Tăng Thượng Giới Học
Tinh Hoa Nikāya
TĂNG THƯỢNG GIỚI HỌC
– Thích Minh Thành –
Thứ nhất là thán phục tăng thượng giới, thứ hai là thán phục tri kiến vi diệu, thứ ba là thán phục tăng thượng trí tuệ, thứ tư là ngài nói về con đường diệt khổ, con đường này bao trùm rất nhiều pháp để cuối cùng đoạn tận các lậu hoặc. Tự Đức Phật nói cho mình thấy tại sao ngài được đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường và sống nương tựa vào ngài, vì đệ tử của ngài thán phục tăng thượng giới, là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng, đây là pháp thứ nhất.
"Ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới: 'Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng'". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Chữ "giới uẩn tối thượng" thật sự rất sâu sắc chứ không đơn giản như mình nghĩ. Ngược lại quá khứ khi ngài còn tu tập thì trong sự tu học này không hài lòng, thỏa mãn, không chấp nhận những sự cấu nhiễm, uế nhiễm, ô nhiễm còn tồn đọng trong người dù cho nó rất nhỏ, rất vi tế, phải luôn có sự khao khát hướng đến đời sống thanh tịnh phạm hạnh và trong nội tâm có một động lực, sức mạnh, thôi thúc làm cho phải tiến lên, hoàn thiện viên mãn cho đến cùng tột, đó là tăng thượng giới học. Mình không thỏa mãn, tự mãn, hài lòng với sự tu học ngay trong hiện tại dù cho mình có đến Thánh quả thứ ba, vì mình còn chấp nhận là mình sẽ bị đứng lại tại chỗ, không thể tiến lên được nữa.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Những điều này là cả một công trình tu học chứ không phải đơn giản, vì tâm con người rất dễ tự mãn, rất dễ hài lòng, cho nên chúng ta phải có cái tâm “không biết đủ với thiện pháp” thì mới đi đến đoạn tận các lậu hoặc, vì vậy, việc tăng thượng giới học là quan trọng vô cùng. Chữ "uẩn" là cả một tổ hợp, cả một sự tập hợp, tất cả những gì từ suy nghĩ, hành động, cảm thọ, tư duy, mọi nhất cử nhất động phải phù hợp, trọn vẹn thanh tịnh viên mãn trong giới, không còn chút nào sai phạm trong giới mới gọi là thành tựu giới uẩn tối thượng. Còn mình hở ra là sai phạm, tức là bước đầu tiên mình đã chưa hoàn toàn trở thành một vị có giới hạnh, nếu mình muốn trở thành một vị có giới hạnh rồi đi đến thành tựu giới hạnh thì phải để tâm ngày đêm, năm tháng, để ý trong từng phút giây để kiểm tra, soi rọi trong từng suy nghĩ cho nên sự tu này là cả một sự nội quán, hướng nội suốt đời suốt kiếp.
Các đệ tử tán thán Thế Tôn là vị có giới hạnh và thành tựu giới hạnh tối thượng, nghĩa là trong nhiều đời nhiều kiếp của Bồ-tát đã luôn để tâm, để ý nhìn ngó, soi xét, thanh lọc, tẩy rửa tất cả những gì cấu nhiễm trong giới, còn mình nhìn như vậy chứ thật chất bên trong lại cấu nhiễm, có những suy nghĩ ác bất thiện pháp nhưng mình cũng không tẩy, có cũng cho qua vì không ai thấy, hoặc làm những việc mờ ám, dù mình biết đó là sai, là trật nhưng vẫn không nỗ lực, nhiệt tình, ưu tư, thao thức, băn khoăn để làm sạch hết những thứ đó nên không được gọi là tăng thượng giới học.
Tăng thượng giới học là cứ nhìn vào nội tâm để quét dọn, lau chùi, rẩy rửa liên tục, làm được sẽ đi đến bậc Thánh, bên ngoài nhìn vào thấy chúng ta cũng lên ngồi thiền, tụng kinh, tu tập thời khóa đều đều nhưng bên trong không có tâm tha thiết khát khao thanh tịnh, không có tâm nỗ lực hướng thượng phát triển đức hạnh trong sạch thánh thiện thì không được gọi là tăng thượng giới học. Việc đánh thức được tâm khao khát, tha thiết đó là cả một vấn đề, đó là đạo lộ của bậc hữu học. Bản thân có lỗi và mình biết mình có lỗi, thậm chí có người nhắc nhở cho nhưng mình vẫn để nguyên không khắc phục, không sửa chữa thì cái đó không gọi là tăng thượng giới học, vì vậy, cần nhìn đức hạnh của Đức Phật để đối chiếu lại bản thân để tu học. Nếu chịu khó nhìn lại bản thân sẽ thấy bên trong biết bao thứ rác bẩn, lậu hoặc nhưng cuối cùng vẫn lơ lửng, trơ trơ sống qua ngày đoạn tháng chứ không kiểm tra, la rầy, quở trách để tiến bộ.
