Giá Trị Của Pháp Cung Kính
Kinh Nikaya Giảng Giải
GIÁ TRỊ CỦA PHÁP CUNG KÍNH
-Thích Minh Thành-
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tầm quan trọng của cung kính: PAGEREF _Toc47424049 \h 1
II. Lợi ích của cung kính: PAGEREF _Toc47424050 \h 8
III. Ứng xử bằng tâm cung kính: PAGEREF _Toc47424051 \h 10
I. Tầm quan trọng của cung kính:
Kính thưa đại chúng, chúng ta không phải vào trường để đi tìm một kiến thức suông, sách vở, chữ nghĩa. Chúng ta phải cần có một nền móng vững chắc trong sự tu học, nền móng đó đặt ở trên oai nghi, giới hạnh và hòa kính. Nếu như mình không có những pháp này, dù cho mình có hiểu biết tới đâu, làm được cái gì, thì nó chỉ là xây lâu đài trên bãi cát thôi. Cho nên, sự cung kính là tuyệt đối quan trọng của người xuất gia chúng ta.
Trong chùa ở miền Bắc trong thời công phu khuya thầy có đọc được câu “nhất thiết cung kính”. “Mình ở đây có ai ở ngoài đó vô không? chắc có mà phải không?” Nghi thức ở ngoài miền Bắc trong buổi công phu thường có câu “nhất thiết cung kính” tức là cung kính đối với tất cả. Tăng Chi Bộ kinh tập 2 - kinh “Không Có Cung Kính”
“- Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, không cung kính không thận trọng, không sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh, sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này không xảy ra
- Sau khi không làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này không xảy ra.
- Không làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này không xảy ra.
- Sau khi không làm cho viên mãn các giới luật, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này không xảy ra.
- Sau khi không làm cho viên mãn chánh tri kiến, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này không xảy ra.”. (Tăng Chi Bộ tập 2 – (III) Phẩm Năm Phần – bài kinh Không Có Cung Kính).
“Thắng hạnh pháp” là cái pháp đức hạnh, thầu thắng, là giới hạnh, là sự cao thượng của một người tu. Nếu không có cung kính thì không thể thành tựu được đời sống của một người tu. Không cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh mà có thể làm cho đầy đủ được các đức hạnh cao thượng của một người tu, sự kiện này không xảy ra. Nếu như không có những đức hạnh cao thượng của một người tu mà người đó có thể đầy đủ được pháp hữu học thì sự kiện này không xảy ra (pháp của bậc hữu học tức là từ khi mới đi tu cho đến thánh quả thứ ba đó gọi là hữu học, thánh quả thứ tư gọi là vô học). Nếu như không đầy đủ những pháp hữu học mà có thể viên mãn được giới luật thì sự kiện này không thể xảy ra mà đã không viên mãn giới luật mà có thể viên mãn được Chánh tri kiến sự việc này không thể xảy ra. Nó phải từng bước từng bước như mình đi lên bậc thang vậy, giới luật không đủ mà có thể đầy đủ được Chánh tri kiến thì điều đó không thể. Mà người đã không đầy đủ Chánh chi kiến mà có thể viên mãn được Chánh định thì không thể xảy ra.
Chúng ta thấy, đầu tiên là cung kính, thận trọng, sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh đó là yếu tố đầu tiên. Cung kính, thận trọng, sống hòa hợp đối với các vị đồng tu với mình gọi là đồng Phạm hạnh. Chữ “phạm” là thanh tịnh, chữ “hạnh” là đức hạnh. Các vị đồng Phạm hạnh tức là những người cùng tu với mình. Thí dụ chúng ta thấy những cái pháp của bài kinh này sẽ liên hệ với bài kinh “Sáu Điều Cung Kính Pháp”
“1) Này các Hiền Giả, ở đây vị Tỷ-kheo sống cung kính, tuỳ thuận bậc Đạo Sư.
2) Sống cung kính, tùy thuận pháp.
3) Sống cung kính, tuỳ thuận chúng Tăng.
4) Sống cung kính, tuỳ thuận học pháp.
5) Sống cung kính, tuỳ thuận không phóng dật
6) Sống cung kính, tuỳ thuận lễ phép xã giao” (Trường Bộ Kinh, (33) Kinh Phúng Tụng, Tụng Phẩm II, Phẩm Sáu Pháp).
Nếu ban đầu mình đọc bài kinh “Sáu Điều Cung Kính Pháp” mình không hiểu một cách đầy đủ, mình phải đi qua bài kinh “Không Có Cung Kính” này trước. Như vậy thì:
“Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo có cung kính, có thận trọng, sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh, vị ấy sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này có xảy ra”. (Tăng Chi Bộ tập 2 – (III) Phẩm Năm Phần – bài kinh Không Có Cung Kính).
Cung kính như thế nào? thận trọng như thế nào? sống tường hòa như thế nào? Chúng ta đã học thực hành ba pháp cảm giác toàn thân, đã học thực tập nhận diện ngũ uẩn, thấy biết thân tâm. Chúng ta đã học nhìn ra được những cảm giác của các lậu hoặc, cảm giác tham dục, sân, hận, bản ngã. Khi chúng ta bắt đầu nhìn thấy thân tâm của mình thì chúng ta có một sự hổ thẹn, nhìn lại mình “ồ, sao mình đi tu đến giờ này mà tham, dục của mình còn nhiều?”, mình hở chút mình hay giận, hay nhỏ nhặt, nhỏ hẹp, ích kỷ, hẹp hòi, tất cả mọi cử chỉ của mình có cung kính hay không là nó thể hiện ra hết.
Mà cái cung kính là từ chỗ Chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ các căn. Bài này chúng ta học rồi, vậy cho nên chúng ta nhớ những gì mình đi qua rồi thì ít có nhắc lại, mình phải nắm được. Khi nói phòng hộ các căn mình phải hiểu, nói Chánh niệm tỉnh giác thì mình phải biết. Mà chúng ta có sự Chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ các căn, chúng ta thận trọng, khi chúng ta có được những điểm này thì chúng ta ít bị lầm lỗi.
Thí dụ như bây giờ, mình thấy thầy của mình, mình rất cung kính, sư phụ mình rất biết ơn, cha mẹ mình sanh ra cái hình hài này, thầy cho mình đời sống Phạm hạnh, thì cái ơn đó mình nhớ hoài. Chính vì mình nhớ cái ơn đó nên mình trú tâm trong sự cung kính đối với thầy, với bậc trưởng thượng, giáo thọ sư, những vị tôn đức đó, cho nên mình không để ý, soi mói, moi móc những khuyết điểm, không “bới lông tìm vết” của các vị đó, mình không thấy lỗi của các bậc trưởng thượng. Vì mình cứ trú trong cái tâm cảm ơn, biết ơn, nhớ ơn thì mình không nhìn cái lỗi. Một người học trò mà đi nói lỗi của thầy mình với một người khác thì không có thành tựu pháp cung kính, khi nói đã sai, trừ khi huynh đệ tâm sự nỗi niềm thân thiết khi mình bị oan ức cái gì đó, nhưng mà mình phải nói với một cái tâm là “sư phụ chưa có thông cảm được cho mình” mà ở trong tâm phải biết ơn. Chứ nếu mình nói bằng sự chỉ trích, phê phán, bất kính thì đã phạm vô những lỗi này, mà những người đã phạm vô những lỗi này thì không thể nào thành tựu Chánh kiến được. Cái thấy đó đã sai, người bất kính với thầy mình thì không thể làm gì được trên cuộc đời này hết, là phản thầy.
Cho nên con xin thưa đại chúng, ai mà là người xuất gia rồi mà đi đến xin con ở lại nhưng lại nói xấu thầy của mình là con phất tay cho xuống núi. Đã bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết tất cả để chọn một vị thầy đi theo tu, mà giờ chưa có gì hết mà lại đi nói xấu thầy, thì mình ngồi đây là cái gì, làm sao mình có thể tiếp nhận những người như vậy. Cho nên, pháp cung kính là hết sức quan trọng, cung kính bậc đạo sư, tức là Đức Thế Tôn. Cung kính pháp là trong khi mình ngồi học đây, cái này là con nói những cái sơ cấp nhất, chúng ta đang học trung cấp nên nói trung cấp thôi, tức là thái độ của mình khi nghe pháp, khi học pháp, khi thực hành pháp có cung kính hay không là nhìn thấy. Một người bất kính đối với pháp là người đó không bao giờ có thể thành tựu được pháp.
Chính vì vậy con xin thưa với đại chúng, con nhắc nhở không phải là con khó chịu mà là thương. Những bài kinh này con có giảng ở trên núi, đại chúng cứ tìm có chữ cung kính trong bài ở trên Linhquyphapan.vn, thì các huynh đệ nghe, rất là nhiều những bài giảng về cung kính, vì cung kính này sẽ đưa đến Thánh quả. Đức Phật vừa mới thành đạo, Bồ tát vừa vừa thành Chánh đẳng, Chánh giác, Bồ tát suy nghĩ “ta phải sống nương tựa y chỉ, cung kính với một bậc đạo sư” thì lúc đó ngày mới dùng tam minh của ngài để nhìn khắp hết tất cả vô số, vô lượng thế giới, thì ngài thấy không có vị nào thành tựu Thánh giới uẩn viên mãn, thành tựu Thánh định uẩn viên mãn, thành tựu Thánh tuệ uẩn viên mãn, thành tựu Thánh tri kiến viên mãn và giải thoát tri kiến viên mãn. Cho nên ngài nói “nếu mà như vậy thì ta hãy tôn trọng pháp mà ta chứng ngộ làm thầy, ta phải sống đời sống cung kính”, đó là khi mới vừa thành Chánh đẳng Chánh giác dưới cội bồ đề “ta lấy pháp mà ta chứng ngộ làm thầy, pháp này là thầy của ta” tuyệt vời lắm, mình học mình sẽ thấy.
