Vua Trời hỏi Phật 3 - Kinh Đế Thích Sở Vấn - Trường Bộ
Vua Trời Hỏi Phật 3
Kinh Đế Thích Sở Vấn - Trường Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiên Chủ kể về những lợi ích PAGEREF _Toc114057230 \h 1
II. Câu chuyện tiền thân Thiên Chủ PAGEREF _Toc114057231 \h 10
I. Thiên Chủ kể về những lợi ích
Chúng ta đã học đến đoạn Đức Phật nói Thiên chủ trước kia không có sự thoải mái, hỷ lạc như bây giờ, bây giờ được thoải mái, vui vẻ, an lạc. Đức Thế Tôn hỏi trước kia ngài không được an lạc, thoải mái như thế nào thì Thiên chủ đáp:
“- Bạch Thế Tôn, thuở xưa, một trận chiến tranh xảy ra giữa chư Thiên và các vị Asurà. Bạch Thế Tôn, trong trận chiến tranh này, chư Thiên thắng trận, các loài Asurà bại trận. Bạch Thế Tôn sau khi thắng trận, con là người thắng trận, con suy nghĩ: "Nay cam lồ của chư Thiên và cam lồ của Asurà, cả hai loại cam lồ, chư Thiên sẽ được nếm." Bạch Thế Tôn, thoải mái ấy, hỷ lạc ấy do gậy trượng đem lại, do đao kiếm đem lại, không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Bạch Thế Tôn, thoải mái này, hỷ lạc này nhờ nghe Chánh pháp Thế Tôn đem lại, không do gậy trượng, không do đao kiếm, sẽ đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Sự thoải mái, an lạc, vui sướng trước kia là do gậy gộc, gươm đao, do đánh nhau, chiến đấu, tranh giành với nhau mà có được niềm vui, thoải mái. Niềm vui đó không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn, sự vui mừng của chiến thắng đó không đưa đến nhàm chán xa lìa, không đưa đến sự chấm dứt ham muốn, không đưa đến nội tâm vắng lặng, an ổn, thanh tịnh, niềm vui đó không đưa đến trí tuệ thù thắng, phát giác ra những nguyên nhân đau khổ trong tâm, niềm vui của sự cạnh tranh, chiến tranh đó không đưa đến sự giác ngộ, không đưa đến sự thấu hiểu chính thân tâm, không đưa đến dập tắt ngọn lửa tham dục, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã cho nên niềm vui lúc trước khác với niềm vui bây giờ.
Con đọc những dòng này mà rưng rưng nước mắt, trước khi giảng bài có cô Phật tử trưởng đạo tràng Nikāya ngoài Hà Nội gọi vào khóc nức nở vì hạnh phúc, hiện tại cô cũng đang học cùng chúng ta, dòng cảm thọ dâng trào nói không nên lời và chính con đang đọc từng chữ này nước mắt cũng chảy ra. Chư Thiên đang so sánh hai niềm vui, một niềm vui của sự giành giật, hơn thua, tranh đấu, cãi nhau mà giành phần thắng thì cái vui đó so với cái vui của việc hiểu pháp, nội tâm an tịnh, thấy pháp khác xa nhau một trời một vực.
Vì vô minh, si mê, bản ngã nên cứ đi tìm những cái vui trong cái hơn thua, thương ghét, đúng sai, thị phi, phải quấy… cho nên ngài Thiên chủ mới nói rất khác nhau, thầy Pháp An khi còn ở dưới quê bệnh tật, xung quanh là con cháu, bà con láng giềng nhưng chưa bao giờ được hỷ lạc, chưa bao giờ nếm được hạnh phúc lìa xa những hệ lụy, phiền lụy, trói cột, cũng như các thầy các cô, các vị tập sự xuất gia trước đây chưa nếm được hương vị của pháp, của sự thật thì chưa biết đến sự thoải mái, bình an, thảnh thơi thoát tục ly trần này.
“Bạch Thế Tôn, thoải mái này, hỷ lạc này nhờ nghe Chánh pháp Thế Tôn đem lại, không do gậy trượng, không do đao kiếm, sẽ đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Niềm vui này có được nhờ nghe Chánh Pháp của Thế Tôn đem lại, cho nên tại sao ngày nào chúng ta cũng phải nghe pháp, đó là pháp hỷ, pháp lạc. Nhờ nghe pháp của Thế Tôn mà nhàm chán sân si, tranh đấu, hơn thua ở đời, nhàm chán những cái thị phi, nhân ngã cao thấp ở đời, nhàm chán những vở tuồng của cái tôi dựng lên, xa lìa những vở tuồng của ngũ uẩn, của tham vọng, ác tham.
Từ bỏ những sự thúc đẩy bên trong đưa mình đến ràng buộc, tìm cầu, truy tìm, ngao ngán, ê chề, chán chê cái tâm u mê, si ám để đưa đến nội tâm lắng dịu, an tịnh, trí tuệ, vi diệu thù thắng. Phát giác những cấu nhiễm bên trong rồi tẩy sạch và đi đến chỗ chấm dứt, dập tắt hoàn toàn ngọn lửa tham muốn, nóng giận, vô minh. Đó là Thiên chủ trình bày với Pháp chủ, đó là lợi ích của nghe pháp, niềm vui, hạnh phúc trong pháp.
“ - Này Thiên chủ, khi Ngươi cảm thọ sự thoải mái và hỷ lạc như vậy, Ngươi cảm thấy những lợi ích gì?
- Bạch Thế Tôn, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy, con cảm thấy có sáu lợi ích như sau:
Nay con đứng tại đây,
Với thân một vị Thiên.
Con thấy được tái sanh,
Bạch Ngài, hãy biết vậy.
Bạch Thế Tôn đó là điều lợi thứ nhất con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ngài được lợi ích có được thân tướng của một vị Thiên chủ, thấy rõ được những đời trước. Sở dĩ mang được cái thân của vua Trời, sở dĩ nhìn thấy được những kiếp quá khứ là nhờ công năng nghe Chánh Pháp của Đức Phật.
“Sau khi chết con bỏ,
Thân chư Thiên, phi nhân,
Không muội lược, con đi,
Ðến bào thai con thích.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ hai, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Lợi ích thứ hai là sắp mạng chung thì cái tâm không bị mờ tối mà tâm sẽ chánh niệm và tỉnh giác đi đến bào thai nào ngài thích. Vì ngài đã chứng quả Dự Lưu thì chậm nhất là bảy lần sống chết nữa thôi, nhờ nghe Chánh Pháp mà lúc sắp sửa ra đi có chánh niệm tỉnh giác cho nên ngài chọn lựa được bào thai, ngài muốn vào cõi nào là do ngài chọn. Đó là lợi ích thứ hai của sự hiểu pháp, thực hành pháp.
“Câu hỏi được đáp rõ,
Hoan hỉ trong Chánh giáo.
Con sống với Chánh trí,
Giác tỉnh và Chánh niệm.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi thứ ba, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Khi ngài hỏi những người khác thì họ lại quỳ lạy trở thành đệ tử, còn khi ngài hỏi thì Thế Tôn trả lời rất rõ ràng và ngài hoan hỉ trong Chánh Pháp, do hoan hỉ, vui mừng nên ngài sống trong chánh trí, giác tỉnh và chánh niệm. Đó là lợi ích thứ ba, tức là trong đời sống ngài sống với chánh trí, giác tỉnh và chánh niệm.
