Thiền Quán Ngũ Uẩn - Cội gốc của khổ đau 3,4
THIỀN QUÁN NGŨ UẨN
CỘI GỐC CỦA KHỔ ĐAU 3 & 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán vô thường, khổ đau, vô ngã: nhàm chán – ly tham PAGEREF _Toc66176381 \h 1
II. Bóng tối bao trùm dày đặc PAGEREF _Toc66176382 \h 5
III. Tu tâm hiền PAGEREF _Toc66176383 \h 8
IV. Thân hành niệm PAGEREF _Toc66176384 \h 10
V. Niệm tử – lo cho cái chết PAGEREF _Toc66176385 \h 13
I. Thiền quán vô thường, khổ đau, vô ngã: nhàm chán – ly tham
"Này các Tỷ-kheo, sắc này là vô thường", là khổ não, là trống rỗng, tàn hoại, biến diệt, tiêu tan, hủy hoại, hoại diệt. "Cảm giác này, này các tỷ-kheo, là vô thường", khổ đau, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, trống rỗng. Trống rỗng là những cảm giác này, nó sanh diệt, biến đổi, tiêu tan. "Những hình bóng trong tâm này là vô thường", khổ não, thay đổi, biến hoại, tiêu tan, tan nát, hoại diệt, vô ngã. "Này các Tỷ-kheo, các dòng suy nghĩ, lời nói thì thầm trong tâm là vô thường", khổ não, trống rỗng, vô ngã hoại diệt, tiêu tan. "Này các Tỷ-kheo, sự nhận thức, sự rõ biết này là vô thường", nó sanh khởi lên tham dục, tức giận, sanh khởi lên sự bám chấp, tôi, ta, tao, mi, mình, người, hơn, thua, nhân ngã. Sự nhận thức, rõ biết này là đau khổ, trống rỗng, sầu, bi và ưu não.
Hãy nhàm chán đối với tất cả những vật chất, sắc chất, tài sản, thân xác này, đó là thứ bại hoại, tan nát, hoại diệt. Hãy nhàm chán đối với các cảm giác, nghĩ tưởng, sự nhận thức. Hãy nhàm chán thứ trống rỗng này, thứ tan biến, hủy hoại này; nhàm chán với đống khổ này – đống tích tụ những đau khổ, sầu, bi và ưu não này.
"Này các Tỷ-kheo, ai thích sắc là người đó thích khổ." Ai thích những vật chất, nhà cửa, tiền tài, xe cộ, đất đai, thân xác này thì người đó ưa thích khổ đau. "Này các Tỷ-kheo, người đó không giải thoát khỏi khổ đau." Ai còn ưa thích những cảm giác thúc giục, bực bội, ta đây, bản ngã; ai còn ưa thích những hình bóng những suy nghĩ, dục tham, sân hận, ta đây, ganh tị, đố kị, hơn thua, nhân ngã bỉ thử thì người đó còn thích khổ. Ai còn thích khổ người đó không thể giải thoát khổ đau. Ai còn ưa thích những suy nghĩ hơn thua, đúng sai, phải quấy, cao thấp, thị phi, người đó còn ưa thích khổ, còn say đắm với khổ, còn đam mê với khổ, còn ở chung với khổ, "Này các Tỷ-kheo, người đó không giải thoát khỏi khổ đau."
Còn ưa thích những suy nghĩ hơn thua, tranh phần phải về mình, mình là đúng, người ta là sai; mình là phải, người ta là quấy; mình là tốt, người ta là xấu; mình là hơn, người ta là thua; khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc,…người ưa thích suy nghĩ như vậy, là người ưa thích khổ đau. "Này các Tỷ-kheo, chúng sanh chết trong những tư tưởng này, chúng sanh chết vô lượng, vô biên kiếp ở trong những tư tưởng này." Mình biết, mình rõ, mình hay, mình giỏi thật sự hay không? Thông minh hay là vô minh? Bám chặt vào nhận thức, rõ biết này để rồi tham, sân, si, bản ngã. Để rồi sầu, bi, khổ, ưu não trong nhận thức của vô minh, trong hiểu biết của mê lầm, trong nhận thức của dục tham, của nghiệp, của tập khí, của bản ngã, của chấp thủ. Cái biết đó là cái biết của khổ đau.
Chừng nào chúng ta mới hết khổ nếu chúng ta cứ bám chặt vào trong ngũ uẩn này? Tới bao giờ chúng ta mới cạn nước mắt nếu chúng ta cứ cho rằng đây là tôi, đây là của tôi? Tới bao giờ chúng ta mới bình an nếu chúng ta cứ ôm ấp những cảm giác tham dục, sân hận, bản ngã thật to lớn? Tới bao giờ chúng ta mới tự dừng lại sự tự thiêu đốt mình và thiêu đốt những người xung quanh mình? Tới bao giờ chúng ta mới hết tự thiêu đây? Thiêu đốt mình bằng những cảm giác nóng bức, bực bội, bực tức, bực dọc, bực mình, nó tàn phá những cảm giác của mình, tàn phá tâm thức của mình, tàn phá thân xác này, tàn phá, tự thiêu, tự đốt, tự dìm mình vào trong biển dục, biển tham, biển ái.
Đắm chìm mãi mãi, trôi lăn mãi mãi, lặn hụp mãi mãi. Thật là đau khổ cho chúng ta, thật là xót thương cho chúng ta, thật là cay đắng cho chúng ta! Chúng ta phải chịu đựng một tâm thức nặng nề, một tâm thức trì trệ, một tâm thức u mê, một tâm thức si ám, một tâm thức đầy dẫy những sự sân hận, bực bội, một tâm thức chất chứa đầy những dục, tham, ái; muốn cái này, muốn cái kia, muốn cái nọ; đòi cái này, đòi cái kia, đòi cái nọ; tìm cái này, tìm cái kia, tìm cái nọ. Tìm chưa được thì đã hấp hối rồi, việc này làm chưa xong, việc kia còn dang dở. Ôi thôi! Thần chết đã đến rồi!
Người nhặt các loại hoa,
Ý đắm say tham nhiễm,
Các dục chưa thỏa mãn,
Đã bị chết chinh phục.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hoa)
Chúng ta hãy kiểm tra lại đi. Cuộc đời của mình nhìn lại mấy chục năm qua sống như thế nào? Sống một đời sống đáng thương, một đời sống thật là đáng thương! Đáng thương cho chúng ta lắm, quý vị ơi. Hãy thương mình thật nhiều, hãy biết cách thương mình, hãy biết chăm sóc cho cảm giác này, hãy chăm sóc những cảm giác hiền thiện, chân chánh, lắng dịu, hiền từ. Đừng sống trong lãng quên nữa, đừng sống trong sự si mê mãi chạy tìm theo những dục vọng nữa. Mãi ôm ấp ngọn lửa sân hận để được cái gì, tranh phần phải, phần hơn, phần thắng để được cái gì trong cuộc đời này? Tại sao cứ tranh giành với nhau để làm cái gì? Đấu đá, đánh đấm, hơn thua, đấu khẩu để làm cái gì trong cuộc đời này?
Người ta chết đầy đường xá kia kìa, hàng triệu người mất nhà, mất cửa kia kìa, hàng vạn người chết kia kìa. Tỉnh đi! Tỉnh đi cái tâm mê ơi! Suốt ngày cứ ăn, chơi, ngủ, nghỉ, tham, sân, si hủy hoại thân tâm của mình. Mình chưa biết thương mình đâu quý vị ơi, mình đang hại mình đó, mình đang làm khổ mình đó, mình đang làm khổ cho những người chung quanh mình. Hãy tập lo lắng cho mình thật nhiều, tập chăm sóc cho nội tâm của mình thật nhiều. Tập những cảm thọ hiền lành, an tịnh, lắng diệu; tập những cảm thọ từ, bi, hỷ, xả; tập những cảm thọ, an tịnh, nhẹ nhàng, trầm mặc. Đừng tiếp tục làm tổn thương thân tâm của mình nữa, đừng tiếp tục hại mình nữa, đừng tiếp tục làm khổ cho mình nữa, đừng tiếp tục tự thiêu mình nữa.
Chạy đuổi ra bên ngoài để đi tìm cái gì? Bên ngoài có cái gì? Chúng ta đã sống với tâm hướng ngoại này gần suốt cuộc đời rồi. Cứ chạy đi tìm sắc, sắc đẹp, sắc chất, những tài sản, những lòe loẹt ở bên ngoài, chạy đi tìm những âm thanh, những mùi vị, những sự tiếp xúc. Chúng ta chạy mấy chục năm rồi được cái gì? Quý vị nhìn đi, đất nước phát triển nhất thế giới là Mĩ, bây giờ như thế nào?
- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn!
- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi "?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: " Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi ". (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, I. Phẩm Tham Luyến, bài kinh Năm vị (Vô ngã tưởng))
Hãy quán chiếu nó là vô thường, khổ đau, vô ngã, trống rỗng, hủy hoại, tiêu tan, hoại diệt. Dầu cho là sắc quá khứ, hay là thân hiện tại đang ngồi đây, hay là căn nhà hiện tại đang có, dầu cho nhà một chục tầng, thô hay tế, đẹp hay xấu, xa hay gần, cao cấp hay thấp hèn,… đều là vô thường, khổ não, đều là hủy hoại, tan biến, hoại diệt, bất cứ lúc nào nó cũng có thể sụp đổ. Đang ở trên địa vị cao ngất, bất thình lình có lệnh bắt vô tù. Hôm nay là người đứng đầu cả đất nước, nhưng có ngờ ngày mai là ở trong tù. Hôm nay là chủ tịch hội đồng quản trị cả một tập đoàn, nhưng ai biết ngày mai phá sản, trắng tay, thiếu nợ. Tất cả sắc chất, vật chất, tài sản, thân xác này tích tắc trong phút chốc tan thành mây khói, không có cái gì cứng chắc trên cuộc đời này.
Hãy quán sắc là hòn bọt, hòn bọt đó quý vị. Chúng ta đang ngồi đây, bất thình lình động đất sụp xuống, chúng ta chết ở tại nơi này. Mới ngày hôm qua, một chiếc xe lọt xuống vực sâu, bị thương mấy chục người và chết 6-7 người. Mới chiếc xe đi ăn đám cưới, kinh hoàng, bị xe tải tông vào. Cái sống chết của thân xác này là bất trắc, không lường, là vô thường, tích tắc, chớp mắt mà thôi. Chỉ có người ngu mới tin cậy vào thân xác này, mới nghĩ rằng nó là còn hoài, là bền vững. Hãy nhìn cho kĩ đời sống này, đời sống vô nghĩa, trống rỗng này. Bạn thành thù; vợ chồng trở nên không dòm mặt nhau; cha con, mẹ con mà có lời nói, hành động gì là từ mặt; anh chị em, huynh đệ tương tàn. Hãy nhìn cuộc đời trống rỗng này, trống không này. Chỉ cần một hành xử khác thôi, là tất cả lập tức thay đổi; một lời nói, một hành động mà thay đổi là thành kẻ thù. Hãy nhìn bằng Thánh trí tuệ, dùng trí tuệ của bậc Thánh, của Đức Thế Tôn mà nhìn cuộc đời này, để có thể nhả ra bớt được. Mở nới ra một chút thôi, chứ đừng nói bỏ hết được, nới ra một chút, mở ra một chút, buông xuống một chút.
Gánh nặng oằn vai trên một con đường hết sức dài xa, vô lượng vô biên kiếp, mà còn chưa thấy mệt. Mệt chưa, mỏi chưa, mòn mỏi chưa, nhàm chán hay chưa? Hay còn hăng say với tham, sân, si, để cho đau khổ. Tâm vô minh này nó điêu luyện với tham, sân, si lắm, khỏi cần dạy nó. Từ, bi, hỷ, xả thì nó rất khó tu tập, còn tham, sân, si, bản ngã thì nó điêu luyện, nhuần nhuyễn lắm. Nó hại mình, hại người, quý vị biết không? Những tấm thân của chúng ta tiều tụy, thân tàn ma dại, cứ cho mình là khôn, mình là đúng, mình là hay, mình là hơn, chồng chất một bản ngã ngu si, ích kỉ, nhỏ mọn, nhỏ hẹp; đầy dẫy những vô minh, tham ái, dục vọng, nói ra câu nào cũng đầy dẫy một cái ta, một cái tự ngã, nói ra cái gì cũng giành phần hơn, phần đúng.
Thương lắm quý vị ơi! Chúng ta là nạn nhân thế kỉ, chúng ta gặp nạn, mắc nạn này vô số kiếp, không biết bao giờ có thể ra được nếu chúng ta không vào dòng Thánh pháp này. Chúng ta nhìn lại đi, chúng ta làm những chuyện vô nghĩa, vô ích, không chỉ vô ích mà còn làm cho hại mình, hại người. Một cơn giận không chịu bỏ, giận những người nhân nghĩa, những ân nhân, cha mẹ của mình, anh em của mình, vợ chồng của mình, những người giúp đỡ mình, thầy của mình. Chúng ta làm những chuyện vô minh, si ám, ngu muội, rồi chúng ta đau khổ, hết cái này rồi chồng chất cái kia. Chúng ta quờ quạng trong bóng đêm, chúng ta chạy đụng đầu vô cột, đập đầu vô tường, lủi vô cột điện một cái "rầm", gãy cột điện, bể cái đầu. Đó là những hình ảnh của chúng ta, hãy quán chiếu cho thật sâu sắc. Nhắm mắt trong bóng đêm, mù lòa mà lên ga thật mạnh, tăng tốc, càng đi nhanh chừng nào, thì tai họa càng hiểm nguy chừng đấy. Tai nạn, hiểm nạn rình rập khắp chung quanh chúng ta, mà chúng ta ăn, ngủ, chơi, cười, sống vô tư, không biết lo lắng gì hết. Tất cả là hiểm nguy, tai nạn đang rình rập chung quanh chúng ta bất cứ lúc nào. Chúng ta thật là vô cảm, không biết lo, không biết sợ, trơ trơ. Thấy người ta chết, chuyện đó của người ta; thây người ta bệnh dịch, chuyện đó của người ta. Bên Mĩ bây giờ còn dắt nhau đi tắm biến, đi chơi rầm rầm, chết rần rần mà cứ dắt nhau đi ăn, đi chơi. Những tâm thức vô minh, tham ái của chúng ta cũng giống vậy.
II. Bóng tối bao trùm dày đặc
Mở mắt ra là thấy vụ án đốt nhà, giết người, cướp giật, đâm chém với nhau, thấy rồi cứ đọc bình luận của người ta, chứ không biết rằng cái đó là tiềm ẩn trong người mình, kế bên mình. Chúng ta nhìn thấy một tai nạn giao thông, tội nghiệp quá, dừng lại đứng coi, xong một hồi làm cái "rầm", người tiếp theo chính là người đứng coi. Coi cái gì, lạ lắm hay sao, hiếu kì cái gì? Nếu coi mà quán vô thường, quán khổ, tấp vô lề đứng thì được, còn coi do hiếu kì thì để làm gì? Bao nhiêu thân xác của chúng ta đã đổ xuống rồi, thân này chồng chất như núi, nước mắt chúng ta hơn Thái Bình Dương, đựng lại hết trong vòng sanh tử, mà chúng ta không biết lo sợ, tại sao vậy? Chúng ta nhớ trong truyền thuyết nhân gian, khi đi qua cầu Nại Hà, ăn cháo lú, cho nên lên lú hết trơn. Đó là ví dụ cho vô minh, tại vì vô minh nó bao phủ hết tất cả ngũ uẩn của mình.
Thành ra tất cả thân thể mình, những cảm giác, những cái tưởng, những suy nghĩ, thậm chí ngay nhận thức, rõ biết bằng con mắt của mình, tận mắt mình chứng kiến nhưng mà cũng không đúng. Trừ khi nào mắt trí huệ của mình mở "đắc pháp nhãn tịnh", thành tựu Chánh tri kiến, mở được tuệ nhãn ở trong Thánh trí ngũ uẩn mình mới thấy được thật sự đó là cái gì. Còn nếu không tất cả cái thấy, cái nghe, cái biết, cái nhận thức, cảm xúc của mình toàn là bị phủ bao trong bóng đêm của vô minh, tham ái, nghiệp, tập khí và chấp thủ. Đừng tin tưởng vào nhận thức và hiểu biết của mình, hiểu biết của mình là vô minh. Hãy tin tưởng vào Thánh trí của Phật, cố gắng học thuộc Căn bản trí, cố gắng nghiền ngẫm, quán chiếu Căn bản trí, cố gắng tư duy, áp đặt tâm mình đi vào trong Thánh trí thì lúc đó thấy biết của mình mới đúng sự thật. Tin vào cái biết của mình là nó giết mình chết.
Cái biết của mình bị phủ bởi một bóng đêm, một người mang mắt kính màu nâu thì nhìn cái gì cũng ra màu nâu hết; mang mắt kính màu đỏ thì nhìn cái gì cũng ra màu đỏ hết; mang mắt kính màu xanh thì cái gì cũng ra màu xanh hết. một cái tâm mà đầy dẫy dục, tham, ái thì nhìn chỗ nào cũng dục, tham, ái trong đó; một cái tâm mà đầy dẫy sự nóng giận, sân hận thì nhìn chỗ nào họ cũng nổi cáu, họ bực, tức, quạo lên. Chúng ta có thấy không, mình có bị không? Khi giận lên, mình dòm ai, mình cũng thấy bực. Đó là mắt kính màu đỏ. Chúng ta nhìn thấy người bị bỏ bùa mê, bị thôi miên, họ lột đồ, tiền, vàng đưa hết trơn cho người ta.
Mình cũng vậy, hằng ngày mình cũng bị thôi miên, công đức của mình mất hết. Tức là khi ngồi trong giảng đường mình tu, thì trí của mình sáng ra, nhưng khi mình trở ra, gặp sắc, thanh, hương, vị, xúc, lúc đó mình bị thôi miên, mù mờ hết. Gặp những đối tượng dục, tham, ái thì lúc đó mình đui mù, mờ tối hết, sân si, bản ngã nhưng không biết gì nữa hết. Hàng ngày mình đều bị thôi miên, không biết bao nhiêu lần, mở mắt mà bị thôi miên, chứ không phải nhắm mắt. Vẫn đi, đứng, nói, cười, nhưng trong đó như một con rối bị vô minh và tham ái điều khiển. Đây là thâm sâu, thậm thâm vi diệu pháp. Hôm nay chúng ta đi tới chỗ "tủy" của giáo pháp, "tinh túy" của giáo pháp, lột tả cho chúng ta thấy được hết bản chất của thân xác, thế giới, tâm thức này.
Chúng ta bị sắc ám ảnh, trong tâm chúng ta là hình bóng của chính mình ám ảnh. Chúng ta bị những cảm giác ám ảnh, chúng ta không đi ra khỏi những cảm giác đó được. Chúng ta bị thân xác này ám ảnh, suy nghĩ gì cũng không ra khỏi thân xác này, căn nhà đó, chiếc xe, sổ tiết kiệm, miếng đất, mảnh vườn, tài sản mình tích góp mấy chục năm đó. Mình không đi ra khỏi được, mình bị những thứ đó ám ảnh trong tâm. Bây giờ chúng ta không tháo gỡ ra thì đến khi gần chết sao chúng ta tháo ra được. Nếu còn phước, có phước thì trở lại đầu thai lên làm cháu nội, cháu ngoại, ở chỗ đó để giữ.
Nếu không có phước thì làm cô hồn giữ chỗ đó, giữ miếng đất đó, giữ tài sản đó; hoặc đọa địa ngục; hoặc làm chó giữ nhà, hay con chuột chạy lòng vòng trong đó. Khủng khiếp không? Tham ái và chấp thủ của chúng ta khủng khiếp lắm. Ghê gớm nhất là cái suy nghĩ đó, cái hành uẩn đó, chúng ta bị ám ảnh bởi hành uẩn đó. Chúng ta suy nghĩ lòng vòng, lạc trong đó. Chúng ta nhìn thấy nước mưa trên núi, trên đồi, nó đi xuống là có một đường, khi mưa thì nó đi theo đường đó. Suy nghĩ của mình cũng đi theo lối mòn như vậy. Đó gọi là ý nghiệp, nó không ra khỏi lối mòn đó. Cho nên khi chúng ta ta giận là chúng ta không chịu bỏ, mình thấy "Tôi giận đúng, cái giận này là đúng mà." Giận là không có cái giận nào đúng hết, giận là sai, tại vì giận làm cho mình khổ, mà mình tu là mình muốn hết khổ, chứ không phải là để tiếp tục khổ. Vậy mà mình làm theo những cái khổ là đúng hay sai? Vậy tại sao mình nói "Tôi giận là đúng." Đó chính là vô minh, tham ái đối với tự ngã, không có cái giận nào là đúng hết.
III. Tu tâm hiền
Chúng ta sẽ học bài kinh Cây cưa, hay lắm, tuyệt vời lắm!
Có cô chủ này được đồn vang, tiếng đồn lành tốt là cô chủ hiền thục, tiếng tăm vang xóm làng đó, hiền lành, thuần hậu, hiền thục. Cô giúp việc, người làm công cho cô chủ này nghĩ "Không biết cô chủ mình có thật sự hiền thục không. Mình muốn coi thử bà chủ này hiền thục thật không?" Bình thường, thí dụ sáu giờ cô này dậy, nhưng nay sái giờ rưỡi cô không dậy. Cô chủ vô la, cô làm công nói "Có gì đâu mà la", cô chủ tức lên la. Cô đầy tớ này mới nói "Vậy là bà chủ mình sân, không hiền thục như người ta đồn." Bữa sau, cô người làm ngủ tới bảy giờ sáng, cô chủ vô mới nói "Con ác tỳ này, dậy", cô chủ chưởi la, mắng nhiếc. Cô nữ tỳ mới nghĩ bà chủ còn sân hận lắm, chứ không phải hiền thục. Hôm sau cô ngủ tới tám giờ. Cô chủ vô la mắng, nhưng người giúp việc cãi tay đôi "Có gì đâu, bà làm dữ vậy." Cô chủ vác cây then cửa đập đầu cô người làm, đổ máu đầu. Nó chạy ra ngoài đường, ôm cái đầu, la "Bà chủ hiền thục của tôi đây nè. Bà chủ hiền thục làm cho tôi cái đầu đổ máu." Từ đó về sau cả xóm không còn kêu cô chủ là hiền thục nữa, mất tiếng tốt.
Đức Phật lấy ví dụ đó để ví dụ cho người tu, bình thường, khi không có ai xúc chạm tới mình, thì mình hiền lắm, dễ thương. Nhưng chuyện đụng chạm tới lợi ích, chạm tới cái tôi của mình, tới những cái sở hữu của mình thì lúc đó coi mình còn hiền hay không, có thật sự hiền hay không? Lúc đó mới đo được tâm thức là tâm hiền. Cho nên mình tu tâm hiền không phải chuyện đơn giản. Đừng nghĩ mình phải tu cái gì cao sâu, chứ sao lại tu tâm hiền, chẳng lẽ tôi không hiền hay sao mà phải tu tâm hiền. Không đơn giản như mình nghĩ, mình thật sự là hung dữ lắm, không có hiền đâu. Con xin thưa thiệt đại chúng, con còn dữ lắm, tự thấy tâm mình. Thành ra cái dữ nó ngủ ngầm ở trong, giống như bà chủ hiền thục lúc nãy. Mình tu cho tới mức khi có cái gì xảy ra thì tâm mình cũng an tịnh, lắng dịu, đó mới gọi là hiền thật sự. Chứ còn mình hiền khi người ta hiền, thì cái hiền đó bình thường. Còn mình hiền khi người ta dữ thì cái hiền đó mới hiền thiệt.
Cho nên mình tập tâm hiền, an tịnh và lắng dịu. Thí dụ khóa tu vừa xong, pháp hội vừa xong là mình kéo ghế rầm rầm, cái đó không có hiền. Cái hiền của mình sâu sắc lắm, chứ không phải cãi lộn, xăn tay áo lên mới gọi là dữ, đó là phàm phu, còn hiền của bậc Đa văn Thánh đệ tử nó khác. Tức là cảm thọ yên tịnh, trầm mặc, lắng dịu trong mọi lúc, mọi nơi, nó không tháo động, thô bỉ, nó phải an tịnh, nhất là ngày tu. Ngày tu mà mình không tu thì ngày ở nhà làm sao mình tu. Giờ tu mà mình không tu thì giờ không tu làm sao mình tu. Ngay chỗ tu mà mình không tu thì ra ngoài chợ, chỗ không tu, làm sao mình tu.