Rồi có một hôm các các thầy Tỷ-kheo pháp đàm ở trong giảng đường, đàm luận về pháp thì Đức Thế Tôn đi tới, nhưng đứng ngoài cửa mấy tiếng đồng hồ, tới lúc pháp đàm xong ngài mới bước vô. Ngài nói “các ông nói dài quá ta đau lưng” thì các vị Tỷ-kheo nói “Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn không bước vô để cho chúng con biết, để chúng con dừng lại”. Thế Tôn nói “Này các Tỷ-kheo, ta tôn kính pháp. Ta sống tùy thuận tôn kính Chánh pháp”. Mà năm đó Đức Phật đã bảy mươi tuổi, đứng mấy tiếng đồng hồ ở ngoài cửa, tại vì ngài biết khi ngài bước vô sẽ làm gián đoạn buổi đàm luận giáo pháp nên ngài đứng ở ngoài.
Mình thấy không, mà Đức Phật là con mắt của giáo pháp, là gốc của pháp, là chỗ để phô diễn ra Thánh pháp, là pháp bổn, pháp chủ, pháp nhãn, mà Đức Phật cung kính pháp. Chính vì cung kính pháp, Đức Phật mới trở thành chủ của pháp, con mắt của pháp và gốc của pháp, Đức Phật mới chứng ngộ viên mãn Thánh pháp, cho nên pháp cung kính là pháp tuyệt đối quan trọng. Nếu người nào không thành tựu pháp này, người đó vĩnh viễn không thể nào thể nhập vào dòng Thánh trí huệ được, đây là pháp quyết định. Chúng ta sẽ có học những bài kinh rồi chúng ta sẽ thấy, Chánh đẳng Chánh giác mới vừa chứng ngộ mà ngài nói “Ngài phải nương tựa một bậc đạo sư” ngài dùng hết tất cả Túc mạng, Minh sanh, Tử trí, thấy hết tất cả bao nhiêu thế giới mà không có người nào đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát tri kiến viên mãn như ngài, nên ngài mới nói lấy pháp làm thầy, tôn pháp làm thầy.
Và một bậc đạo sư, một bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người, mà đứng ở ngoài cửa để chờ mấy tiếng đồng hồ trong khi năm đó đã bảy mươi tuổi, đã lên hàng bảy mươi rồi. Chúng ta thấy, đó là sự cung kính pháp của Đức Phật. Chúng ta vào đọc kinh thì làm sao? mở cuốn kinh ra đọc bằng cách nào? Một cách hời hợt, đọc nhiều khi còn bỏ chữ, nghe nhiều khi còn nói cái này nghe rồi, thì làm sao chúng ta thành tựu pháp. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Thánh trí ngũ uẩn, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Ngũ căn ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát thánh đạo phần, là Bồ tát đã tu tập vô lượng kiếp, chứ không phải tu một lần là chứng ngộ viên mãn giác liền, không phải.
Thí dụ như Quán bất tịnh, không phải mình quán một lần mình chứng được liền trí bất tịnh, quán một trăm lần, một ngàn lần, mười ngàn, một trăm ngàn, một triệu, nhiều triệu, một tỷ lần cho đến khi nào chứng ngộ thể nhập Thánh trí bất tịnh đó. Để chúng ta thấy được tầm vóc quan trọng của pháp cung kính, cung kính Đức Thế Tôn, cung kính pháp, cung kính Tăng.
Chữ “Tăng” này mình phải hiểu, Tăng là đoàn thể của Phật giáo, không phải Tăng là mấy thầy hay mấy cô không, mà đoàn thể là gồm Tứ chúng. Ta nhớ chữ “Tăng đoàn” mình hay hiểu lầm, thí dụ bây giờ mình nói “tập đoàn” của công ty nào đó, thì mình kể mấy ông sếp thôi hay là nhân viên ở dưới cũng kể? Tập đoàn, đoàn thể của công ty đó thì phải tính luôn từ người nhân viên cho lên tới tất cả những chóp bu lãnh đạo phía trên. Thì cũng như vậy, đoàn thể Phật giáo của mình gồm bốn chúng là: Nam cư sĩ, nữ cư sĩ, Tăng và Ni. Gọi “đoàn thể Phật giáo” là bao gồm tứ chúng, không phải chỉ người xuất gia, cư sĩ bỏ ra ngoài hay sao? Đoàn thể Phật giáo mà. Thí dụ người trong chùa mình mười sư cô, tám vị cư sĩ công quả ở thường trực trong đó, bây giờ nói đoàn thể, tập thể của chùa là bao nhiêu người, mình nói mười người hay là mười tám người? Mình nói “mười tám người”, ý nghĩa nó là như vậy đó.
Những vị cư sĩ trong thời Đức Phật có khả năng chứng Thánh quả thứ ba, và có những vị chứng tới Thánh quả thứ tư, thì vị đó một là nhập niết bàn, hai là xuất gia. Tại vì thân thể của một người cư sĩ không đựng nổi Thánh quả A-La-Hán, chỉ tới quả thứ ba bất lai thôi. Khi một vị chứng thánh quả La-Hán còn cư sĩ đó, một là người này phải nhập niết bàn còn không thì là người này xuất gia. Chính vì vậy cho mình thấy rằng, đoàn thể Phật giáo không chỉ là người xuất gia, mà ngay cả nam cư sĩ, nữ cư sĩ nữa. Trước nay mình hiểu chữ “Tăng đoàn” mà nó không chính xác theo tinh thần của kinh Nikāya, rồi như vậy nam, nữ cư sĩ mình bỏ ở đâu? Nên nhớ Tứ chúng là đoàn thể của Phật giáo.
Sự cung kính của mình không chỉ cung kính thầy, cung kính bậc giáo thọ sư, những bậc trưởng thượng, những vị huynh đệ đồng Phạm hạnh, mà mình phải cung kính cả những vị ở trong đoàn thể Phật giáo, chứ không phải “cư sĩ là có bổn phận phải lo cho tôi, tôi là người xuất gia” nghĩ như vậy là sai, là bản ngã. Vì trong những vị cư sĩ đó, nếu mà họ tu đúng Chánh pháp là có thể đạt được các tầng Thánh quả. Đây là chỗ mà người xuất gia của chúng ta bây giờ không để tâm, mình cứ nghĩ mình xuất gia là mình hơn cư sĩ, cái nghĩ đó là cái nghĩ của người phàm phu, hơn thua hình thức, cao thấp, nhân ngã. Chính bản thân Minh Thành tiếp xúc có những vị cư sĩ trên đức hạnh, người xuất gia mình không sánh bằng, và thậm chí Minh Thành có tiếp xúc những vị đã thành tựu trong Thánh pháp này là cư sĩ. Thành ra, mình mà có tâm bất kính, mình cứ nghĩ người xuất gia là hơn thì coi chừng, đối với những bậc thành tựu rồi, thì mình không thể nào đem cái phàm trần của mình mà tưởng tượng nổi các vị thành tựu Thánh pháp này đâu. Mình đừng có nhìn trên hình thức, tướng mạo, chưa chắc.
Có những cục vàng nằm ở dưới bãi rác hoặc là dính bùn sình, có những hạt kim cương ẩn tàn ở trong đá “ngọc ẩn tàn ưa thạch”, kim cương ở trong đá mà phải thợ trong nhà nghề mới nhìn được đó là kim cương thật, người không phải trong nhà nghề không có Chánh tri kiến không thể biết được. Cho nên, mình mà nhìn trên hình thức để mình đánh giá là hết sức nguy hiểm, có khi mình gặp bậc Thánh mà mình không biết, mình khinh khi, phỉ báng họ. Chính vì vậy, ở đây mình muốn nói vấn đề cung kính Tăng là đoàn thể Phật giáo, mình phải có thái độ đối với những người cư sĩ đến hộ trì Chánh pháp, cúng dường Tam bảo hay là công quả, đừng xem thường người ta, đừng cho mình cao hơn, người ta thấp, ý niệm đó là bản ngã cung kính đối với tất cả, dẫu họ có thấp hơn mình.
II. Lợi ích của cung kính:
Cung kính sanh ra cho mình phước đức, phúc báo, sự bảo hộ, bình an, tình thương. Bây giờ mình thêm một người bạn với thêm một người thù thì cái nào tốt? “ người bạn”, chúng ta thấy không. Ở trong chùa mình giận ba người, mình không nói chuyện, thấy không ưa, không hợp, thì mình ở trong chùa cái tâm mình có an ổn không? đi vô đi ra thấy cái mặt đó thì cái tâm có an không? “ Dạ không”, thấy chưa. Cho nên sống chan hòa với các bậc đồng Phạm hạnh, với cái tâm bất an đó thì làm sao vô ngồi thiền? làm sao định? Cho nên, chúng ta nói một người không cung kính như vậy thì không thành tựu những đức hạnh của người tu, không thành tựu những pháp hữu học. Mà không thành tựu được giới luật, không thành tựu được Chánh tri kiến thì làm sao viên mãn được Chánh định. Bây giờ mình nói đơn giản thôi mình đi ra đi vô mà mình ghét như vậy thì ngồi thiền sao mà yên, mà ngồi kế gần nữa thì nguyên bữa thiền là thôi rồi, khổ. Ăn cơm mà bữa đó hết chỗ, hôm đó lễ cúng gì không biết mà sắp hai cái mặt đối diện với nhau thì mình ngồi chỉ cúi đầu xuống mà ăn cơm, không dám thẳng, khổ.
Chúng ta sẽ được học những bài kinh hòa kính, hay lắm. Phải hóa giải hết tất cả những cảm thọ bất hòa, xung đột, những cảm thọ không ưa, những cảm thọ không hợp, cảm thọ ghét này kia, xóa sạch hết những cảm giác đó. Phải khởi lên cái tâm cung kính đối với những người mà mình ghét, “tại sao mình ghét người ta? có phải bản ngã không? có phải sân hận không? mình vô đây mình bỏ cha, bỏ mẹ, cạo đầu vô đây để ghét, để sân hận có đáng không? đáng hay là không? mình đang làm chuyện gì?” mình hỏi lại cái cảm thọ của mình “mày đang làm cái chuyện gì vậy? có ngu thì ngu vừa vừa, vô đây mày đốt cho mày khổ hay sao?” mình tác ý như vậy, mình đánh tan hết những cảm giác nghĩ tưởng về bản ngã, về sân hận, ta đây để mình giải tỏa những cảm thọ, cảm giác đó, để mình nhìn thấy tất cả các bậc đồng phạm hạnh bình đẳng, hòa hợp, cung kính, cái tâm mình mới an được.
