Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh tấn như thế nào - Thiền Quán Khổ Thánh Đế

2026-03-03 00:56:01
Kinh Nikāya Giảng Giải

TINH TẤN NHƯ THẾ NÀO

THIỀN QUÁN KHỔ THÁNH ĐẾ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tứ chánh cần: PAGEREF _Toc57622804 \h 1

1. Tinh cần chế ngự: PAGEREF _Toc57622805 \h 1

2. Tinh cần đoạn tận – tinh cần tu tập – tinh cần hộ trì: PAGEREF _Toc57622806 \h 2

3. Tinh cần – phóng dật: PAGEREF _Toc57622807 \h 3

II. Khổ đế - chấp thủ Ngũ uẩn là khổ: PAGEREF _Toc57622808 \h 6

III. Tinh tấn để thể nhập: PAGEREF _Toc57622809 \h 10

I. Tứ chánh cần:

Kính thưa đại chúng, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Tứ Chánh Cần. Hôm trước chúng ta tìm hiểu về bài kinh “Chế Ngự”, hôm nay tìm hiểu về bài kinh “Tinh Cần”. Trong nhóm Tứ Chánh Cần, Minh Thành sẽ giới thiệu chúng ta 3 bài kinh. Con xin thưa với đại chúng, lần trước chúng ta đã tìm hiểu bài kinh “Chế Ngự”, chúng ta đi chuyên sâu trong sự thực hành nội tâm để thấy được chữ tinh tấn, tinh cần trong giáo pháp thật sự là gì? Hôm nay cũng trong 4 sự tinh cần mà Đức Phật giải thích một kiểu khác, ngắn gọn, cô đọng hơn.

“Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được trừ diệt, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng; tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm”.

(Tứ Chánh Cần – Phẩm 77 Đại Kinh MAHA SAKULUDAYI – Trung Bộ Kinh)

“Này các Tỳ-kheo, có bốn sự tinh cần này: Tinh cần chế ngự, Tinh cần đoạn tận, Tinh cần tu tập, Tinh cần hộ trì.

1. Tinh cần chế ngự:

Này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự? Tỳ-kheo với mục đích khiến cho các ác bất thiện pháp từ trước chưa sanh, không cho sanh khởi. Khởi lên ý muốn cố gắng tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tinh cần, chế ngự”.

Chúng ta nghe lại Đức Phật giải thích thế nào là siêng năng, chế ngự, là Tỳ-kheo với mục đích khiến cho các điều ác bất thiện pháp từ trước chưa sanh, không cho nó sanh khởi. Nhưng đoạn quan trong ở đây, câu này chúng ta đã nghe quen nhưng câu sau ít được nghe: “Khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm”. Khởi lên ý muốn tức tác ý, thường thường tác động tâm ý mình phải cố lên, gắng lên, tiến lên, vượt lên, bước lên, tăng thượng, hướng thượng. Chữ “tinh tấn” mình đã hiểu trong kỳ trước rồi, nhưng “sách tâm, trì tâm” là gì?

“Chữ sách” ở đây là cây roi thúc ngựa, mình học chữ cảnh sách rồi, là dùng cây roi đánh phía sau con ngựa cho nó nhảy lên. Tức mình dùng những cây roi của sự tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, cố gắng để mình tác động tâm ý của mình để tâm mình vượt lên trên. Như vậy gọi là sách tâm.

“Tinh cần giữa phóng dật

Tỉnh thức giữa quần mê

Người trí như ngựa phi

Bỏ sau con ngựa hèn”.

(Bài kệ số 29 - kinh Pháp Cú)

2. Tinh cần đoạn tận – tinh cần tu tập – tinh cần hộ trì:

Đó là chữ sách tâm. Chúng ta sẽ giải thích chung thế nào là tinh cần đoạn tận? Ở đây,

“Này các Tỳ-kheo với mục đích đoạn tận các ác bất thiện pháp khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Này, các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận.”

“Thế nào là tinh cần tu tập? Với mục đích làm cho sanh khởi các thiện pháp chưa sanh khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Đây gọi là tinh cần tu tập”.

Chúng ta sẽ đọc hết 4 bài kinh, giải thích 4 phần rồi giải thích chung để cho quý huynh đệ thấy thế nào là tinh cần hộ trì.

“Tỳ-kheo với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Này, các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì”

Chúng ta nhớ bốn cái này khác nhau ở điểm nào?

Vì chúng ta không có nhiều thời giờ để ghi, quý huynh đệ về tải app, đánh tên bài kinh “Tinh Cần” là nó hiện ra . Bây giờ chúng ta mới nhìn tổng quát, đầu tiên khiến cho các ác bất thiện pháp chưa sanh không sanh khởi là cái tinh tấn, tinh cần thứ nhất. Thứ hai là đoạn tân các ác bất thiện pháp. Nó đã có rồi mình phải đoạn, chưa sanh khởi không cho nó sanh. Đó là vế thứ nhất, vế thứ 2 là làm cho sanh khởi các thiện pháp chưa sanh, và cái thứ 3 là thiện pháp đã sanh rồi thì phải duy trì, đừng cho nó mù mờ, nó được tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn. Hai cặp thiện và ác: ác chưa sanh không cho sanh, ác đã sanh là phải diệt; thiện chưa sanh cho nó sanh khởi, nếu nó đã có thì duy trì, giữ gìn, làm cho nó sáng tỏ và làm cho nó tu tập, tăng trưởng, phát triển quảng đại, viên mãn.

3. Tinh cần – phóng dật:

Bây giờ chúng ta trở lại bài kệ :

“Tinh cần giữa phóng dật

Tỉnh thức giữa quần mê”.

Giữa sự buông lung, buông thả, buông xuôi, buông trôi của những người chung quanh, chúng ta chuyên cần, chuyên chú, tinh tấn, nỗ lực. Trong kinh Nikāya dùng từ “thả lỏng các căn”, điều này hết sức nguy hiểm. Hiện nay, chúng ta không để ý đến sự tu tập. Bất cứ lúc nào mà chúng ta không Chánh Niệm, tỉnh giác, không thực hành Thân Hành Niệm, lúc đó là “thả lỏng các căn”. Thế nào là “thả lỏng các căn”? Mình đọc học trong bài “Tinh Cần”, “Chế Ngự”: khi con mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, hộ trì nhãn căn.