Tăng thượng là thêm lên, giới là trong sạch, thanh cao, thánh thiện, một cái tâm tha thiết, nhiệt tình, nóng bỏng, khao khát để đạt đến đời sống hoàn toàn trong sạch, thanh cao, thánh thiện là tăng thượng giới học và cái tâm này phải luôn luôn hiện hữu, lúc nào cũng có và dùng tâm đó trú trong tăng thượng giới. Người nào sống trong tâm này sẽ luôn khắc khoải, ưu tư, đau khổ, vì thiện pháp mà họ đau khổ, họ ray rứt, sợ hãi đối với ác bất thiện pháp. Người tăng thượng giới học lúc nào cũng trú trong đại tàm quý, lúc nào họ cũng xấu hổ và sợ hãi vì trong tâm cứ sanh khởi ra những ác bất thiện pháp, họ thấy những ác pháp này họ mới xấu hổ, sợ hãi, thao thức, ưu tư để họ chiến đấu chống lại nó, còn bây giờ cứ hướng ngoại nhìn bên ngoài thì làm sao thấy?
Hiện tại bây giờ được bao nhiêu người có tâm này? Chỗ này mới dẫn đến tăng thượng giới học, dẫn đến một vị có giới hạnh, dẫn đến thành tựu giới uẩn của Sa-môn Gotama, phải làm sao để khởi động được tâm đó, cũng giống như cái xe phải nổ máy chạy mới tiến lên trước chứ còn không thể nổ máy thì vẫn đứng tại chỗ, như vậy thiện pháp không thể sanh khởi và ác pháp bao trùm làm mình giậm chân tại chỗ, mười năm sau gặp lại cũng giống như trước không có gì thay đổi.
Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di,
Hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị.
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Dịch nghĩa:Chỗ đi năm trước, tấc bước chẳng dời.
Lơ lửng một đời, lấy chi nương cậy.
Không phát khởi tăng thượng giới học trong bản thân là một sự thất bại, nếu lỡ làm hoặc lỡ nói cái gì có lỗi thì về nhà mình phải thấy ray rứt, thao thức, trạo hối, nghĩa là người này thấy hối hận về sự kiện đã xảy ra, "tại sao mình lại làm như vậy?", người này xấu hổ, sám hối tha thiết chân thành và lần sau nhất quyết không tái phạm hoặc tái diễn lần một, lần hai đến lần thứ ba là chấm dứt thì mới là tăng thượng giới học, còn người cứ tiếp tục lỗi sai, mấy năm sau gặp lại không có gì thay đổi thì không thể tăng thượng giới học, phải quyết liệt như vậy mới đi đến thanh tịnh. Nếu tu theo kiểu đều đều thì làm sao đi đến chỗ thanh sạch, tẩy sạch, trong sạch? Cho nên tu theo chánh pháp sẽ khổ cực chứ không được sung sướng nhưng cái khổ này sẽ đưa đến lạc, còn những cái khổ khác sẽ đưa đến khổ triền miên và những cái lạc khác cũng chỉ đưa đến khổ.
Thật ra khi ngồi thiền mình nghĩ định là định, nó riêng biệt với giới nhưng chính cái ngồi thiền làm cho giới trong sạch vì nó hỗ trợ lẫn nhau, chỉ khi ngồi thiền mình mới lấy những cái sai phạm ra kiểm điểm rồi trong sự kiểm điểm đó có suy xét, trạch pháp, đây là tuệ cho nên giới – định – tuệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau chứ không phải ngồi thiền chỉ có định chứ không có giới mà thật sự nó hỗ trợ lẫn nhau. Phải thường xuyên trú trong tàm quý, xấu hổ và sợ hãi thì bản ngã mới lắng dịu, sân giận, tham muốn cũng sẽ lắng dịu từ chỗ thấy được lậu hoặc, cái hơn thua, đấu tranh cũng sẽ giảm bớt.