Chúng ta thấy, chỉ cần giận một người thôi chứ đừng nói ba người, ăn cơm không ngon rồi. Cho nên pháp Phật đó thiết thực, hiện tại lắm. Có chuyện gì thì ngay chỗ đó mình thưa, mình trình bày xong mình sẽ giải tỏa cảm giác, đừng có tích tụ bên trong. Xem lại nội tâm, nếu mà nó có, thì phải giải tỏa ra, giải phóng, giải phá, giải thoát cái cảm giác đó liền, còn không quỳ lạy sám hối với người ta “chị thấy chị có cái tâm bản ngã, em chứng minh cho chị để chị tẩy rửa cái cảm giác bản ngã, xấu hổ này. Chị không muốn chất chứa cái cảm thọ này trong tâm”. Khi giải tỏa được cảm thọ đó rồi thì mình sống vui, nhìn mặt nhau cười hoan hỉ, không có gì hết. Còn nếu không, một câu nói, một hành động thôi là mình thọ, mình đem vô, bắt đầu mình chất chứa trong đó, mình thù hằn, rồi mình đợi cơ hội “quân tử báo thù mười năm chưa muộn”. Học mấy cái đó, mấy cái ngu si đó, mà Thánh pháp thì không học, đi học những cái phàm tình, những cái đau khổ như vậy đó mà nhớ dai lắm. “Giang sang dễ đổi bản tánh khó dời” nhớ dai những cái đó còn kinh thì không thuộc.
Cho nên đầu tiên, Đức Phật dạy mình cung kính, thận trọng, sống tương hòa. Tại sao mình kính với nhau? tất cả chúng ta ngồi đây là những người có cái tâm cao thượng, không có tâm cao thượng không ngồi đây, nhiều ít phải có. Tuổi này là tuổi ở ngoài để hưởng thụ, để đi tìm dục, tuổi này là tuổi sung mãn, ăn, chơi, ngủ, hưởng dục. Trong khi đó “ Cái răng cái tóc mà gốc con người” mà dám cạo cái đầu bỏ, mái tóc xuống, khóc hu hu, nhưng vẫn bỏ. Quyết định “con thưa mẹ, con đi tu” rồi mẹ không cho, ba lần, bốn lần, rồi quyết định nửa đêm xách giỏ trốn nhà mà đi. Ở nhà là con cưng lắm, chứ không phải không cưng đâu, nên không phải dễ dàng đâu. Tất cả chúng ta ngồi đây là đều phải có một cái đức, một cái tâm cao thượng, mình nên cung kính cái tâm đó đó, một nghị lực mạnh mẽ, nên cung kính nghị lực đó luôn, đâu phải dễ đâu. Người ta ở ngoài đời, người ta đi xa nhà mấy ngày đã nhớ rồi, phải không? nhớ không? đừng có lắc đầu, chưa nhìn thấy đó, đừng có vội lắc đầu. Không nhớ nhà thì nhớ cái khác, nhớ người, nên đừng có lắc đầu vội, nó nhớ đủ thứ hết, tình cảm gia đình, anh chị em, người yêu, người thương, bạn bè, quê hương, xứ sở, món đặc sản ở vùng quê mình, mỗi lần về Bến Tre là đem kẹo dừa, bánh phồng gì đó lên, thì đại khái vậy, những cái đó là ái không đó, mà bây giờ cắt, mới đi tu được. Chúng ta là cả một ý chí cao thượng, nghị lực mạnh mẽ, từ bỏ những cái khó từ bỏ, tu tập một đời sống ít muốn, biết đủ “ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da”. Nhiều khi mới vô cạo đầu máu chảy ròng ròng, có nhiều người tập tự cạo là bữa nào cái đầu đưa ra nó đỏ chét hết, mà phải mấy lần đỏ chét như vậy mới cạo được, đâu phải dễ đâu.
III. Ứng xử bằng tâm cung kính:
Thành ra mình nhìn thấy được những cái đức hạnh, cao thượng của huynh đệ mình, mình cung kính, mình nghĩ mình tác ý đến những cái đẹp đó, chứ mình đừng nhìn “cái cô này cổ hay nói thị phi tôi quá” nhớ cái này thôi còn mấy cái kia thì không nhớ. Nhớ những cái khó làm đó, chiếc đầu này, cái áo này, cái vớ này là cao thượng, cho nên khi mình đối đãi với nhau không đối đãi một cách buông thùa, không cư xử một cách giống như bình thường ở ngoài được, mà phải có chuẩn mực, nề nếp, ranh giới, cung kính, thận trọng, giới hạnh dẫu là nữ với nữ, nam với nam, chứ không chỉ riêng khác phái. Cái đó khỏi cần nói thì mình cũng biết rồi, tại sao?
Chính mình không thận trọng, không có sự cung kính, cho nên mới có những sự buông thùa, nói qua nói lại, nghĩ gì nói nấy, nói riết rồi người ta giận, người ta phiền não, người ta khổ, rồi người ta cũng nói lại mình như vậy, rồi mình giận nữa, buồn nữa, tối ngày vô tu cứ hờn mác nhau hoài, bảy bữa giận một lần, hai tuần có chuyện một lần “bệnh, đóng cửa lại, ăn cháo”. Giả bộ bệnh vậy đó, chứ bệnh tâm trong này.
Thành ra thận trọng cung kính dẫu cho ở càng lâu, cái này quan trọng, bí kíp võ công, bí kíp Chánh pháp. Chỗ nào là chỗ chúng ta dễ phát sinh tập khí nhất, chúng ta biết không? Ở đâu? “Ở dưới bếp, trên quả đường?”. Để nói từ từ cho đại chúng thấy chỗ mình dễ bung tập khí, thói quen là trong gia đình, người thân của mình, chính chỗ đó là chỗ mình dễ bung tập khí, thói quen, nghiệp của mình nhất tại vì ở đó là những người thân, người trong nhà, mình không có cẩn thận. Cho nên những phật tử nào nói “con coi cô giống như người trong nhà” là coi chừng, cẩn thận. Họ lại họ giao tiếp với mình một hồi, coi mình giống như con cháu trong nhà của cô vậy, không được, không có vụ đó “con là người xuất gia”. Vì sao vậy, như vậy mình lần lần sẽ bị thế tục hóa, tha hóa, đồng hóa. Cái cao thượng, tình cảm thiêng liêng nhất là cha mẹ mà mình bỏ, tự nhiên mình vô đây, mình nhận mấy phật tử thân tính giống như người thân trong gia đình của mình, cùng vui, cùng buồn với họ, là mình đang làm chuyện đại bất hiếu. Người xuất gia không có thân với ai hết, thân vì pháp, vì pháp mới qua lại, chứ không phải vì thân tình mà quen biết, rồi ngày nào cũng gặp, ngày nào cũng điện thoại, rồi có chuyện gì ngày nào cũng nói hết, không được. Thậm chí mình quen, mình thân với người Phật tử đó, mình quan tâm còn hơn cha mẹ mình nữa, bảy ngày nữa tháng mới gọi điện thoại cha mẹ mình một lần, còn Phật tử ngày nào cũng nói chuyện hết, là thất bại rồi, tại vì như vậy là không có thận trọng, không cung kính, không giữ pháp.
Từ cư sĩ, tu sĩ cho đến những bậc trưởng thượng. Bây giờ thứ hai là gì? chỗ nào mình dễ bung tập khí, phiền não của mình, huynh đệ, thầy trò, sư tỷ, sư muội, sư thúc, sư bá là cái gì cũng bung ra hết, và mình biến ngôi trường mình trở thành một gia đình thứ hai. Không có y cứ vô pháp và luật để sống, không có sống tùy thuận pháp, mà lại sống tùy thuận theo thường tình thế tục, thì sự nghiệp đạo hạnh của mình sụp đổ. Sụp đổ ngay khi đó rồi, chứ không phải đợi tới lúc mình chết, đợi lúc mình ra đời, không phải. Mình phải coi người đó đến với mình vì pháp hay là vì thường tình, bất cứ một người nào dẫu người đó cung kính, cúng dường, đảnh lễ tôn trọng gì đó, dẫu cho cúng mình hết cái chùa luôn, nhưng đó là thường tình thì không nhận. Tại vì mình đi xuất gia là để đạt được pháp, Thánh pháp, chứng ngộ được pháp chứ đâu phải đi xuất ra vì cái chùa, bây giờ người ta bỏ ra người ta cất cái chùa rồi coi như mình trở thành người trong gia đình của người ta, vậy rồi thì thôi, giá trị đời tu của mình bằng với cái chùa đó, bao nhiêu tiền người ta mua xong rồi đó, chứ không phải Thánh pháp vô thượng, không phải là pháp bảo tối thượng, cho nên cái này là hết sức quan trọng.
Rồi những huynh đệ cũng vậy, thân với nhau là vì pháp mới thân, chứ không phải “ ờ, cô này dễ thương, cô này hợp ý, hợp gu với tôi thì tôi mới chơi. Còn người kia là không hợp, không thích, không nói chuyện” không phải, cái đó thường tình, phàm phu. Trao đổi về pháp về tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học, giải thoát, giải thoát tri kiến học mà làm pháp lữ. Nếu mình giao du với một người nào mà làm cho mình tăng trưởng các thiện pháp thì Đức Phật cho giao du, nếu giao du với một người nào mà tăng trưởng ác bất thiện pháp, không giao du.
Nếu mình ở chỗ nào mà chỗ đó làm cho mình tăng trưởng ác bất thiện pháp thì Đức Phật nói lập tức cuốn đồ đi, không cần xin. Đức Phật dạy mình đó, sau này mình sẽ học những bài kinh, kỹ lắm, mình đối diện với một người nào, chỗ nào, món đồ vật chất nào, mà nó tăng trưởng ác bất thiện pháp thì lập tức bỏ. Còn nếu như đồ đạc, con người, nơi nào, chỗ nào mà tăng trưởng thiện pháp thì vẫn ở đó, thậm chí bị đuổi cũng vẫn ở, vì “tăng trưởng thiện pháp, minh sư thiện hữu”.