Như vậy, nếu mình không thực hành sự hộ trì đó là mình thành “thả lỏng các căn”. Sự “thả lỏng các căn” này là phóng dật, mà phóng dật là con đường chết. Không phóng dật không chết, phóng dật là như kẻ chết rồi, tức tử thi trong Phật giáo, chỉ là cái thây chết, vất vưởng trong chùa. Không có tâm tăng trưởng về Giới, Định, Tuệ thì đó là tử thi trong biển cả của Phật giáo; đó như cô hồn trong chùa, sống vất vơ vất vưởng. Không có một ý muốn, không tác động tâm ý một cách sắc bén, tăng thượng giới học; không tác động tâm ý một cách sắc bén, tăng thượng tâm học trong thiền định; không tác động tâm ý một cách sắc bén, tăng thượng tuệ học đối với ngũ uẩn thì đó là cô hồn trong chùa.

Một cái xác không hồn là tử thi trong Phật giáo vì vĩnh viễn người này không có phần. Tất cả những Phật, Pháp, Phần, tất cả những thành quả, thành tích, Thánh quả đều không có thì đó là tử thi, thây chết, không có sức sống. Nên bài Tứ Niệm Xứ vừa rồi trong khóa tu bảy ngày trên núi Minh Thành chia sẻ là sức sống của người tu, là Tứ Niệm Xứ. Nên một sự sống buông lơi, thả lỏng, buông lung, buông trôi, buông xuôi, buông bỏ chí nguyện xuất gia của mình là một đời sống đáng thương xót. Đau khổ, tai nạn và hiểm họa thay cho một đời sống như vậy! Tại vì sao? Vì nợ chúng ta khủng khiếp lắm.

Chúng ta đã học “Tương Ưng Lợi Đắc”, “Cung Kính” rồi nên thầy không nhắc lại, nên “Tinh cần giữa phóng dật” – kệ người ta, đừng nhìn, không thèm nhìn, mình chỉ lo tự thân của mình. Không nên so sánh, vì nhìn người ta thì mình không tu được. Thế gian này vô số, vô lượng, vô biên mà, không cần, chỉ lo tự thân mình, tỉnh thức giữa “quần mê” – chữ “quần” trong tiếng Hán ở đây là một bầy, một đám, một lũ mê, bọn mê. Chữ “quần” biết viết không? Viết như thế nào? Thành ra “Tỉnh thức giữa quần mê”.

Người trí giống như ngựa phi, bỏ sau những con ngựa yếu hèn, bệnh hoạn cho nên trong sự thực tập của chúng ta, nếu có nhận diện ngũ uẩn, sẽ dành thời gian để hỏi bài chứ không ngồi nghe không nữa, nghe không là không học bài. Nên từ bữa sau sẽ bắt đầu hỏi bài trong mỗi buổi học, ít nhất 10 nhận diện ngũ uẩn những bài kinh đã học, nhất là những bài kinh mới vừa học phải hỏi và chấm điểm. Nếu chúng ta thường trực nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy được ác chưa sanh mà bây giờ sanh khởi, chứ nếu không nhìn lại cảm giác nghĩ tưởng thì ác bất thiện pháp trong tâm mình sanh lên mà mình không biết.

Ác mới sanh mình không biết, bất thiện pháp mới sanh mình cũng không biết vì mình không nhìn nhận thân tâm. Mình thấy rất bình thường, nhưng có nhìn nhận cảm giác, nghĩ tưởng thường xuyên thì mình biết cái này mới, ác mới, bất thiện mới đã sanh khởi. Khi mình thấy nó đã sanh khởi phải đoạn tận, còn bây giờ, thiện pháp tinh cần tu tập nó sanh khởi thì phải làm cho nó khởi. Trở lại từ hồi nãy mình giải thích: sách tâm, trì tâm. Khởi lên ý muốn cố gắng tinh tấn, sách tâm là cây roi quất vô mông con ngựa, ngựa nhảy lên nên mình thấy người huấn luyện ngựa hay người chạy xe ngựa có hàm thiếc và cây roi. Hàm thiếc xỏ vô niềng miệng và che bớt mắt ngựa, có cái cương, người ta sẽ cầm sợi dây, ví dụ muốn cho nó qua hướng này thì giật sợi dây qua, con ngựa sẽ đi qua hướng này. Muốn qua kia sẽ giật sợi dây qua kia thì con ngựa qua hướng kia. Đó là sự điều khiển, giống như bác tài muốn quẹo qua trái hay phải, trong tâm mình muốn qua trái hay phải, giữa cái thiện và bất thiện.

Khi tâm mình bắt đầu hướng qua đây gọi là tầm, mình đã học rồi, tầm là sự hướng tâm. Nếu như mình nói dục tâm – hướng tâm về dục, nếu dục mà tu là Tứ Như Ý Túc, đó là phát triển ham muốn tu học lên. Còn nếu dục là dục lạc về ngũ dục, năm dục trưởng dưỡng thì mình giật dây lại, chuyển hướng qua đây cho nó dục trong pháp, nó ưa pháp, mến pháp, thích pháp, ham pháp, quý pháp. Đó là tinh cần. Đức Phật gọi là đặt tâm đúng hướng, còn bây giờ tâm mình không có hướng, thả trôi như lục bình, làm sao mình đạt tới đích đến.

Bây giờ thầy chia sẻ cho chúng ta hai phần sau rất quan trọng: thiện pháp chưa sanh làm cho nó sanh khởi, thiện pháp đã sanh thì sao? Câu này quan trọng nhất, mình muốn minh họa cho câu này: với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không mù mờ, được tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn. Khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Này, các Tỳ- kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì.

Khi nãy chúng ta giải thích chữ sách tâm, trì tâm là sao? Là giữ tâm, tức khi nó đã tinh tấn, thúc cây gậy cho nó chạy tới, giữ tâm tinh tấn đó đừng cho nó mất gọi là trì tâm. Tức cái tinh tấn đó một hồi nó sẽ mất, cái tinh tấn đó được mấy ngày thôi, anh hùng rơm. Coi bộ Hư Vân hòa thượng hay phim Cuộc đời Đức Phật nên tối vô ngồi thiền, thức khuya, nhưng được 3 bữa, rồi ngủ tới sáng. Cho nên nói nó có trì tâm, sách tâm mà trong thời gian ngắn, không giữ được tinh tấn bền lâu.

