Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Sinh Mạng Của Người Xuất Gia 1 - Kinh Niệm Xứ - Trung Bộ

2026-03-03 00:56:02
SINH MẠNG CỦA NGƯỜI XUẤT GIA 1

Kinh Niệm Xứ - Trung Bộ Kinh

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Con đường độc nhất PAGEREF _Toc113357928 \h 1

II.Quán thân PAGEREF _Toc113357929 \h 2

1.Đặt niệm trước mặt PAGEREF _Toc113357930 \h 2

2.Cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc113357931 \h 3

3.Niệm oai nghi, hành động PAGEREF _Toc113357932 \h 6

4.Quán ba mươi hai thể trược PAGEREF _Toc113357933 \h 16

Con đường độc nhất

Chúng ta sẽ học bài kinh cực kì quan trọng, đó là mạng sống của người xuất gia. Từ nay cho đến khi tốt nghiệp chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu 37 phẩm trợ đạo là đạo lộ giải thoát. Chúng ta bắt đầu từ bài kinh Tứ Niệm Xứ, trước nay chúng ta hiểu Tứ Niệm Xứ rất đơn giản, khi Minh Thành còn đi học được học quán thân bất tịnh, quán thọ thì khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã nhưng Tứ Niệm Xứ không chỉ dừng lại ở đó mà Tứ Niệm Xứ còn bao trùm tất cả pháp hành của đạo Phật, là mạng sống của Tỳ-kheo thời Đức Thế Tôn còn tại thế. Tùy theo mức độ tiếp nhận của quý thầy, mọi người tập trung nhiều thì con sẽ chia sẻ sâu sắc, rộng lớn còn ít tập trung con chỉ nói những gì trọng yếu thôi, cái này không tập trung sẽ không hiểu được vì nó rất thâm sâu, vi tế, nhỏ nhiệm.

Tứ Niệm Xứ không giống như trước nay chúng ta quan niệm như bốn câu Minh Thành đã đọc. Bài kinh này là thánh đạo trong Bát Chánh Đạo, trong Tứ Thánh Đế, nó là Đạo Thánh Đế. Minh Thành sẽ khai triển những vấn đề cốt lõi thiết thực và sâu sắc.

Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (kiềm-ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo.

Các Tỳ-kheo vâng đáp Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn.

Thế Tôn thuyết như sau:

-- Này các Tỳ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

Thế nào là bốn? Này các Tỳ-kheo,

Ở đây Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Tại sao lại gọi đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh? Vì tất cả giáo pháp của Đức Phật dùng để diệt tham sân si, vô minh và bản ngã, mà đây là những phương pháp để nhiếp phục và đoạn tận, ngoài những phương pháp này ra không có phương pháp nào khác, không thể có phương pháp nào ra khỏi bài kinh này, dù cho có nói những bài kinh khác thì chỉ là cách diễn tả khác hoặc ví dụ khác thôi vì pháp hành cũng là như vậy, cho nên nó tóm thâu thánh đạo trong Tứ Thánh Đế nên mới gọi là con đường độc nhất.

Quán thân

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân? Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Đặt niệm trước mặt

Ngôi nhà trống để chỉ việc nhập thất. An trú chánh niệm trước mặt tức là lúc đầu giờ chúng ta ngồi mà Minh Thành nhắc mọi người rõ biết trước mặt hoặc là chánh niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt, ba từ này ý nghĩa như nhau. Cho nên khi ngồi mà nhắm mắt là không có chánh niệm trước mặt, vào ngồi thiền mà nhắm mắt là không có chánh niệm trước mặt, không có đặt niệm trước mặt cũng không có rõ biết trước mặt nên các pháp không hiện rõ. Từ bước đầu tiên mình đã không đi đúng trình tự của pháp hành Đức Phật nên không có kết quả hoặc có cũng rất ít, cho nên việc đầu tiên khi ngồi thiền là phải rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt và đặt niệm trước mặt, không được nhắm mắt.