Đức Phật dạy là Đức Phật căn cứ pháp, bây giờ mình sống mà mình không đạt pháp, vì mình căn cứ tình. Chúng ta để ý là thấy, mình ở một thời gian, rồi xem huynh đệ này kia giống như một gia đình, mình không còn cẩn trọng, không còn cẩn thận, cung kính, không còn giữ nề nếp, khoảng cách. Ví dụ như hồi đó mình mới vô, có chuyện gì mình bạch sư phụ là đắp y quỳ xuống thưa, giờ ở mười năm rồi, mình khỏi cần đắp y, khỏi mặc áo đi đường gì hết, mặc đồ ngắn rồi lại ngồi nói chuyện với sư phụ, đó là bất kính, không có thành pháp, không có kính Tăng. Như thế thì mai mốt mình với sư phụ giống như ngang hàng và mình có quyền bắt lỗi sư phụ mình, vậy mới có những cái nói xấu thầy tổ này kia nọ, tại không có giữ pháp cung kính, sao lúc đầu mình cung kính mà mình ở riết rồi mình trở thành bất kính? đó là thối đoạ rồi.
Do bắt đầu mình sống với cái tình, sống với cái thường tình, càng ngày càng đi xa với Thánh trí tuệ, thoái lui ở trong giới học, định học, tuệ học, không có tăng trưởng ở trong thiện pháp. Cho nên, ví dụ nhiều khi đệ tử đi đâu đó, nó đi ra đời gì đó mà sư phụ khóc, không phải, đó là ái, là pháp thường tình thế gian, không phải bậc Đa văn thánh đệ tử. Tình cũng có vậy, nhưng mà tình đó phải đặt nền tảng trên pháp và luật. Còn nếu không, đó là phàm phu, mình tu không thể nào mình thể nhập vô Thánh trí được hết. Tất cả mọi thứ là phải đứng đặt trên cái nền tảng của Chánh pháp thì nó mới đưa tới thành tựu viên mãn pháp. Mọi suy nghĩ, ngôn ngữ, hành vi của mình, mình đưa nó vào pháp hết. Từ hôm nay bắt đầu đưa vào pháp, mình kiểm tra xem suy nghĩ này có phải ái thường tình hay không? cái hành động lời nói này có pháp cung kính không? Ví dụ như hồi lúc mới đi học về thưa sư phụ, giờ đi học riết rồi lên tới trung cấp, cao đẳng rồi, khỏi cần thưa “giờ thân thiện gần gũi rồi còn thưa gì nữa, thưa mất công” thấy chưa, từ từ nó mất rồi. Đúng ra pháp cung kính mỗi ngày nó phải tăng trưởng, phát triển lớn lên, tại vì pháp cung kính nó đi chung với Thánh trí vô ngã.
Người thành tựu trí tuệ vô ngã viên mãn thì mới thành tựu pháp cung kính đầy đủ viên mãn, cái cung kính đó là thước đo của trí tuệ vô ngã. Cung kính học pháp là những cái oai nghi của người xuất gia, hai mươi bốn oai nghi, những học pháp trong kinh Nikāya, Đức Phật dạy một trăm pháp chúng học ở trong luật tạng. Đó là những học pháp mình phải cung kính, cung kính để mình giữ gìn, tôn trọng. Còn bây giờ, nhiều khi mình cho qua, mình xem thường rồi cuối cùng cái pháp nó mất, thiện pháp nó mất. Ví dụ như, ăn cơm trong chùa phải giữ không được nói chuyện mà ở trong chùa quen rồi, ăn cơm cứ việc nói chuyện thoải mái, lúc mới vô chùa với bây giờ nó khác, ăn nói thoải mái làm mất cái thiện pháp đó. Hồi xưa đi về chào sư phụ, đi thưa về trình, bây giờ thì khỏi, mất thiện pháp đó, mất cái cung kính pháp đó, nó nhỏ nhiệm lắm, nó từng chút, từng chút. Nó phải được tích tập từ nhỏ nhiệm, chút chút đó, từ những hạt cát mới thành đống cát, rồi thành đồi cát và thành cả một sa mạc, là từ những hạt cát. Mình đòi cái là có cái sa mạc thì lấy đâu ra, phải từ những hạt cát, từ những pháp nhỏ nhỏ của sự cung kính, từ những pháp nhỏ nhiệm của sự cung kính, từ từ nó mới lớn mạnh ở trong pháp cung kính. Mà khi cung kính có, thận trọng, hài hòa có, thì mình thấy trong đại chúng an ổn kỳ diệu lắm.
Mình không dám buông thùa, cung kính sự không phóng dật, cung kính sự không buông lung, pháp không buông lung phóng dật là pháp tối thượng mà Đức Phật ví giống như một cái mái nhà nóc nhọn, tất cả rui mè kèo cột đều hướng về nóc nhọn đó hết, cái nóc nhọn đó, Đức Phật gọi là bất phóng dật, không có buông lung. Có pháp đó mới thành tựu được Chánh Đẳng, Chánh Giác, mới thành tựu được sự giác ngộ. Còn nếu như mình không có cung kính sự không phóng dật, tức là mình sẽ phóng dật, sẽ buông lung. Buông lung là muốn suy nghĩ gì thì kệ, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì cứ làm, không cần kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán, kiểm điểm thật kỹ lưỡng, cẩn thận, xem xét. Chính những cái đó là không có thận trọng, không có cung kính, thì bắt đầu từ từ nó buông buông, thả thả, từ từ rồi cuối cùng đời tu của mình nhìn lại, năm năm, mười năm, càng ngày càng đi lùi, đi xuống, giới hạnh, đức hạnh, phẩm hạnh, đạo hạnh không tăng trưởng được. Cái tâm ngồi lại là nó loạn cào cào lên, ngồi thiền không được, còn trí tuệ thì nó mù mịt không có nhìn thấy được thân tâm của mình.
Cho nên đầu tiên phải từ sự cung kính, chúng ta thực tập rồi chúng ta sẽ thấy, đối với huynh đệ, thầy, sư tỷ, sư muội, đại chúng và thậm chí đối với cư sĩ. Chúng ta thực tập đi rồi chúng ta sẽ thấy sự khác biệt mầu nhiệm, sự bình an trong đại chúng nó xuất hiện. Mình thấy người nào hay cà rỡn, đùa giỡn với mình, mà trước đây mình cũng cà rỡn, đùa giỡn với họ, bây giờ mình tập nhẹ nhàng lại, có sự Chánh niệm lại thì mình sẽ thấy tự động người đó sẽ thay đổi giống mình, mà trước hết là mình phải thay đổi mới được, mình cung kính họ chứ không phải mình xem thường họ, cung kính, hòa hợp, nhưng mà người đó sẽ có thái độ khác với mình.
Cho nên, cung kính bậc đạo sư, cung kính pháp, cung kính Tăng, cung kính học pháp, cung kính không phóng dật và cái quan trọng cuối cùng, cái này hơi lạ là cung kính tùy thuận lễ phép xã giao. Chính cái này mới làm cho Phật pháp hưng thịnh, mình bây giờ Chư tăng đến chùa, giống như mình không thấy vậy đó, đi ngang gặp mấy thầy giáo thọ, mấy thầy lớn đứng mà giống như không nhìn thấy ai, giống như hư không vậy đó, tu tới cảnh giới đó rồi đó, tu tới cảnh giới bất kính vô lễ, không có trên dưới, cao thấp gì hết, thì Chánh pháp hoại diệt. Cái này quan trọng lắm, kỳ sau chúng ta sẽ nói kỹ, tại vì sự cung kính tùy thuận lễ phép xã giao này là tuyệt đối quan trọng. Con xin thưa với đại chúng, hòa thượng luật sư của mình, hòa Thượng Minh Hạ Thông của mình lên núi Linh Quy bốn lần, thầy trụ trì Thiền Viện Trúc Lâm lên núi hồi lúc còn cái am tranh. Hòa thượng phó ban Hoằng Pháp, Thượng Biên Hà Giáp hồi xưa là dạy Minh Thành, mấy chục năm trước hòa thượng cũng lên và rất nhiều những vị Tôn đức.
Con thưa đại chúng, mỗi lần hòa thượng lên là tụi con cung đón như thế nào đại chúng biết không? Tất cả chùa từ trên xuống dưới đứng ở ngoài đường đất đá bình thường, đón từ ngoài đầu đường, quỳ lạy ngay ở giữa đường đất, mọp sát dưới chân. Và bất cứ những bậc Tôn đức nào có khả năng giảng pháp, hồi lúc trước lên là con đều thỉnh pháp hết, thỉnh thăng tòa thuyết pháp, nhắc nhở đại chúng tu hành. Xin thưa đại chúng, kết quả của sự cung kính là ngoài sức tưởng tượng, giới luật huyện của hòa thượng Minh Thông con vô giảng trong đó, ở chùa Hoằng Pháp, thầy trụ trì cho mở khóa tu Nikāya mới đây cả ngàn vị, rồi trường Phật học ở đây, tuy thầy Minh Thành là huynh đệ với con học chung hồi đó, nhưng mà con đối với thầy luôn luôn là bậc phụ huynh trưởng, thầy rất là thương, đi đâu nhập thất hay bất cứ bệnh gì mà nghỉ rồi quay lại là cho cứ việc vô giảng dạy.
Sự cung kính thì cái nhân quả của nó là mình không thể ngờ được, bất cứ ở chỗ nào tất cả các bậc Tôn đức, những người thân của mình hay những người vào thấp hơn mình như chú lái xe công quả, biên tập kinh sách hai chục năm, bỏ gia đình ở Sài Gòn cùng với vợ đi lên núi để hộ pháp, mà tới giờ này tuy là cư sĩ mà mình vẫn cung kính, quý trọng người ta, đây là điều hết sức quan trọng, chúng ta nên để ý.