Thưa thiệt đại chúng, con không phải thầy bói, nhưng con dòm là con biết, khỏi cần coi chỉ tay, bấm độn gì hết. Nhìn cảm thọ. Cho nên tu, mình phải tập sự an tịnh, trầm mặc, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dù cho người tao có khó khăn, có cự, có chỉ trích thì mình vẫn tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, điều đó khó hay dễ? Thầy mình nói mà mình cũng giận luôn nữa chứ đừng nói là Phật tử, hay sư đệ, sư muội, nhỏ hơn mà góp ý. Cho nên sự tu tâm hiền của mình là hiền của bậc Hiền Thánh, chứ không phải là hiền bình thường đâu. Ngoài đời mình thấy người đó cứ lù lù, cứ im ru, ai nói gì nói, ai làm gì làm, họ cứ im re như cục đất thì mình nói hiền, đó không phải là hiền trong pháp và luật của bậc Thánh. Họ im im vậy nhưng trong đó họ giận, họ sân, người vô minh, chẳng qua tập khí của họ là im im vậy đó, chứ không phải họ hiền thật. Cho nên lâu lâu có những người cộc, là một lần họ không nói, hai lần, ba lần, bốn lần là họ xử một lần, họ dồn hết tính sổ một lần.
Thành ra sự tu tâm hiền của mình là hết sức quan trọng. Khi mình ngồi đừng có nhắm mắt ngủ, mở mắt ra, tỉnh táo, tinh anh, thấy rõ ràng cảm giác của mình lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào. Phải làm cho nó sanh khởi những cảm giác. Để khi mình có những cảm giác đó rồi về gia đình, mình ứng xử, tiếp xúc, đối đãi, nó hay lắm, chứ không hở ra là sừng sộ. Đức Phật ví dụ tâm của chúng sanh giống như vết thương, chạm tới là giật. Mình có vết thương chảy mủ, chảy máu, đau, đụng tới một cái là mình nhảy dựng liền, cái tâm của chúng sanh là cái tâm vết thương, ai chạm tới một cái là nó sừng sộ lên, bực tức lên, phẫn nộ lên. Ngay cả những người ân nghĩa với mình, vợ chồng, cha mẹ, anh em, chạm tới cái là sừng sộ, tự ngã lên, có không?
Như vậy thì sao hiền được, còn dữ quá mà. Những cảm thọ hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn nó còn bên trong dữ lắm, nhiều lắm. Cho nên mình tu tâm hiền là làm cho nó lắng dịu xuống, sau đó từ từ mình súc hồ nước tâm, nó đọng bên dưới. Đừng nhìn mặt vậy rồi tưởng đâu là hiền, nhào vô kiếm ăn, đụng vô đi rồi biết. Thành ra cái tu của mình hay lắm, nhìn vô cảm thọ mình mới thấy, chứ không phải nhìn cái mặt. Nhìn vô cảm thọ bên trong nó hoạt động, vận hành như thế nào, khi nghe một lời khó chịu thì cái thọ ra sao; khi muốn nói một điều gì đó mà nó nói không được thì cái thọ nó ra sao; khi nó oan ức gì đó thì mình phải coi cái thọ, tưởng, hành ra sao. Mình mới giáo huấn trong đó "Vô thường, trống rỗng, không có gì hết trơn, biện bạch chi mất công mệt." Từ từ đi, không vội, quý vị sẽ thấy an tịnh, lắng dịu.
Đức Thế Tôn là bậc an tịnh và hướng dẫn cho chúng sanh đi đến chỗ an tịnh. Những giờ mình ngồi thiền, nghe pháp, thiền quán là giờ mình tập an tịnh, lắng dịu. Mình mới bắt đầu nhìn vào bên trong để nội soi, mình rọi những hẻm hóc, những ngóc ngách, đích giường, kẹt bàn, kẹt tủ,… rồi mình lấy chổi quét vô, kéo nó ra: xác chuột chết, gián chết, rắn lột xác chết, những thứ gì ở trong đó mình không hề biết. Cho nên cái tu nó sâu sắc, tỉ mỉ, tinh vi, nhỏ nhiệm, mình cần phải có sự để tâm. Bất cứ lúc nào mình nói gì, cảm thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì, mình phải để ý, lắng cảm thọ xuống để đọc coi trong đó có cái gì. Có những loại giấy hồi xưa, người ta viết chữ lên nhưng dòm không ra, thấy tờ giấy trắng thôi, nhưng có loại nước thuốc, nhúng tờ giấy đó vào, chữ mới hiện ra. Mình phải tu tới mức giống như nước thuốc đó vậy. Mình nhìn thì tưởng đâu thọ này là yên tịnh, nhưng thật sự nó không có yên tịnh. Mình lắng sâu xuống nữa, thì nó mới bắt đầu hiện ra, nó lắng ở dưới đáy hồ.
IV. Thân hành niệm
Mình phải tập mọi cử chỉ, hành vi của mình. Đi thì đừng đi xèm xẹp, xèm xẹp, đi giống như thùng phuy chuyển động vậy. Tất cả mọi người, không riêng người tu, mà các vị làm việc trong đạo tràng cũng vậy, khi đi trong lúc đại chúng đang ngồi thiền, đang nghe pháp, mình phải tập nhón gót, đi nhẹ nhẹ. Phải cho thật an tịnh, càng an tinh chừng nào thì càng biểu hiện ra sức mạnh của sự tu tập. Ăn cơm cũng vậy, phải để ý, an tịnh, lắng dịu để nhìn những dục, tham, ái hoạt động trong khi ăn. Nói chuyện cũng phải nhìn, coi cái gì đang nói. Làm việc cũng phải nhìn, coi động cơ gì đang làm. Để kệ kinh, thâu gom ghế, để đôi dép xuống cũng phải tập an tịnh, nhẹ nhàng, đó là sự chánh niệm tỉnh giác.
Có câu chuyện về một vị thầy lên núi tu thiền, tu được 2-3 năm xin sư phụ xuống núi, vì giờ đã học xong rồi. Sư phụ không nói gì nhiều, chỉ hỏi lúc vô thầy đó để đôi dép bên trái hay bên phải cửa. Vị thầy trả lời là quên rồi. Sư phụ kêu tu tiếp đi. Vị thầy tu thêm hai năm nữa, trình với sư phụ là xong rồi, xin xuống núi, để dạy thiền cho người ta, mở ra thiền viện. Sư phụ cũng không hỏi, không nói gì nhiều. Lúc đó trời mưa, sư phụ hỏi vị thầy để cây dù ở bên nào, vị thầy đó cũng không để ý, sư phụ kêu về ngồi thiền tiếp. Tu thêm hai năm nữa, chuyến này nghĩ là ngon lành, nhớ dù, dép, phải để ý kĩ lưỡng. Khi bước vô, sư phụ nhìn hết, không nói gì, chỉ hỏi bước vào ngạch cửa bằng chân trái hay chân phải trước. Vị thầy cũng quên, chỉ lo để ý đôi dép với cái dù, còn lần này hỏi chân nào. Sư phụ kêu vị ấy về tu tiếp, đừng vội xuống núi.
Qua câu chuyện này chúng ta thấy cái tu không phải ở đâu xa xôi, mà nó ở chỗ thân hành niệm, chánh niệm trong mọi hành động của thân. Mình không tu ngay đôi dép, mình không tu ngay cái ghế, không tu ở chỗ kệ để kinh, mình không tu ngay bước chân, vậy mình tu ở đâu? Tu ở chánh điện thôi hay sao, tu ở trong suy nghĩ, nghĩ tưởng chứ không tu ngoài thực tế hay sao? Mình bước lại nhìn đôi dép, coi mình có để ngay ngắn không; mình coi cổ áo của mình có xệ không; mình coi bước chân mình đi có vững chắc không?
Mới ngày hôm kia con ghé thăm bà cụ 82 tuổi, cũng xuất gia, tuổi già, con của bà cũng là một vị thầy, rước bà về tu. Cũng như Minh Thành rước cha mẹ về tu. Rất là xúc động bởi vì bà bị trợt té, gãy chân, phải gắn xương giả vô. Tưởng vậy là ổn, nhưng trợt té, gãy luôn chân bên đây, gắn inox vô. Bây giờ các người con, chia lên ở, mỗi tuần túc trực ở bên. Chúng ta thấy đó, mình tu trong bước chân, chứ không tu gì ở xa. Mình nói bước chân là chuyện nhỏ, mình tu cái lớn thôi, cái nhỏ tu làm chi, bước chân khỏi cần tu.
Cho nên thân hành niệm trong phần Tứ Niệm Xứ là niệm oai nghi, hành động. Trong sáu niệm về thân là có niệm oai nghi, hành động, trong thanh qui đạo tràng buổi sáng mình có đọc, có nhắc. Tức là từ những cái nhỏ nhỏ, nó hoàn thiện nhân cách, đạo đức, phẩm hạnh, nết đẹp của mình. Đó gọi là tăng thượng giới học, chứ đâu phải giới chỉ là cái giới mình giữ. Những học pháp, những uy nghi làm cho mình trở nên hoàn thiện, hoàn hảo, hoàn toàn, trọn vẹn. Phải để ý từng cái nhỏ, từ ăn, nói, đi, đôi dép, để ý tất cả. Đó là Chánh hạnh, Chánh nghiệp, Chánh ngữ, Chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo, gồm thân, miệng, ý của mình. Chánh tư duy là ý, Chánh ngữ là miệng, Chánh nghiệp là những hành động của thân, nó liên hệ với nhau hết, trong Bát Chánh Đạo co Tứ Niệm Xứ bên trong. Cho nên chúng ta thực tập an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, dễ chịu.
Sáng này Minh Thành hoan hỉ lắm, đại chúng lên chánh điện ngồi thiền yên tịnh, tuy là chưa tới giờ, rất là tốt đẹp, phải như vậy. Cứ việc tới rồi, thì lên chánh điện ngồi, người tới trước ngồi trước, người tới kế ngồi kế, người tới sau ngồi sau, yên tịnh. Đó là "Phải là hội chúng tinh ba. Không làm hội chúng cặn bã." Hội chúng cặn bã tới là giống như nhóm chợ, không có tu tập. Không phải chỉ tu tập trên thời khóa, mình vừa bước vô cánh cửa đó rồi thì đây là Thánh địa, không phải đất thường. Một chỗ tuyên dương Thánh pháp thì đó là Thánh địa, không giống như ở nhà. Phải thực tập, để hết tâm tư thực tập pháp, chỉ có pháp mới cứu mình, ngoài pháp ra không có gì trên cuộc đời này có ý nghĩa nữa hết. Quý vị nghĩ đi, thế gian này có cái gì cứu mình ngoài pháp. Khi mình nhắm mắt ra đi thì những gì mình tu tập hôm nay được thành tựu giúp mình ở đời sau, còn tất cả những cái mình làm ở đây không đem theo được gì hết.
Cho nên hãy tập an tịnh, trầm mặc, lắng dịu, dễ chịu. Dầu có chuyện gì xảy ra cũng tập lắng dịu, đừng có quýnh quáng, rối loạn. Mình nói với cảm thọ của mình "An tịnh, lắng dịu, dễ chịu ", niệm câu đó. Do mình tu tập an tịnh, lắng dịu, sau này mình đi tới chỗ cứu cánh là bất động tâm giải thoát. Nếu gặp một chuyện nhỏ mà mình đã xáo đông, biến động, dao động, chấn động thì gặp chuyện lớn sao mình bất động được. Cho nên trong sự tu tập của mình, kết quả cuối cùng của nó là thản nhiên trước sống chết. Đó là thành quả tối thượng của người tu. Cái chết không làm cho mình hề hấn, sợ hãi. Mỗi ngày mình thực tập cửu tưởng quán, "Chín Giai Đoạn Tử Thi" là để làm gì? Thứ nhất là để phá tâm dục, ái, tham đắm xác thân người ta, xác thân của mình. Nó nhả ra những tham đắm về tài sản, vật chất, tự thân. Cái sâu sắc là mình huân tập những điều đó để chuẩn bị hết sức chu đáo, kĩ lưỡng, thận trọng, đầy đủ cho ngày mình mạng chung. Kết quả sau cùng của chúng ta là điều đó. Trận đánh lớn nhất của chúng ta là trận đó. Cái khổ nhất của tất cả chúng sanh là cái chết, nhưng tới đó mà mình không khổ thì bất động tâm giải thoát. Muốn được như vậy, phải tập từ bây giờ, trong những điều nhỏ nhất, rồi mới tới điều vừa vừa, rồi mới tới những điều lớn lao mình cũng có thể nhiếp phục cảm thọ của mình được. Tới cuối cùng "Này các Tỷ-kheo, hãy tỉnh giác và chánh niệm khi thời đã đến", tức là lúc mạng chung. Thật sự là chúng ta chưa biết lo cho mình nhiều, lo thật sự là lo điều đó.
V. Niệm tử – lo cho cái chết
Bậc Thánh nhân không lo nhiều mối, chỉ lo một mối; còn kẻ phàm phu lo ngàn mối, lo hoài, nhưng không cái nào xong. Bậc Thánh nhân chỉ lo một cái, lo xong là mọi chuyện an ổn hết tất cả. Lo một mối đó chính là lo niệm tử - suy niệm về cái chết của chính mình, mình sẽ đối đầu với nó như thế nào. Chúng ta không biết lúc nào chúng ta chết, chết ở đâu và chết như thế nào. Điều hết sức quan trọng, đại sự, chung cuộc của kiếp người nhưng không biết gì hết, tại sao mình không lo? Con hỏi quý vị, mình biết tháng sau mình đi Mĩ, giấy tờ xong xuôi, vé máy bay mua rồi, mình chuẩn bị kĩ.
Trước khi đi mấy năm mình cũng phải lo giấy tờ, này nọ kia, hoàn thành thủ tục. Khi đi như vậy mình biết chỗ đến, có nhà, có con bên đó, vé máy bay, đồ đạc đầy đủ hết, nhưng mình có lo không? "Không biết đi máy bay có sao không? Giờ máy bay nguy hiểm lắm", rồi đem thuốc men, quần áo, đồ đạc, đủ thứ hết. Đó là mình biết chỗ đến, có người đón mà mình còn lo như vậy. Còn quý vị biết lúc chết mình đi đâu không? Không biết vậy mà không lo, đó là vô minh. Mình không biết cận tử nghiệp của mình như thế nào, mình không biết mình nhắm mắt, mình chết ở đâu, chết ra làm sao, chết khi nào, hoàn toàn không biết. Sau khi chết đi về đâu cũng không biết.
Vậy mà không lo "Kệ nó, chừng nào chết thì chết, lo chi cho mệt." Đó là suy nghĩ của vô minh. Đức Thế Tôn nói rằng chết trong tâm mà còn những ác bất thiện pháp, còn những dục vọng, những sân hận, những si mê, còn những oán hận, thù hận thì những cái chết đó là cái chết bất tường. Khi nào mình đã giải quyết xong dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, ít nhất là mình nhiếp phục được thì cái chết đó, Đức Phật nói là cái chết tốt lành. Mình biết đường mình đi, nhân thiên và Thánh quả. Cho nên Thánh nhân lo có một chuyện thôi, xong một chuyện đó là xong hết tất cả.
Bây giờ ngồi lại là lo cái gì? Chồng con, tài sản, nhà thì không biết di chúc sao, tiền không biết chia sao. Mình cũng phải thủ, không thôi chừng nữa nó cho mình ra đường ở. Đương nhiên có những cái mình cũng cần lo, nhưng một cái quan trọng mình cần để tâm thật nhiều, mà mình không chịu để tâm. Đó là đối đầu với sanh tử, đối đầu với cái chết, đối đầu với những tai nạn. Chúng ta thấy nước lũ nó cuốn như vậy là hàng triệu người không có nhà ở, hàng mấy trăm ngàn căn nhà sụp đổ, trôi hết. Chết mà đào hố bằng sân vận động, đổ xuống, người mà giống như những bao rác.
Những người đó trước khi nhiễm bệnh, thì họ có nghĩ họ nhiễm không? Không! Trước khi học chết họ có nghĩ họ sẽ chết không? Không! Những người bị tai nạn giao thông, trước khi họ bị họ có nghĩ hôm nay họ gặp tai nạn không? Không! Người bị ung thư, trước khi đó họ có nghĩ họ bị ung thư không? Không! Họ vô tư chứ không họ không nghĩ mình bị ung thư. Chúng ta phải lo trước, phải tính trước một bước. Những ngày chúng ta trở về đây tu tập là những ngày con muốn cho đại chúng sanh khởi lên những cảm giác lo lắng, sợ hãi. Có trí tuệ mới sanh khởi được cảm giác lo lắng, sợ hãi, còn điếc thì đâu có sợ súng. Người có mắt thì mới sợ vực thẳm ở phía trước, người thấy đường mới sợ vực thẳm, còn người mù có biết gì đâu, cứ việc đi tới, lọt thì lọt.
Cho nên buổi thiền quán hồi đầu giờ, con muốn cho đại chúng nhìn ra được và có một cảm giác nhàm chán, ly tham đối với những thứ vô thường, khổ não, vô ngã, trống rỗng của cuộc đời này. Ít nhất cũng có những giây phút đó để tâm mình nhả ra, mở ra, tháo ra, buông bớt xuống. Chứ cái này nó chấp thủ khủng lắm, cứng chắc, thâm căn cố đế, kiên trụ bám chắc.
Cho nên phải biết lo lắng, lo tu, lo học pháp, lo thiền quán, lo quán chiếu. Tâm mình khi khởi lên dục, tham, sân, si, bản ngã, mình lo, mình sợ, mình muốn từ bỏ, muốn xả ly, muốn xuất ly, muốn viễn ly, muốn quăng, nhả, ói, mửa, khạc, nhổ, không muốn nó ở trong tâm mình. Vì mình biết những thứ này là những thứ Khổ đế, Khổ Tập Thánh đế, những thứ này chính là những thứ làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu não. Bây giờ nó đang còn ở trong đây thì mình phải ưu tư, lo lắng và sợ hãi, không chấp nhận nó, phải tìm đủ mọi cách từ bỏ, tẩy sạch, đoạn tận và chấm dứt, ít nhất cũng nhiếp phục.
Chứ đừng khởi lên mà mình cứ trơ trơ, kệ nó thì không được. Đó là mình không biết thương mình, không biết lo cho mình, không biết chăm sóc mình, mình hủy hoại thân tâm này. Phải biết cách thương, thương mình thật nhiều, hãy lo cho mình thật nhiều, hãy sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp. Phải sanh ra cảm giác lo sợ thật nhiều đối với dòng sanh tử oan nghiệt này, đối với đời sống mong manh, sống nay, chết mai, tai bay, họa gửi, động đất, sóng thần, lũ lụt, dịch bệnh, chiến tranh, cướp giật, xác hại, hãm hại, giết hại, mưu hại. Đầy dẫy những sự bất an trong toàn thế giới, thảm họa chưa từng có trong suốt hàng trăm năm nay. Lo! Sợ! Để nỗ lực tăng trưởng giới học, định học, tuệ học, ngày đêm siêng năng trong pháp, đừng xa rời Chánh pháp. Ăn với pháp, uống với pháp, thở với pháp, làm việc với pháp, đi, đứng, ngồi nằm với pháp. Lấy pháp làm sinh mạng, lấy pháp làm hơi thở, lấy pháp làm sự sống. Thiện pháp là chiếc bè giúp chúng ta qua biển sanh tử, Thánh pháp này là chiết phao duy nhất có thể giúp chúng ta vượt bến mê, tới bờ giác, đoạn tận khổ đau.
Sắp tới có đây những chuyện gì mình chưa biết được. Chưa biết tuần sau hay khóa tu lần sau mình có được đến đây cùng tu hay không, hay mọi người đều đóng cửa ở trong nhà. Thế giới đang ngập chìm trong thảm họa mà. Chúng ta có một chút phước, thì phải biết trân trọng để tu học. Hãy dành tất cả thời gian trong giai đoạn này để hành pháp, đừng sống trong lãng quên, trong si mê, đừng sống trong sự vô tư, không biết suy nghĩ, đừng mải mê trong những thứ vô thường, bong bóng, bọt nước, phù du, để cuối cùng là nước mắt và hối hận, quằn quại trên một chiếc giường bệnh với những hơi thở khó khăn, với sự cận kề, đường tơ kẽ tóc trước cái chết, lúc đó muốn tu cũng tu không được.
Ung thư hành hạ, đau đớn, khổ sở làm sao tu. Bây giờ ngồi đây có khi còn gục lên, gục xuống, vô ngồi thiền lơ tơ mơ trong si mê thì tới lúc bệnh, nó hành hạ, quằn quại, đau đớn như vậy thì làm sao chúng ta có thể bình tĩnh, chánh niệm mà quán chiếu được. Cho nên phải tha thiết, chân thành, đem cả sinh mạng của mình trong thời gian ngắn ngủi và cực kì hiếm hoi mà mình trọn được bình an này.
Đất nước chúng ta là một trong những đất nước hiếm hoi trên thế giới mà giờ phút này được bình thường như vậy. Chúng ta phải biết rằng, sự bình thường này không phải là bình thường, sự bình thường này không được dài lâu. Phải ngày đêm thắp sáng lên ngọn đèn trí tuệ trong tâm mình, giờ giờ, phút phút phải niệm pháp, sanh khởi lên những sự tác ý, quán chiếu sâu sắc, nhàm chán với thế gian vô thường, tan hoại, bại hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, giả dối, bất tịnh, vô nghĩa này. Nó là thứ không đáng để cho mình tham.
Mình đầu tư hết tất cả tâm thương yêu của mình, rồi cuối cùng chuốt lấy sự oán hận, sự phiền não, khổ đau, không có gì hết. Tất cả những người ngồi đây sẽ ra ngoài đồng hiu quạnh để nằm, lạnh tanh một mình. Đừng trông cậy vô người thân hay ai hết, một khi nghiệp đến, tử thần đến, thì không còn mẹ con, anh em, bà con, không một ai mà nương tựa, che chở. Hãy tập sống một mình, tập đi bằng đôi chân của mình trong Thánh trí tuệ. Hãy tập thắp sáng ngọn đèn của mình lên, làm chỗ nương tựa cho chính mình, không nương tựa điều gì khác. "Lấy Chánh pháp làm chỗ nương tựa, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn."
Chánh pháp này là sự thường trực nhìn lại thân thể, hành động, oai nghi; thường xuyên nhìn lại những cảm giác bên trong; thường xuyên, liên tục nhìn lại nội tâm, xem trong đó có tham, sân, si, bản ngã, vô minh không? Có là phải tẩy sạch, xử lí, giải quyết nó liền và bằng một cách gọn nhẹ. Thường xuyên và liên tục nhìn lại trong nội tâm đang diễn ra thiện pháp hay là ác pháp. Nếu thiện pháp là từ, bi, hỷ, xả, Thánh trí vô thường, vô ngã thì phát huy lên, làm cho nó rực sáng, chói sáng, bừng sáng, tỏa sáng, chiếu sáng trong thân tâm của mình.
Nếu là ác pháp thì phải dập tắt ngay lập tức, dùng những phương tiện, cách thức để đập đổ, phá vỡ, diệt tận nó, chặt nó giống như chặt cây sala, không cho nó sanh trở lại, chặt nó như chặt cây dừa không cho nó mọc trở lại. Phải ra đòn chí mạng, quyết liệt, quyết đinh, dồn hết sức mình bằng sự nỗ lực ngày đêm. "Sống như lửa cháy đầu – Cầu chứng cảnh bất động." Lửa đang cháy trên khăn mình đội, cháy trên khăn mình quàng trên cổ, cháy trên nón mình đội, cháy trên mái tóc của mình. Nó cháy tới nơi rồi, cháy tới bạc đầu rồi!
Mạng sống bị dẫn dắt,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước,
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm mọi công đức,
Đưa đến chơn an lạc.
***
Mạng sống bị dẫn dắt,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước,
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịch.
(Kinh Tương Ưng Bộ Kinh – Tập I. Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, Phẩm Cây Lau, bài kinh Đưa đến đoạn tận)
Những lợi ích của thế gian này chẳng có là gì hết, chúng ta đã từng có nó trăm, ngàn, vạn, tỷ lần rồi. Hãy hướng cầu sự tịch tịnh của tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Lắng lặng hết tất cả những thứ đó, dập tắt hết tất cả những thứ đó là Niết-bàn, cứu cánh, hạnh phúc tối thượng!
"Hãy vứt bỏ mọi thế lợi – Hãy làm các công đức – Đưa đến chơn an lạc – Tâm hướng cầu tịch tịnh."
./.
CỘI GỐC CỦA KHỔ ĐAU 3 & 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán vô thường, khổ đau, vô ngã: nhàm chán – ly tham PAGEREF _Toc66176381 \h 1
II. Bóng tối bao trùm dày đặc PAGEREF _Toc66176382 \h 5
III. Tu tâm hiền PAGEREF _Toc66176383 \h 8
IV. Thân hành niệm PAGEREF _Toc66176384 \h 10
V. Niệm tử – lo cho cái chết PAGEREF _Toc66176385 \h 13
I. Thiền quán vô thường, khổ đau, vô ngã: nhàm chán – ly tham
"Này các Tỷ-kheo, sắc này là vô thường", là khổ não, là trống rỗng, tàn hoại, biến diệt, tiêu tan, hủy hoại, hoại diệt. "Cảm giác này, này các tỷ-kheo, là vô thường", khổ đau, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, trống rỗng. Trống rỗng là những cảm giác này, nó sanh diệt, biến đổi, tiêu tan. "Những hình bóng trong tâm này là vô thường", khổ não, thay đổi, biến hoại, tiêu tan, tan nát, hoại diệt, vô ngã. "Này các Tỷ-kheo, các dòng suy nghĩ, lời nói thì thầm trong tâm là vô thường", khổ não, trống rỗng, vô ngã hoại diệt, tiêu tan. "Này các Tỷ-kheo, sự nhận thức, sự rõ biết này là vô thường", nó sanh khởi lên tham dục, tức giận, sanh khởi lên sự bám chấp, tôi, ta, tao, mi, mình, người, hơn, thua, nhân ngã. Sự nhận thức, rõ biết này là đau khổ, trống rỗng, sầu, bi và ưu não.
Hãy nhàm chán đối với tất cả những vật chất, sắc chất, tài sản, thân xác này, đó là thứ bại hoại, tan nát, hoại diệt. Hãy nhàm chán đối với các cảm giác, nghĩ tưởng, sự nhận thức. Hãy nhàm chán thứ trống rỗng này, thứ tan biến, hủy hoại này; nhàm chán với đống khổ này – đống tích tụ những đau khổ, sầu, bi và ưu não này.
"Này các Tỷ-kheo, ai thích sắc là người đó thích khổ." Ai thích những vật chất, nhà cửa, tiền tài, xe cộ, đất đai, thân xác này thì người đó ưa thích khổ đau. "Này các Tỷ-kheo, người đó không giải thoát khỏi khổ đau." Ai còn ưa thích những cảm giác thúc giục, bực bội, ta đây, bản ngã; ai còn ưa thích những hình bóng những suy nghĩ, dục tham, sân hận, ta đây, ganh tị, đố kị, hơn thua, nhân ngã bỉ thử thì người đó còn thích khổ. Ai còn thích khổ người đó không thể giải thoát khổ đau. Ai còn ưa thích những suy nghĩ hơn thua, đúng sai, phải quấy, cao thấp, thị phi, người đó còn ưa thích khổ, còn say đắm với khổ, còn đam mê với khổ, còn ở chung với khổ, "Này các Tỷ-kheo, người đó không giải thoát khỏi khổ đau."
Còn ưa thích những suy nghĩ hơn thua, tranh phần phải về mình, mình là đúng, người ta là sai; mình là phải, người ta là quấy; mình là tốt, người ta là xấu; mình là hơn, người ta là thua; khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc,…người ưa thích suy nghĩ như vậy, là người ưa thích khổ đau. "Này các Tỷ-kheo, chúng sanh chết trong những tư tưởng này, chúng sanh chết vô lượng, vô biên kiếp ở trong những tư tưởng này." Mình biết, mình rõ, mình hay, mình giỏi thật sự hay không? Thông minh hay là vô minh? Bám chặt vào nhận thức, rõ biết này để rồi tham, sân, si, bản ngã. Để rồi sầu, bi, khổ, ưu não trong nhận thức của vô minh, trong hiểu biết của mê lầm, trong nhận thức của dục tham, của nghiệp, của tập khí, của bản ngã, của chấp thủ. Cái biết đó là cái biết của khổ đau.
Chừng nào chúng ta mới hết khổ nếu chúng ta cứ bám chặt vào trong ngũ uẩn này? Tới bao giờ chúng ta mới cạn nước mắt nếu chúng ta cứ cho rằng đây là tôi, đây là của tôi? Tới bao giờ chúng ta mới bình an nếu chúng ta cứ ôm ấp những cảm giác tham dục, sân hận, bản ngã thật to lớn? Tới bao giờ chúng ta mới tự dừng lại sự tự thiêu đốt mình và thiêu đốt những người xung quanh mình? Tới bao giờ chúng ta mới hết tự thiêu đây? Thiêu đốt mình bằng những cảm giác nóng bức, bực bội, bực tức, bực dọc, bực mình, nó tàn phá những cảm giác của mình, tàn phá tâm thức của mình, tàn phá thân xác này, tàn phá, tự thiêu, tự đốt, tự dìm mình vào trong biển dục, biển tham, biển ái.
Đắm chìm mãi mãi, trôi lăn mãi mãi, lặn hụp mãi mãi. Thật là đau khổ cho chúng ta, thật là xót thương cho chúng ta, thật là cay đắng cho chúng ta! Chúng ta phải chịu đựng một tâm thức nặng nề, một tâm thức trì trệ, một tâm thức u mê, một tâm thức si ám, một tâm thức đầy dẫy những sự sân hận, bực bội, một tâm thức chất chứa đầy những dục, tham, ái; muốn cái này, muốn cái kia, muốn cái nọ; đòi cái này, đòi cái kia, đòi cái nọ; tìm cái này, tìm cái kia, tìm cái nọ. Tìm chưa được thì đã hấp hối rồi, việc này làm chưa xong, việc kia còn dang dở. Ôi thôi! Thần chết đã đến rồi!
Người nhặt các loại hoa,
Ý đắm say tham nhiễm,
Các dục chưa thỏa mãn,
Đã bị chết chinh phục.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hoa)
Chúng ta hãy kiểm tra lại đi. Cuộc đời của mình nhìn lại mấy chục năm qua sống như thế nào? Sống một đời sống đáng thương, một đời sống thật là đáng thương! Đáng thương cho chúng ta lắm, quý vị ơi. Hãy thương mình thật nhiều, hãy biết cách thương mình, hãy biết chăm sóc cho cảm giác này, hãy chăm sóc những cảm giác hiền thiện, chân chánh, lắng dịu, hiền từ. Đừng sống trong lãng quên nữa, đừng sống trong sự si mê mãi chạy tìm theo những dục vọng nữa. Mãi ôm ấp ngọn lửa sân hận để được cái gì, tranh phần phải, phần hơn, phần thắng để được cái gì trong cuộc đời này? Tại sao cứ tranh giành với nhau để làm cái gì? Đấu đá, đánh đấm, hơn thua, đấu khẩu để làm cái gì trong cuộc đời này?
Người ta chết đầy đường xá kia kìa, hàng triệu người mất nhà, mất cửa kia kìa, hàng vạn người chết kia kìa. Tỉnh đi! Tỉnh đi cái tâm mê ơi! Suốt ngày cứ ăn, chơi, ngủ, nghỉ, tham, sân, si hủy hoại thân tâm của mình. Mình chưa biết thương mình đâu quý vị ơi, mình đang hại mình đó, mình đang làm khổ mình đó, mình đang làm khổ cho những người chung quanh mình. Hãy tập lo lắng cho mình thật nhiều, tập chăm sóc cho nội tâm của mình thật nhiều. Tập những cảm thọ hiền lành, an tịnh, lắng diệu; tập những cảm thọ từ, bi, hỷ, xả; tập những cảm thọ, an tịnh, nhẹ nhàng, trầm mặc. Đừng tiếp tục làm tổn thương thân tâm của mình nữa, đừng tiếp tục hại mình nữa, đừng tiếp tục làm khổ cho mình nữa, đừng tiếp tục tự thiêu mình nữa.
Chạy đuổi ra bên ngoài để đi tìm cái gì? Bên ngoài có cái gì? Chúng ta đã sống với tâm hướng ngoại này gần suốt cuộc đời rồi. Cứ chạy đi tìm sắc, sắc đẹp, sắc chất, những tài sản, những lòe loẹt ở bên ngoài, chạy đi tìm những âm thanh, những mùi vị, những sự tiếp xúc. Chúng ta chạy mấy chục năm rồi được cái gì? Quý vị nhìn đi, đất nước phát triển nhất thế giới là Mĩ, bây giờ như thế nào?
- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn!
- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi "?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: " Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi ". (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, I. Phẩm Tham Luyến, bài kinh Năm vị (Vô ngã tưởng))
Hãy quán chiếu nó là vô thường, khổ đau, vô ngã, trống rỗng, hủy hoại, tiêu tan, hoại diệt. Dầu cho là sắc quá khứ, hay là thân hiện tại đang ngồi đây, hay là căn nhà hiện tại đang có, dầu cho nhà một chục tầng, thô hay tế, đẹp hay xấu, xa hay gần, cao cấp hay thấp hèn,… đều là vô thường, khổ não, đều là hủy hoại, tan biến, hoại diệt, bất cứ lúc nào nó cũng có thể sụp đổ. Đang ở trên địa vị cao ngất, bất thình lình có lệnh bắt vô tù. Hôm nay là người đứng đầu cả đất nước, nhưng có ngờ ngày mai là ở trong tù. Hôm nay là chủ tịch hội đồng quản trị cả một tập đoàn, nhưng ai biết ngày mai phá sản, trắng tay, thiếu nợ. Tất cả sắc chất, vật chất, tài sản, thân xác này tích tắc trong phút chốc tan thành mây khói, không có cái gì cứng chắc trên cuộc đời này.
Hãy quán sắc là hòn bọt, hòn bọt đó quý vị. Chúng ta đang ngồi đây, bất thình lình động đất sụp xuống, chúng ta chết ở tại nơi này. Mới ngày hôm qua, một chiếc xe lọt xuống vực sâu, bị thương mấy chục người và chết 6-7 người. Mới chiếc xe đi ăn đám cưới, kinh hoàng, bị xe tải tông vào. Cái sống chết của thân xác này là bất trắc, không lường, là vô thường, tích tắc, chớp mắt mà thôi. Chỉ có người ngu mới tin cậy vào thân xác này, mới nghĩ rằng nó là còn hoài, là bền vững. Hãy nhìn cho kĩ đời sống này, đời sống vô nghĩa, trống rỗng này. Bạn thành thù; vợ chồng trở nên không dòm mặt nhau; cha con, mẹ con mà có lời nói, hành động gì là từ mặt; anh chị em, huynh đệ tương tàn. Hãy nhìn cuộc đời trống rỗng này, trống không này. Chỉ cần một hành xử khác thôi, là tất cả lập tức thay đổi; một lời nói, một hành động mà thay đổi là thành kẻ thù. Hãy nhìn bằng Thánh trí tuệ, dùng trí tuệ của bậc Thánh, của Đức Thế Tôn mà nhìn cuộc đời này, để có thể nhả ra bớt được. Mở nới ra một chút thôi, chứ đừng nói bỏ hết được, nới ra một chút, mở ra một chút, buông xuống một chút.
Gánh nặng oằn vai trên một con đường hết sức dài xa, vô lượng vô biên kiếp, mà còn chưa thấy mệt. Mệt chưa, mỏi chưa, mòn mỏi chưa, nhàm chán hay chưa? Hay còn hăng say với tham, sân, si, để cho đau khổ. Tâm vô minh này nó điêu luyện với tham, sân, si lắm, khỏi cần dạy nó. Từ, bi, hỷ, xả thì nó rất khó tu tập, còn tham, sân, si, bản ngã thì nó điêu luyện, nhuần nhuyễn lắm. Nó hại mình, hại người, quý vị biết không? Những tấm thân của chúng ta tiều tụy, thân tàn ma dại, cứ cho mình là khôn, mình là đúng, mình là hay, mình là hơn, chồng chất một bản ngã ngu si, ích kỉ, nhỏ mọn, nhỏ hẹp; đầy dẫy những vô minh, tham ái, dục vọng, nói ra câu nào cũng đầy dẫy một cái ta, một cái tự ngã, nói ra cái gì cũng giành phần hơn, phần đúng.