Pháp hành của Đức Phật không đơn giản như mình nghĩ mà nó rất tuần tự, chi tiết, có nhiều phương diện để đánh vào các phiền não. Chỗ này mình phải để ý để nhìn nhận vấn đề, bao nhiêu chi tiết, bộ phận lắp ráp vào mới thành chiếc xe cho nên pháp tu không thể lấy một cái để đại diện cho tất cả mà phải có nhiều pháp tập trung vào đánh những cái ác, bất thiện pháp, dùng Bát Chánh Đạo để đánh bát tà đạo, dùng giới – định – huệ để diệt tham sân si, tam thập thất bồ-đề phần (37 phẩm trợ đạo) mà Đức Phật đưa ra là thần kiếm, thánh kiếm để sử dụng trong trận địa của phiền não, ngũ dục, vô minh, tham ái, chấp thủ. Vì vậy rõ biết trước mặt để phá si mê, hôn trầm, mỗi một pháp đều có công năng, tác dụng, còn vào ngồi thiền là mình sẽ ở trong si, trong tưởng, mình không có chánh niệm trong hiện thực, mà hiện thực là sự thật ngay trong giây phút hiện tại, nhắm mắt lại rồi nhiều khi mình còn không biết đang ở đâu là đang ở trong si, còn nhắm mắt mà hiện ra đủ các hình bóng là đang ở trong tưởng.

Vì vậy điều quan trọng đầu tiên khi ngồi thiền phải rõ biết trước mặt và không được nhắm mắt, trừ khi người mới chưa quen với pháp quán tưởng thì nhắm hờ mắt nhưng sau đó phải mở mắt, còn ngồi thiền thông thường tuyệt đối phải mở mắt vì cứ nhắm mắt sẽ ngủ gục đi vào si, vào tưởng, vào hôn trầm, đây cũng là lý do mà ngồi thiền suốt đời mà trí huệ không sanh ra được, ngồi thiền mà mê muội hơn lúc không ngồi, ngoài đời không ngồi thiền còn mở mắt tỉnh táo nhận thức biết được mình đang ở đâu, còn vào ngồi thiền nhắm mắt rồi không biết mình đang ở đâu.

Cảm giác toàn thân

Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn". Tỉnh giác nghĩa là một sự rõ biết, cảm nhận, tức là thọ và thức của mình trong sạch. Mỗi hơi thở vào ra mình phải cảm nhận được và rõ biết, nếu lúc đó không tỉnh giác thì mình không hướng tâm để cảm nhận, rõ biết hơi thở đang vào ra. Cho nên khi vào lớp Minh Thành nói mọi người cảm nhận hơi thở, đương nhiên khi cảm nhận sẽ có rõ biết trong đó.

"Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Khi cảm nhận hơi thở rồi mình sẽ cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, Minh Thành đã chia sẻ vấn đề này trong bài Nhập thất chia sẻ, chỉ cách ngồi thiền 1. Phải cảm nhận cảm giác từ đỉnh đầu, tai, mặt, tay, bàn chân, ống chân… Tất cả cảm giác của toàn bộ cơ thể mình cảm nhận được ngay lúc đó gọi là cảm giác toàn thân. Mục đích cảm giác toàn thân là đưa tâm trở về thân để thấy hiện thực, tức là sự thật trong giây phút hiện tại, thân đang có cảm giác như thế nào biết được như thế đó. Đây là những điều hết sức cơ bản đầu tiên của thiền tập cũng được gọi là niệm thân.