“Con sống với Chánh trí,
Sẽ được quả Bồ đề,
Sống làm vị Chánh giác,
Ðời này đời cuối cùng.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ tư, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Điều này cho chúng ta thấy chỉ trong một kiếp này thôi ngài sẽ lậu tận, trở thành vị A-la-hán. Do sống với chánh trí nên được quả Bồ-đề, tức là quả giác ngộ tối thượng, những vị thành tựu chánh kiến và đang tiếp tục đi trên con đường đó thì những vị đó sẽ có sự giác ngộ chân chánh, đời này là đời cuối cùng.
“Chết từ thân con Người,
Con từ bỏ thân Người,
Con sẽ thành chư Thiên,
Trong Thiên giới vô thượng.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ năm, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái, và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đời trước ngài là một con người nhưng nhờ nghe pháp mà ngài sanh ra được làm Thiên chủ cao nhất trong Thiên giới, gọi là tầng trời thứ 33, ngài là chủ nên gọi là Thiên giới vô thượng
“Thù thắng hơn chư Thiên,
Akanittha danh xưng,
Sống đời sống cuối cùng,
Như vậy nơi an trú.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ sáu, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thù thắng hơn chư Thiên là bậc Thánh đệ tử Thiên, không phải là phàm phu Thiên. Chư Thiên có hai dạng, thứ nhất là phàm phu Thiên hưởng phước, hưởng dục lạc, thứ hai là Thánh đệ tử Thiên là những vị đã đi từ Sơ quả Tu-đà-hoàn trở lên nên sẽ thù thắng hơn chư Thiên, đây là đời sống cuối cùng. Trên đây là sáu lợi ích của người tu Chánh Pháp, nghe học Chánh Pháp. Lợi ích thứ nhất là được thành thân chư Thiên và thấy rõ sự tái sanh; thứ hai là khi chết thì tỉnh táo sáng suốt chánh niệm, có thể đi đến bào thai nào họ thích; thứ ba là sống hoan hỉ trong Chánh Pháp, sống bằng chánh trí, giác tỉnh và chánh niệm; thứ tư là chứng được quả Bồ-đề, đây là đời cuối cùng; thứ năm là bỏ thân người để có được thân Thiên chủ; thứ sáu đây là kiếp sống cuối cùng để thành tựu Chánh Giác tối thượng của một bậc Thánh.
“Tâm tư không thỏa mãn,
Nghi ngờ và do dự,
Con sống cầu Như Lai,
Thời gian khá lâu dài!
Con nghĩ các Sa môn,
Sống một mình cô độc,
Là bậc Chánh Ðẳng Giác,
Nghĩ vậy con tìm gặp.
Làm thế nào thành công?
Làm thế nào thất bại?
Ðược hỏi câu hỏi vậy?
Không thể chỉ đường hướng.
Biết con là Sakka,
Bậc Thiên chủ, đã đến!
Họ liền gạn hỏi con,
Ðến đây có việc gì?
Con liền giảng Chánh pháp,
Con cho họ được nghe.
Hoan hỉ, họ bèn nói:
"Vàsava làm họ thấy!"
Khi con được thấy Phật,
Nghi ngờ đều tiêu tan.
Nay con sống vô úy,
Hầu hạ bậc Chánh Giác.
Mũi tên độc tham ái,
Đấng Chánh Giác nhổ lên,
Con đảnh lễ Đại Hùng,
Bậc thân tộc mặt trời.
Tôn giả như Phạm thiên,
Nay con đảnh lễ Ngài,
Nay con kính lễ Ngài!
Ngài là bậc Chánh Giác,
Bậc Đạo Sư vô thượng,
Trong đời kể chư Thiên,
Không ai so sánh Ngài!”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Bài kệ này ngài tường thuật lại sự việc, nói lên lợi ích khi được gặp Đức Thế Tôn, gặp được Phật thì không còn sợ hãi, nghi ngờ đều tiêu tan, nhờ Đức Như Lai mà nhổ được mũi tên độc của tham ái. Chúng ta đang bị trúng mũi tên độc của tham ái, tham muốn và yêu thích, yêu thương, chúng ta đang bị trúng mũi tên cực độc, tất cả chúng ta đang bị trúng tên của sự thèm thuồng, khao khát, ưa thích. Mũi tên này chỉ có bậc Chánh Giác mới có thể nhổ lên và mới có thể chỉ cách cho mình nhổ, tất cả chúng sanh bị trúng mũi tên độc tham ái này mà không hề hay biết, nó âm thầm, ngấm ngầm bên trong cơ thể như bệnh ung thư, đến khi hay biết đã ở giai đoạn cuối. Bậc thành tựu chánh kiến là nhìn thấy được ung nhọt, ung hạch đó và lập tức điều trị.
Tất cả chúng ta phải lo nhổ lên mũi tên độc trong tâm chứ đừng nhìn người khác, vì thế mà Thiên chủ ca ngợi, tán thán Đức Thế Tôn Mũi tên độc tham ái, Đấng Chánh Giác nhổ lên, Con đảnh lễ Đại Hùng, những câu này nên lấy ra làm bài xưng tán Đức Phật trước khi vào tụng kinh, trong toàn cõi chư Thiên và loài người không ai so sánh được với ngài, ngài là Thiên Nhân Sư. Sau đó Thiên chủ Đế-thích rất xúc động, lấy tay chạm vào đất và đọc lên ba lần bài kệ:
“Rồi Thiên chủ Sakka, lấy tay sờ đất, đọc lên ba lần bài kệ cảm hứng như sau:
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Khi lời tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: "Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt." Ngoài ra, tám vạn chư Thiên cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy, cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi Của Sakka (Ðế-thích sở vấn).”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Phàm cái gì được sanh khởi ra thì nhất định sẽ đi đến chỗ hoại diệt. Lúc đó tám mươi ngàn chư Thiên đều thành tựu ngay đó, đều thấy các pháp sanh diệt. Chúng ta thấy được sự đối thoại giữa Pháp chủ và Thiên chủ, đây là hai bậc thượng thủ trong Chánh Pháp và trong cảnh giới cao thượng của chư Thiên, những lời dạy này thật hy hữu, thù thắng để chúng ta tu học.
II. Câu chuyện tiền thân Thiên Chủ
Để biết thêm về lý do tại sao có vị vua Trời thì trong Tương Ưng Bộ, tập I, bài kinh Chư Thiên có ghi lại, điều này không phải tự nhiên Đức Phật giảng mà có người hỏi, vị này tên là Mahàli.
“Một thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm tại Trùng Các giảng đường.
Rồi Mahàli, người Licchavi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Mahàli, người Licchavi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thấy Thiên chủ Sakka không?
-- Này Mahàli, Ta có thấy Thiên chủ Sakka.
-- Này Mahàli, Ta biết Sakka và các pháp tác thành Sakka. Chính do chấp trì các pháp ấy, Sakka được địa vị Sakka. Và Ta biết các pháp ấy.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Giảng đường Trùng Các nghĩa là giảng đường có thêm tầng lầu. Thông thường ở Ấn Độ thì đạo Bà-la-môn rất quan trọng vị Thiên chủ, giống như mình gọi là chúa trời hoặc là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thế Tôn biết các pháp tác thành một vị Thiên chủ cho nên mới gọi ngài là bậc Thế Gian Giải, tất cả mọi thứ trong đời ngài đều thấy đều biết. Sau đó Đức Phật nói lại những đời sống quá khứ của vua Trời:
“ Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy là một thanh niên Bà la môn tên là Magha, do vậy được gọi là Maghavà.
Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí từ thành này qua thành khác, do vậy được gọi là Purtindado.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Mình dùng từ Tiếng Việt cho dễ hiểu nên sẽ gọi là ngài Đế-thích, khi ngài còn là một thanh niên và ngài thường bố thí từ nơi này đến nơi khác, đi đến đâu là bố thí đến đó.
“Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí một cách trọn vẹn, do vậy được gọi là Sakka.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Chúng ta phải nhớ chữ "trọn vẹn", tức là Ba-la-mật, nghĩa là bố thí không chừa lại. Ví dụ mình có 50 đồng nhưng thấy người nọ quá khổ, mình cho 20 đồng và giữ lại 30 đồng thì cái đó gọi là bố thí không trọn vẹn, còn bố thí Ba-la-mật là không nghĩ đến mình, bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng tất cả tấm lòng nghĩ đến sự an lạc cho người đang khổ, dốc hết tấm lòng cho hết gọi là bố thí trọn vẹn.
“Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được gọi là Vàsavo.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Trú xứ là chỗ ăn ở, ngài thường bố thí chỗ ăn ở cho người ta. Ở đây Đức Phật nói vắn tắt nhưng mình phải hiểu trong này là cả một đức hạnh bố thí Ba-la-mật, bố thí trọn vẹn. Mình sanh ra thiếu thốn, bần cùng, thấp kém vì mình không tu hạnh bố thí, chỉ biết nghĩ tới mình mà không quan tâm giúp đỡ một ai. Đồ ăn dư để hư chứ không cho ai, tiền có nhiều khi bỏ quên chỗ này chỗ kia trong khi người ta kế bên đói khát mà mình không giúp, vì thế làm sao mình giàu có được?
Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét;
Lụa là chất đống, nào có giúp ai.
Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều;
Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Được mấy trăm mà mình tưởng là ít lắm nhưng chỉ vừa mất một đồng mà mình nghĩ là hao lớn lắm rồi. Chúng ta thấy rằng hạnh đầu tiên của vua Trời là bố thí cúng dường trọn vẹn, bằng tình thương, bằng từ tâm nghĩ đến người khác, thương xót đến người khác. Đức Phật đã nói bố thí trú xứ là cho tất cả vì chỗ ở rất quan trọng, chỗ ở là tất cả vì thế trong mùa dịch có những chủ nhà trọ giảm tiền thuê nhà 50%, điều này rất có phước. Cho nên bố thí trú xứ có phước rất lớn nhưng khi bố thí cần phải có trí tuệ xem người ta có đàng hoàng không, nếu không lại mang họa vào thân.
N”ày Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy có thể trong một thời gian rất ngắn, suy nghĩ đến ngàn sự việc, do vậy được gọi là Sahassa akkha (một ngàn con mắt).
Này Mahàli, Sakka trở thành người chồng của một thiếu nữ A-tu-la là Sujà, do vậy được gọi là Sujampati.
Này Mahàli, Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do vậy được gọi là Thiên chủ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Trong một thời gian rất ngắn có thể suy nghĩ cả ngàn sự việc, điều này cho thấy không phải dễ để làm được Thiên chủ thống lãnh trị vì tam thập tam thiên.
“Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc, Sakka được địa vị Sakka.
Thế nào là bảy cấm giới túc?
Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ.
Cho đến trọn đời, tôi kính trọng bậc gia trưởng.
Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa.
Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi.
Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỉ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí.
Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật.
Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ; nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Điều này cho chúng ta thấy không phải dễ để trở thành người thống lãnh cả 33 thành trì trên tam thập tam thiên, cả một cuộc đời phải tôn kính bậc trưởng thượng, tu học tâm kính trọng, hiếu dưỡng. Cái miệng có hai điều cần lưu ý là trọn đời cần nói lời nhu hòa và không nói hai lưỡi, phải nói lời nhu hòa, từ ái, không đâm bị thóc thọc bị bạo, không nói để mọi người chia lìa, bất hòa. Trọn đời phải rời tâm cấu uế và xan tham, cho nên tâm xan tham làm cho mình rất nghèo khổ, không những không bố thí cúng dường chia sẻ mà thấy đồ đẹp là lấy làm của riêng, tâm tham lam, bủn xỉn, trộm cấp rất khổ sở.
Có những người đi bố thí rất hạnh phúc, hoan hỉ, "bàn tay sạch sẽ" nghĩa là làm gì đều minh bạch tiền bạc chứ không phải làm việc xấu rồi lấy tiền đó đi bố thí. Hoan hỉ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, đi từ thiện xa xôi cho 5-10 triệu thì được nhưng người kế bên xin giúp đỡ lại không cho, nhiều khi lại là người trong gia đình khó khăn lại không giúp, người ta cần, người ta thiếu, người ta đói nên mình cần nhiệt tình giúp đỡ.
Có nhiều việc thấy rất xót xa, đồ đạc bỏ một góc không ngó ngàng tới nhưng người ta đến xin lại không cho "tôi chuẩn bị làm việc rồi, không cho", chẳng thà để hư chứ nhất quyết không cho, điều này làm cho mình bị nghèo hèn, ngay trong hiện tại không đầy đủ và kiếp sau mình sanh ra bị đói thiếu cho nên cần nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí, cho một cách sung sướng, hoan hỉ, thí xả thì tương lai người đó không ở cõi người, nếu còn ở cõi người cũng là người đứng đầu có thể làm giám đốc hoặc tướng lĩnh, vì thế những người đứng đầu không phải tự nhiên họ được như vậy mà do phước đức, tâm họ quảng đại còn tâm mình nhỏ hẹp nên sanh ra ở đâu cũng xấu xí, nghèo hèn, bệnh tật, ốm o gầy mòn, vì thế việc tu phước rất quan trọng để hỗ trợ cho đời sống để mình hành đạo.
Trong bảy điều đã có hết ba điều liên quan đến miệng, nói lời nhu hòa, không nói hai lưỡi và nói lời chân thật. Phẫn nộ là giận dữ, tức giận, người nào thường phẫn nộ thì không thể làm Thiên chủ mà chỉ có thể làm tù binh vì thế cần tập tâm hiền từ, lắng dịu, từ bi. Các vị cư sĩ cần học thuộc những điều này, con đường chư Thiên mình làm chưa được thì làm sao đi đến con đường của bậc Thánh? Mình cần đi từ thấp lên cao.
Cần hiếu dưỡng cha mẹ, kính trọng bậc tôn trưởng, lời nói cần nhu hòa, chân thật và không nói hai lưỡi, tâm cần dẹp bỏ cấu uế xan tham, vui thích trong sự chia sẻ, bố thí và cuối cùng là dẹp bỏ phẫn nộ, trên đây là bảy cấm giới túc để trở thành vua của 33 thành trì, phải thực hành nhiều đời như vậy mới thành tựu. Cái tâm cần rộng lượng, bao dung, còn tâm nhỏ hẹp sẽ làm khổ mình khổ người, cả gia đình đều khổ nên cần tu tập, sửa đổi cái tâm, nếu không đời này khổ và đời sau cũng sẽ tiếp tục khổ.