Cho nên để hoàn thiện một con người đúng theo tinh thần Thánh pháp là cả một công trình nội tâm vĩ đại, phải có sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, lúc nào cũng quay lại nội tâm kiểm tra, rà soát, soi xét, quán sát, tư sát liên tục và đau khổ, ưu tư, lo lắng "tại sao mình tu đến giờ này vẫn còn như vậy? Tại sao hình tướng mình như vầy mà mình lại như vậy? Tại sao mình cạo đầu đắp y rồi mà vẫn nhớ nhà, lo chuyện ở nhà, chuyện đời? Tại sao mình không đặt hết tâm tư vào pháp?". Mình phải chỉ trích, quở trách làm cho bản thân tăng thượng, hướng thượng trong sự tu học và cần học kinh để chiêm nghiệm quán sát tu tập.
"Lại nữa, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu. Khi nói: 'Ta biết', nghĩa là Sa-môn Gotama có biết. Khi nói: 'Ta thấy', nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn Gotama thuyết pháp có nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Đức Phật không phải nói trên suy tưởng, suy luận mà ngài thực thấy, thực biết, thực chứng, ngài nói nhân quả của địa ngục, nhân quả của thiên giới, nhân quả của Niết-bàn, nhân quả của sanh tử. Đó là những điều ngài thực chứng, thực thấy, thực biết bằng thắng trí, là trí tuệ thù thắng vượt phàm phu, chính chỗ này làm đệ tử thán phục tri kiến vi diệu của ngài. Ngài nói sự chấp thủ năm uẩn là phiền não, khổ đau thì nó là như vậy, không thể khác được, dù cho Trái Đất có sụp đổ cũng không thể khác được, ngài nói tham, sân, si là gốc rễ của tất cả tội ác bất thiện thì đúng như vậy, không thể sai khác, ngài nói dục ái là đau khổ, sợ hãi thì muôn ngàn kiếp sau cũng như vậy, không thay đổi sai khác được vì những điều đó được ngài thực chứng, thực thấy, thực biết, thực trải nghiệm cho nên các đệ tử tán thán tri kiến vi diệu của ngài.
"Ngài không thấy trước một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá sau khi khéo léo nạn phá với Chánh pháp". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Trong Trung Bộ Kinh có nhiều bài kinh ghi lại sự bừng sáng, chiếu sáng trí tuệ của bậc Thánh, ngài đã phá hết tất cả tà thuyết, những quan điểm vô minh, chấp thủ. Trong lời nói, hành động, cử chỉ của ngài nêu bật lên để phá vỡ các vấn nạn làm cho những người đó phải lạy dưới chân quy y làm cư sĩ hoặc đệ tử xuất gia, thậm chí chứng quả A-la-hán.
" Lại nữa, này Udayi, những đệ tử của Ta bị đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối, đến Ta và hỏi về khổ Thánh đế. Ðược hỏi về Khổ Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Họ hỏi Ta về Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Ðây là pháp thứ tư, này Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Đạo Phật cứu khổ thế gian chính ở chỗ này. Những người đệ tử của ngài đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối nên đã đến hỏi và được ngài chỉ ra nguyên nhân đau khổ, ngài thực chứng sự đau khổ và ngài hướng dẫn con đường để chấm dứt khổ đau, ngài làm cho người đó thỏa mãn với câu trả lời của ngài, không còn nghi ngờ gì với câu trả lời đó nữa.
"Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Bốn Niệm xứ". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Y cứ theo con đường Đức Phật dạy để tu tập sự quán chiếu thân thể, những cảm giác và những cái đang có mặt trong tâm để tẩy trừ những sự cấu nhiễm, những nguyên nhân sanh ra khổ đau trong cuộc đời này bằng những sự nhận diện thân tâm, nhìn thấy rõ được những cảm giác thúc giục, sân hận, si mê, hôn ám, những cảm giác ta đây, bản ngã bằng sự nhìn thấy và biết, nhiếp phục và đoạn tận, người trí tự mình thấy biết, tự mình giác ngộ. Chính con đường tu hành thiết thực, hiện tại đó ngài đã giảng về ba mươi bảy phẩm trợ đạo làm cho hàng đệ tử đoạn trừ hết các lậu hoặc, "tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát". Học bài này chúng ta sẽ hiểu tại sao Đức Thế Tôn được các đệ tử tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, nương tựa tu học mấy ngàn năm nay.