./.
GIÁ TRỊ CỦA PHÁP CUNG KÍNH
-Thích Minh Thành-
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tầm quan trọng của cung kính: PAGEREF _Toc47424049 \h 1
II. Lợi ích của cung kính: PAGEREF _Toc47424050 \h 8
III. Ứng xử bằng tâm cung kính: PAGEREF _Toc47424051 \h 10
I. Tầm quan trọng của cung kính:
Kính thưa đại chúng, chúng ta không phải vào trường để đi tìm một kiến thức suông, sách vở, chữ nghĩa. Chúng ta phải cần có một nền móng vững chắc trong sự tu học, nền móng đó đặt ở trên oai nghi, giới hạnh và hòa kính. Nếu như mình không có những pháp này, dù cho mình có hiểu biết tới đâu, làm được cái gì, thì nó chỉ là xây lâu đài trên bãi cát thôi. Cho nên, sự cung kính là tuyệt đối quan trọng của người xuất gia chúng ta.
Trong chùa ở miền Bắc trong thời công phu khuya thầy có đọc được câu “nhất thiết cung kính”. “Mình ở đây có ai ở ngoài đó vô không? chắc có mà phải không?” Nghi thức ở ngoài miền Bắc trong buổi công phu thường có câu “nhất thiết cung kính” tức là cung kính đối với tất cả. Tăng Chi Bộ kinh tập 2 - kinh “Không Có Cung Kính”
“- Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, không cung kính không thận trọng, không sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh, sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này không xảy ra
- Sau khi không làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này không xảy ra.
- Không làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này không xảy ra.
- Sau khi không làm cho viên mãn các giới luật, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này không xảy ra.
- Sau khi không làm cho viên mãn chánh tri kiến, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này không xảy ra.”. (Tăng Chi Bộ tập 2 – (III) Phẩm Năm Phần – bài kinh Không Có Cung Kính).
“Thắng hạnh pháp” là cái pháp đức hạnh, thầu thắng, là giới hạnh, là sự cao thượng của một người tu. Nếu không có cung kính thì không thể thành tựu được đời sống của một người tu. Không cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh mà có thể làm cho đầy đủ được các đức hạnh cao thượng của một người tu, sự kiện này không xảy ra. Nếu như không có những đức hạnh cao thượng của một người tu mà người đó có thể đầy đủ được pháp hữu học thì sự kiện này không xảy ra (pháp của bậc hữu học tức là từ khi mới đi tu cho đến thánh quả thứ ba đó gọi là hữu học, thánh quả thứ tư gọi là vô học). Nếu như không đầy đủ những pháp hữu học mà có thể viên mãn được giới luật thì sự kiện này không thể xảy ra mà đã không viên mãn giới luật mà có thể viên mãn được Chánh tri kiến sự việc này không thể xảy ra. Nó phải từng bước từng bước như mình đi lên bậc thang vậy, giới luật không đủ mà có thể đầy đủ được Chánh tri kiến thì điều đó không thể. Mà người đã không đầy đủ Chánh chi kiến mà có thể viên mãn được Chánh định thì không thể xảy ra.
Chúng ta thấy, đầu tiên là cung kính, thận trọng, sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh đó là yếu tố đầu tiên. Cung kính, thận trọng, sống hòa hợp đối với các vị đồng tu với mình gọi là đồng Phạm hạnh. Chữ “phạm” là thanh tịnh, chữ “hạnh” là đức hạnh. Các vị đồng Phạm hạnh tức là những người cùng tu với mình. Thí dụ chúng ta thấy những cái pháp của bài kinh này sẽ liên hệ với bài kinh “Sáu Điều Cung Kính Pháp”
“1) Này các Hiền Giả, ở đây vị Tỷ-kheo sống cung kính, tuỳ thuận bậc Đạo Sư.
2) Sống cung kính, tùy thuận pháp.
3) Sống cung kính, tuỳ thuận chúng Tăng.
4) Sống cung kính, tuỳ thuận học pháp.
5) Sống cung kính, tuỳ thuận không phóng dật
6) Sống cung kính, tuỳ thuận lễ phép xã giao” (Trường Bộ Kinh, (33) Kinh Phúng Tụng, Tụng Phẩm II, Phẩm Sáu Pháp).
Nếu ban đầu mình đọc bài kinh “Sáu Điều Cung Kính Pháp” mình không hiểu một cách đầy đủ, mình phải đi qua bài kinh “Không Có Cung Kính” này trước. Như vậy thì:
“Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo có cung kính, có thận trọng, sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh, vị ấy sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này có xảy ra”. (Tăng Chi Bộ tập 2 – (III) Phẩm Năm Phần – bài kinh Không Có Cung Kính).
Cung kính như thế nào? thận trọng như thế nào? sống tường hòa như thế nào? Chúng ta đã học thực hành ba pháp cảm giác toàn thân, đã học thực tập nhận diện ngũ uẩn, thấy biết thân tâm. Chúng ta đã học nhìn ra được những cảm giác của các lậu hoặc, cảm giác tham dục, sân, hận, bản ngã. Khi chúng ta bắt đầu nhìn thấy thân tâm của mình thì chúng ta có một sự hổ thẹn, nhìn lại mình “ồ, sao mình đi tu đến giờ này mà tham, dục của mình còn nhiều?”, mình hở chút mình hay giận, hay nhỏ nhặt, nhỏ hẹp, ích kỷ, hẹp hòi, tất cả mọi cử chỉ của mình có cung kính hay không là nó thể hiện ra hết.
Mà cái cung kính là từ chỗ Chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ các căn. Bài này chúng ta học rồi, vậy cho nên chúng ta nhớ những gì mình đi qua rồi thì ít có nhắc lại, mình phải nắm được. Khi nói phòng hộ các căn mình phải hiểu, nói Chánh niệm tỉnh giác thì mình phải biết. Mà chúng ta có sự Chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ các căn, chúng ta thận trọng, khi chúng ta có được những điểm này thì chúng ta ít bị lầm lỗi.
Thí dụ như bây giờ, mình thấy thầy của mình, mình rất cung kính, sư phụ mình rất biết ơn, cha mẹ mình sanh ra cái hình hài này, thầy cho mình đời sống Phạm hạnh, thì cái ơn đó mình nhớ hoài. Chính vì mình nhớ cái ơn đó nên mình trú tâm trong sự cung kính đối với thầy, với bậc trưởng thượng, giáo thọ sư, những vị tôn đức đó, cho nên mình không để ý, soi mói, moi móc những khuyết điểm, không “bới lông tìm vết” của các vị đó, mình không thấy lỗi của các bậc trưởng thượng. Vì mình cứ trú trong cái tâm cảm ơn, biết ơn, nhớ ơn thì mình không nhìn cái lỗi. Một người học trò mà đi nói lỗi của thầy mình với một người khác thì không có thành tựu pháp cung kính, khi nói đã sai, trừ khi huynh đệ tâm sự nỗi niềm thân thiết khi mình bị oan ức cái gì đó, nhưng mà mình phải nói với một cái tâm là “sư phụ chưa có thông cảm được cho mình” mà ở trong tâm phải biết ơn. Chứ nếu mình nói bằng sự chỉ trích, phê phán, bất kính thì đã phạm vô những lỗi này, mà những người đã phạm vô những lỗi này thì không thể nào thành tựu Chánh kiến được. Cái thấy đó đã sai, người bất kính với thầy mình thì không thể làm gì được trên cuộc đời này hết, là phản thầy.
Cho nên con xin thưa đại chúng, ai mà là người xuất gia rồi mà đi đến xin con ở lại nhưng lại nói xấu thầy của mình là con phất tay cho xuống núi. Đã bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết tất cả để chọn một vị thầy đi theo tu, mà giờ chưa có gì hết mà lại đi nói xấu thầy, thì mình ngồi đây là cái gì, làm sao mình có thể tiếp nhận những người như vậy. Cho nên, pháp cung kính là hết sức quan trọng, cung kính bậc đạo sư, tức là Đức Thế Tôn. Cung kính pháp là trong khi mình ngồi học đây, cái này là con nói những cái sơ cấp nhất, chúng ta đang học trung cấp nên nói trung cấp thôi, tức là thái độ của mình khi nghe pháp, khi học pháp, khi thực hành pháp có cung kính hay không là nhìn thấy. Một người bất kính đối với pháp là người đó không bao giờ có thể thành tựu được pháp.
Chính vì vậy con xin thưa với đại chúng, con nhắc nhở không phải là con khó chịu mà là thương. Những bài kinh này con có giảng ở trên núi, đại chúng cứ tìm có chữ cung kính trong bài ở trên Linhquyphapan.vn, thì các huynh đệ nghe, rất là nhiều những bài giảng về cung kính, vì cung kính này sẽ đưa đến Thánh quả. Đức Phật vừa mới thành đạo, Bồ tát vừa vừa thành Chánh đẳng, Chánh giác, Bồ tát suy nghĩ “ta phải sống nương tựa y chỉ, cung kính với một bậc đạo sư” thì lúc đó ngày mới dùng tam minh của ngài để nhìn khắp hết tất cả vô số, vô lượng thế giới, thì ngài thấy không có vị nào thành tựu Thánh giới uẩn viên mãn, thành tựu Thánh định uẩn viên mãn, thành tựu Thánh tuệ uẩn viên mãn, thành tựu Thánh tri kiến viên mãn và giải thoát tri kiến viên mãn. Cho nên ngài nói “nếu mà như vậy thì ta hãy tôn trọng pháp mà ta chứng ngộ làm thầy, ta phải sống đời sống cung kính”, đó là khi mới vừa thành Chánh đẳng Chánh giác dưới cội bồ đề “ta lấy pháp mà ta chứng ngộ làm thầy, pháp này là thầy của ta” tuyệt vời lắm, mình học mình sẽ thấy.