Đã xuất gia đi tu rồi thì còn gì là của mình nữa mà người ta xin lại không cho, đi tu là bỏ hết mọi thứ rồi nên người ta xin cái gì mà mình có khả năng cho được là mình cho, đừng sợ gì hết. Con cúng dường cho người ta thì sẽ có người khác cúng dường lại cho mình, mình cúng và không nghĩ sẽ được lợi lộc gì cả nhưng lại được để mình làm việc thiện tiếp tục, cũng như mình bố thí mà nghĩ hết tiền thì làm sẽ làm không được, còn mình cứ bố thí thì tự động có tiền của để mình cúng dường cho nên khi bố thí đừng sợ nghèo, đừng sợ hết tiền.
Còn đối với người xuất gia không có gì là của mình nữa nên người ta xin gì trong khả năng cho được thì cứ cho, cho đi rồi sẽ nhận lại, thậm chí còn nhận nhiều hơn những gì mình cho đi. Đừng bao giờ nghĩ rằng cho đi cái áo rồi lấy gì mặc, lấy tiền đâu dùng mà phải tập thí xả và nhiệt tình trong việc thí xả. Bản thân con từ lúc còn ở gia đình cho đến giờ không bao giờ con nghĩ đến vấn đề tiền bạc và con rất ưa thích việc bố thí, không bao giờ con nghĩ đến việc kiếm tiền mà con vui thích thí xả, bố thí, thậm chí đến giờ chuyện tiền bạc con cũng giao hết cho người ta vì mình là người xuất gia nhưng ngờ vậy mà Cổng Trời được rộng mở, màu nhiệm như vậy nên mình phải tin lời Đức Phật. Khi lên núi con chỉ mong có am tranh tu học chứ không hề nghĩ đến việc xây dựng chùa chiền, vậy mà tâm mình rộng mở thì bây giờ nơi này trở thành rừng thiền, Cổng Trời vì thế mình phải tin vào Đức Phật và cần học hạnh bố thí của ngài Thiên chủ, cho nên có gì phải chia sẻ với mọi người.
“Này Mahali, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính trọng bậc gia trưởng,
Nói những lời nhu hòa,
Từ bỏ lời hai lưỡi,
Chế ngự lòng xan tham,
Là con người chân thực,
Nhiếp phục được phẫn nộ,
Với con người như vậy,
Chư Thiên tam thập tam,
Gọi là bậc Chơn nhơn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Bài kệ này là tóm thâu nội dung cả bài kinh, gọi là trùng tụng. Nhờ dịp này chúng ta sẽ học luôn những bài liên hệ đến chư Thiên để tu tập, bài kinh Bốn Bậc Đại Vương, Tăng Chi Bộ, Tập I:
“- Này các Tỳ-kheo, trong ngày thứ tám của nửa tháng, các vị Ðại thần cố vấn cho bốn Ðại vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, có hiếu với cha, có kính Sa-môn, Bà-là-môn, có tôn trọng các vị gia trưởng, có làm lễ Uposatha (Bố-tát), có đề cao cảnh giác, có làm các công đức.”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Ðại Vương)
Ngày thứ tám của nửa tháng tức là ngày mùng 8 và 23. Hai ngày này là ngày các vị đại thần cố vấn cho bốn Đại vương tức là Tứ Đại Thiên Vương sẽ đi du hành để xem loài ngoài có hiếu hạnh với cha mẹ không, có kính trọng người tu hành không, có tôn trọng các vị gia trưởng không, có làm lễ Bố-tát tụng giới không, có đề cao cảnh giác và có làm các công đức không. Cho nên những ngày này thường dùng để làm ngày Thọ bát quan trai.
“Này các Tỳ-kheo, trong ngày 14 của nửa tháng, các Hoàng tử của bốn Thiên vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức.”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Ðại Vương)
Trong kinh dùng từ Hoàng tử cũng giống dưới thế gian gọi là Thái tử, các vị Hoàng tử, tức là Thiên tử của Tứ Đại Thiên Vương vào ngày 14 của nửa tháng cũng đi du hành giống vậy, cho nên ngày này cũng dùng làm ngày Thọ bát quan trai.
“Này các Tỳ-kheo, trong ngày rằm lễ Uposatha, bốn vị Thiên vương tự mình đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức”.
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Đại Vương)
Vào ngày rằm thì bốn vị Thiên vương tự mình đi du hành, hôm nay chúng ta đang ngồi đây là bốn vị Thiên vương đang du hành, các ngài đang thấy chúng ta ngồi học và đang nói chuyện về các ngài cho nên mọi người đừng nghĩ chỉ có vài người ngồi đây thôi. Những vị cư sĩ ở luôn trong chùa hoặc không ở trong chùa phải nhớ những ngày trai giới vào mùng 8-14-15-23 và ngày cuối tháng. Trong ngày 14 của nửa tháng tức là ngày 14 hoặc ngày 28, 29 vì có tháng đủ, tháng thiếu, nghĩa là có các ngày 8-23-14-15 và những ngày cuối tháng 28 hoặc 29, đó là những ngày mà các vị đại thần cố vấn của Tứ Đại Thiên Vương, Hoàng tử của bốn vị Thiên Vương và chính bốn vị Thiên vương đi du hành.
“Nếu chỉ có ít người giữa loài người, này các Tỳ-kheo, có hiếu với mẹ, ... là các công đức, thời này các Tỳ-kheo, bốn vị Ðại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammà:
- "Thưa chư vị, có ít người giữa loài người có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức".
Rồi này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba không hoan hỉ nói:
- "Thật vậy, Thiên chúng sẽ bị tổn giảm và Asura chúng (A-tu-la) sẽ được sung mãn."”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Đại Vương)
Trong bài kinh Đế-thích sở vấn có nói khi bậc Chánh Đẳng Giác ra đời thì chư Thiên chúng sẽ được tăng trưởng và A-tu-la chúng sẽ bị tổn giảm. Khi Đức Phật nói pháp thì nhiều người biết pháp, thực hành pháp cho nên thiện pháp được tăng trưởng thì Thiên chúng được tăng trưởng, chư Thiên nhiều lên và A-tu-la giảm. A-tu-la kém phước hơn chư Thiên nhưng tâm sân hận rất nhiều cho nên A-tu-la đánh nhau liên tục, chiến tranh diễn ra liên miên nhưng phước hơn loài người nên có thần thông.
“Nhưng này các Tỳ-kheo, nếu có nhiều người giữa loài người, có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức, thời này các Tỳ-kheo, bốn vị Ðại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammà:
- "Thưa chư Vị, có nhiều người giữa loài người, có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức".
Rồi này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba hoan hỉ nói:
- "Thật vậy, Thiên chúng sẽ được sung mãn, còn các Asura chúng sẽ bị tổn giảm. "”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Đại Vương)
Vì thế các ngài đi tuần là có sự liên hệ đến các ngài, vì ở dưới trần gian làm nhiều việc thiện, hiếu thảo cha mẹ, bố thí cúng dường nhiều, kính trọng bậc trưởng lão, cảnh giác với các tội lỗi, ác bất thiện pháp thì các ngài vui vì dân chúng chư Thiên được đông lên. Ví dụ có 10 người lên Linh Quy ở chung rất hiền lành, trang nghiêm thì ai cũng vui, chư Thiên cũng vậy, có thêm Thiên chúng thì các ngài hoan hỉ, còn giờ có người quải đãi hạ sơn thì ai cũng buồn, chư Thiên cũng giống vậy, ít người biết tu, ít người cúng dường làm việc thiện thì Thiên chúng bị giảm thiểu nên các ngài không vui. Các vị cư sĩ tại gia phải nhớ những ngài trai giới để khi đến ngày giữ được bát quan trai giới, tu tập phước báo sẽ rất tuyệt diệu.