./.
TĂNG THƯỢNG GIỚI HỌC
– Thích Minh Thành –
Thứ nhất là thán phục tăng thượng giới, thứ hai là thán phục tri kiến vi diệu, thứ ba là thán phục tăng thượng trí tuệ, thứ tư là ngài nói về con đường diệt khổ, con đường này bao trùm rất nhiều pháp để cuối cùng đoạn tận các lậu hoặc. Tự Đức Phật nói cho mình thấy tại sao ngài được đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường và sống nương tựa vào ngài, vì đệ tử của ngài thán phục tăng thượng giới, là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng, đây là pháp thứ nhất.
"Ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới: 'Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng'". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Chữ "giới uẩn tối thượng" thật sự rất sâu sắc chứ không đơn giản như mình nghĩ. Ngược lại quá khứ khi ngài còn tu tập thì trong sự tu học này không hài lòng, thỏa mãn, không chấp nhận những sự cấu nhiễm, uế nhiễm, ô nhiễm còn tồn đọng trong người dù cho nó rất nhỏ, rất vi tế, phải luôn có sự khao khát hướng đến đời sống thanh tịnh phạm hạnh và trong nội tâm có một động lực, sức mạnh, thôi thúc làm cho phải tiến lên, hoàn thiện viên mãn cho đến cùng tột, đó là tăng thượng giới học. Mình không thỏa mãn, tự mãn, hài lòng với sự tu học ngay trong hiện tại dù cho mình có đến Thánh quả thứ ba, vì mình còn chấp nhận là mình sẽ bị đứng lại tại chỗ, không thể tiến lên được nữa.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Những điều này là cả một công trình tu học chứ không phải đơn giản, vì tâm con người rất dễ tự mãn, rất dễ hài lòng, cho nên chúng ta phải có cái tâm “không biết đủ với thiện pháp” thì mới đi đến đoạn tận các lậu hoặc, vì vậy, việc tăng thượng giới học là quan trọng vô cùng. Chữ "uẩn" là cả một tổ hợp, cả một sự tập hợp, tất cả những gì từ suy nghĩ, hành động, cảm thọ, tư duy, mọi nhất cử nhất động phải phù hợp, trọn vẹn thanh tịnh viên mãn trong giới, không còn chút nào sai phạm trong giới mới gọi là thành tựu giới uẩn tối thượng. Còn mình hở ra là sai phạm, tức là bước đầu tiên mình đã chưa hoàn toàn trở thành một vị có giới hạnh, nếu mình muốn trở thành một vị có giới hạnh rồi đi đến thành tựu giới hạnh thì phải để tâm ngày đêm, năm tháng, để ý trong từng phút giây để kiểm tra, soi rọi trong từng suy nghĩ cho nên sự tu này là cả một sự nội quán, hướng nội suốt đời suốt kiếp.
Các đệ tử tán thán Thế Tôn là vị có giới hạnh và thành tựu giới hạnh tối thượng, nghĩa là trong nhiều đời nhiều kiếp của Bồ-tát đã luôn để tâm, để ý nhìn ngó, soi xét, thanh lọc, tẩy rửa tất cả những gì cấu nhiễm trong giới, còn mình nhìn như vậy chứ thật chất bên trong lại cấu nhiễm, có những suy nghĩ ác bất thiện pháp nhưng mình cũng không tẩy, có cũng cho qua vì không ai thấy, hoặc làm những việc mờ ám, dù mình biết đó là sai, là trật nhưng vẫn không nỗ lực, nhiệt tình, ưu tư, thao thức, băn khoăn để làm sạch hết những thứ đó nên không được gọi là tăng thượng giới học.
Tăng thượng giới học là cứ nhìn vào nội tâm để quét dọn, lau chùi, rẩy rửa liên tục, làm được sẽ đi đến bậc Thánh, bên ngoài nhìn vào thấy chúng ta cũng lên ngồi thiền, tụng kinh, tu tập thời khóa đều đều nhưng bên trong không có tâm tha thiết khát khao thanh tịnh, không có tâm nỗ lực hướng thượng phát triển đức hạnh trong sạch thánh thiện thì không được gọi là tăng thượng giới học. Việc đánh thức được tâm khao khát, tha thiết đó là cả một vấn đề, đó là đạo lộ của bậc hữu học. Bản thân có lỗi và mình biết mình có lỗi, thậm chí có người nhắc nhở cho nhưng mình vẫn để nguyên không khắc phục, không sửa chữa thì cái đó không gọi là tăng thượng giới học, vì vậy, cần nhìn đức hạnh của Đức Phật để đối chiếu lại bản thân để tu học. Nếu chịu khó nhìn lại bản thân sẽ thấy bên trong biết bao thứ rác bẩn, lậu hoặc nhưng cuối cùng vẫn lơ lửng, trơ trơ sống qua ngày đoạn tháng chứ không kiểm tra, la rầy, quở trách để tiến bộ.
Tăng thượng là thêm lên, giới là trong sạch, thanh cao, thánh thiện, một cái tâm tha thiết, nhiệt tình, nóng bỏng, khao khát để đạt đến đời sống hoàn toàn trong sạch, thanh cao, thánh thiện là tăng thượng giới học và cái tâm này phải luôn luôn hiện hữu, lúc nào cũng có và dùng tâm đó trú trong tăng thượng giới. Người nào sống trong tâm này sẽ luôn khắc khoải, ưu tư, đau khổ, vì thiện pháp mà họ đau khổ, họ ray rứt, sợ hãi đối với ác bất thiện pháp. Người tăng thượng giới học lúc nào cũng trú trong đại tàm quý, lúc nào họ cũng xấu hổ và sợ hãi vì trong tâm cứ sanh khởi ra những ác bất thiện pháp, họ thấy những ác pháp này họ mới xấu hổ, sợ hãi, thao thức, ưu tư để họ chiến đấu chống lại nó, còn bây giờ cứ hướng ngoại nhìn bên ngoài thì làm sao thấy?
Hiện tại bây giờ được bao nhiêu người có tâm này? Chỗ này mới dẫn đến tăng thượng giới học, dẫn đến một vị có giới hạnh, dẫn đến thành tựu giới uẩn của Sa-môn Gotama, phải làm sao để khởi động được tâm đó, cũng giống như cái xe phải nổ máy chạy mới tiến lên trước chứ còn không thể nổ máy thì vẫn đứng tại chỗ, như vậy thiện pháp không thể sanh khởi và ác pháp bao trùm làm mình giậm chân tại chỗ, mười năm sau gặp lại cũng giống như trước không có gì thay đổi.
Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di,
Hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị.
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Dịch nghĩa:Chỗ đi năm trước, tấc bước chẳng dời.
Lơ lửng một đời, lấy chi nương cậy.
Không phát khởi tăng thượng giới học trong bản thân là một sự thất bại, nếu lỡ làm hoặc lỡ nói cái gì có lỗi thì về nhà mình phải thấy ray rứt, thao thức, trạo hối, nghĩa là người này thấy hối hận về sự kiện đã xảy ra, "tại sao mình lại làm như vậy?", người này xấu hổ, sám hối tha thiết chân thành và lần sau nhất quyết không tái phạm hoặc tái diễn lần một, lần hai đến lần thứ ba là chấm dứt thì mới là tăng thượng giới học, còn người cứ tiếp tục lỗi sai, mấy năm sau gặp lại không có gì thay đổi thì không thể tăng thượng giới học, phải quyết liệt như vậy mới đi đến thanh tịnh. Nếu tu theo kiểu đều đều thì làm sao đi đến chỗ thanh sạch, tẩy sạch, trong sạch? Cho nên tu theo chánh pháp sẽ khổ cực chứ không được sung sướng nhưng cái khổ này sẽ đưa đến lạc, còn những cái khổ khác sẽ đưa đến khổ triền miên và những cái lạc khác cũng chỉ đưa đến khổ.
Thật ra khi ngồi thiền mình nghĩ định là định, nó riêng biệt với giới nhưng chính cái ngồi thiền làm cho giới trong sạch vì nó hỗ trợ lẫn nhau, chỉ khi ngồi thiền mình mới lấy những cái sai phạm ra kiểm điểm rồi trong sự kiểm điểm đó có suy xét, trạch pháp, đây là tuệ cho nên giới – định – tuệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau chứ không phải ngồi thiền chỉ có định chứ không có giới mà thật sự nó hỗ trợ lẫn nhau. Phải thường xuyên trú trong tàm quý, xấu hổ và sợ hãi thì bản ngã mới lắng dịu, sân giận, tham muốn cũng sẽ lắng dịu từ chỗ thấy được lậu hoặc, cái hơn thua, đấu tranh cũng sẽ giảm bớt.