II. Khổ đế - chấp thủ Ngũ uẩn là khổ:

Xin thưa đại chúng, trong sự thực tập của chúng ta nó sâu sắc lắm. Sáng nay con ngồi thiền trên lan can, con tác ý theo kinh Đại Niệm Xứ - Tương Ưng Bộ, con phát hiện ra những điều rất đặc biệt, con muốn chia sẻ với các thầy. Nếu mình tu đúng theo tinh thần kinh Nikāya, mình sẽ thấy hiệu quả của nó tuyệt vời. Khi ngồi xuống bồ đoàn, mình phải tác ý, cái này rất quan trọng, xin đại chúng chú ý. Con mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này là khổ.

“Này, các Tỳ-kheo, sắc này là khổ, âm thanh là khổ, mùi hương là khổ đau, vị là khổ, sự tiếp xúc, xúc chạm là khổ đau

“Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả (các sắc) quá khứ và vị lai, còn nói gì (các sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc quá khứ, không hoan hỷ đối với các sắc tương lai, đối với các sắc hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc....”

(Bài kinh Vô Thường – Phẩm Vô Thường -- Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất - Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Những cảm giác nghĩ tưởng này là khổ. Này, các Tỳ-kheo, sự rõ biết các sắc, nhãn thức là khổ đau, sự rõ biết các âm thanh này là khổ đau, sự rõ biết các mùi này là đau khổ, sự rõ biết các vị sanh ra dục, tham, ái là đau khổ, sự rõ biết đụng chạm trơn láng, mềm mại làm cho mình ràng buộc, khao khát, khát ái là đau khổ. Đó là thân thức. Sự rõ biết những cảm giác nghĩ tưởng trong tâm là đau khổ, ý thức.

Này, các Tỳ-kheo, sự tiếp xúc của con mắt là đau khổ, nhãn xúc; sự tiếp xúc của lỗ tai này là đau khổ; sự tiếp xúc của lỗ mũi này là đau khổ, trống rỗng, vô thường; sự tiếp xúc của cái lưỡi này là đau khổ, khát khao, thèm thuồng, khát ái, đam mê, đau khổ. Này các Tỳ-kheo, sự tiếp xúc của thân này, thân xúc, làm cho say mê, say đắm, đảo điên, khao khát, khát ái, ràng buộc, là đau khổ; sự tiếp xúc trong tâm ý này, ý xúc; sự tiếp xúc trong những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó, sanh khởi lên những sự hối tiếc, buồn phiền, sân hận, dính mắc, tham ái trong ngũ uẩn này là đau khổ, trống rỗng, vô thường, sanh diệt, ý xúc.

Này, các Tỳ-kheo, cảm giác do con mắt này tiếp xúc, thọ do nhãn xúc sanh là đau khổ, những cảm giác sanh khởi lên khi con mắt tiếp xúc là đau khổ. Những cảm giác do lỗ tai tiếp xúc là đau khổ, vô thường, vô ngã, trống rỗng, tan hoại, tan biến, hủy hoại, hoại diệt. Những cảm giác do mũi, lưỡi tiếp xúc là vô thường, đau khổ, trống rỗng, tan biến, hủy hoại, hoại diệt. Những cảm giác do thân này đụng chạm, tiếp xúc là đau khổ, vô thường, trống rỗng, hủy hoại, hoại diệt, tan biến, tiêu tan, vô ngã.

“Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc...

Các pháp là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với Chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Thọ do thân xúc sanh, những cảm giác sanh khởi lên từ trong suy nghĩ, hình bóng nội tâm, những cảm giác này, thọ do ý xúc sanh, là vô thường, hoại diệt, tan ra, trống không, đau khổ. Này, các Tỳ-kheo, sắc ái là khổ, sự yêu thích các hình sắc này, thân xác này, tài sản này là đau khổ. Này, các Tỳ-kheo, ai thích sắc là người đó thích khổ, ai thích khổ thì người đó không thể nào giải thoát khổ đau. Này, các Tỳ-kheo, thanh ái là đau khổ, sự yêu thích, sự ái luyến, tham đắm vào những âm thanh này, thanh trần này; sự yêu thích, sự ai luyến, tham đắm vào mùi này, mùi hương, vị đó là đau khổ, vô thường, trống rỗng, hủy hoại, hoại diệt, tan biến, tan nát, vô ngã. Sự ưa thích vào cảm giác của xúc chạm, xúc ái, sự ưa thích vào cái đụng chạm, tiếp xúc đó là đau khổ bởi vì sự ưa thích này nó ràng buộc, trói chăng, khao khát, làm nô lệ cho tham ái trong vô lượng, vô biên kiếp.

Xúc ái là khổ, này, các Tỳ-kheo, yêu thích sự đụng chạm, khao khát sự tiếp xúc đó, sự yêm ái, dễ chịu, tiếp xúc đó, sự êm ái dễ chịu, tiếp xúc đó. Xúc là khổ, là vô thường, ràng buộc, hệ lụy, thiếu thốn, khao khát, nô lệ. Này, các Tỳ-kheo, xúc ái là khổ đau. Pháp ái, này, các Tỳ-kheo, là sự đau khổ, là sự ưa thích những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ ở trong tâm. Pháp ái, ưa thích những suy nghĩ của mình, yêu thích những hình bóng, ảo ảnh trong tâm, bị những hình bóng đó xâm chiếm, áp đảo, chế ngự, ám ảnh trong tâm, không thoát ra khỏi những hình bóng đó, đau khổ. Đau khổ là sự ám ảnh của những hình bóng, cảm giác trong tâm. Sầu bi, ưu não là những ám ảnh của những suy nghĩ, vô minh, chấp thủ, sân hận ở trong tâm.

Này, các Tỳ-kheo, dục tầm là đau khổ, sự si tầm, sự tìm kiếm, đòi hỏi, rượt đuổi về dục là đau khổ. Này, các Tỳ-kheo, hải tầm là đau khổ, sân tầm là đau khổ, sự si tầm, sự hướng tâm và trong những sân hận, bực bội, giận tức, bực dọc, hơn thua, ganh tị, đố kỵ là đau khổ. Này, các Tỳ-kheo, sanh tầm, những suy nghĩ về muốn hại người ta, hại mình, hại người, làm khổ mình, làm khổ người là đau khổ, hại tầm là khổ đau. Này, các Tỳ-kheo, nội tâm bám chấp vào trong sắc uẩn này, sắc thủ uẩn là đau khổ, là sầu bi, ưu não, lo lắng, sợ hãi, bất an. Này, các Tỳ-kheo, sắc thủ uẩn là khổ.

Này, các Tỳ-kheo, sự bám chấp vào trong các cảm giác này là đau khổ, là sầu bi, ưu não. Sự dính mắc, chấp thủ, bám chắc vào trong các cảm giác này, những cảm giác gọi là vui sướng, đau khổ đó, những cảm giác không sướng không khổ là thọ thủ uẩn, là đau khổ, vô thường, trống rỗng, tiêu tan, hủy hoại, hoại diệt, sanh diệt. Này, các Tỳ-kheo, thọ thủ uẩn là khổ, sự bám chấp vào trong những hình bóng nội tâm, tưởng thủ uẩn là khổ.

Suy nghĩ về một người mình giận tức, sân hận là khổ, suy nghĩ về một người mà mình yêu thương, luyến ái, đau khổ; suy nghĩ về một người mình không giận không thương là vô minh, si mê, không nhìn thấy được các pháp tưởng uẩn là khổ. Hành, tưởng, uẩn là khổ, này, các Tỳ-kheo, sự suy nghĩ là khổ, bám chấp vào những suy nghĩ đó, cho mình là đúng, là hay, là hơn, là phải, là cao, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, giương giương tự đắc, hành uẩn, hành thủ uẩn là khổ.

Này, các Tỳ-kheo, thức thủ uẩn là khổ, sự bám chặt vào trong cái rõ biết này, cái rõ biết các sắc, âm thanh, mùi vị, sự đụng chạm, xúc chạm, những cảm giác nghĩ tưởng trong tâm, Sáu Thức bám chắc vào, nắm chặt vào trong đây, an trú, hoan hỉ, hoan nghênh, luyến trước vào trong thức thủ uẩn này là khổ. Này, các Tỳ-kheo, Sáu Căn, Sáu Trần, Sáu Thức, Sáu Xúc, Sáu Thọ, Sáu Tầm, Sáu Tứ, Sáu Tư là khổ, Năm Thủ Uẩn, Bốn Đại Chủng, Mười Tám giới.

Này, các Tỳ-kheo,đây là Đại Khổ Uẩn được tập khởi. Tại sao được tập khởi? Do vô minh và khát ái mà Đại Khổ Uẩn này được tập khởi do sự tối tăm, sự ngu si, sự say mê, si mê, không nhìn thấy được ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, tưởng đâu là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi nên khao khát nó, mong muốn nó, tham dục, tham ái, tham luyến, tham chấp, thèm khát, đói khát, khao khát với nó. Này, các Tỳ-kheo, đó là khổ đau, vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.

Bốn Thánh Trí về ngũ uẩn và Bốn Thánh Trí về lậu hoặc là đại biểu cho Thánh Pháp tối thượng của Đức Phật. Sự chấp thủ vào trong năm uẩn này là phiền não, khổ đau, trí huệ thứ nhất. Sự chấp thủ vào trong năm uẩn này là phiền não, khổ đau do vô minh và tham ái nên sanh khởi ra ngũ uẩn. Vô minh và tham ái đoạn diệt thì ngũ uẩn chấp dứt. Thế nào là con đường đưa đến vô minh và diệt tận tham ái, đó là Bát Chánh Đạo, là Tám đúng: thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng là con đường của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Đây là con đường cũ, là đạo lộ cũ mà các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua.

Này, các Tỳ-kheo, do nhìn thấy tất cả các pháp là khổ nên tâm sanh nhàm chán, yểm ly, xả ly, từ bỏ, chấm dứt, đoạn diệt, xuất ly, ly tham nên được giải thoát. Do ly tham đối với năm uẩn, đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này, đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, đối với Sáu Căn, Sáu Thức, Sáu Thọ này mà Tỳ-kheo được giải thoát tất cả mọi chấp thủ. Đây là thiền quán về Khổ Thánh Đế, Tứ Thánh Đế nên chúng ta thấy không, cái khổ trong Tứ Thánh Đế nó không phải đơn giản như mình nghĩ là phá sản, là nghèo, bị chết chóc, đó là cái khổ bình thường của phàm phu. Khổ của Tứ Thánh Đế rất thâm sâu, nãy giờ là thầy trình bày Khổ Thánh Đế đó.

Thành ra mình thấy không, hồi đó giờ mình học, ngay cả tiến sĩ Phật học cũng chưa chắc gì nhìn thấy được Khổ Thánh Đế này. Cho đi học ở Srilanka, Myanma, Thái Lan rồi về đây nói chuyện, đòi hỏi mình phải có một sự thực tập, thể nghiệm, thể nhập, chứng nhập. Tất cả cái khổ phải từ trong xương, trong máu, trong tủy của mình, tất cả các pháp, sự tập khởi của khổ uẩn này, đời sống này phải nhìn thấy. Cái khổ này cần phải được nhìn thấy. Này, các Tỳ-kheo, một nỗ lực mà các ông cần phải cố gắng để rõ biết đây là khổ. Một nỗ lực mà các ông cần phải cố gắng để rõ biết là nguyên nhân của đau khổ. Một nỗ lực mà các ông cần phải cố gắng để rõ biết sự chấm dứt khổ. Một nỗ lực mà các ông cần phải cố gắng để rõ biết là con đường đưa đến diệt tận khổ đau.

Chúng ta thấy trí huệ của Đức Phật khủng khiếp không? Đánh phá vô hết tất cả các pháp, không còn một cái gì có thể đi ra ngoài tầm Chánh Đẳng Chánh Giác, tuệ giác của Đức Phật nữa. Như vậy mới đưa đến hệ quả tất yếu là viễn ly, yểm ly, xả ly, đoạn ly, xuất ly thì mới ra khỏi sự tham ái và chấp thủ ở trong năm uẩn. Chứ nói chuyện đơn sơ, mình vô mình nói ôi đồ giả không, bỏ… cái miệng nói vậy thôi.