./.
Kinh Đế Thích Sở Vấn - Trường Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiên Chủ kể về những lợi ích PAGEREF _Toc114057230 \h 1
II. Câu chuyện tiền thân Thiên Chủ PAGEREF _Toc114057231 \h 10
I. Thiên Chủ kể về những lợi ích
Chúng ta đã học đến đoạn Đức Phật nói Thiên chủ trước kia không có sự thoải mái, hỷ lạc như bây giờ, bây giờ được thoải mái, vui vẻ, an lạc. Đức Thế Tôn hỏi trước kia ngài không được an lạc, thoải mái như thế nào thì Thiên chủ đáp:
“- Bạch Thế Tôn, thuở xưa, một trận chiến tranh xảy ra giữa chư Thiên và các vị Asurà. Bạch Thế Tôn, trong trận chiến tranh này, chư Thiên thắng trận, các loài Asurà bại trận. Bạch Thế Tôn sau khi thắng trận, con là người thắng trận, con suy nghĩ: "Nay cam lồ của chư Thiên và cam lồ của Asurà, cả hai loại cam lồ, chư Thiên sẽ được nếm." Bạch Thế Tôn, thoải mái ấy, hỷ lạc ấy do gậy trượng đem lại, do đao kiếm đem lại, không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Bạch Thế Tôn, thoải mái này, hỷ lạc này nhờ nghe Chánh pháp Thế Tôn đem lại, không do gậy trượng, không do đao kiếm, sẽ đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Sự thoải mái, an lạc, vui sướng trước kia là do gậy gộc, gươm đao, do đánh nhau, chiến đấu, tranh giành với nhau mà có được niềm vui, thoải mái. Niềm vui đó không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn, sự vui mừng của chiến thắng đó không đưa đến nhàm chán xa lìa, không đưa đến sự chấm dứt ham muốn, không đưa đến nội tâm vắng lặng, an ổn, thanh tịnh, niềm vui đó không đưa đến trí tuệ thù thắng, phát giác ra những nguyên nhân đau khổ trong tâm, niềm vui của sự cạnh tranh, chiến tranh đó không đưa đến sự giác ngộ, không đưa đến sự thấu hiểu chính thân tâm, không đưa đến dập tắt ngọn lửa tham dục, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã cho nên niềm vui lúc trước khác với niềm vui bây giờ.
Con đọc những dòng này mà rưng rưng nước mắt, trước khi giảng bài có cô Phật tử trưởng đạo tràng Nikāya ngoài Hà Nội gọi vào khóc nức nở vì hạnh phúc, hiện tại cô cũng đang học cùng chúng ta, dòng cảm thọ dâng trào nói không nên lời và chính con đang đọc từng chữ này nước mắt cũng chảy ra. Chư Thiên đang so sánh hai niềm vui, một niềm vui của sự giành giật, hơn thua, tranh đấu, cãi nhau mà giành phần thắng thì cái vui đó so với cái vui của việc hiểu pháp, nội tâm an tịnh, thấy pháp khác xa nhau một trời một vực.
Vì vô minh, si mê, bản ngã nên cứ đi tìm những cái vui trong cái hơn thua, thương ghét, đúng sai, thị phi, phải quấy… cho nên ngài Thiên chủ mới nói rất khác nhau, thầy Pháp An khi còn ở dưới quê bệnh tật, xung quanh là con cháu, bà con láng giềng nhưng chưa bao giờ được hỷ lạc, chưa bao giờ nếm được hạnh phúc lìa xa những hệ lụy, phiền lụy, trói cột, cũng như các thầy các cô, các vị tập sự xuất gia trước đây chưa nếm được hương vị của pháp, của sự thật thì chưa biết đến sự thoải mái, bình an, thảnh thơi thoát tục ly trần này.
“Bạch Thế Tôn, thoải mái này, hỷ lạc này nhờ nghe Chánh pháp Thế Tôn đem lại, không do gậy trượng, không do đao kiếm, sẽ đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Niềm vui này có được nhờ nghe Chánh Pháp của Thế Tôn đem lại, cho nên tại sao ngày nào chúng ta cũng phải nghe pháp, đó là pháp hỷ, pháp lạc. Nhờ nghe pháp của Thế Tôn mà nhàm chán sân si, tranh đấu, hơn thua ở đời, nhàm chán những cái thị phi, nhân ngã cao thấp ở đời, nhàm chán những vở tuồng của cái tôi dựng lên, xa lìa những vở tuồng của ngũ uẩn, của tham vọng, ác tham.
Từ bỏ những sự thúc đẩy bên trong đưa mình đến ràng buộc, tìm cầu, truy tìm, ngao ngán, ê chề, chán chê cái tâm u mê, si ám để đưa đến nội tâm lắng dịu, an tịnh, trí tuệ, vi diệu thù thắng. Phát giác những cấu nhiễm bên trong rồi tẩy sạch và đi đến chỗ chấm dứt, dập tắt hoàn toàn ngọn lửa tham muốn, nóng giận, vô minh. Đó là Thiên chủ trình bày với Pháp chủ, đó là lợi ích của nghe pháp, niềm vui, hạnh phúc trong pháp.
“ - Này Thiên chủ, khi Ngươi cảm thọ sự thoải mái và hỷ lạc như vậy, Ngươi cảm thấy những lợi ích gì?
- Bạch Thế Tôn, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy, con cảm thấy có sáu lợi ích như sau:
Nay con đứng tại đây,
Với thân một vị Thiên.
Con thấy được tái sanh,
Bạch Ngài, hãy biết vậy.
Bạch Thế Tôn đó là điều lợi thứ nhất con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ngài được lợi ích có được thân tướng của một vị Thiên chủ, thấy rõ được những đời trước. Sở dĩ mang được cái thân của vua Trời, sở dĩ nhìn thấy được những kiếp quá khứ là nhờ công năng nghe Chánh Pháp của Đức Phật.
“Sau khi chết con bỏ,
Thân chư Thiên, phi nhân,
Không muội lược, con đi,
Ðến bào thai con thích.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ hai, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Lợi ích thứ hai là sắp mạng chung thì cái tâm không bị mờ tối mà tâm sẽ chánh niệm và tỉnh giác đi đến bào thai nào ngài thích. Vì ngài đã chứng quả Dự Lưu thì chậm nhất là bảy lần sống chết nữa thôi, nhờ nghe Chánh Pháp mà lúc sắp sửa ra đi có chánh niệm tỉnh giác cho nên ngài chọn lựa được bào thai, ngài muốn vào cõi nào là do ngài chọn. Đó là lợi ích thứ hai của sự hiểu pháp, thực hành pháp.
“Câu hỏi được đáp rõ,
Hoan hỉ trong Chánh giáo.
Con sống với Chánh trí,
Giác tỉnh và Chánh niệm.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi thứ ba, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Khi ngài hỏi những người khác thì họ lại quỳ lạy trở thành đệ tử, còn khi ngài hỏi thì Thế Tôn trả lời rất rõ ràng và ngài hoan hỉ trong Chánh Pháp, do hoan hỉ, vui mừng nên ngài sống trong chánh trí, giác tỉnh và chánh niệm. Đó là lợi ích thứ ba, tức là trong đời sống ngài sống với chánh trí, giác tỉnh và chánh niệm.
“Con sống với Chánh trí,
Sẽ được quả Bồ đề,
Sống làm vị Chánh giác,
Ðời này đời cuối cùng.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ tư, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Điều này cho chúng ta thấy chỉ trong một kiếp này thôi ngài sẽ lậu tận, trở thành vị A-la-hán. Do sống với chánh trí nên được quả Bồ-đề, tức là quả giác ngộ tối thượng, những vị thành tựu chánh kiến và đang tiếp tục đi trên con đường đó thì những vị đó sẽ có sự giác ngộ chân chánh, đời này là đời cuối cùng.
“Chết từ thân con Người,
Con từ bỏ thân Người,
Con sẽ thành chư Thiên,
Trong Thiên giới vô thượng.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ năm, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái, và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đời trước ngài là một con người nhưng nhờ nghe pháp mà ngài sanh ra được làm Thiên chủ cao nhất trong Thiên giới, gọi là tầng trời thứ 33, ngài là chủ nên gọi là Thiên giới vô thượng
“Thù thắng hơn chư Thiên,
Akanittha danh xưng,
Sống đời sống cuối cùng,
Như vậy nơi an trú.
Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ sáu, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thù thắng hơn chư Thiên là bậc Thánh đệ tử Thiên, không phải là phàm phu Thiên. Chư Thiên có hai dạng, thứ nhất là phàm phu Thiên hưởng phước, hưởng dục lạc, thứ hai là Thánh đệ tử Thiên là những vị đã đi từ Sơ quả Tu-đà-hoàn trở lên nên sẽ thù thắng hơn chư Thiên, đây là đời sống cuối cùng. Trên đây là sáu lợi ích của người tu Chánh Pháp, nghe học Chánh Pháp. Lợi ích thứ nhất là được thành thân chư Thiên và thấy rõ sự tái sanh; thứ hai là khi chết thì tỉnh táo sáng suốt chánh niệm, có thể đi đến bào thai nào họ thích; thứ ba là sống hoan hỉ trong Chánh Pháp, sống bằng chánh trí, giác tỉnh và chánh niệm; thứ tư là chứng được quả Bồ-đề, đây là đời cuối cùng; thứ năm là bỏ thân người để có được thân Thiên chủ; thứ sáu đây là kiếp sống cuối cùng để thành tựu Chánh Giác tối thượng của một bậc Thánh.
“Tâm tư không thỏa mãn,
Nghi ngờ và do dự,
Con sống cầu Như Lai,
Thời gian khá lâu dài!
Con nghĩ các Sa môn,
Sống một mình cô độc,
Là bậc Chánh Ðẳng Giác,
Nghĩ vậy con tìm gặp.
Làm thế nào thành công?
Làm thế nào thất bại?
Ðược hỏi câu hỏi vậy?
Không thể chỉ đường hướng.
Biết con là Sakka,
Bậc Thiên chủ, đã đến!
Họ liền gạn hỏi con,
Ðến đây có việc gì?
Con liền giảng Chánh pháp,
Con cho họ được nghe.
Hoan hỉ, họ bèn nói:
"Vàsava làm họ thấy!"
Khi con được thấy Phật,
Nghi ngờ đều tiêu tan.
Nay con sống vô úy,
Hầu hạ bậc Chánh Giác.
Mũi tên độc tham ái,
Đấng Chánh Giác nhổ lên,
Con đảnh lễ Đại Hùng,
Bậc thân tộc mặt trời.
Tôn giả như Phạm thiên,
Nay con đảnh lễ Ngài,
Nay con kính lễ Ngài!
Ngài là bậc Chánh Giác,
Bậc Đạo Sư vô thượng,
Trong đời kể chư Thiên,
Không ai so sánh Ngài!”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Bài kệ này ngài tường thuật lại sự việc, nói lên lợi ích khi được gặp Đức Thế Tôn, gặp được Phật thì không còn sợ hãi, nghi ngờ đều tiêu tan, nhờ Đức Như Lai mà nhổ được mũi tên độc của tham ái. Chúng ta đang bị trúng mũi tên độc của tham ái, tham muốn và yêu thích, yêu thương, chúng ta đang bị trúng mũi tên cực độc, tất cả chúng ta đang bị trúng tên của sự thèm thuồng, khao khát, ưa thích. Mũi tên này chỉ có bậc Chánh Giác mới có thể nhổ lên và mới có thể chỉ cách cho mình nhổ, tất cả chúng sanh bị trúng mũi tên độc tham ái này mà không hề hay biết, nó âm thầm, ngấm ngầm bên trong cơ thể như bệnh ung thư, đến khi hay biết đã ở giai đoạn cuối. Bậc thành tựu chánh kiến là nhìn thấy được ung nhọt, ung hạch đó và lập tức điều trị.
Tất cả chúng ta phải lo nhổ lên mũi tên độc trong tâm chứ đừng nhìn người khác, vì thế mà Thiên chủ ca ngợi, tán thán Đức Thế Tôn Mũi tên độc tham ái, Đấng Chánh Giác nhổ lên, Con đảnh lễ Đại Hùng, những câu này nên lấy ra làm bài xưng tán Đức Phật trước khi vào tụng kinh, trong toàn cõi chư Thiên và loài người không ai so sánh được với ngài, ngài là Thiên Nhân Sư. Sau đó Thiên chủ Đế-thích rất xúc động, lấy tay chạm vào đất và đọc lên ba lần bài kệ:
“Rồi Thiên chủ Sakka, lấy tay sờ đất, đọc lên ba lần bài kệ cảm hứng như sau:
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Khi lời tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: "Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt." Ngoài ra, tám vạn chư Thiên cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy, cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi Của Sakka (Ðế-thích sở vấn).”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Phàm cái gì được sanh khởi ra thì nhất định sẽ đi đến chỗ hoại diệt. Lúc đó tám mươi ngàn chư Thiên đều thành tựu ngay đó, đều thấy các pháp sanh diệt. Chúng ta thấy được sự đối thoại giữa Pháp chủ và Thiên chủ, đây là hai bậc thượng thủ trong Chánh Pháp và trong cảnh giới cao thượng của chư Thiên, những lời dạy này thật hy hữu, thù thắng để chúng ta tu học.
II. Câu chuyện tiền thân Thiên Chủ
Để biết thêm về lý do tại sao có vị vua Trời thì trong Tương Ưng Bộ, tập I, bài kinh Chư Thiên có ghi lại, điều này không phải tự nhiên Đức Phật giảng mà có người hỏi, vị này tên là Mahàli.
“Một thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm tại Trùng Các giảng đường.
Rồi Mahàli, người Licchavi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Mahàli, người Licchavi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thấy Thiên chủ Sakka không?
-- Này Mahàli, Ta có thấy Thiên chủ Sakka.
-- Này Mahàli, Ta biết Sakka và các pháp tác thành Sakka. Chính do chấp trì các pháp ấy, Sakka được địa vị Sakka. Và Ta biết các pháp ấy.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Giảng đường Trùng Các nghĩa là giảng đường có thêm tầng lầu. Thông thường ở Ấn Độ thì đạo Bà-la-môn rất quan trọng vị Thiên chủ, giống như mình gọi là chúa trời hoặc là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thế Tôn biết các pháp tác thành một vị Thiên chủ cho nên mới gọi ngài là bậc Thế Gian Giải, tất cả mọi thứ trong đời ngài đều thấy đều biết. Sau đó Đức Phật nói lại những đời sống quá khứ của vua Trời:
“ Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy là một thanh niên Bà la môn tên là Magha, do vậy được gọi là Maghavà.
Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí từ thành này qua thành khác, do vậy được gọi là Purtindado.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Mình dùng từ Tiếng Việt cho dễ hiểu nên sẽ gọi là ngài Đế-thích, khi ngài còn là một thanh niên và ngài thường bố thí từ nơi này đến nơi khác, đi đến đâu là bố thí đến đó.
“Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí một cách trọn vẹn, do vậy được gọi là Sakka.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Chúng ta phải nhớ chữ "trọn vẹn", tức là Ba-la-mật, nghĩa là bố thí không chừa lại. Ví dụ mình có 50 đồng nhưng thấy người nọ quá khổ, mình cho 20 đồng và giữ lại 30 đồng thì cái đó gọi là bố thí không trọn vẹn, còn bố thí Ba-la-mật là không nghĩ đến mình, bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng tất cả tấm lòng nghĩ đến sự an lạc cho người đang khổ, dốc hết tấm lòng cho hết gọi là bố thí trọn vẹn.
“Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được gọi là Vàsavo.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Trú xứ là chỗ ăn ở, ngài thường bố thí chỗ ăn ở cho người ta. Ở đây Đức Phật nói vắn tắt nhưng mình phải hiểu trong này là cả một đức hạnh bố thí Ba-la-mật, bố thí trọn vẹn. Mình sanh ra thiếu thốn, bần cùng, thấp kém vì mình không tu hạnh bố thí, chỉ biết nghĩ tới mình mà không quan tâm giúp đỡ một ai. Đồ ăn dư để hư chứ không cho ai, tiền có nhiều khi bỏ quên chỗ này chỗ kia trong khi người ta kế bên đói khát mà mình không giúp, vì thế làm sao mình giàu có được?
Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét;
Lụa là chất đống, nào có giúp ai.
Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều;
Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Được mấy trăm mà mình tưởng là ít lắm nhưng chỉ vừa mất một đồng mà mình nghĩ là hao lớn lắm rồi. Chúng ta thấy rằng hạnh đầu tiên của vua Trời là bố thí cúng dường trọn vẹn, bằng tình thương, bằng từ tâm nghĩ đến người khác, thương xót đến người khác. Đức Phật đã nói bố thí trú xứ là cho tất cả vì chỗ ở rất quan trọng, chỗ ở là tất cả vì thế trong mùa dịch có những chủ nhà trọ giảm tiền thuê nhà 50%, điều này rất có phước. Cho nên bố thí trú xứ có phước rất lớn nhưng khi bố thí cần phải có trí tuệ xem người ta có đàng hoàng không, nếu không lại mang họa vào thân.
N”ày Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy có thể trong một thời gian rất ngắn, suy nghĩ đến ngàn sự việc, do vậy được gọi là Sahassa akkha (một ngàn con mắt).
Này Mahàli, Sakka trở thành người chồng của một thiếu nữ A-tu-la là Sujà, do vậy được gọi là Sujampati.
Này Mahàli, Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do vậy được gọi là Thiên chủ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Trong một thời gian rất ngắn có thể suy nghĩ cả ngàn sự việc, điều này cho thấy không phải dễ để làm được Thiên chủ thống lãnh trị vì tam thập tam thiên.
“Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc, Sakka được địa vị Sakka.
Thế nào là bảy cấm giới túc?
Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ.
Cho đến trọn đời, tôi kính trọng bậc gia trưởng.
Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa.
Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi.
Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỉ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí.
Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật.
Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ; nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Điều này cho chúng ta thấy không phải dễ để trở thành người thống lãnh cả 33 thành trì trên tam thập tam thiên, cả một cuộc đời phải tôn kính bậc trưởng thượng, tu học tâm kính trọng, hiếu dưỡng. Cái miệng có hai điều cần lưu ý là trọn đời cần nói lời nhu hòa và không nói hai lưỡi, phải nói lời nhu hòa, từ ái, không đâm bị thóc thọc bị bạo, không nói để mọi người chia lìa, bất hòa. Trọn đời phải rời tâm cấu uế và xan tham, cho nên tâm xan tham làm cho mình rất nghèo khổ, không những không bố thí cúng dường chia sẻ mà thấy đồ đẹp là lấy làm của riêng, tâm tham lam, bủn xỉn, trộm cấp rất khổ sở.
Có những người đi bố thí rất hạnh phúc, hoan hỉ, "bàn tay sạch sẽ" nghĩa là làm gì đều minh bạch tiền bạc chứ không phải làm việc xấu rồi lấy tiền đó đi bố thí. Hoan hỉ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, đi từ thiện xa xôi cho 5-10 triệu thì được nhưng người kế bên xin giúp đỡ lại không cho, nhiều khi lại là người trong gia đình khó khăn lại không giúp, người ta cần, người ta thiếu, người ta đói nên mình cần nhiệt tình giúp đỡ.
Có nhiều việc thấy rất xót xa, đồ đạc bỏ một góc không ngó ngàng tới nhưng người ta đến xin lại không cho "tôi chuẩn bị làm việc rồi, không cho", chẳng thà để hư chứ nhất quyết không cho, điều này làm cho mình bị nghèo hèn, ngay trong hiện tại không đầy đủ và kiếp sau mình sanh ra bị đói thiếu cho nên cần nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí, cho một cách sung sướng, hoan hỉ, thí xả thì tương lai người đó không ở cõi người, nếu còn ở cõi người cũng là người đứng đầu có thể làm giám đốc hoặc tướng lĩnh, vì thế những người đứng đầu không phải tự nhiên họ được như vậy mà do phước đức, tâm họ quảng đại còn tâm mình nhỏ hẹp nên sanh ra ở đâu cũng xấu xí, nghèo hèn, bệnh tật, ốm o gầy mòn, vì thế việc tu phước rất quan trọng để hỗ trợ cho đời sống để mình hành đạo.
Trong bảy điều đã có hết ba điều liên quan đến miệng, nói lời nhu hòa, không nói hai lưỡi và nói lời chân thật. Phẫn nộ là giận dữ, tức giận, người nào thường phẫn nộ thì không thể làm Thiên chủ mà chỉ có thể làm tù binh vì thế cần tập tâm hiền từ, lắng dịu, từ bi. Các vị cư sĩ cần học thuộc những điều này, con đường chư Thiên mình làm chưa được thì làm sao đi đến con đường của bậc Thánh? Mình cần đi từ thấp lên cao.
Cần hiếu dưỡng cha mẹ, kính trọng bậc tôn trưởng, lời nói cần nhu hòa, chân thật và không nói hai lưỡi, tâm cần dẹp bỏ cấu uế xan tham, vui thích trong sự chia sẻ, bố thí và cuối cùng là dẹp bỏ phẫn nộ, trên đây là bảy cấm giới túc để trở thành vua của 33 thành trì, phải thực hành nhiều đời như vậy mới thành tựu. Cái tâm cần rộng lượng, bao dung, còn tâm nhỏ hẹp sẽ làm khổ mình khổ người, cả gia đình đều khổ nên cần tu tập, sửa đổi cái tâm, nếu không đời này khổ và đời sau cũng sẽ tiếp tục khổ.
Đã xuất gia đi tu rồi thì còn gì là của mình nữa mà người ta xin lại không cho, đi tu là bỏ hết mọi thứ rồi nên người ta xin cái gì mà mình có khả năng cho được là mình cho, đừng sợ gì hết. Con cúng dường cho người ta thì sẽ có người khác cúng dường lại cho mình, mình cúng và không nghĩ sẽ được lợi lộc gì cả nhưng lại được để mình làm việc thiện tiếp tục, cũng như mình bố thí mà nghĩ hết tiền thì làm sẽ làm không được, còn mình cứ bố thí thì tự động có tiền của để mình cúng dường cho nên khi bố thí đừng sợ nghèo, đừng sợ hết tiền.