Rồi có một hôm các các thầy Tỷ-kheo pháp đàm ở trong giảng đường, đàm luận về pháp thì Đức Thế Tôn đi tới, nhưng đứng ngoài cửa mấy tiếng đồng hồ, tới lúc pháp đàm xong ngài mới bước vô. Ngài nói “các ông nói dài quá ta đau lưng” thì các vị Tỷ-kheo nói “Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn không bước vô để cho chúng con biết, để chúng con dừng lại”. Thế Tôn nói “Này các Tỷ-kheo, ta tôn kính pháp. Ta sống tùy thuận tôn kính Chánh pháp”. Mà năm đó Đức Phật đã bảy mươi tuổi, đứng mấy tiếng đồng hồ ở ngoài cửa, tại vì ngài biết khi ngài bước vô sẽ làm gián đoạn buổi đàm luận giáo pháp nên ngài đứng ở ngoài.
Mình thấy không, mà Đức Phật là con mắt của giáo pháp, là gốc của pháp, là chỗ để phô diễn ra Thánh pháp, là pháp bổn, pháp chủ, pháp nhãn, mà Đức Phật cung kính pháp. Chính vì cung kính pháp, Đức Phật mới trở thành chủ của pháp, con mắt của pháp và gốc của pháp, Đức Phật mới chứng ngộ viên mãn Thánh pháp, cho nên pháp cung kính là pháp tuyệt đối quan trọng. Nếu người nào không thành tựu pháp này, người đó vĩnh viễn không thể nào thể nhập vào dòng Thánh trí huệ được, đây là pháp quyết định. Chúng ta sẽ có học những bài kinh rồi chúng ta sẽ thấy, Chánh đẳng Chánh giác mới vừa chứng ngộ mà ngài nói “Ngài phải nương tựa một bậc đạo sư” ngài dùng hết tất cả Túc mạng, Minh sanh, Tử trí, thấy hết tất cả bao nhiêu thế giới mà không có người nào đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát tri kiến viên mãn như ngài, nên ngài mới nói lấy pháp làm thầy, tôn pháp làm thầy.
Và một bậc đạo sư, một bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người, mà đứng ở ngoài cửa để chờ mấy tiếng đồng hồ trong khi năm đó đã bảy mươi tuổi, đã lên hàng bảy mươi rồi. Chúng ta thấy, đó là sự cung kính pháp của Đức Phật. Chúng ta vào đọc kinh thì làm sao? mở cuốn kinh ra đọc bằng cách nào? Một cách hời hợt, đọc nhiều khi còn bỏ chữ, nghe nhiều khi còn nói cái này nghe rồi, thì làm sao chúng ta thành tựu pháp. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Thánh trí ngũ uẩn, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Ngũ căn ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát thánh đạo phần, là Bồ tát đã tu tập vô lượng kiếp, chứ không phải tu một lần là chứng ngộ viên mãn giác liền, không phải.
Thí dụ như Quán bất tịnh, không phải mình quán một lần mình chứng được liền trí bất tịnh, quán một trăm lần, một ngàn lần, mười ngàn, một trăm ngàn, một triệu, nhiều triệu, một tỷ lần cho đến khi nào chứng ngộ thể nhập Thánh trí bất tịnh đó. Để chúng ta thấy được tầm vóc quan trọng của pháp cung kính, cung kính Đức Thế Tôn, cung kính pháp, cung kính Tăng.
Chữ “Tăng” này mình phải hiểu, Tăng là đoàn thể của Phật giáo, không phải Tăng là mấy thầy hay mấy cô không, mà đoàn thể là gồm Tứ chúng. Ta nhớ chữ “Tăng đoàn” mình hay hiểu lầm, thí dụ bây giờ mình nói “tập đoàn” của công ty nào đó, thì mình kể mấy ông sếp thôi hay là nhân viên ở dưới cũng kể? Tập đoàn, đoàn thể của công ty đó thì phải tính luôn từ người nhân viên cho lên tới tất cả những chóp bu lãnh đạo phía trên. Thì cũng như vậy, đoàn thể Phật giáo của mình gồm bốn chúng là: Nam cư sĩ, nữ cư sĩ, Tăng và Ni. Gọi “đoàn thể Phật giáo” là bao gồm tứ chúng, không phải chỉ người xuất gia, cư sĩ bỏ ra ngoài hay sao? Đoàn thể Phật giáo mà. Thí dụ người trong chùa mình mười sư cô, tám vị cư sĩ công quả ở thường trực trong đó, bây giờ nói đoàn thể, tập thể của chùa là bao nhiêu người, mình nói mười người hay là mười tám người? Mình nói “mười tám người”, ý nghĩa nó là như vậy đó.
Những vị cư sĩ trong thời Đức Phật có khả năng chứng Thánh quả thứ ba, và có những vị chứng tới Thánh quả thứ tư, thì vị đó một là nhập niết bàn, hai là xuất gia. Tại vì thân thể của một người cư sĩ không đựng nổi Thánh quả A-La-Hán, chỉ tới quả thứ ba bất lai thôi. Khi một vị chứng thánh quả La-Hán còn cư sĩ đó, một là người này phải nhập niết bàn còn không thì là người này xuất gia. Chính vì vậy cho mình thấy rằng, đoàn thể Phật giáo không chỉ là người xuất gia, mà ngay cả nam cư sĩ, nữ cư sĩ nữa. Trước nay mình hiểu chữ “Tăng đoàn” mà nó không chính xác theo tinh thần của kinh Nikāya, rồi như vậy nam, nữ cư sĩ mình bỏ ở đâu? Nên nhớ Tứ chúng là đoàn thể của Phật giáo.
Sự cung kính của mình không chỉ cung kính thầy, cung kính bậc giáo thọ sư, những bậc trưởng thượng, những vị huynh đệ đồng Phạm hạnh, mà mình phải cung kính cả những vị ở trong đoàn thể Phật giáo, chứ không phải “cư sĩ là có bổn phận phải lo cho tôi, tôi là người xuất gia” nghĩ như vậy là sai, là bản ngã. Vì trong những vị cư sĩ đó, nếu mà họ tu đúng Chánh pháp là có thể đạt được các tầng Thánh quả. Đây là chỗ mà người xuất gia của chúng ta bây giờ không để tâm, mình cứ nghĩ mình xuất gia là mình hơn cư sĩ, cái nghĩ đó là cái nghĩ của người phàm phu, hơn thua hình thức, cao thấp, nhân ngã. Chính bản thân Minh Thành tiếp xúc có những vị cư sĩ trên đức hạnh, người xuất gia mình không sánh bằng, và thậm chí Minh Thành có tiếp xúc những vị đã thành tựu trong Thánh pháp này là cư sĩ. Thành ra, mình mà có tâm bất kính, mình cứ nghĩ người xuất gia là hơn thì coi chừng, đối với những bậc thành tựu rồi, thì mình không thể nào đem cái phàm trần của mình mà tưởng tượng nổi các vị thành tựu Thánh pháp này đâu. Mình đừng có nhìn trên hình thức, tướng mạo, chưa chắc.
Có những cục vàng nằm ở dưới bãi rác hoặc là dính bùn sình, có những hạt kim cương ẩn tàn ở trong đá “ngọc ẩn tàn ưa thạch”, kim cương ở trong đá mà phải thợ trong nhà nghề mới nhìn được đó là kim cương thật, người không phải trong nhà nghề không có Chánh tri kiến không thể biết được. Cho nên, mình mà nhìn trên hình thức để mình đánh giá là hết sức nguy hiểm, có khi mình gặp bậc Thánh mà mình không biết, mình khinh khi, phỉ báng họ. Chính vì vậy, ở đây mình muốn nói vấn đề cung kính Tăng là đoàn thể Phật giáo, mình phải có thái độ đối với những người cư sĩ đến hộ trì Chánh pháp, cúng dường Tam bảo hay là công quả, đừng xem thường người ta, đừng cho mình cao hơn, người ta thấp, ý niệm đó là bản ngã cung kính đối với tất cả, dẫu họ có thấp hơn mình.
II. Lợi ích của cung kính:
Cung kính sanh ra cho mình phước đức, phúc báo, sự bảo hộ, bình an, tình thương. Bây giờ mình thêm một người bạn với thêm một người thù thì cái nào tốt? “ người bạn”, chúng ta thấy không. Ở trong chùa mình giận ba người, mình không nói chuyện, thấy không ưa, không hợp, thì mình ở trong chùa cái tâm mình có an ổn không? đi vô đi ra thấy cái mặt đó thì cái tâm có an không? “ Dạ không”, thấy chưa. Cho nên sống chan hòa với các bậc đồng Phạm hạnh, với cái tâm bất an đó thì làm sao vô ngồi thiền? làm sao định? Cho nên, chúng ta nói một người không cung kính như vậy thì không thành tựu những đức hạnh của người tu, không thành tựu những pháp hữu học. Mà không thành tựu được giới luật, không thành tựu được Chánh tri kiến thì làm sao viên mãn được Chánh định. Bây giờ mình nói đơn giản thôi mình đi ra đi vô mà mình ghét như vậy thì ngồi thiền sao mà yên, mà ngồi kế gần nữa thì nguyên bữa thiền là thôi rồi, khổ. Ăn cơm mà bữa đó hết chỗ, hôm đó lễ cúng gì không biết mà sắp hai cái mặt đối diện với nhau thì mình ngồi chỉ cúi đầu xuống mà ăn cơm, không dám thẳng, khổ.
Chúng ta sẽ được học những bài kinh hòa kính, hay lắm. Phải hóa giải hết tất cả những cảm thọ bất hòa, xung đột, những cảm thọ không ưa, những cảm thọ không hợp, cảm thọ ghét này kia, xóa sạch hết những cảm giác đó. Phải khởi lên cái tâm cung kính đối với những người mà mình ghét, “tại sao mình ghét người ta? có phải bản ngã không? có phải sân hận không? mình vô đây mình bỏ cha, bỏ mẹ, cạo đầu vô đây để ghét, để sân hận có đáng không? đáng hay là không? mình đang làm chuyện gì?” mình hỏi lại cái cảm thọ của mình “mày đang làm cái chuyện gì vậy? có ngu thì ngu vừa vừa, vô đây mày đốt cho mày khổ hay sao?” mình tác ý như vậy, mình đánh tan hết những cảm giác nghĩ tưởng về bản ngã, về sân hận, ta đây để mình giải tỏa những cảm thọ, cảm giác đó, để mình nhìn thấy tất cả các bậc đồng phạm hạnh bình đẳng, hòa hợp, cung kính, cái tâm mình mới an được.
Chúng ta thấy, chỉ cần giận một người thôi chứ đừng nói ba người, ăn cơm không ngon rồi. Cho nên pháp Phật đó thiết thực, hiện tại lắm. Có chuyện gì thì ngay chỗ đó mình thưa, mình trình bày xong mình sẽ giải tỏa cảm giác, đừng có tích tụ bên trong. Xem lại nội tâm, nếu mà nó có, thì phải giải tỏa ra, giải phóng, giải phá, giải thoát cái cảm giác đó liền, còn không quỳ lạy sám hối với người ta “chị thấy chị có cái tâm bản ngã, em chứng minh cho chị để chị tẩy rửa cái cảm giác bản ngã, xấu hổ này. Chị không muốn chất chứa cái cảm thọ này trong tâm”. Khi giải tỏa được cảm thọ đó rồi thì mình sống vui, nhìn mặt nhau cười hoan hỉ, không có gì hết. Còn nếu không, một câu nói, một hành động thôi là mình thọ, mình đem vô, bắt đầu mình chất chứa trong đó, mình thù hằn, rồi mình đợi cơ hội “quân tử báo thù mười năm chưa muộn”. Học mấy cái đó, mấy cái ngu si đó, mà Thánh pháp thì không học, đi học những cái phàm tình, những cái đau khổ như vậy đó mà nhớ dai lắm. “Giang sang dễ đổi bản tánh khó dời” nhớ dai những cái đó còn kinh thì không thuộc.
Cho nên đầu tiên, Đức Phật dạy mình cung kính, thận trọng, sống tương hòa. Tại sao mình kính với nhau? tất cả chúng ta ngồi đây là những người có cái tâm cao thượng, không có tâm cao thượng không ngồi đây, nhiều ít phải có. Tuổi này là tuổi ở ngoài để hưởng thụ, để đi tìm dục, tuổi này là tuổi sung mãn, ăn, chơi, ngủ, hưởng dục. Trong khi đó “ Cái răng cái tóc mà gốc con người” mà dám cạo cái đầu bỏ, mái tóc xuống, khóc hu hu, nhưng vẫn bỏ. Quyết định “con thưa mẹ, con đi tu” rồi mẹ không cho, ba lần, bốn lần, rồi quyết định nửa đêm xách giỏ trốn nhà mà đi. Ở nhà là con cưng lắm, chứ không phải không cưng đâu, nên không phải dễ dàng đâu. Tất cả chúng ta ngồi đây là đều phải có một cái đức, một cái tâm cao thượng, mình nên cung kính cái tâm đó đó, một nghị lực mạnh mẽ, nên cung kính nghị lực đó luôn, đâu phải dễ đâu. Người ta ở ngoài đời, người ta đi xa nhà mấy ngày đã nhớ rồi, phải không? nhớ không? đừng có lắc đầu, chưa nhìn thấy đó, đừng có vội lắc đầu. Không nhớ nhà thì nhớ cái khác, nhớ người, nên đừng có lắc đầu vội, nó nhớ đủ thứ hết, tình cảm gia đình, anh chị em, người yêu, người thương, bạn bè, quê hương, xứ sở, món đặc sản ở vùng quê mình, mỗi lần về Bến Tre là đem kẹo dừa, bánh phồng gì đó lên, thì đại khái vậy, những cái đó là ái không đó, mà bây giờ cắt, mới đi tu được. Chúng ta là cả một ý chí cao thượng, nghị lực mạnh mẽ, từ bỏ những cái khó từ bỏ, tu tập một đời sống ít muốn, biết đủ “ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da”. Nhiều khi mới vô cạo đầu máu chảy ròng ròng, có nhiều người tập tự cạo là bữa nào cái đầu đưa ra nó đỏ chét hết, mà phải mấy lần đỏ chét như vậy mới cạo được, đâu phải dễ đâu.
III. Ứng xử bằng tâm cung kính:
Thành ra mình nhìn thấy được những cái đức hạnh, cao thượng của huynh đệ mình, mình cung kính, mình nghĩ mình tác ý đến những cái đẹp đó, chứ mình đừng nhìn “cái cô này cổ hay nói thị phi tôi quá” nhớ cái này thôi còn mấy cái kia thì không nhớ. Nhớ những cái khó làm đó, chiếc đầu này, cái áo này, cái vớ này là cao thượng, cho nên khi mình đối đãi với nhau không đối đãi một cách buông thùa, không cư xử một cách giống như bình thường ở ngoài được, mà phải có chuẩn mực, nề nếp, ranh giới, cung kính, thận trọng, giới hạnh dẫu là nữ với nữ, nam với nam, chứ không chỉ riêng khác phái. Cái đó khỏi cần nói thì mình cũng biết rồi, tại sao?
Chính mình không thận trọng, không có sự cung kính, cho nên mới có những sự buông thùa, nói qua nói lại, nghĩ gì nói nấy, nói riết rồi người ta giận, người ta phiền não, người ta khổ, rồi người ta cũng nói lại mình như vậy, rồi mình giận nữa, buồn nữa, tối ngày vô tu cứ hờn mác nhau hoài, bảy bữa giận một lần, hai tuần có chuyện một lần “bệnh, đóng cửa lại, ăn cháo”. Giả bộ bệnh vậy đó, chứ bệnh tâm trong này.
Thành ra thận trọng cung kính dẫu cho ở càng lâu, cái này quan trọng, bí kíp võ công, bí kíp Chánh pháp. Chỗ nào là chỗ chúng ta dễ phát sinh tập khí nhất, chúng ta biết không? Ở đâu? “Ở dưới bếp, trên quả đường?”. Để nói từ từ cho đại chúng thấy chỗ mình dễ bung tập khí, thói quen là trong gia đình, người thân của mình, chính chỗ đó là chỗ mình dễ bung tập khí, thói quen, nghiệp của mình nhất tại vì ở đó là những người thân, người trong nhà, mình không có cẩn thận. Cho nên những phật tử nào nói “con coi cô giống như người trong nhà” là coi chừng, cẩn thận. Họ lại họ giao tiếp với mình một hồi, coi mình giống như con cháu trong nhà của cô vậy, không được, không có vụ đó “con là người xuất gia”. Vì sao vậy, như vậy mình lần lần sẽ bị thế tục hóa, tha hóa, đồng hóa. Cái cao thượng, tình cảm thiêng liêng nhất là cha mẹ mà mình bỏ, tự nhiên mình vô đây, mình nhận mấy phật tử thân tính giống như người thân trong gia đình của mình, cùng vui, cùng buồn với họ, là mình đang làm chuyện đại bất hiếu. Người xuất gia không có thân với ai hết, thân vì pháp, vì pháp mới qua lại, chứ không phải vì thân tình mà quen biết, rồi ngày nào cũng gặp, ngày nào cũng điện thoại, rồi có chuyện gì ngày nào cũng nói hết, không được. Thậm chí mình quen, mình thân với người Phật tử đó, mình quan tâm còn hơn cha mẹ mình nữa, bảy ngày nữa tháng mới gọi điện thoại cha mẹ mình một lần, còn Phật tử ngày nào cũng nói chuyện hết, là thất bại rồi, tại vì như vậy là không có thận trọng, không cung kính, không giữ pháp.
Từ cư sĩ, tu sĩ cho đến những bậc trưởng thượng. Bây giờ thứ hai là gì? chỗ nào mình dễ bung tập khí, phiền não của mình, huynh đệ, thầy trò, sư tỷ, sư muội, sư thúc, sư bá là cái gì cũng bung ra hết, và mình biến ngôi trường mình trở thành một gia đình thứ hai. Không có y cứ vô pháp và luật để sống, không có sống tùy thuận pháp, mà lại sống tùy thuận theo thường tình thế tục, thì sự nghiệp đạo hạnh của mình sụp đổ. Sụp đổ ngay khi đó rồi, chứ không phải đợi tới lúc mình chết, đợi lúc mình ra đời, không phải. Mình phải coi người đó đến với mình vì pháp hay là vì thường tình, bất cứ một người nào dẫu người đó cung kính, cúng dường, đảnh lễ tôn trọng gì đó, dẫu cho cúng mình hết cái chùa luôn, nhưng đó là thường tình thì không nhận. Tại vì mình đi xuất gia là để đạt được pháp, Thánh pháp, chứng ngộ được pháp chứ đâu phải đi xuất ra vì cái chùa, bây giờ người ta bỏ ra người ta cất cái chùa rồi coi như mình trở thành người trong gia đình của người ta, vậy rồi thì thôi, giá trị đời tu của mình bằng với cái chùa đó, bao nhiêu tiền người ta mua xong rồi đó, chứ không phải Thánh pháp vô thượng, không phải là pháp bảo tối thượng, cho nên cái này là hết sức quan trọng.
Rồi những huynh đệ cũng vậy, thân với nhau là vì pháp mới thân, chứ không phải “ ờ, cô này dễ thương, cô này hợp ý, hợp gu với tôi thì tôi mới chơi. Còn người kia là không hợp, không thích, không nói chuyện” không phải, cái đó thường tình, phàm phu. Trao đổi về pháp về tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học, giải thoát, giải thoát tri kiến học mà làm pháp lữ. Nếu mình giao du với một người nào mà làm cho mình tăng trưởng các thiện pháp thì Đức Phật cho giao du, nếu giao du với một người nào mà tăng trưởng ác bất thiện pháp, không giao du.
Nếu mình ở chỗ nào mà chỗ đó làm cho mình tăng trưởng ác bất thiện pháp thì Đức Phật nói lập tức cuốn đồ đi, không cần xin. Đức Phật dạy mình đó, sau này mình sẽ học những bài kinh, kỹ lắm, mình đối diện với một người nào, chỗ nào, món đồ vật chất nào, mà nó tăng trưởng ác bất thiện pháp thì lập tức bỏ. Còn nếu như đồ đạc, con người, nơi nào, chỗ nào mà tăng trưởng thiện pháp thì vẫn ở đó, thậm chí bị đuổi cũng vẫn ở, vì “tăng trưởng thiện pháp, minh sư thiện hữu”.
Đức Phật dạy là Đức Phật căn cứ pháp, bây giờ mình sống mà mình không đạt pháp, vì mình căn cứ tình. Chúng ta để ý là thấy, mình ở một thời gian, rồi xem huynh đệ này kia giống như một gia đình, mình không còn cẩn trọng, không còn cẩn thận, cung kính, không còn giữ nề nếp, khoảng cách. Ví dụ như hồi đó mình mới vô, có chuyện gì mình bạch sư phụ là đắp y quỳ xuống thưa, giờ ở mười năm rồi, mình khỏi cần đắp y, khỏi mặc áo đi đường gì hết, mặc đồ ngắn rồi lại ngồi nói chuyện với sư phụ, đó là bất kính, không có thành pháp, không có kính Tăng. Như thế thì mai mốt mình với sư phụ giống như ngang hàng và mình có quyền bắt lỗi sư phụ mình, vậy mới có những cái nói xấu thầy tổ này kia nọ, tại không có giữ pháp cung kính, sao lúc đầu mình cung kính mà mình ở riết rồi mình trở thành bất kính? đó là thối đoạ rồi.
Do bắt đầu mình sống với cái tình, sống với cái thường tình, càng ngày càng đi xa với Thánh trí tuệ, thoái lui ở trong giới học, định học, tuệ học, không có tăng trưởng ở trong thiện pháp. Cho nên, ví dụ nhiều khi đệ tử đi đâu đó, nó đi ra đời gì đó mà sư phụ khóc, không phải, đó là ái, là pháp thường tình thế gian, không phải bậc Đa văn thánh đệ tử. Tình cũng có vậy, nhưng mà tình đó phải đặt nền tảng trên pháp và luật. Còn nếu không, đó là phàm phu, mình tu không thể nào mình thể nhập vô Thánh trí được hết. Tất cả mọi thứ là phải đứng đặt trên cái nền tảng của Chánh pháp thì nó mới đưa tới thành tựu viên mãn pháp. Mọi suy nghĩ, ngôn ngữ, hành vi của mình, mình đưa nó vào pháp hết. Từ hôm nay bắt đầu đưa vào pháp, mình kiểm tra xem suy nghĩ này có phải ái thường tình hay không? cái hành động lời nói này có pháp cung kính không? Ví dụ như hồi lúc mới đi học về thưa sư phụ, giờ đi học riết rồi lên tới trung cấp, cao đẳng rồi, khỏi cần thưa “giờ thân thiện gần gũi rồi còn thưa gì nữa, thưa mất công” thấy chưa, từ từ nó mất rồi. Đúng ra pháp cung kính mỗi ngày nó phải tăng trưởng, phát triển lớn lên, tại vì pháp cung kính nó đi chung với Thánh trí vô ngã.
Người thành tựu trí tuệ vô ngã viên mãn thì mới thành tựu pháp cung kính đầy đủ viên mãn, cái cung kính đó là thước đo của trí tuệ vô ngã. Cung kính học pháp là những cái oai nghi của người xuất gia, hai mươi bốn oai nghi, những học pháp trong kinh Nikāya, Đức Phật dạy một trăm pháp chúng học ở trong luật tạng. Đó là những học pháp mình phải cung kính, cung kính để mình giữ gìn, tôn trọng. Còn bây giờ, nhiều khi mình cho qua, mình xem thường rồi cuối cùng cái pháp nó mất, thiện pháp nó mất. Ví dụ như, ăn cơm trong chùa phải giữ không được nói chuyện mà ở trong chùa quen rồi, ăn cơm cứ việc nói chuyện thoải mái, lúc mới vô chùa với bây giờ nó khác, ăn nói thoải mái làm mất cái thiện pháp đó. Hồi xưa đi về chào sư phụ, đi thưa về trình, bây giờ thì khỏi, mất thiện pháp đó, mất cái cung kính pháp đó, nó nhỏ nhiệm lắm, nó từng chút, từng chút. Nó phải được tích tập từ nhỏ nhiệm, chút chút đó, từ những hạt cát mới thành đống cát, rồi thành đồi cát và thành cả một sa mạc, là từ những hạt cát. Mình đòi cái là có cái sa mạc thì lấy đâu ra, phải từ những hạt cát, từ những pháp nhỏ nhỏ của sự cung kính, từ những pháp nhỏ nhiệm của sự cung kính, từ từ nó mới lớn mạnh ở trong pháp cung kính. Mà khi cung kính có, thận trọng, hài hòa có, thì mình thấy trong đại chúng an ổn kỳ diệu lắm.
Mình không dám buông thùa, cung kính sự không phóng dật, cung kính sự không buông lung, pháp không buông lung phóng dật là pháp tối thượng mà Đức Phật ví giống như một cái mái nhà nóc nhọn, tất cả rui mè kèo cột đều hướng về nóc nhọn đó hết, cái nóc nhọn đó, Đức Phật gọi là bất phóng dật, không có buông lung. Có pháp đó mới thành tựu được Chánh Đẳng, Chánh Giác, mới thành tựu được sự giác ngộ. Còn nếu như mình không có cung kính sự không phóng dật, tức là mình sẽ phóng dật, sẽ buông lung. Buông lung là muốn suy nghĩ gì thì kệ, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì cứ làm, không cần kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán, kiểm điểm thật kỹ lưỡng, cẩn thận, xem xét. Chính những cái đó là không có thận trọng, không có cung kính, thì bắt đầu từ từ nó buông buông, thả thả, từ từ rồi cuối cùng đời tu của mình nhìn lại, năm năm, mười năm, càng ngày càng đi lùi, đi xuống, giới hạnh, đức hạnh, phẩm hạnh, đạo hạnh không tăng trưởng được. Cái tâm ngồi lại là nó loạn cào cào lên, ngồi thiền không được, còn trí tuệ thì nó mù mịt không có nhìn thấy được thân tâm của mình.
Cho nên đầu tiên phải từ sự cung kính, chúng ta thực tập rồi chúng ta sẽ thấy, đối với huynh đệ, thầy, sư tỷ, sư muội, đại chúng và thậm chí đối với cư sĩ. Chúng ta thực tập đi rồi chúng ta sẽ thấy sự khác biệt mầu nhiệm, sự bình an trong đại chúng nó xuất hiện. Mình thấy người nào hay cà rỡn, đùa giỡn với mình, mà trước đây mình cũng cà rỡn, đùa giỡn với họ, bây giờ mình tập nhẹ nhàng lại, có sự Chánh niệm lại thì mình sẽ thấy tự động người đó sẽ thay đổi giống mình, mà trước hết là mình phải thay đổi mới được, mình cung kính họ chứ không phải mình xem thường họ, cung kính, hòa hợp, nhưng mà người đó sẽ có thái độ khác với mình.
Cho nên, cung kính bậc đạo sư, cung kính pháp, cung kính Tăng, cung kính học pháp, cung kính không phóng dật và cái quan trọng cuối cùng, cái này hơi lạ là cung kính tùy thuận lễ phép xã giao. Chính cái này mới làm cho Phật pháp hưng thịnh, mình bây giờ Chư tăng đến chùa, giống như mình không thấy vậy đó, đi ngang gặp mấy thầy giáo thọ, mấy thầy lớn đứng mà giống như không nhìn thấy ai, giống như hư không vậy đó, tu tới cảnh giới đó rồi đó, tu tới cảnh giới bất kính vô lễ, không có trên dưới, cao thấp gì hết, thì Chánh pháp hoại diệt. Cái này quan trọng lắm, kỳ sau chúng ta sẽ nói kỹ, tại vì sự cung kính tùy thuận lễ phép xã giao này là tuyệt đối quan trọng. Con xin thưa với đại chúng, hòa thượng luật sư của mình, hòa Thượng Minh Hạ Thông của mình lên núi Linh Quy bốn lần, thầy trụ trì Thiền Viện Trúc Lâm lên núi hồi lúc còn cái am tranh. Hòa thượng phó ban Hoằng Pháp, Thượng Biên Hà Giáp hồi xưa là dạy Minh Thành, mấy chục năm trước hòa thượng cũng lên và rất nhiều những vị Tôn đức.
Con thưa đại chúng, mỗi lần hòa thượng lên là tụi con cung đón như thế nào đại chúng biết không? Tất cả chùa từ trên xuống dưới đứng ở ngoài đường đất đá bình thường, đón từ ngoài đầu đường, quỳ lạy ngay ở giữa đường đất, mọp sát dưới chân. Và bất cứ những bậc Tôn đức nào có khả năng giảng pháp, hồi lúc trước lên là con đều thỉnh pháp hết, thỉnh thăng tòa thuyết pháp, nhắc nhở đại chúng tu hành. Xin thưa đại chúng, kết quả của sự cung kính là ngoài sức tưởng tượng, giới luật huyện của hòa thượng Minh Thông con vô giảng trong đó, ở chùa Hoằng Pháp, thầy trụ trì cho mở khóa tu Nikāya mới đây cả ngàn vị, rồi trường Phật học ở đây, tuy thầy Minh Thành là huynh đệ với con học chung hồi đó, nhưng mà con đối với thầy luôn luôn là bậc phụ huynh trưởng, thầy rất là thương, đi đâu nhập thất hay bất cứ bệnh gì mà nghỉ rồi quay lại là cho cứ việc vô giảng dạy.
Sự cung kính thì cái nhân quả của nó là mình không thể ngờ được, bất cứ ở chỗ nào tất cả các bậc Tôn đức, những người thân của mình hay những người vào thấp hơn mình như chú lái xe công quả, biên tập kinh sách hai chục năm, bỏ gia đình ở Sài Gòn cùng với vợ đi lên núi để hộ pháp, mà tới giờ này tuy là cư sĩ mà mình vẫn cung kính, quý trọng người ta, đây là điều hết sức quan trọng, chúng ta nên để ý.
./.