Cảm giác toàn thân cũng là một phần của niệm thọ, tức là nhìn lại toàn bộ cảm giác, cảm thọ, cảm xúc trong cơ thể lúc đó như thế nào, nếu mình không đem tâm trở về thân thì cái tâm sẽ rong chơi, ngồi đó nhưng tâm không ở đó, nếu đã từng đi Mỹ thì lại nhớ đến Mỹ, đã lên Đà Lạt thì nhớ cảnh Đà Lạt, nhớ người này người kia… đó gọi là tâm hoang vu, tâm rong chơi, còn giờ mình đem tâm trở về thân để mình cảm nhận trước mặt, cảm nhận cơ thể nhưng không trú tâm vào hơi thở vì hơi thở rất nhỏ bé, hơi thở chỉ là một pháp rất nhỏ trong thân tâm cho nên không thể lấy đó làm đề mục trong suốt thời thiền, hơi thở không đủ sức đánh phá tham sân si, vô minh và bản ngã.

Vì vậy từ hơi thở phải mở rộng ra để cảm nhận toàn bộ thân tâm, hơi thở chỉ là một phần nhỏ trong cơ thể chứ không phải là tất cả cho nên không thể lấy hơi thở làm pháp tu chánh yếu mà chỉ mượn hơi thở để đem cái tâm trở về thân. Khi đem tâm trở về thân, từ hơi thở đó sẽ thấy hơi thở vào ra chỗ chóp mũi, lồng ngực và bụng, đây là ba chỗ động chuyển của hơi thở được biểu hiện trên thân. Khi mình cảm giác toàn thân sẽ cảm thấy ba chỗ đó đang động chuyển, chỉ mới là bước đầu của thiền tập mà đã vi tế đến vậy cho nên nếu không tập trung, không có sự minh mẫn sáng suốt, chú tâm chánh niệm sẽ không làm được cho nên cái pháp bị mai một là như vậy, khó quá nên không ai làm. Thật sự là không khó vì nó ở ngay trong thân mình chứ đâu ở xa, mình chỉ cần quay về nhìn thân tâm sẽ thấy ba chỗ động chuyển, bắt đầu cho ba chỗ này lan ra hết toàn bộ cơ thể để cảm nhận nên gọi là "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Phải nhớ rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở và cảm giác toàn thân, cảm giác toàn thân là từ hơi thở đó mình cảm nhận được tất cả cảm giác của cơ thể từ đỉnh đầu đến gót chân, đây là pháp thiền của Đức Phật.

Khi có cảm giác toàn thân rồi sẽ có "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập, chính là việc Minh Thành nói "thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm tâm lắng dịu". Sau khi cảm giác toàn thân sẽ đ61n an tịnh, cái thân yên tịnh thì tâm sẽ lắng dịu, thực tập được đến đây đã rất tuyệt vời rồi, cái thân được an tịnh và tâm được lắng dịu, không thực tập cái này thì pháp không sanh khởi. Còn bình thường mình cứ vào ngồi thiền mà trong tâm thì nghĩ "mệt quá nhưng tới giờ nên ráng lên ngồi" thì ngồi không có kết quả. Do không thực tập an tịnh, lắng dịu nên pháp không sanh khởi. Do tu tập không có tuần tự, trình tự, không có đạo lộ, phương pháp, không có cách thức rõ ràng, không có sự tác ý dẫn tâm điều thân nên vào ngồi thiền là một đống ở đó. Vì không được học pháp, không có người hướng dẫn, không thực tập thường xuyên nên không biết gì hết, vào ngồi thiền cảm thấy vô vị, vào ngồi cho có chứ không biết làm gì. Thậm chí đọc kinh cũng không thể hiểu được nếu không có người hướng dẫn, khi thực tập và có người hướng dẫn kĩ lưỡng rồi sẽ thấy tất cả các pháp sẽ hiển lộ trên thân tâm trong khi ngồi thiền, vì vậy những phút đầu vào lớp là liều thuốc bổ cho chúng ta học tập. Nhiều khi Minh Thành rất mệt do đi xa mấy trăm cây số nhưng lên lớp thực tập chừng ba pháp này vài phút là cơ thể như được nạp lại năng lượng, có sức để chia sẻ có khi một ngày bốn thời khóa. Thậm chí Minh Thành đi Mỹ chia sẻ pháp, một ngày có lúc đi bốn nơi, mỗi nơi cách nhau hàng trăm cây số, nhưng trước khi giảng chỉ cần an tịnh các hơi thở này là thân tâm sẽ được tịnh lạc, đây là phương pháp rất cần thiết cho người xuất gia thực tập.