Còn đối với người xuất gia không có gì là của mình nữa nên người ta xin gì trong khả năng cho được thì cứ cho, cho đi rồi sẽ nhận lại, thậm chí còn nhận nhiều hơn những gì mình cho đi. Đừng bao giờ nghĩ rằng cho đi cái áo rồi lấy gì mặc, lấy tiền đâu dùng mà phải tập thí xả và nhiệt tình trong việc thí xả. Bản thân con từ lúc còn ở gia đình cho đến giờ không bao giờ con nghĩ đến vấn đề tiền bạc và con rất ưa thích việc bố thí, không bao giờ con nghĩ đến việc kiếm tiền mà con vui thích thí xả, bố thí, thậm chí đến giờ chuyện tiền bạc con cũng giao hết cho người ta vì mình là người xuất gia nhưng ngờ vậy mà Cổng Trời được rộng mở, màu nhiệm như vậy nên mình phải tin lời Đức Phật. Khi lên núi con chỉ mong có am tranh tu học chứ không hề nghĩ đến việc xây dựng chùa chiền, vậy mà tâm mình rộng mở thì bây giờ nơi này trở thành rừng thiền, Cổng Trời vì thế mình phải tin vào Đức Phật và cần học hạnh bố thí của ngài Thiên chủ, cho nên có gì phải chia sẻ với mọi người.
“Này Mahali, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính trọng bậc gia trưởng,
Nói những lời nhu hòa,
Từ bỏ lời hai lưỡi,
Chế ngự lòng xan tham,
Là con người chân thực,
Nhiếp phục được phẫn nộ,
Với con người như vậy,
Chư Thiên tam thập tam,
Gọi là bậc Chơn nhơn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)
Bài kệ này là tóm thâu nội dung cả bài kinh, gọi là trùng tụng. Nhờ dịp này chúng ta sẽ học luôn những bài liên hệ đến chư Thiên để tu tập, bài kinh Bốn Bậc Đại Vương, Tăng Chi Bộ, Tập I:
“- Này các Tỳ-kheo, trong ngày thứ tám của nửa tháng, các vị Ðại thần cố vấn cho bốn Ðại vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, có hiếu với cha, có kính Sa-môn, Bà-là-môn, có tôn trọng các vị gia trưởng, có làm lễ Uposatha (Bố-tát), có đề cao cảnh giác, có làm các công đức.”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Ðại Vương)
Ngày thứ tám của nửa tháng tức là ngày mùng 8 và 23. Hai ngày này là ngày các vị đại thần cố vấn cho bốn Đại vương tức là Tứ Đại Thiên Vương sẽ đi du hành để xem loài ngoài có hiếu hạnh với cha mẹ không, có kính trọng người tu hành không, có tôn trọng các vị gia trưởng không, có làm lễ Bố-tát tụng giới không, có đề cao cảnh giác và có làm các công đức không. Cho nên những ngày này thường dùng để làm ngày Thọ bát quan trai.
“Này các Tỳ-kheo, trong ngày 14 của nửa tháng, các Hoàng tử của bốn Thiên vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức.”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Ðại Vương)
Trong kinh dùng từ Hoàng tử cũng giống dưới thế gian gọi là Thái tử, các vị Hoàng tử, tức là Thiên tử của Tứ Đại Thiên Vương vào ngày 14 của nửa tháng cũng đi du hành giống vậy, cho nên ngày này cũng dùng làm ngày Thọ bát quan trai.
“Này các Tỳ-kheo, trong ngày rằm lễ Uposatha, bốn vị Thiên vương tự mình đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức”.
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Đại Vương)
Vào ngày rằm thì bốn vị Thiên vương tự mình đi du hành, hôm nay chúng ta đang ngồi đây là bốn vị Thiên vương đang du hành, các ngài đang thấy chúng ta ngồi học và đang nói chuyện về các ngài cho nên mọi người đừng nghĩ chỉ có vài người ngồi đây thôi. Những vị cư sĩ ở luôn trong chùa hoặc không ở trong chùa phải nhớ những ngày trai giới vào mùng 8-14-15-23 và ngày cuối tháng. Trong ngày 14 của nửa tháng tức là ngày 14 hoặc ngày 28, 29 vì có tháng đủ, tháng thiếu, nghĩa là có các ngày 8-23-14-15 và những ngày cuối tháng 28 hoặc 29, đó là những ngày mà các vị đại thần cố vấn của Tứ Đại Thiên Vương, Hoàng tử của bốn vị Thiên Vương và chính bốn vị Thiên vương đi du hành.
“Nếu chỉ có ít người giữa loài người, này các Tỳ-kheo, có hiếu với mẹ, ... là các công đức, thời này các Tỳ-kheo, bốn vị Ðại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammà:
- "Thưa chư vị, có ít người giữa loài người có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức".
Rồi này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba không hoan hỉ nói:
- "Thật vậy, Thiên chúng sẽ bị tổn giảm và Asura chúng (A-tu-la) sẽ được sung mãn."”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Đại Vương)
Trong bài kinh Đế-thích sở vấn có nói khi bậc Chánh Đẳng Giác ra đời thì chư Thiên chúng sẽ được tăng trưởng và A-tu-la chúng sẽ bị tổn giảm. Khi Đức Phật nói pháp thì nhiều người biết pháp, thực hành pháp cho nên thiện pháp được tăng trưởng thì Thiên chúng được tăng trưởng, chư Thiên nhiều lên và A-tu-la giảm. A-tu-la kém phước hơn chư Thiên nhưng tâm sân hận rất nhiều cho nên A-tu-la đánh nhau liên tục, chiến tranh diễn ra liên miên nhưng phước hơn loài người nên có thần thông.
“Nhưng này các Tỳ-kheo, nếu có nhiều người giữa loài người, có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức, thời này các Tỳ-kheo, bốn vị Ðại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammà:
- "Thưa chư Vị, có nhiều người giữa loài người, có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức".
Rồi này các Tỳ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba hoan hỉ nói:
- "Thật vậy, Thiên chúng sẽ được sung mãn, còn các Asura chúng sẽ bị tổn giảm. "”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 36.- Bốn Bậc Đại Vương)
Vì thế các ngài đi tuần là có sự liên hệ đến các ngài, vì ở dưới trần gian làm nhiều việc thiện, hiếu thảo cha mẹ, bố thí cúng dường nhiều, kính trọng bậc trưởng lão, cảnh giác với các tội lỗi, ác bất thiện pháp thì các ngài vui vì dân chúng chư Thiên được đông lên. Ví dụ có 10 người lên Linh Quy ở chung rất hiền lành, trang nghiêm thì ai cũng vui, chư Thiên cũng vậy, có thêm Thiên chúng thì các ngài hoan hỉ, còn giờ có người quải đãi hạ sơn thì ai cũng buồn, chư Thiên cũng giống vậy, ít người biết tu, ít người cúng dường làm việc thiện thì Thiên chúng bị giảm thiểu nên các ngài không vui. Các vị cư sĩ tại gia phải nhớ những ngài trai giới để khi đến ngày giữ được bát quan trai giới, tu tập phước báo sẽ rất tuyệt diệu.
./.