Thương lắm quý vị ơi! Chúng ta là nạn nhân thế kỉ, chúng ta gặp nạn, mắc nạn này vô số kiếp, không biết bao giờ có thể ra được nếu chúng ta không vào dòng Thánh pháp này. Chúng ta nhìn lại đi, chúng ta làm những chuyện vô nghĩa, vô ích, không chỉ vô ích mà còn làm cho hại mình, hại người. Một cơn giận không chịu bỏ, giận những người nhân nghĩa, những ân nhân, cha mẹ của mình, anh em của mình, vợ chồng của mình, những người giúp đỡ mình, thầy của mình. Chúng ta làm những chuyện vô minh, si ám, ngu muội, rồi chúng ta đau khổ, hết cái này rồi chồng chất cái kia. Chúng ta quờ quạng trong bóng đêm, chúng ta chạy đụng đầu vô cột, đập đầu vô tường, lủi vô cột điện một cái "rầm", gãy cột điện, bể cái đầu. Đó là những hình ảnh của chúng ta, hãy quán chiếu cho thật sâu sắc. Nhắm mắt trong bóng đêm, mù lòa mà lên ga thật mạnh, tăng tốc, càng đi nhanh chừng nào, thì tai họa càng hiểm nguy chừng đấy. Tai nạn, hiểm nạn rình rập khắp chung quanh chúng ta, mà chúng ta ăn, ngủ, chơi, cười, sống vô tư, không biết lo lắng gì hết. Tất cả là hiểm nguy, tai nạn đang rình rập chung quanh chúng ta bất cứ lúc nào. Chúng ta thật là vô cảm, không biết lo, không biết sợ, trơ trơ. Thấy người ta chết, chuyện đó của người ta; thây người ta bệnh dịch, chuyện đó của người ta. Bên Mĩ bây giờ còn dắt nhau đi tắm biến, đi chơi rầm rầm, chết rần rần mà cứ dắt nhau đi ăn, đi chơi. Những tâm thức vô minh, tham ái của chúng ta cũng giống vậy.
II. Bóng tối bao trùm dày đặc
Mở mắt ra là thấy vụ án đốt nhà, giết người, cướp giật, đâm chém với nhau, thấy rồi cứ đọc bình luận của người ta, chứ không biết rằng cái đó là tiềm ẩn trong người mình, kế bên mình. Chúng ta nhìn thấy một tai nạn giao thông, tội nghiệp quá, dừng lại đứng coi, xong một hồi làm cái "rầm", người tiếp theo chính là người đứng coi. Coi cái gì, lạ lắm hay sao, hiếu kì cái gì? Nếu coi mà quán vô thường, quán khổ, tấp vô lề đứng thì được, còn coi do hiếu kì thì để làm gì? Bao nhiêu thân xác của chúng ta đã đổ xuống rồi, thân này chồng chất như núi, nước mắt chúng ta hơn Thái Bình Dương, đựng lại hết trong vòng sanh tử, mà chúng ta không biết lo sợ, tại sao vậy? Chúng ta nhớ trong truyền thuyết nhân gian, khi đi qua cầu Nại Hà, ăn cháo lú, cho nên lên lú hết trơn. Đó là ví dụ cho vô minh, tại vì vô minh nó bao phủ hết tất cả ngũ uẩn của mình.
Thành ra tất cả thân thể mình, những cảm giác, những cái tưởng, những suy nghĩ, thậm chí ngay nhận thức, rõ biết bằng con mắt của mình, tận mắt mình chứng kiến nhưng mà cũng không đúng. Trừ khi nào mắt trí huệ của mình mở "đắc pháp nhãn tịnh", thành tựu Chánh tri kiến, mở được tuệ nhãn ở trong Thánh trí ngũ uẩn mình mới thấy được thật sự đó là cái gì. Còn nếu không tất cả cái thấy, cái nghe, cái biết, cái nhận thức, cảm xúc của mình toàn là bị phủ bao trong bóng đêm của vô minh, tham ái, nghiệp, tập khí và chấp thủ. Đừng tin tưởng vào nhận thức và hiểu biết của mình, hiểu biết của mình là vô minh. Hãy tin tưởng vào Thánh trí của Phật, cố gắng học thuộc Căn bản trí, cố gắng nghiền ngẫm, quán chiếu Căn bản trí, cố gắng tư duy, áp đặt tâm mình đi vào trong Thánh trí thì lúc đó thấy biết của mình mới đúng sự thật. Tin vào cái biết của mình là nó giết mình chết.
Cái biết của mình bị phủ bởi một bóng đêm, một người mang mắt kính màu nâu thì nhìn cái gì cũng ra màu nâu hết; mang mắt kính màu đỏ thì nhìn cái gì cũng ra màu đỏ hết; mang mắt kính màu xanh thì cái gì cũng ra màu xanh hết. một cái tâm mà đầy dẫy dục, tham, ái thì nhìn chỗ nào cũng dục, tham, ái trong đó; một cái tâm mà đầy dẫy sự nóng giận, sân hận thì nhìn chỗ nào họ cũng nổi cáu, họ bực, tức, quạo lên. Chúng ta có thấy không, mình có bị không? Khi giận lên, mình dòm ai, mình cũng thấy bực. Đó là mắt kính màu đỏ. Chúng ta nhìn thấy người bị bỏ bùa mê, bị thôi miên, họ lột đồ, tiền, vàng đưa hết trơn cho người ta.
Mình cũng vậy, hằng ngày mình cũng bị thôi miên, công đức của mình mất hết. Tức là khi ngồi trong giảng đường mình tu, thì trí của mình sáng ra, nhưng khi mình trở ra, gặp sắc, thanh, hương, vị, xúc, lúc đó mình bị thôi miên, mù mờ hết. Gặp những đối tượng dục, tham, ái thì lúc đó mình đui mù, mờ tối hết, sân si, bản ngã nhưng không biết gì nữa hết. Hàng ngày mình đều bị thôi miên, không biết bao nhiêu lần, mở mắt mà bị thôi miên, chứ không phải nhắm mắt. Vẫn đi, đứng, nói, cười, nhưng trong đó như một con rối bị vô minh và tham ái điều khiển. Đây là thâm sâu, thậm thâm vi diệu pháp. Hôm nay chúng ta đi tới chỗ "tủy" của giáo pháp, "tinh túy" của giáo pháp, lột tả cho chúng ta thấy được hết bản chất của thân xác, thế giới, tâm thức này.
Chúng ta bị sắc ám ảnh, trong tâm chúng ta là hình bóng của chính mình ám ảnh. Chúng ta bị những cảm giác ám ảnh, chúng ta không đi ra khỏi những cảm giác đó được. Chúng ta bị thân xác này ám ảnh, suy nghĩ gì cũng không ra khỏi thân xác này, căn nhà đó, chiếc xe, sổ tiết kiệm, miếng đất, mảnh vườn, tài sản mình tích góp mấy chục năm đó. Mình không đi ra khỏi được, mình bị những thứ đó ám ảnh trong tâm. Bây giờ chúng ta không tháo gỡ ra thì đến khi gần chết sao chúng ta tháo ra được. Nếu còn phước, có phước thì trở lại đầu thai lên làm cháu nội, cháu ngoại, ở chỗ đó để giữ.
Nếu không có phước thì làm cô hồn giữ chỗ đó, giữ miếng đất đó, giữ tài sản đó; hoặc đọa địa ngục; hoặc làm chó giữ nhà, hay con chuột chạy lòng vòng trong đó. Khủng khiếp không? Tham ái và chấp thủ của chúng ta khủng khiếp lắm. Ghê gớm nhất là cái suy nghĩ đó, cái hành uẩn đó, chúng ta bị ám ảnh bởi hành uẩn đó. Chúng ta suy nghĩ lòng vòng, lạc trong đó. Chúng ta nhìn thấy nước mưa trên núi, trên đồi, nó đi xuống là có một đường, khi mưa thì nó đi theo đường đó. Suy nghĩ của mình cũng đi theo lối mòn như vậy. Đó gọi là ý nghiệp, nó không ra khỏi lối mòn đó. Cho nên khi chúng ta ta giận là chúng ta không chịu bỏ, mình thấy "Tôi giận đúng, cái giận này là đúng mà." Giận là không có cái giận nào đúng hết, giận là sai, tại vì giận làm cho mình khổ, mà mình tu là mình muốn hết khổ, chứ không phải là để tiếp tục khổ. Vậy mà mình làm theo những cái khổ là đúng hay sai? Vậy tại sao mình nói "Tôi giận là đúng." Đó chính là vô minh, tham ái đối với tự ngã, không có cái giận nào là đúng hết.
III. Tu tâm hiền
Chúng ta sẽ học bài kinh Cây cưa, hay lắm, tuyệt vời lắm!
Có cô chủ này được đồn vang, tiếng đồn lành tốt là cô chủ hiền thục, tiếng tăm vang xóm làng đó, hiền lành, thuần hậu, hiền thục. Cô giúp việc, người làm công cho cô chủ này nghĩ "Không biết cô chủ mình có thật sự hiền thục không. Mình muốn coi thử bà chủ này hiền thục thật không?" Bình thường, thí dụ sáu giờ cô này dậy, nhưng nay sái giờ rưỡi cô không dậy. Cô chủ vô la, cô làm công nói "Có gì đâu mà la", cô chủ tức lên la. Cô đầy tớ này mới nói "Vậy là bà chủ mình sân, không hiền thục như người ta đồn." Bữa sau, cô người làm ngủ tới bảy giờ sáng, cô chủ vô mới nói "Con ác tỳ này, dậy", cô chủ chưởi la, mắng nhiếc. Cô nữ tỳ mới nghĩ bà chủ còn sân hận lắm, chứ không phải hiền thục. Hôm sau cô ngủ tới tám giờ. Cô chủ vô la mắng, nhưng người giúp việc cãi tay đôi "Có gì đâu, bà làm dữ vậy." Cô chủ vác cây then cửa đập đầu cô người làm, đổ máu đầu. Nó chạy ra ngoài đường, ôm cái đầu, la "Bà chủ hiền thục của tôi đây nè. Bà chủ hiền thục làm cho tôi cái đầu đổ máu." Từ đó về sau cả xóm không còn kêu cô chủ là hiền thục nữa, mất tiếng tốt.
Đức Phật lấy ví dụ đó để ví dụ cho người tu, bình thường, khi không có ai xúc chạm tới mình, thì mình hiền lắm, dễ thương. Nhưng chuyện đụng chạm tới lợi ích, chạm tới cái tôi của mình, tới những cái sở hữu của mình thì lúc đó coi mình còn hiền hay không, có thật sự hiền hay không? Lúc đó mới đo được tâm thức là tâm hiền. Cho nên mình tu tâm hiền không phải chuyện đơn giản. Đừng nghĩ mình phải tu cái gì cao sâu, chứ sao lại tu tâm hiền, chẳng lẽ tôi không hiền hay sao mà phải tu tâm hiền. Không đơn giản như mình nghĩ, mình thật sự là hung dữ lắm, không có hiền đâu. Con xin thưa thiệt đại chúng, con còn dữ lắm, tự thấy tâm mình. Thành ra cái dữ nó ngủ ngầm ở trong, giống như bà chủ hiền thục lúc nãy. Mình tu cho tới mức khi có cái gì xảy ra thì tâm mình cũng an tịnh, lắng dịu, đó mới gọi là hiền thật sự. Chứ còn mình hiền khi người ta hiền, thì cái hiền đó bình thường. Còn mình hiền khi người ta dữ thì cái hiền đó mới hiền thiệt.
Cho nên mình tập tâm hiền, an tịnh và lắng dịu. Thí dụ khóa tu vừa xong, pháp hội vừa xong là mình kéo ghế rầm rầm, cái đó không có hiền. Cái hiền của mình sâu sắc lắm, chứ không phải cãi lộn, xăn tay áo lên mới gọi là dữ, đó là phàm phu, còn hiền của bậc Đa văn Thánh đệ tử nó khác. Tức là cảm thọ yên tịnh, trầm mặc, lắng dịu trong mọi lúc, mọi nơi, nó không tháo động, thô bỉ, nó phải an tịnh, nhất là ngày tu. Ngày tu mà mình không tu thì ngày ở nhà làm sao mình tu. Giờ tu mà mình không tu thì giờ không tu làm sao mình tu. Ngay chỗ tu mà mình không tu thì ra ngoài chợ, chỗ không tu, làm sao mình tu.
Thưa thiệt đại chúng, con không phải thầy bói, nhưng con dòm là con biết, khỏi cần coi chỉ tay, bấm độn gì hết. Nhìn cảm thọ. Cho nên tu, mình phải tập sự an tịnh, trầm mặc, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dù cho người tao có khó khăn, có cự, có chỉ trích thì mình vẫn tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, điều đó khó hay dễ? Thầy mình nói mà mình cũng giận luôn nữa chứ đừng nói là Phật tử, hay sư đệ, sư muội, nhỏ hơn mà góp ý. Cho nên sự tu tâm hiền của mình là hiền của bậc Hiền Thánh, chứ không phải là hiền bình thường đâu. Ngoài đời mình thấy người đó cứ lù lù, cứ im ru, ai nói gì nói, ai làm gì làm, họ cứ im re như cục đất thì mình nói hiền, đó không phải là hiền trong pháp và luật của bậc Thánh. Họ im im vậy nhưng trong đó họ giận, họ sân, người vô minh, chẳng qua tập khí của họ là im im vậy đó, chứ không phải họ hiền thật. Cho nên lâu lâu có những người cộc, là một lần họ không nói, hai lần, ba lần, bốn lần là họ xử một lần, họ dồn hết tính sổ một lần.
Thành ra sự tu tâm hiền của mình là hết sức quan trọng. Khi mình ngồi đừng có nhắm mắt ngủ, mở mắt ra, tỉnh táo, tinh anh, thấy rõ ràng cảm giác của mình lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào. Phải làm cho nó sanh khởi những cảm giác. Để khi mình có những cảm giác đó rồi về gia đình, mình ứng xử, tiếp xúc, đối đãi, nó hay lắm, chứ không hở ra là sừng sộ. Đức Phật ví dụ tâm của chúng sanh giống như vết thương, chạm tới là giật. Mình có vết thương chảy mủ, chảy máu, đau, đụng tới một cái là mình nhảy dựng liền, cái tâm của chúng sanh là cái tâm vết thương, ai chạm tới một cái là nó sừng sộ lên, bực tức lên, phẫn nộ lên. Ngay cả những người ân nghĩa với mình, vợ chồng, cha mẹ, anh em, chạm tới cái là sừng sộ, tự ngã lên, có không?
Như vậy thì sao hiền được, còn dữ quá mà. Những cảm thọ hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn nó còn bên trong dữ lắm, nhiều lắm. Cho nên mình tu tâm hiền là làm cho nó lắng dịu xuống, sau đó từ từ mình súc hồ nước tâm, nó đọng bên dưới. Đừng nhìn mặt vậy rồi tưởng đâu là hiền, nhào vô kiếm ăn, đụng vô đi rồi biết. Thành ra cái tu của mình hay lắm, nhìn vô cảm thọ mình mới thấy, chứ không phải nhìn cái mặt. Nhìn vô cảm thọ bên trong nó hoạt động, vận hành như thế nào, khi nghe một lời khó chịu thì cái thọ ra sao; khi muốn nói một điều gì đó mà nó nói không được thì cái thọ nó ra sao; khi nó oan ức gì đó thì mình phải coi cái thọ, tưởng, hành ra sao. Mình mới giáo huấn trong đó "Vô thường, trống rỗng, không có gì hết trơn, biện bạch chi mất công mệt." Từ từ đi, không vội, quý vị sẽ thấy an tịnh, lắng dịu.
Đức Thế Tôn là bậc an tịnh và hướng dẫn cho chúng sanh đi đến chỗ an tịnh. Những giờ mình ngồi thiền, nghe pháp, thiền quán là giờ mình tập an tịnh, lắng dịu. Mình mới bắt đầu nhìn vào bên trong để nội soi, mình rọi những hẻm hóc, những ngóc ngách, đích giường, kẹt bàn, kẹt tủ,… rồi mình lấy chổi quét vô, kéo nó ra: xác chuột chết, gián chết, rắn lột xác chết, những thứ gì ở trong đó mình không hề biết. Cho nên cái tu nó sâu sắc, tỉ mỉ, tinh vi, nhỏ nhiệm, mình cần phải có sự để tâm. Bất cứ lúc nào mình nói gì, cảm thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì, mình phải để ý, lắng cảm thọ xuống để đọc coi trong đó có cái gì. Có những loại giấy hồi xưa, người ta viết chữ lên nhưng dòm không ra, thấy tờ giấy trắng thôi, nhưng có loại nước thuốc, nhúng tờ giấy đó vào, chữ mới hiện ra. Mình phải tu tới mức giống như nước thuốc đó vậy. Mình nhìn thì tưởng đâu thọ này là yên tịnh, nhưng thật sự nó không có yên tịnh. Mình lắng sâu xuống nữa, thì nó mới bắt đầu hiện ra, nó lắng ở dưới đáy hồ.
IV. Thân hành niệm
Mình phải tập mọi cử chỉ, hành vi của mình. Đi thì đừng đi xèm xẹp, xèm xẹp, đi giống như thùng phuy chuyển động vậy. Tất cả mọi người, không riêng người tu, mà các vị làm việc trong đạo tràng cũng vậy, khi đi trong lúc đại chúng đang ngồi thiền, đang nghe pháp, mình phải tập nhón gót, đi nhẹ nhẹ. Phải cho thật an tịnh, càng an tinh chừng nào thì càng biểu hiện ra sức mạnh của sự tu tập. Ăn cơm cũng vậy, phải để ý, an tịnh, lắng dịu để nhìn những dục, tham, ái hoạt động trong khi ăn. Nói chuyện cũng phải nhìn, coi cái gì đang nói. Làm việc cũng phải nhìn, coi động cơ gì đang làm. Để kệ kinh, thâu gom ghế, để đôi dép xuống cũng phải tập an tịnh, nhẹ nhàng, đó là sự chánh niệm tỉnh giác.
Có câu chuyện về một vị thầy lên núi tu thiền, tu được 2-3 năm xin sư phụ xuống núi, vì giờ đã học xong rồi. Sư phụ không nói gì nhiều, chỉ hỏi lúc vô thầy đó để đôi dép bên trái hay bên phải cửa. Vị thầy trả lời là quên rồi. Sư phụ kêu tu tiếp đi. Vị thầy tu thêm hai năm nữa, trình với sư phụ là xong rồi, xin xuống núi, để dạy thiền cho người ta, mở ra thiền viện. Sư phụ cũng không hỏi, không nói gì nhiều. Lúc đó trời mưa, sư phụ hỏi vị thầy để cây dù ở bên nào, vị thầy đó cũng không để ý, sư phụ kêu về ngồi thiền tiếp. Tu thêm hai năm nữa, chuyến này nghĩ là ngon lành, nhớ dù, dép, phải để ý kĩ lưỡng. Khi bước vô, sư phụ nhìn hết, không nói gì, chỉ hỏi bước vào ngạch cửa bằng chân trái hay chân phải trước. Vị thầy cũng quên, chỉ lo để ý đôi dép với cái dù, còn lần này hỏi chân nào. Sư phụ kêu vị ấy về tu tiếp, đừng vội xuống núi.
Qua câu chuyện này chúng ta thấy cái tu không phải ở đâu xa xôi, mà nó ở chỗ thân hành niệm, chánh niệm trong mọi hành động của thân. Mình không tu ngay đôi dép, mình không tu ngay cái ghế, không tu ở chỗ kệ để kinh, mình không tu ngay bước chân, vậy mình tu ở đâu? Tu ở chánh điện thôi hay sao, tu ở trong suy nghĩ, nghĩ tưởng chứ không tu ngoài thực tế hay sao? Mình bước lại nhìn đôi dép, coi mình có để ngay ngắn không; mình coi cổ áo của mình có xệ không; mình coi bước chân mình đi có vững chắc không?
Mới ngày hôm kia con ghé thăm bà cụ 82 tuổi, cũng xuất gia, tuổi già, con của bà cũng là một vị thầy, rước bà về tu. Cũng như Minh Thành rước cha mẹ về tu. Rất là xúc động bởi vì bà bị trợt té, gãy chân, phải gắn xương giả vô. Tưởng vậy là ổn, nhưng trợt té, gãy luôn chân bên đây, gắn inox vô. Bây giờ các người con, chia lên ở, mỗi tuần túc trực ở bên. Chúng ta thấy đó, mình tu trong bước chân, chứ không tu gì ở xa. Mình nói bước chân là chuyện nhỏ, mình tu cái lớn thôi, cái nhỏ tu làm chi, bước chân khỏi cần tu.
Cho nên thân hành niệm trong phần Tứ Niệm Xứ là niệm oai nghi, hành động. Trong sáu niệm về thân là có niệm oai nghi, hành động, trong thanh qui đạo tràng buổi sáng mình có đọc, có nhắc. Tức là từ những cái nhỏ nhỏ, nó hoàn thiện nhân cách, đạo đức, phẩm hạnh, nết đẹp của mình. Đó gọi là tăng thượng giới học, chứ đâu phải giới chỉ là cái giới mình giữ. Những học pháp, những uy nghi làm cho mình trở nên hoàn thiện, hoàn hảo, hoàn toàn, trọn vẹn. Phải để ý từng cái nhỏ, từ ăn, nói, đi, đôi dép, để ý tất cả. Đó là Chánh hạnh, Chánh nghiệp, Chánh ngữ, Chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo, gồm thân, miệng, ý của mình. Chánh tư duy là ý, Chánh ngữ là miệng, Chánh nghiệp là những hành động của thân, nó liên hệ với nhau hết, trong Bát Chánh Đạo co Tứ Niệm Xứ bên trong. Cho nên chúng ta thực tập an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, dễ chịu.
Sáng này Minh Thành hoan hỉ lắm, đại chúng lên chánh điện ngồi thiền yên tịnh, tuy là chưa tới giờ, rất là tốt đẹp, phải như vậy. Cứ việc tới rồi, thì lên chánh điện ngồi, người tới trước ngồi trước, người tới kế ngồi kế, người tới sau ngồi sau, yên tịnh. Đó là "Phải là hội chúng tinh ba. Không làm hội chúng cặn bã." Hội chúng cặn bã tới là giống như nhóm chợ, không có tu tập. Không phải chỉ tu tập trên thời khóa, mình vừa bước vô cánh cửa đó rồi thì đây là Thánh địa, không phải đất thường. Một chỗ tuyên dương Thánh pháp thì đó là Thánh địa, không giống như ở nhà. Phải thực tập, để hết tâm tư thực tập pháp, chỉ có pháp mới cứu mình, ngoài pháp ra không có gì trên cuộc đời này có ý nghĩa nữa hết. Quý vị nghĩ đi, thế gian này có cái gì cứu mình ngoài pháp. Khi mình nhắm mắt ra đi thì những gì mình tu tập hôm nay được thành tựu giúp mình ở đời sau, còn tất cả những cái mình làm ở đây không đem theo được gì hết.
Cho nên hãy tập an tịnh, trầm mặc, lắng dịu, dễ chịu. Dầu có chuyện gì xảy ra cũng tập lắng dịu, đừng có quýnh quáng, rối loạn. Mình nói với cảm thọ của mình "An tịnh, lắng dịu, dễ chịu ", niệm câu đó. Do mình tu tập an tịnh, lắng dịu, sau này mình đi tới chỗ cứu cánh là bất động tâm giải thoát. Nếu gặp một chuyện nhỏ mà mình đã xáo đông, biến động, dao động, chấn động thì gặp chuyện lớn sao mình bất động được. Cho nên trong sự tu tập của mình, kết quả cuối cùng của nó là thản nhiên trước sống chết. Đó là thành quả tối thượng của người tu. Cái chết không làm cho mình hề hấn, sợ hãi. Mỗi ngày mình thực tập cửu tưởng quán, "Chín Giai Đoạn Tử Thi" là để làm gì? Thứ nhất là để phá tâm dục, ái, tham đắm xác thân người ta, xác thân của mình. Nó nhả ra những tham đắm về tài sản, vật chất, tự thân. Cái sâu sắc là mình huân tập những điều đó để chuẩn bị hết sức chu đáo, kĩ lưỡng, thận trọng, đầy đủ cho ngày mình mạng chung. Kết quả sau cùng của chúng ta là điều đó. Trận đánh lớn nhất của chúng ta là trận đó. Cái khổ nhất của tất cả chúng sanh là cái chết, nhưng tới đó mà mình không khổ thì bất động tâm giải thoát. Muốn được như vậy, phải tập từ bây giờ, trong những điều nhỏ nhất, rồi mới tới điều vừa vừa, rồi mới tới những điều lớn lao mình cũng có thể nhiếp phục cảm thọ của mình được. Tới cuối cùng "Này các Tỷ-kheo, hãy tỉnh giác và chánh niệm khi thời đã đến", tức là lúc mạng chung. Thật sự là chúng ta chưa biết lo cho mình nhiều, lo thật sự là lo điều đó.
V. Niệm tử – lo cho cái chết
Bậc Thánh nhân không lo nhiều mối, chỉ lo một mối; còn kẻ phàm phu lo ngàn mối, lo hoài, nhưng không cái nào xong. Bậc Thánh nhân chỉ lo một cái, lo xong là mọi chuyện an ổn hết tất cả. Lo một mối đó chính là lo niệm tử - suy niệm về cái chết của chính mình, mình sẽ đối đầu với nó như thế nào. Chúng ta không biết lúc nào chúng ta chết, chết ở đâu và chết như thế nào. Điều hết sức quan trọng, đại sự, chung cuộc của kiếp người nhưng không biết gì hết, tại sao mình không lo? Con hỏi quý vị, mình biết tháng sau mình đi Mĩ, giấy tờ xong xuôi, vé máy bay mua rồi, mình chuẩn bị kĩ.
Trước khi đi mấy năm mình cũng phải lo giấy tờ, này nọ kia, hoàn thành thủ tục. Khi đi như vậy mình biết chỗ đến, có nhà, có con bên đó, vé máy bay, đồ đạc đầy đủ hết, nhưng mình có lo không? "Không biết đi máy bay có sao không? Giờ máy bay nguy hiểm lắm", rồi đem thuốc men, quần áo, đồ đạc, đủ thứ hết. Đó là mình biết chỗ đến, có người đón mà mình còn lo như vậy. Còn quý vị biết lúc chết mình đi đâu không? Không biết vậy mà không lo, đó là vô minh. Mình không biết cận tử nghiệp của mình như thế nào, mình không biết mình nhắm mắt, mình chết ở đâu, chết ra làm sao, chết khi nào, hoàn toàn không biết. Sau khi chết đi về đâu cũng không biết.
Vậy mà không lo "Kệ nó, chừng nào chết thì chết, lo chi cho mệt." Đó là suy nghĩ của vô minh. Đức Thế Tôn nói rằng chết trong tâm mà còn những ác bất thiện pháp, còn những dục vọng, những sân hận, những si mê, còn những oán hận, thù hận thì những cái chết đó là cái chết bất tường. Khi nào mình đã giải quyết xong dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, ít nhất là mình nhiếp phục được thì cái chết đó, Đức Phật nói là cái chết tốt lành. Mình biết đường mình đi, nhân thiên và Thánh quả. Cho nên Thánh nhân lo có một chuyện thôi, xong một chuyện đó là xong hết tất cả.
Bây giờ ngồi lại là lo cái gì? Chồng con, tài sản, nhà thì không biết di chúc sao, tiền không biết chia sao. Mình cũng phải thủ, không thôi chừng nữa nó cho mình ra đường ở. Đương nhiên có những cái mình cũng cần lo, nhưng một cái quan trọng mình cần để tâm thật nhiều, mà mình không chịu để tâm. Đó là đối đầu với sanh tử, đối đầu với cái chết, đối đầu với những tai nạn. Chúng ta thấy nước lũ nó cuốn như vậy là hàng triệu người không có nhà ở, hàng mấy trăm ngàn căn nhà sụp đổ, trôi hết. Chết mà đào hố bằng sân vận động, đổ xuống, người mà giống như những bao rác.
Những người đó trước khi nhiễm bệnh, thì họ có nghĩ họ nhiễm không? Không! Trước khi học chết họ có nghĩ họ sẽ chết không? Không! Những người bị tai nạn giao thông, trước khi họ bị họ có nghĩ hôm nay họ gặp tai nạn không? Không! Người bị ung thư, trước khi đó họ có nghĩ họ bị ung thư không? Không! Họ vô tư chứ không họ không nghĩ mình bị ung thư. Chúng ta phải lo trước, phải tính trước một bước. Những ngày chúng ta trở về đây tu tập là những ngày con muốn cho đại chúng sanh khởi lên những cảm giác lo lắng, sợ hãi. Có trí tuệ mới sanh khởi được cảm giác lo lắng, sợ hãi, còn điếc thì đâu có sợ súng. Người có mắt thì mới sợ vực thẳm ở phía trước, người thấy đường mới sợ vực thẳm, còn người mù có biết gì đâu, cứ việc đi tới, lọt thì lọt.
Cho nên buổi thiền quán hồi đầu giờ, con muốn cho đại chúng nhìn ra được và có một cảm giác nhàm chán, ly tham đối với những thứ vô thường, khổ não, vô ngã, trống rỗng của cuộc đời này. Ít nhất cũng có những giây phút đó để tâm mình nhả ra, mở ra, tháo ra, buông bớt xuống. Chứ cái này nó chấp thủ khủng lắm, cứng chắc, thâm căn cố đế, kiên trụ bám chắc.
Cho nên phải biết lo lắng, lo tu, lo học pháp, lo thiền quán, lo quán chiếu. Tâm mình khi khởi lên dục, tham, sân, si, bản ngã, mình lo, mình sợ, mình muốn từ bỏ, muốn xả ly, muốn xuất ly, muốn viễn ly, muốn quăng, nhả, ói, mửa, khạc, nhổ, không muốn nó ở trong tâm mình. Vì mình biết những thứ này là những thứ Khổ đế, Khổ Tập Thánh đế, những thứ này chính là những thứ làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu não. Bây giờ nó đang còn ở trong đây thì mình phải ưu tư, lo lắng và sợ hãi, không chấp nhận nó, phải tìm đủ mọi cách từ bỏ, tẩy sạch, đoạn tận và chấm dứt, ít nhất cũng nhiếp phục.
Chứ đừng khởi lên mà mình cứ trơ trơ, kệ nó thì không được. Đó là mình không biết thương mình, không biết lo cho mình, không biết chăm sóc mình, mình hủy hoại thân tâm này. Phải biết cách thương, thương mình thật nhiều, hãy lo cho mình thật nhiều, hãy sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp. Phải sanh ra cảm giác lo sợ thật nhiều đối với dòng sanh tử oan nghiệt này, đối với đời sống mong manh, sống nay, chết mai, tai bay, họa gửi, động đất, sóng thần, lũ lụt, dịch bệnh, chiến tranh, cướp giật, xác hại, hãm hại, giết hại, mưu hại. Đầy dẫy những sự bất an trong toàn thế giới, thảm họa chưa từng có trong suốt hàng trăm năm nay. Lo! Sợ! Để nỗ lực tăng trưởng giới học, định học, tuệ học, ngày đêm siêng năng trong pháp, đừng xa rời Chánh pháp. Ăn với pháp, uống với pháp, thở với pháp, làm việc với pháp, đi, đứng, ngồi nằm với pháp. Lấy pháp làm sinh mạng, lấy pháp làm hơi thở, lấy pháp làm sự sống. Thiện pháp là chiếc bè giúp chúng ta qua biển sanh tử, Thánh pháp này là chiết phao duy nhất có thể giúp chúng ta vượt bến mê, tới bờ giác, đoạn tận khổ đau.
Sắp tới có đây những chuyện gì mình chưa biết được. Chưa biết tuần sau hay khóa tu lần sau mình có được đến đây cùng tu hay không, hay mọi người đều đóng cửa ở trong nhà. Thế giới đang ngập chìm trong thảm họa mà. Chúng ta có một chút phước, thì phải biết trân trọng để tu học. Hãy dành tất cả thời gian trong giai đoạn này để hành pháp, đừng sống trong lãng quên, trong si mê, đừng sống trong sự vô tư, không biết suy nghĩ, đừng mải mê trong những thứ vô thường, bong bóng, bọt nước, phù du, để cuối cùng là nước mắt và hối hận, quằn quại trên một chiếc giường bệnh với những hơi thở khó khăn, với sự cận kề, đường tơ kẽ tóc trước cái chết, lúc đó muốn tu cũng tu không được.
Ung thư hành hạ, đau đớn, khổ sở làm sao tu. Bây giờ ngồi đây có khi còn gục lên, gục xuống, vô ngồi thiền lơ tơ mơ trong si mê thì tới lúc bệnh, nó hành hạ, quằn quại, đau đớn như vậy thì làm sao chúng ta có thể bình tĩnh, chánh niệm mà quán chiếu được. Cho nên phải tha thiết, chân thành, đem cả sinh mạng của mình trong thời gian ngắn ngủi và cực kì hiếm hoi mà mình trọn được bình an này.
Đất nước chúng ta là một trong những đất nước hiếm hoi trên thế giới mà giờ phút này được bình thường như vậy. Chúng ta phải biết rằng, sự bình thường này không phải là bình thường, sự bình thường này không được dài lâu. Phải ngày đêm thắp sáng lên ngọn đèn trí tuệ trong tâm mình, giờ giờ, phút phút phải niệm pháp, sanh khởi lên những sự tác ý, quán chiếu sâu sắc, nhàm chán với thế gian vô thường, tan hoại, bại hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, giả dối, bất tịnh, vô nghĩa này. Nó là thứ không đáng để cho mình tham.
Mình đầu tư hết tất cả tâm thương yêu của mình, rồi cuối cùng chuốt lấy sự oán hận, sự phiền não, khổ đau, không có gì hết. Tất cả những người ngồi đây sẽ ra ngoài đồng hiu quạnh để nằm, lạnh tanh một mình. Đừng trông cậy vô người thân hay ai hết, một khi nghiệp đến, tử thần đến, thì không còn mẹ con, anh em, bà con, không một ai mà nương tựa, che chở. Hãy tập sống một mình, tập đi bằng đôi chân của mình trong Thánh trí tuệ. Hãy tập thắp sáng ngọn đèn của mình lên, làm chỗ nương tựa cho chính mình, không nương tựa điều gì khác. "Lấy Chánh pháp làm chỗ nương tựa, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn."
Chánh pháp này là sự thường trực nhìn lại thân thể, hành động, oai nghi; thường xuyên nhìn lại những cảm giác bên trong; thường xuyên, liên tục nhìn lại nội tâm, xem trong đó có tham, sân, si, bản ngã, vô minh không? Có là phải tẩy sạch, xử lí, giải quyết nó liền và bằng một cách gọn nhẹ. Thường xuyên và liên tục nhìn lại trong nội tâm đang diễn ra thiện pháp hay là ác pháp. Nếu thiện pháp là từ, bi, hỷ, xả, Thánh trí vô thường, vô ngã thì phát huy lên, làm cho nó rực sáng, chói sáng, bừng sáng, tỏa sáng, chiếu sáng trong thân tâm của mình.
Nếu là ác pháp thì phải dập tắt ngay lập tức, dùng những phương tiện, cách thức để đập đổ, phá vỡ, diệt tận nó, chặt nó giống như chặt cây sala, không cho nó sanh trở lại, chặt nó như chặt cây dừa không cho nó mọc trở lại. Phải ra đòn chí mạng, quyết liệt, quyết đinh, dồn hết sức mình bằng sự nỗ lực ngày đêm. "Sống như lửa cháy đầu – Cầu chứng cảnh bất động." Lửa đang cháy trên khăn mình đội, cháy trên khăn mình quàng trên cổ, cháy trên nón mình đội, cháy trên mái tóc của mình. Nó cháy tới nơi rồi, cháy tới bạc đầu rồi!
Mạng sống bị dẫn dắt,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước,
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm mọi công đức,
Đưa đến chơn an lạc.
***
Mạng sống bị dẫn dắt,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước,
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịch.
(Kinh Tương Ưng Bộ Kinh – Tập I. Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, Phẩm Cây Lau, bài kinh Đưa đến đoạn tận)
Những lợi ích của thế gian này chẳng có là gì hết, chúng ta đã từng có nó trăm, ngàn, vạn, tỷ lần rồi. Hãy hướng cầu sự tịch tịnh của tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Lắng lặng hết tất cả những thứ đó, dập tắt hết tất cả những thứ đó là Niết-bàn, cứu cánh, hạnh phúc tối thượng!
"Hãy vứt bỏ mọi thế lợi – Hãy làm các công đức – Đưa đến chơn an lạc – Tâm hướng cầu tịch tịnh."
./.