Chỗ này là chỗ quan trọng, trong thời thiền sáng nay, Minh Thành mới cảm nhận được điều này là hết sức quan trọng: tại sao chúng ta tu không thành công? Mình nói những người siêng năng tu học chứ không nói tới những người làm biếng. Tại vì khi mình ngồi thiền, nghe pháp thì lúc đó sanh ra trí tuệ Văn tư, có thấy vô thường, có thấy khổ. Nhưng khi mình ra khỏi thời thiền, ra khỏi pháp đường, pháp hội liền trở lại vị trí vô minh và khát ái, buông lung và phóng dật. Chính vì vậy mình không thể nào thể nhập, thánh nhập, chứng nhập Thánh trí huệ được. Bây giờ mình muốn thể nhập, chứng nhập thì sao? Ngoài giờ ngồi thiền và nghe pháp phải thường xuyên tác ý những cái khi nãy, thường xuyên tác động tâm ý và sự quán chiếu về bất tịnh, về Tứ Đại, về Chín Giai Đoạn Của Một Tử Thi, sự quán chiếu vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt của mình phải thường xuyên và liên tục. Đây là tinh tấn hộ trì khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì không mù mờ, được tăng trưởng, quảng đại, viên mãn. Thì đó là sự tinh tấn hộ trì, tinh cần tu tập.

III. Tinh tấn để thể nhập:

Như vậy phải làm sao để mình thể nhập, chứng nhập? Là sự tác ý phải thường xuyên, cảm giác nhàm chán, đau khổ đó phải được nuôi dưỡng và những hình bóng quán tưởng phải được duy trì cho đến khi nào mình luôn luôn trú trong thọ, tưởng, hành đó thì mình sẽ thể nhập và chứng nhập, Nhập Lưu Thánh Pháp, Thánh Trí. Tức khi mình Nhập Lưu, thể nhập, chứng nhập là phải ở trong thọ, tưởng, hành đó không đi ra nữa. Tức lúc nào cũng nhìn thấy Khổ Thánh Đế, nhìn thấy vô thường, trống rỗng, vô ngã, lúc nào cũng thấy một cảm giác nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, không khao khát, không ưa thích nữa lúc đó là thể nhập, chứng nhập, Nhập Lưu.

Nhập cái gì lưu? Thể nhập Thánh Lưu, Thánh Trí, Thánh Định, Thánh Tuệ, Thánh Giải Thoát, Thánh Giải Thoát Tri Kiến. Vậy thì làm thế nào mình luôn luôn trú trong thọ, tưởng, hành đó của Thánh Trí đó? Phải luôn luôn trú trong… Lúc nào mình cũng nhìn sắc uẩn này bằng quán Tứ Đại, quán Ba Mươi Hai Thể Trược, quán Chín Giai Đoạn Của Một Tử Thi. Khi mình nhìn về sắc pháp thì sự biến hoại biểu hiện ra trong trí huệ của mình không có bất cứ một sắc pháp nào có thể đứng vững. Khi con mắt mình nhìn tới thì nó tan rã, hoại diệt hết. Đó là nhận diện về sắc pháp.

Bất cứ một sắc pháp nào rơi vào trong tầm mắt của mình thì tất cả các sắc pháp đó được Thánh Trí Huệ soi chiếu và sắc pháp đó hiện nguyên hình là vô thường, hủy hoại, tan hoại, hoại diệt, tan nát, bất tịnh, nhơ nhớp. Đó là trú trong Thánh Trí nhìn về sắc uẩn. Bất cứ một cảm giác nào sanh khởi lên trong ba cảm thọ dễ chịu, khó chịu hay không dễ chịu, không khó chịu đều nhìn thấy. Này, các Tỳ-kheo, phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Cái này còn hơn bom nguyên tử, câu nói này, chỉ có bậc vô thượng Chánh Giác mới tuyên bố được, ngoài ra không có người thứ hai.

Này, các Tỳ-kheo, phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Tại sao? Con xin mời đại chúng về đọc bài kinh Tứ Niệm Xứ con mới vừa chia sẻ, sáu bài mới đưa lên mạng. Trong đó có bài tên là “Quán Thọ”, nghe kỹ đi, nó khủng khiếp lắm, “Sức sống của người tu” từ số 1 đến số 6, nghe thật là kỹ. Đúng ra bộ đó để giảng ở đây, nhưng bây giờ mới giảng có một buổi, thấy không thể vô nổi nên ngưng rồi, trong chúng mình không có sự chú tâm nên để cho khóa tu bảy ngày chúng ta về nghe kỹ.

Tại sao mà phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ? Tại sao? Lạc thọ là sung sướng tại sao Đức Phật nói phải quán lạc thọ là khổ? Bây giờ con nói một ví dụ quý vị rực sáng lên liền. Nhìn thấy đẹp quá đi theo, xong rồi vô, tới chừng nhìn lại trong bóp không còn đồng bạc nào hết, xe cũng mất, bóp cũng mất. Đó là nói vừa vừa, còn nặng hơn là có khi mất mạng luôn. Cảm giác đưa lại trong lúc đó là khổ hay lạc? Đó cho nên cái lạc thọ mà đưa đến đau khổ thì cái khổ thọ làm sao đưa đến hạnh phúc? Bây giờ hai người thương yêu nhau, lạc thọ hay khổ thọ? Lạc thọ, nhưng về ở chung nhau lòi ra tật xấu tùm lum hết cho nên cái lạc thọ mà đưa đến khổ thọ thì cái khổ thọ không thể nào đưa đến hạnh phúc được.

Nhưng Đức Phật dạy rất sâu trong Tương Ưng thọ là kẻ vô văn phàm phu, không nghe kinh tạng Nikāya, không thực hành theo pháp thì cảm thọ một cảm giác sung sướng giống như người đang bị trói buộc, cảm thọ một cảm giác đau khổ giống như người đang bị trói buộc, cảm thọ một cảm giác không khổ không vui cũng giống như người đang bị trói buộc. Ba thọ đều đang bị trói buộc, tại sao không thấy thọ là vô thường, không thấy thọ là duyên sanh, là tan biến, hủy hoại, hoại diệt, tan nát mà lại đam mê, dính mắc trong cái thọ?

Bây giờ con hỏi quý thầy: cái làm cho mình đau khổ nhất có phải trước đó nó làm cho mình vui sướng nhất không? Cái làm cho mình đau khổ nhất chính là những cảm thọ làm cho mình vui sướng nhất, sau đó vì nó mà mình đau khổ nhất. Những cái mình đau khổ nhất chính là từ những cái mình vui sướng nhất. Nó là như vậy đó, nhưng vì cái vô minh, tham ái của mình nên mình lủi đầu vô, đâm đầu, chui đầu vô rồi mình khổ. Chứ mình thấy được, biết được nó rồi thì mình đỡ lắm, đỡ khổ, bớt khổ, nó đi đến hết khổ. Cho nên nhìn thấy tất cả các cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Chính vì vậy đối với thọ, mình không hoan hỉ, không hoan nghênh, an trú đối với các cảm thọ.

Dầu cho có thọ gì, sanh khởi cảm giác gì lên mình cũng biết cảm thọ này vô thường, không đáng để hoan hỉ, ưa thích. Dầu cho cảm thọ đó là vui sướng nhưng mình đừng để cho nó dính mắc, mình có sự cẩn thận, Chánh Niệm, đề phòng, canh chừng. Cho nên chúng ta thấy sự tu học này đúng theo kinh Nikāya nó sâu sắc, vi tế, tuyệt diệu. Mình phải thực tập mới cảm nhận được giá trị của nó.

Tưởng của mình phải đặt những hình ảnh giòi ăn, trùng phẫn, bộ xương, sình trương, ứ phình, rỉ chảy, những chất bất tịnh. Những cái tưởng đó phải đưa vào nội tâm và cất giữ giống như là giữ tài sản quý của người tu thì tưởng đó mới phá được tưởng hấp dẫn, khả hỉ, khả lạc, khả ái liên hệ đến dục nên mình trú trong Thánh Trí ngũ uẩn nó khác. Nên sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử là ở chỗ này: nhìn thấy ngũ uẩn mà nhiep phục những cái tham dục ái trong ngũ uẩn. Đó là Thánh – phàm khác biệt.

Sự tu tập phải vi tế như vậy nên các tưởng của mình là gì? Rất nhiều cái tưởng, để cho mình hay, ví dụ ngay hiện tại này mình dùng rất nhiều tưởng để tu tập. Ví dụ hình ảnh dịch bệnh mình đưa vô những hình ảnh đang đi ngã xuống chết, hai vợ chồng biết mình nhiễm bệnh nhảy lầu tự vận, tiền quăng xuống ai muốn nhặt thì nhặt. Mình thấy hình ảnh trong bệnh viện, tiền được đổ ra không ai thèm nhặt. Bây giờ gần chết hết rồi còn nhặt tiền gì nữa. Khổ quá khổ rồi, lúc đó tiền không xài được. Xong rồi đào những cái hố như sân vận động để chôn tập thể. Những hình ảnh đó mình đừng coi một lần mà coi 5, 7 lần, 10 lần, mấy chục lần.

Mình coi rồi đưa những hình ảnh đó vô trong này cất, làm dữ liệu, tài liệu, tư liệu, chất liệu để mình thiền quán. Mình cứ hiện lại những hình ảnh đó hoài để bớt cái ham thích, ham muốn, tham ái đối với thân này, cuộc đời này, đối với những tài sản. Đó là nói trong thực tại, những hình ảnh lũ lụt mình thấy không? Tang thương không? Hòm treo lên nóc nhà 5 ngày, khiêng như vậy nó ngập tới nắp hòm, nước lũ ngập tới nóc nhà. Con người kêu trời không thấu. Ngồi xuống nước mắt ràn rụa, la kêu rồi đập tay đập chân như vầy: Trời ơi, Trời ơi. Đưa cô vợ đi sanh rồi vợ và đứa con trong bụng cũng chết.

Mà không phải là một, đó là một vài hình ảnh tượng trưng thôi, vô số làm sao lấy hết được hình ảnh. Những hình ảnh đó mình phải đưa cất, cất giữ vào nội tâm. Đó là vô thường, khổ, vô ngã. Đó là kinh Nikāya của thế kỷ 21, là đại tạng kinh vô thường, khổ, vô ngã. Mình phải lấy cất giữ những hình ảnh đó coi tới coi lui, khi cảm thọ của mình càng mạnh lên, xúc động, nước mắt càng trào ra chừng nào càng tốt chừng đó. Nó làm cho thọ của thiện pháp tăng trưởng, phát triển, quảng đại. Nếu nó xúc cảm được, nó trải tâm từ, nó thấm thía từ cái khổ nó thấm vô da, vô thịt, vô xương, nó đi vô trong tủy thì mình giữ nó lại trong đó.

Đây gọi là các thiện pháp đã được sanh thì duy trì, không cho nó mù mờ, phải cho nó trong sáng, minh bạch, sáng tỏa trong tâm mình, tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn. Đó gọi là Chánh Cần, Chánh Tinh Tấn. Chứ bây giờ vô nghe, hiện giờ là có cảm giác rồi, nhưng một hồi trở ra thì mất tiêu cho nên mình không chứng nhập, không thể nhập, thâm nhập, nhập lưu. Thì bây giờ làm sao để giữ được cảm thọ đã tu? Mình giữ hoài thọ, những hình bóng, suy nghĩ đó, giữ hoài thọ, tưởng, hành đó càng lâu càng tốt. Nếu mình giữ luôn, nó ở trong đó luôn, không đi ra thì thể nhập Thánh Trí, tối thiểu là Dự Lưu quả.

Còn cái khổ của mình không được nhiều, một ngày không bao nhiêu hết mà nếu nó không gặp bậc thiện tri thức, bậc chân nhân với bậc thành tựu Chánh Kiến thì nói một hồi nó tham thêm. Vô đang ngồi nghe pháp nhưng dục nó khởi, tham khởi, ái khởi, bản ngã khởi: mày ráng học nghe, lấy bằng cấp nghe không, phải làm gì cho nó ngon lành nghe không, phải hơn người ta nghe không, cất chùa phải bự hơn người ta… thì đó là dục, tham, ái, tăng trưởng thêm tham ái, vô minh và bản ngã. Nó không phải là Thánh Đạo cho nên mình không gặp Chánh Tri Kiến, không được hướng dẫn đúng Chánh trí của Đức Phật thì mình đi lạc mà không biết.

Mình phải luôn trú trong những cảm thọ, hình bóng, những suy nghĩ. Hổm rày Minh Thành có chia sẻ với huynh đệ cái tác ý, tức là hành uẩn, phải tác động tâm ý bằng Thánh trí huệ, tác động tâm ý thường xuyên. Trú trong những cảm thọ đó, nhàm chán, đau khổ, vô thường, tan hoại như vậy. Trong những hình ảnh đau khổ này, những hình ảnh đó là cả một sân vận động, một hố chết chôn tập thể. Như vậy, mạng mình có là cái gì đâu? Trời ơi là trời! Tham sân si hoài, hơn thua, phải quấy, đúng sai, ganh tị để làm cái gì.