Cho nên để hoàn thiện một con người đúng theo tinh thần Thánh pháp là cả một công trình nội tâm vĩ đại, phải có sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, lúc nào cũng quay lại nội tâm kiểm tra, rà soát, soi xét, quán sát, tư sát liên tục và đau khổ, ưu tư, lo lắng "tại sao mình tu đến giờ này vẫn còn như vậy? Tại sao hình tướng mình như vầy mà mình lại như vậy? Tại sao mình cạo đầu đắp y rồi mà vẫn nhớ nhà, lo chuyện ở nhà, chuyện đời? Tại sao mình không đặt hết tâm tư vào pháp?". Mình phải chỉ trích, quở trách làm cho bản thân tăng thượng, hướng thượng trong sự tu học và cần học kinh để chiêm nghiệm quán sát tu tập.
"Lại nữa, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu. Khi nói: 'Ta biết', nghĩa là Sa-môn Gotama có biết. Khi nói: 'Ta thấy', nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn Gotama thuyết pháp có nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Đức Phật không phải nói trên suy tưởng, suy luận mà ngài thực thấy, thực biết, thực chứng, ngài nói nhân quả của địa ngục, nhân quả của thiên giới, nhân quả của Niết-bàn, nhân quả của sanh tử. Đó là những điều ngài thực chứng, thực thấy, thực biết bằng thắng trí, là trí tuệ thù thắng vượt phàm phu, chính chỗ này làm đệ tử thán phục tri kiến vi diệu của ngài. Ngài nói sự chấp thủ năm uẩn là phiền não, khổ đau thì nó là như vậy, không thể khác được, dù cho Trái Đất có sụp đổ cũng không thể khác được, ngài nói tham, sân, si là gốc rễ của tất cả tội ác bất thiện thì đúng như vậy, không thể sai khác, ngài nói dục ái là đau khổ, sợ hãi thì muôn ngàn kiếp sau cũng như vậy, không thay đổi sai khác được vì những điều đó được ngài thực chứng, thực thấy, thực biết, thực trải nghiệm cho nên các đệ tử tán thán tri kiến vi diệu của ngài.
"Ngài không thấy trước một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá sau khi khéo léo nạn phá với Chánh pháp". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Trong Trung Bộ Kinh có nhiều bài kinh ghi lại sự bừng sáng, chiếu sáng trí tuệ của bậc Thánh, ngài đã phá hết tất cả tà thuyết, những quan điểm vô minh, chấp thủ. Trong lời nói, hành động, cử chỉ của ngài nêu bật lên để phá vỡ các vấn nạn làm cho những người đó phải lạy dưới chân quy y làm cư sĩ hoặc đệ tử xuất gia, thậm chí chứng quả A-la-hán.
" Lại nữa, này Udayi, những đệ tử của Ta bị đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối, đến Ta và hỏi về khổ Thánh đế. Ðược hỏi về Khổ Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Họ hỏi Ta về Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Ðây là pháp thứ tư, này Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Đạo Phật cứu khổ thế gian chính ở chỗ này. Những người đệ tử của ngài đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối nên đã đến hỏi và được ngài chỉ ra nguyên nhân đau khổ, ngài thực chứng sự đau khổ và ngài hướng dẫn con đường để chấm dứt khổ đau, ngài làm cho người đó thỏa mãn với câu trả lời của ngài, không còn nghi ngờ gì với câu trả lời đó nữa.
"Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Bốn Niệm xứ". (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)
Y cứ theo con đường Đức Phật dạy để tu tập sự quán chiếu thân thể, những cảm giác và những cái đang có mặt trong tâm để tẩy trừ những sự cấu nhiễm, những nguyên nhân sanh ra khổ đau trong cuộc đời này bằng những sự nhận diện thân tâm, nhìn thấy rõ được những cảm giác thúc giục, sân hận, si mê, hôn ám, những cảm giác ta đây, bản ngã bằng sự nhìn thấy và biết, nhiếp phục và đoạn tận, người trí tự mình thấy biết, tự mình giác ngộ. Chính con đường tu hành thiết thực, hiện tại đó ngài đã giảng về ba mươi bảy phẩm trợ đạo làm cho hàng đệ tử đoạn trừ hết các lậu hoặc, "tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát". Học bài này chúng ta sẽ hiểu tại sao Đức Thế Tôn được các đệ tử tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, nương tựa tu học mấy ngàn năm nay.
./.