Này các Tỳ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: "Tôi quay dài" hay khi quay ngắn, tuệ tri: "Tôi quay ngắn". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thở vô dài, tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

Cảm nhận rõ ràng những bước thực tập, từ rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở vào ra dài – ngắn, sau đó cảm giác toàn thân, kế đó là an tịnh toàn thân. Chúng ta thực tập đến bước này thôi là ngồi thiền rất an lạc, hạnh phúc.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

 Vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân, tức là quán bên ngoài hay quán bên trong thân thì hơi thở, cảm giác, tánh sanh diệt của hơi thở thì vị ấy thấy có một cái thân tứ đại vô thường, trống rỗng này nên vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm, hi vọng sự thực tập này đi đến trí tuệ chân chánh để thấu đạt được bản chất tạm bợ, mong manh, trống không, bất tịnh, hoại diệt của thân này và không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Đó là bước thứ nhất của quán thân, thực hành được bước này cũng đã có rất nhiều tiến bộ trong thiền tập.

Niệm oai nghi, hành động

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Tuệ tri là biết bằng trí tuệ. Biết bằng trí tuệ là khi đi hay đứng thì rõ biết đi; hay đứng, tôi nằm hay ngồi thì rõ biết đang nằm hay ngồi. Thân thể được sử dụng như thế nào thì vị ấy biết bằng trí tuệ thân thể được sử dụng rõ ràng như thế ấy. Biết bằng trí tuệ là biết thân này trống rỗng, do đất; nước; gió; lửa kết hợp. Cái thân bẩn thỉu, nhớp nhúa, tanh hôi được kết hợp từ ruột, gan, phèo, phổi… và không có tôi trong đây, như vậy gọi là biết bằng trí tuệ.

Mọi người thường lầm tưởng "tôi đang đi", "tôi đang đứng", "tôi đang nằm"… cái tôi đó là từ ngữ được dùng để sử dụng xưng hô nhưng không có nghĩa dùng từ đó là chấp ngã. Dùng từ tôi để biết rằng cái mà gọi là tôi này đang đi, đang đứng, đang ăn… chứ không đồng nghĩa với chấp ngã. Đống thịt đang đi, cái bị thịt đang nằm chứ không có cái tôi đang làm những việc đó, như vậy gọi là tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Ngay chỗ này, người không hiểu rõ pháp sẽ hiểu lầm ở đây có bản ngã, họ nghĩ sai rằng chỗ nào cũng "tôi đang đi, tôi đang đứng, tôi đang nằm" chỉ nhằm tô đậm thêm cho bản ngã. Vì vậy, chúng ta phải hiểu từ “tôi” ở đây là cách xưng hô, nhằm chỉ túi thịt đang đi, bị thịt đang nằm, một đống máu mủ, gan, ruột, phèo, phổi… đang vận hành, sắc uẩn đang hoạt động chứ không có cái tôi nào trong đó, đó gọi là tuệ tri.

Để biết, để thấy được điều này mọi người phải tác ý thường xuyên và liên tục mọi lúc mọi nơi để 'tẩy não', vì não mình đã bị nhiễm độc của vô minh, khát ái và chấp thủ đối với thân xác này. Nếu chỉ nghe giảng phớt qua, lên tụng vài câu mà tẩy được não là không thể có chuyện này xảy ra. Phải tẩy rửa não để xóa đi tư tưởng tôi, tự ngã của tôi, ngã và ngã sở trong từng ý niệm, luôn tác ý xóa đi những điều này. Khi soi gương, khởi lên ý “mình đẹp” thì phải tác ý "không có gì là tôi, là của tôi trong đó, cái này vô thường, cái này là bất tịnh, tan vỡ", đó là đang 'tẩy não' chính mình.

Sự tác ý phải được làm thường xuyên, nhiều lần cho đến khi nào xóa sạch hoàn toàn ý nghĩa về tôi và của tôi thì lúc đó nhập thánh, tối thiểu cũng Tu-đà-hoàn. Vị này vẫn đi, đứng, vẫn nằm ngồi, ăn uống, vẫn xưng là tôi nhưng trong tâm hoàn toàn trống rỗng, không có gì là tôi thì mới gọi là tuệ tri, là biết bằng trí tuệ. Với sự thấy biết bằng trí tuệ như vậy thì công phu cần bỏ ra không đếm xuể, không phải là chuyện đơn giản, đó là cả một công trình vĩ đại, cả một sự chiến đấu khốc liệt của nội tâm.

Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy, khi đang đi đại tiện không được nghĩ đến những việc khác mà phải nhìn thấy được sự hôi thối, bẩn thỉu đang bày tiết ra, cảm nhận một cách sâu sắc những gì đang có mặt trong giây phút hiện tại. Khi xúc miệng, khi hà hơi phải cảm nhận được hôi thối, thậm chí chính mình còn không chịu được mùi răng miệng của mình mỗi sáng thức dậy, đó gọi là tuệ tri. Chỗ này có thực tập rất tuyệt diệu, mỗi bước đi, tư thế ngồi… đều phải được tuệ tri, còn được người khác chỉ mà chống cự thì đó là bản ngã đang nói chứ không phải trí tuệ đang nói, học kinh rồi sẽ thấy trong người mình cái gì đang hoạt động, cái dục hay cái sân hoạt động, hay là vô minh đang bao trùm, hay là bản ngã đang trỗi dậy, đây là chỗ đặc biệt của pháp hành trong Tứ Niệm Xứ. Tu mà muốn thành công phải chịu khó gấp nhiều lần người bình thường, cho nên phải thực tập rất nhiều.

Khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)

Cái nhìn của người xuất gia khác với cái nhìn của người ngoài đời, không phải muốn nhìn chỗ nào là nhìn. Gặp người đẹp mà nhìn không chớp mắt thì đó gọi là không biết rõ việc mình đang làm, không tuệ tri nên cái tu này không phải chỉ tu trong thời khóa mà tu ngay trong hiện tại, nhìn cũng phải có tuệ tri, phải biết chỗ nào nên nhìn, chỗ nào không nên nhìn, chỗ nào cấm không được nhìn. Không phải muốn đi chỗ nào là đi, muốn làm gì là làm, vào nhà người ta mời ngồi ghế nào thì phải ngồi ghế đó, không phải đến nhà người khác rồi muốn làm gì là làm, đó là điều cấm kị, những cái này gọi là bách chúng học. Tứ Niệm Xứ cũng bao trùm luôn những cái này, vào chùa thấy hoa đẹp thì ngắt hoa bẻ cành trước rồi xin sau, đó là phạm giới, là không tuệ tri để biết rõ việc mình đang làm.

Khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm, không phải đang ngồi mà ngứa tay là cãi rột rột, đó là dục đang gãi chứ người tu không gãi như người bình thường, trong hàng cư sĩ có khi tu còn hay hơn người xuất gia, nghe pháp cả trăm người nhưng tiếng thở người kế bên lớn cũng có thể được nghe thấy, không dám ho, còn chịu không nổi thì lui ra, người ta học cái này rồi thực tập, cái gãi do dục khác với cái gãi của tuệ tri, đang ngồi thiền mà ngứa là gãi sột sột, đang ngồi nói chuyện với khách, với Phật tử mà đập muỗi ầm ầm là thua rồi, muốn chỉ hướng nào là phải đưa cả bàn tay ra chứ không được chỉ bằng ngón tay, mỗi cử động của mình phải có oai nghi, chánh niệm tỉnh giác của một người tu. Chỉ cần sơ sảy một chút có thể phá hết công trình tu tập.

Ví dụ trong ngày đại lễ, có vài trăm vị thầy, thiên Tăng hội mà bưng đồ đổ hết thì xong chuyện, đó là không tuệ tri việc mình đang làm, những cái này phải thực tập trong sinh hoạt hằng ngày mới tạo thành thói quen cử chỉ, oai nghi, Phật tử đạo tràng chùa Hoằng Pháp còn làm được thì tại sao người xuất gia không làm được? Tại vì mình không chịu làm, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, không tu tàm quý thì cuộc đời tu chỉ là con số 0, thậm chí âm luôn, cho nên vấn đề tuệ tri việc mình đang làm rất quan trọng, trong bàn ăn mà mình không khéo với tay gắp đồ ăn làm vạt áo chấm vào đồ ăn là dơ hết, cầm muỗng đũa rớt lên rớt xuống, ngồi ăn chung với Phật tử mà như vậy là xấu hổ, không có oai nghi tế hạnh gì hết, người ta gọi mình bằng thầy là chẳng qua đó là từ ngữ phải gọi thôi. Có nhiều Phật tử nói kính người tu vì hình tướng, vì chiếc áo, cái đầu trọc, nếu không có nội hàm bên trong thì mình còn thua con cái người ta, con người ta có bằng tiến sĩ, bác sĩ, có trình độ, tri thức. Cho nên Thân Hành Niệm là sinh mạng, là mạng sống của người xuất gia chứ không phải chỉ nằm ở hình thức bên ngoài, Đức Phật gọi Thân Hành Niệm là hương vị của bất tử.

Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, làm cho sung mãn một pháp này, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm và tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm chi viên mãn.

Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu.... quả A-la-hán.

Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm.

Bất tử bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai đoạn tận thân hành niệm. Bất tử không bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không đoạn tận thân hành niệm.

Bất tử không được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không chứng ngộ thân hành niệm. Bất tử được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai chứng ngộ thân hành niệm.

(Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2))

Nếu học kĩ bài kinh này và thực hành chỉ riêng phần niệm thân trên thân thì mọi người đã là “Tăng trung chi vương”, là vua trong hàng Tăng hoặc phụng lập quần kê, là phụng hoàng trong bầy gà chứ không phải bình thường, oai nghi cử chỉ của mình tự động siêu việt, không cần quảng cáo, kêu gọi gì hết, đó là bậc thượng thủ trong Tăng chúng cho nên Đức Phật nói sau khi Như Lai nhập diệt, Tỳ-kheo nào thực hành Tứ Niệm Xứ thì Tỳ-kheo đó là bậc tối thượng trong hàng Tỳ-kheo nếu vị ấy thiết tha học hỏi.

Này Ananda, Ta nay đã già, bậc trưởng thượng, bậc trưởng lão, đã đạt đến đoạn cuối của đời, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ dây thừng chằng chịt.

Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.

Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, 9. IX. Bệnh)

Mọi người thấy rằng chỉ riêng phần niệm thân trên thân đã là cả một công trình thực hành, huấn luyện. Còn đi đâu nữa để tìm pháp hành ngoài Tứ Niệm Xứ? Mình không chịu thực hành còn đi tìm ở đâu, tưởng mơ ở đâu nữa? Ngài Xá-lợi-phất là bậc chí thượng thanh văn đã được Đức Thế Tôn tuyên bố giữa chúng Tăng, chỉ có Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên có khả năng thay thế Như Lai lãnh đạo Tăng đoàn, ngài Xá-lợi-phất là bậc tướng quân của chánh pháp. Khi đắp y, Ngài lỡ làm chéo y chạm đất là Ngài thấy xấu hổ, tàm quý, qua đó chúng ta thấy được Ngài tu Thân Hành Niệm đến mức độ nào. Còn mình tham dự lễ mà mang y ra đắp ngay bàn Tổ rồi muốn cởi y ở đâu là cởi, không có oai nghi gì hết. Cho nên, phải biết rõ việc mình đang làm, có chỗ có nơi đắp y và có chