏi ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại'. Như vậy, này các Thiếu nữ, các con cần phải học tập. Thành tựu năm pháp này, này các Thiếu nữ, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên có thân khả ái" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Tức là giữ gìn tài sản mà chồng mình vất vả cực khổ đi làm đem về, mình phải biết gìn giữ, phòng hộ, bảo vệ để khỏi bị thất thoát, khỏi bị gặp kẻ trộm cướp, hay là những kẻ phá hoại.
"Hãy thường thương yêu chồng,
Luôn nỗ lực cố gắng,
Người đem lại lạc thú,
Chớ khinh thường người chồng,
Chớ làm chồng không vui,
Chớ làm chồng tức tối,
Với những lời ganh tị.
Chồng cung kính những ai,
Hãy đảnh lễ tất cả,
Vì nàng, người có trí.
Hoạt động thật nhanh nhẹn,
Giữa các người làm việc,
Xử sự thật khả ái,
Biết giữ tài sản chồng.
Người vợ xử như vậy,
Làm thỏa mãn ước vọng,
Ưa thích của người chồng,
Sẽ được sanh tại chỗ,
Các chư thiên khả ái." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, (III). Uggaha, Người Gia Chủ)
Thành tựu năm pháp này sau khi thân hoại mạng chung được sanh ở chung với chư thiên có thân rất là đẹp đẽ. Điều thứ nhất là ngủ thì trễ, dậy thì vậy sớm và vui lòng làm việc, đẹp lòng xử sự, lời nói dễ thương, khi làm việc thì vui vẻ, khi xử sự thì rất là đẹp và đặc biệt là lời nói dễ thương. Mới điều thứ nhất này thôi là mình thấy gia đình là có hạnh phúc chưa ạ? Chúng ta thấy Đức Phật dạy cho các cô dâu tuyệt vời không? Hỡi các cô dâu già, các cô dâu trẻ và các cô dâu tương lai hãy nghe cho kỹ, đó là hai mươi sáu thế kỷ rồi. Điều thứ hai là phải kính trọng những bậc mà chồng mình kính trọng, điều thứ ba phải thông thạo công việc của nhà chồng chứ không phải mình nói rằng "tôi không biết, nghề này tôi không có biết, tôi không làm", không phải như vậy mà phải để tâm học hỏi. Điều tiếp theo là quan tâm những người giúp việc, biết người đó giỏi mặt nào, dở mặt nào, ưu có mặt nào, khuyết mặt nào, biết sức khỏe của từng người và có một cái tấm lòng thương.
II. Cách chồng đối xử với vợ
Có nhiều bài kinh Đức Phật dạy người làm chủ đối với những cái người làm công hay lắm, mình phải để ý những người làm việc đó ưu mặt nào, khuyết mặt nào, giỏi mặt nào, dở mặt nào, mạnh mặt nào, yếu mặt nào để mình sắp xếp công việc cho những người làm trong gia đình. Điều đặc biệt ở đây là lâu lâu mình cho họ cái ân huệ, những cái thực phẩm, nếu mình sống và cư xử như vậy thì những người làm có hết lòng với mình không? Nhiều khi mình chỉ thấy cái trước mắt, mình nghĩ thuê họ thì trả tiền cho họ nhưng mình không có tình, không có nghĩa, không có quan tâm, không có thương người ta, có những điều có khi rất là nhỏ mà người ta giúp cho mình thì l nó còn gấp bao nhiêu lần những cái đó, nếu người ta không hài lòng về mình thì những điều rất là nhỏ mình cũng thất thoát rất lớn cho nên Đức Phật dạy hết sức là chu đáo.
Điều cuối cùng là giữ của, phải biết giữ cho chồng vất vả cực khổ đem về, mình không có xài phung phí, mình mua cái túi sách hàng hiệu năm ngàn đô la, rồi mình xài những mỹ phẩm cao cấp, thí dụ vậy. Như vậy là Đức Phật dạy mình phải biết giữ gìn, bảo vệ để chẳng những lo cho gia đình mà còn bố thí được cho người nghèo, lo cho cha mẹ rồi một phần nào cúng dường.
"Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ; Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc." (Trường Bộ Kinh, 31. Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt)
Hồi nãy là vợ đối với chồng, bây giờ Đức Phật dạy chồng đối với vợ, Đức Phật nhấn mạnh hai lần kính trọng vợ, không bất kính với vợ, hai lần nhấn mạnh vì chỗ này rất quan trọng. Lúc đầu mình tương kính như tân, kính nhau như là khách vậy đó, khi mình về ở chung rồi mình không còn tôn trọng nhau nữa, lâu ngày mình bung ra những cái thói quen, những cái gì mà mình che đậy hồi trước bây giờ về là mình bung ra hết, rồi mình xem thường nhau, rồi lần lần có những hành động, những lời nói, những cử chỉ rồi lần lần sẽ mất đi hạnh phúc của gia đình, mất đi sự tôn trọng, tôn kính, kính trọng cho nên Đức Phật dạy lặp lại hai lần kính trọng vợ, rồi không bất kính đối với vợ.
Tại sao Đức Phật nhấn mạnh chỗ khéo tiếp đón bà con? Chỗ này chúng ta thấy có quan trọng không? Nhiều khi khách đến mà cái mặt của mình không có hài lòng, chỗ này là cái chỗ thất bại nhiều lắm tại vì người phụ nữ có cảm thọ, cảm xúc nhiều lắm, dễ biểu hiện ra gương mặt ở ngoài lắm cho nên khi mình vừa lòng ai nhìn mặt biết liền, mà mình không ưa là biểu hiện ra liền. Khách tới nhà mà cái mặt chủ nhà không vui thì người ta có thiện cảm không? Chúng ta biết khách rất là nhiều hạng, thí dụ như những bậc Sa-môn, những bậc tu hành thì những bậc đó là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người, chẳng hạn như khách là những bậc ân đức của bên gia đình chồng như ông bà, cô bác, những người ân nghĩa, thậm chí những đối tác làm ăn, hay là những người con, người cháu, cho nên tất cả những người khách rất quan trọng, cả một cái nghệ thuật, một cái đạo tiếp khách.
Dạ con xin thưa chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí nếu m ở đây mà khách lên mà cái mặt con khó chịu thì có ai ngồi đây với con không ạ? Cho nên cái đạo tiếp khách hết sức quan trọng, đó là đạo, là cả một sự tu tập chánh niệm tỉnh giác, từ tâm, quan tâm, cả một cái tâm hiền, tâm từ, nói theo ngoài đời là nghệ thuật. Phải có một cái tâm, có một cái tấm lòng, từng cử chỉ, hành động của mình đối với người đến nhà mình, đến với mình, người ta thương, người ta quý, người ta mến người ta mới đến. Thành ra nhiều khi con tiếp khách có một lần thôi mà mấy bà già nửa vòng trái đất mười năm sau mỗi năm là gửi thuốc tây về cho chư Tăng chư Ni và điện thoại về khóc với con "con nhớ thầy quá". Cái nhà bếp mà chúng ta ăn cơm giờ là cũng cô Phật tử, nói là cô Phật tử nhưng mà cô đạo Thiên Chúa, con tiếp một lần hai mẹ con ngay mùa dịch mưa bão, con bưng từng món, có bao nhiêu trong tủ lạnh con đem ra đãi hết. Hai mẹ con khóc và xin cúng dường sửa lại cái nhà bếp đó chứ nhà bếp lúc trước quý vị đi vô là đụng cái đầu.
III. Đức Phật dạy về bảy hạng vợ
Thành ra cái này là con học của Đức Phật, khi người ta đến với mình bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả tình thương, bằng tất cả sự quan tâm của mình thì mình sẽ thấy sự ngọt ngào, cái hoa và trái trổ ra là hai trăm vị đang ngồi đây tu. Chúng ta hoan hỉ không? Mình biết khéo tiếp khách thì ở nhà hay ra đường, đi đến chỗ nào cũng là bạn hết, trong nhà mình không có khéo tiếp khách mình đi ra ngoài đường là mình bơ vơ, lang thang, không ai không ai muốn tiếp mình hết, thành ra những cái này là Đức Phật nhấn mạnh ở trong đây rất là hay, rất là quan trọng. Đức Phật dạy có bảy loại vợ, bảy hạng vợ, bảy dạng vợ.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến trú xứ của Anàthapindika; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Lúc bấy giờ, trong trú xứ của gia chủ Anàthapindika có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng. Rồi Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
- Này Gia chủ, vì sao trong nhà của Ông lại có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng như những người đánh cá đang giành giựt cá?" (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, Chương (IX). Các Người Vợ)
Thế Tôn đi đến chỗ của ông Cấp-cô-độc thì Thế Tôn nghe ở trong nhà nói chuyện to tiếng, lớn tiếng, cao tiếng, ngài hỏi cư sĩ gia chủ vì sao trong nhà ông có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng, nói to tiếng như bạn hàng tôm, bạn hàng cá vậy.