Mình tác ý như vậy, đem những hình ảnh đó vô, đem những sự tác ý đó vô, những cảm thọ cho nó sanh khởi lên hết, mình đánh tan hết tất cả những suy nghĩ, cảm giác, những hình bóng tiêu cực, tham ái, sân si, vô minh, bản ngã, đánh tan, đánh sập, đánh vỡ, đánh nát ra, tung Như Lai thần chết, ngũ uẩn Thánh Trí chưởng, chưởng nó bay hết, làm cho thân tâm của mình an tịnh, lắng dịu, bừng sáng, chói sáng, rực sáng Thánh trí huệ, an trú trong đó. Đó là tinh cần, tinh tấn tu tập, hộ trì. Thường xuyên và liên tục ở trong những cảm giác nghĩ tưởng đó. Không để cho dục, tham, ái xâm nhập, áp đảo, trấn áp.

Mình phải tuyên bố trong tâm: ta không làm nô lệ cho mi nữa, ta không cung phụng cho mi nữa, mi đi chỗ khác chơi, đừng ở đây. Ngươi đừng nghĩ rằng người có thể sai khiến, dụ dỗ, rù quến, dẫn dắt ta nữa, ta thấy được bộ mặt của ngươi rồi. Từ nay về sau ta sẽ sát phạt ngươi, ta đè đầu cỡi cổ ngươi, ta sẽ tàn phá ngươi, ta sẽ diệt tận ngươi, ngươi hãy tan biến hoàn toàn trong thân tâm ta đi. Mình tác ý như vậy, đó là tuệ lực, là Thánh tư duy, Chánh tư duy, sức mạnh của trí huệ. Thánh tư duy, Chánh tư duy nghĩ đúng, đó cũng là tuệ lực, sức mạnh của trí huệ, đó cũng gọi là Như Lý Tác Ý, nên sự tu của mình không phải tham khởi lên là biết tham, sân khởi lên là biết sân, si khởi lên là biết si xong rồi đi theo luôn, không phải.Sau khi biết, dùng trí tuệ đánh đuổi nó ra.

Giờ mình đang nằm ngủ trong nhà, thấy con rắn hổ mang vô, biết có rắn rồi vậy nằm tiếp hay sao. Đánh nó ra, đuổi nó ra, phải diệt tận nó. Cũng vậy, dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, những thứ ác độc nó hại mình vô lượng vô biên kiếp. Mình đã không thành tựu được tâm giải thoát thì phải diệt nó cho nên A-la-hán gọi là Sát Tặc Đại Sư, giết giặc, chứ đâu phải tu mà hiền, không phải. Hiền là đối với cái dữ ở ngoài, nhưng bên trong này là một sự đại hùng đại lực mới có thể diệt được hết lũ ác độc, gian tà bên trong. Yêu ma quỷ quái nằm bên trong làm sao hiền với nó được.

Giờ mình nghĩ đi, cái dục dễ trị hay khó trị? Cả một cuộc đời tu có khi còn không nổi, tu lên tới hòa thượng mà có khi nó còn hành hạ như thường, đừng nói chuyện giỡn. Cái sân, bản ngã dễ trị hay khó trị mà mình tu lơ tơ mơ, tu sơ sơ, tu kiểu mờ mờ, tu văn nghệ, tu chơi chơi chờ ngày qua đời. Cho nên chúng ta thấy cả một sự tinh cần, tinh tấn, tu là cái mình đang học, là Tứ Chánh Cần của Nikāya. Đây mới thật sự là tinh tấn, tinh cần, nỗ lực đối với thiện pháp nên nãy giờ mình thấy không, sự tu tập này ở trong thân tâm mình chứ không phải bà nhớ nghen, nhớ nghen…

Mình hiểu lầm chữ tinh tấn trong đạo Phật là chạy bên ngoài làm cái này làm cái kia, không phải. Vì làm cái đó người cư sĩ người ta làm giỏi hơn mình, làm cái đó mà trong này tham, sân, si, khát ái, vô minh không giảm. Tại vì những điều đó là khổ, mình phải thấy nguyên nhân của khổ để diệt khổ mà mình làm được cái đó rồi, hoặc làm được cái này, tối thiểu mình hoàn thành được Chánh Tri Kiến hoặc Chánh Dự Lưu đến Nhập Lưu. Khi mình Nhập Lưu rồi, có khả năng giúp đỡ chúng sanh lúc đó mới gọi là từ bi, mới biết chữ từ bi là như thế nào. Còn bây giờ mình nói từ bi nhưng nó không đúng, từ bi của mình là chỉ tưởng tượng chút đỉnh thôi, thiện pháp thôi chứ không phải từ bi thật sự, chỉ mới là ở bên ngoài thôi.

Phải thâm nhập trí huệ, nhìn thấy được đống máu mủ, phèo phổi, gan ruột… phải thâm nhập, phải nhìn vô đây để thấy được bộ xương, thấy được đống thịt bầy nhầy, những con giòi bò, thấy đống tro, nghĩa địa, lò thiệu. Phải thể nhập, chứng nhập những hình ảnh đó, cất giữ trong nội tâm mình thường xuyên và liên tục mới phá được những dục, tham, ái, những sự dính mắc trong cuộc đời này. Muốn được như vậy là cả một sự quán chiếu liên tục, quán tưởng, tác ý, ở trong những cảm giác, cảm thọ đó, đau khổ.

Mong manh là cuộc đời này, ngắn ngủ nhỏ bé là cuộc đời này, nhàm chán, nhiều khổ đau, nhiều ưu não là cuộc đời này. Không có gì đáng vui thật sự mới sanh khởi ra những cảm giác nhàm chán, ly tham. Mình còn thấy bất cứ một cái gì ưa thích, khoan khoái trong này là rồi, không bao giờ đi ra khỏi làm sao mình bỏ, làm sao mình có thể chấm dứt từ bỏ, xuất ly được. Muốn thấy được như vậy là cả một đại công trình quán chiếu cho nên Thiền quán tuyệt đối quan trọng trong đạo Phật – thiền tuệ chứ không phải ngồi đó nhắm mắt hít vô thở ra rồi xong, đi luôn, ngủ thiền. Ngồi như vậy 10 năm cũng không thấy gì khác, không thấy gì thay đổi, vô ngồi hôn trầm, si, tưởng, lâu lâu được tỉnh một chút vậy, chút xíu cảm thọ, khinh an vậy thôi, trí huệ không tăng trưởng, không khai mở, cảm thọ không tuôn trào, không sanh khởi được.

Cho nên phải cần biết được thế nào là chỉ, thế nào là quán, Chánh Tư duy, Thánh Tư duy, tuệ lực. Mình sẽ bước qua học ngũ căn, ngũ lực nên trong sự tinh cần của chúng ta, các huynh đệ thấy sự tinh cần tinh tấn học ở đây khác với lúc trước mình học nhiều không? Lúc trước mình học bốn câu thôi: “Ác chưa sanh đừng cho nó sanh, ác sanh rồi phải diệt, thiện chưa sanh đừng cho nó sanh, thiện sanh rồi phải tăng trưởng” – Tứ Chánh Cần, chứ không phải đơn giản như vậy. Mình nói không phải nói một chiều, sự tu tập đó ở bên trong, nhưng những cái ở bên ngoài mình cố gắng làm, không biếng nhác, những cái gì trong chúng, những cái gì trong bổn phận trách nhiệm của mình mình phải làm cho tròn. Đó là nói bên ngoài, phần phụ nhưng phải có. Trừ khi nhập thất, mình ở ngoài làm bổn phận trách nhiệm phải làm, chứ không phải mình lấy cớ nói tôi tu, lúc nào cũng tu mà không biết có tu thật không, nhiều khi lấy cớ tu để làm biếng. Thành ra chỗ đó mình phải thấy rõ được tâm mình.

Bài kệ kết thúc bài kinh mà Đức Phật nói: “Này, các Tỳ-kheo, có bốn loại tinh cần này, chế ngự và đoạn tận, tu tập và hộ trì. Bốn loại tinh cần này được bà con mặt trời, được Đức Phật thuyết giảng. Ở đây vị Tỳ-kheo với Bốn Tinh Cần này, nhiệt tâm và nỗ lực đạt được Khổ Đoạn Diệt”.

Con xin thưa đại chúng, có thể người chưa hiểu nói rằng sao thầy nói cái gì cũng khổ, cũng tiêu cực. Không phải, ở đây không nói tiêu cực với tích cực, đó là thế gian, mà Đức Phật chỉ trình bày về sự thật của các pháp. Hãy nhớ chỗ này, Đức Phật không nói lạc quan hay bi quan, mà Ngài trình bày sự thật. Người thấy sự thật, chứng nhập sự thật thì người đó hết khổ. Bây giờ con hỏi quý vị, người lạc quan có khổ không? Đâu phải lạc quan là không khổ, mà lạc quan không đúng chỗ còn khổ hơn nữa. Cho nên phải để ý, sự thật vĩ đại mà Đức Phật chứng ngộ không phải cái thông thường mình suy nghĩ mà mình phải chấp nhận, phải học tập, phải thể nghiệm, thể nhập, chứng nhập.

Chẳng qua mình chưa thấy được thì bây giờ từ từ thấy, không nên có những suy nghĩ chống đối với giáo pháp, hết sức nguy hiểm. Đó là bất hạnh lâu dài cho đời tu của mình. Lúc mình chưa hiểu được mình nói chỗ này thâm sâu con chưa hiểu, chắc phải đợi tu tập, thêm nữa mới hiểu. Đừng có những tư tưởng chống đối trong pháp của Đức Phật, hết sức nguy hiểm làm cho mình đau khổ bất hạnh lâu dài. Chúng ta nhớ, Đức Phật dạy, đối với sự tu phải thiết tha, đừng dừng lại trong một thiện pháp nhỏ bé, cạn cợt, phải để tâm lắng nghe, tìm hiểu, tinh cần, tinh tấn, tha thiết, chân thành cầu học thì sẽ lợi ích, hạnh phúc, an lạc dài lâu cho chúng ta. Mình thấy tinh tấn giống như là khổ vậy, nhưng không phải,

“Có chi là khổ, có chi vui

Vui trong tham dục, vui rồi khổ

Khổ để tu hành, khổ quá vui

Nếu biết có vui là có khổ

Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui

Mong sao giữ tánh không vui khổ

Mới thoát ra ngoài lối khổ vui”

Có một Bà-la-môn tới hỏi Đức Phật: “Ngài có hoan hỉ không”? Đức Phật nói: “Ta được cái gì mà hoan hỉ”? “Ngài có phiền muộn không”? Đức Phật nói: “Ta được cái gì mà phiền muộn”? Ông Bà-la-môn này tán thán Đức Phật là siêu việt, không hoan hỉ, không sầu muộn, tâm bất động. Tại sao mình khổ? Ham vui nên mới khổ, thấy được cái khổ với cái vui là vô thường hết nên mình bình tĩnh đối với các dòng cảm thọ để mình từ từ đạt tới tâm bất động, giải thoát. Vì cái vui này được một chút cũng thành vô thường, tụ tán.

Làm buổi lễ dữ dằn, ngàn người, chục ngàn người, trăm ngàn người rồi cũng tan. Hay buổi lễ 3, 4 người rồi cũng tan. Hay cái khổ, cái vui rồi cũng tan, có khi cái khổ thì dai dẳng, kéo dài hoài, cái vui thì ngắn ít nên mình nhìn thấy bản chất của các cảm thọ là vô thường như vậy, để mình nỗ lực, “Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh phải duy trì”, khiến cho các thiện pháp đó duy trì, tồn tại. Duy trì là giữ lâu, không mù mờ. Ví dụ mình quán những hình ảnh bộ xương mà lờ mờ là không được, phải thật rõ ra, được tăng trưởng, quảng đại, rộng lớn, tu tập làm cho nó được viên mãn, tròn đầy. Khởi lên ý muốn tinh tấn, sách tâm, trì tâm, giữ tâm đó đừng cho nó mất. “Này, các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì, giữ gìn, tinh cần, chế ngự, đoạn tận, tu tập, hộ trì”.

Con kính chúc quý thầy một tuần lễ tinh tấn tu tập, đừng quên những cảm thọ này, những suy nghĩ này, thiện pháp này. Sau khi ra chơi đừng để nó rớt rơi dưới bắp vế, lọt xuống dưới hết. Phải giữ tâm.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.