"- Bạch Thế Tôn, có nàng dâu Sujàtà giàu có đến đây từ một gia đình giàu có. Nàng không vâng lời mẹ chồng, không vâng lời cha chồng, không vâng lời chồng, cũng không cung kính, không tôn trọng, không lễ bái, không cúng dường Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cho gọi nàng dâu Sujàtà:
- Hãy đến đây Sujàtà!
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Nàng dâu Sujàtà vâng đáp Thế Tôn, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nàng dâu Sujàtà đang ngồi một bên:
- Này Sujàtà có bảy loại vợ này cho người đàn ông. Thế nào là bảy? Vợ như người sát nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như người chủ nhân, vợ như người mẹ, vợ như người chị, vợ như người bạn, vợ như người nữ tỳ. Này Sujàtà, có bảy loại vợ cho người đàn ông. Và con thuộc loại vợ nào?
- Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn, con không hiểu rõ ý nghĩa một cách rộng rãi. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn.
- Vậy này Sujàtà, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng Sujàtà vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Ai tâm bị uế nhiễm,
Không từ mẫn thương người,
Thích thú những người khác,
Khinh rẻ người chồng mình,
Bị mua chuộc bằng tiền,
Hăng say giết hại người,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ sát nhân.
Còn hạng nữ nhân nào,
Tiêu xài tài sản chồng,
Do công nghiệp đem lại,
Hay thương nghiệp, nông nghiệp,
Do vậy, nếu muốn trộm,
Dầu có ít đi nữa,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ ăn trộm.
Không ưa thích làm việc,
Biếng nhác, nhưng ăn nhiều,
Ác khẩu và bạo ác,
Phát ngôn lời khó chịu,
Mọi cố gắng của chồng,
Ðàn áp và chỉ huy,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi là vợ chủ nhân.
Ai luôn luôn từ mẫn,
Có lòng thương xót người,
Săn sóc giúp đỡ chồng,
Như mẹ chăm sóc con,
Tài sản chồng cất chứa,
Biết hộ trì gìn giữ,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như mẹ,
Ai như người em gái,
Ðối xử với chị lớn,
Biết cung kính tôn trọng,
Ðối với người chồng mình,
Với tâm biết tàm quí,
Tùy thuận phục vụ chồng,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như chị.
Ai ở đời thấy chồng,
Tâm hoan hỉ vui vẻ,
Như người bạn tốt lành,
Ðã lâu từ xa về,
Sanh gia đình hiền đức,
Giữ giới, dạ trung thành,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như bạn.
Không tức giận, an tịnh,
Không sợ hình phạt, trượng,
Tâm tư không hiềm hận,
Nhẫn nhục đối với chồng,
Không phẫn nộ tức giận,
Tùy thuận lời chồng dạy,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ nữ tỳ.
Ở đời các hạng vợ,
Ðược gọi vợ sát nhân,
Kể cả vợ ăn trộm,
Và cả vợ chủ nhân,
Vợ ấy không giữ giới,
Ác khẩu và vô lễ
Khi thân hoại mạng chung,
Bị sanh vào địa ngục.
Ở đời các hạng vợ,
Như mẹ, chị và bạn,
Và người vợ được gọi,
Là vợ như nữ tỳ,
An trú trên giới đức,
Khéo phòng hộ lâu ngày,
Khi thân hoại mạng chung,
Ðược sanh lên thiện thú" (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, Chương (IX). Các Người Vợ)
Như vậy vợ giống như sát nhân, ăn trộm, như chủ nhân, không có giữ giới hạnh, ác khẩu, vô lễ thì khi nhắm mắt xuống địa ngục. Người vợ như mẹ, như chị, như bạn và như nữ tỳ, như người hầu giữ gìn giới đức sau khi nhắm mắt sanh lên đỉnh cao của cõi người, hoặc là cõi trời.
"Này Sujàtà, có bảy loại vợ này đối với người đàn ông. Con thuộc hạng người nào?
- Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, Thế Tôn hãy xem con là người vợ đối với chồng như người vợ nữ tỳ." (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, Chương (IX). Các Người Vợ)
Bảy dạng này mình thuộc về hạng nào thì tự chiêm nghiệm, suy xét. Chúng ta thấy Thế Tôn dạy không có còn sót một cái gì hết, đó gọi là Chánh Biến Tri, viên mãn giác trong tất cả mọi lĩnh vực, khía cạnh, góc độ trên thế gian này, trên thế giới này. Khi ngài nói cái gì là nói tới tận cùng, thấu đáo, viên mãn, đầy đủ, tròn vẹn hết tất cả, chúng ta chỉ cần ứng dụng theo đây thôi. suốt cuộc đời của người vợ học những bài kinh này thôi thì hiện tại là vợ hiền dâu thảo, tương lai là sanh lên cõi trời.
IV. Muốn gặp nhau ở đời sau
Cho nên tùy cái nhân duyên mà Đức Phật sẽ dạy những cái bài kinh, đây là một bài kinh cũng rất là đặc biệt, bài kinh này là hai vợ chồng muốn thấy mặt nhau ở đời này và đời sau.
"Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:
- Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (V). Xứng Ðôi (1))
Những cặp vợ chồng như vậy hiếm có không ạ? Cực hiếm, rất hiếm. Sau đó Thế Tôn dạy:
"- Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (V). Xứng Ðôi (1))
Thứ nhất phải cùng một niềm tin, thí dụ ông chồng quy y tam bảo, giữ gìn năm giới thì người vợ cũng phải quy y tam bảo, giữ gìn năm giới, cùng tin tưởng Phật, Pháp, Tăng, người vợ giữ giới hạnh, chồng cũng giữ giới hạnh đầy đủ năm cái giới đó, người vợ thích bố thí, thích cúng dường, người chồng cũng thích bố thí, thích cúng dường giống như vậy thì gọi là đồng thí. Đồng trí tuệ là người chồng cũng tu tập, nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, vợ cũng nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, biết bố thí, cúng dường, làm phước, biết chia sẻ đến những người nghèo khổ thì như vậy hai người này không những thấy nhau trong đời này mà còn có thể gặp nhau ở đời sau.
"Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỉ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (V). Xứng Ðôi (1))
V. Bốn loại sống chung
Chánh mạng là nuôi sống chân chánh ai, cư sĩ không làm năm nghề: không bán thịt, không bán rượu, không bán thuốc độc và không bán người. Người cư sĩ chánh mạng nuôi sống, gọi là sống đúng, làm nghề chân chánh là phải từ bỏ năm cái nghề bán rượu, bán thịt, bán thuốc độc, bán vũ khí và bán người.
"Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn?
-Đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ.
-Đê tiện nam sống chúng với Thiên nữ.
-Thiên nam sống chúng với đê tiện nữ.
-Thiên nam sống chung với Thiên nữ.
Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ?
-Ở đây, này các Gia chủ, người chồng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.
-Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối. Như vậy, này các Gia chủ là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ.
Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ?
-Ở đây, này gia chủ, người chồng sát sanh... nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.
-Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình không với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ.
Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với một đê tiện nữ?
-Ở đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh... không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.
-Nhưng người vợ là người sát sanh, lấy của không cho... nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ là Thiên nam sống chung với đê tiện nữ.
Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với Thiên nữ?
-Ở đây, này các Gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh... không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn,
-Và người vợ cũng là người không sát sanh... không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.
Này các Gia chủ, có bốn loại chung sống này." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (III). Sống Chung (1))
Hôm nay Minh Thành thay mặt cho chư tăng, chư Ni kính chúc cho đôi bạn trẻ sẽ trở thành thiên nam sống chung với thiên nữ. Giờ này hai bạn có muốn nói những lời chia sẻ với nhau không? Cố gắng nhớ những gì Đức Phật đã dạy, những bài kinh này là tư lương, là cái hành trang là cái bí quyết hạnh phúc cho tất cả gia đình trên toàn cầu này, thậm chí là mười ngàn thế giới, tam thiên, đại thiên thế giới. Tất cả các cặp vợ chồng biết ứng dụng những lời kinh này sẽ hạnh phúc, an lạc dài lâu trong hiện tại và nhiều kiếp.
VI. Tâm từ
Thầy Thiện Huệ:
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm từ của ta.
Tâm từ này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía dưới,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm vui của ta.
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tâm vui này hiền thiện,
Tâm vui này hiền hòa,
Tâm vui này dễ mến,
Tâm vui này dễ thương.
Tâm vui này lan tỏa,
Lan tràn khắp mọi nơi,
Tâm vui vẩy tay mời
Chúng sanh rời đau khổ.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm vui này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
./.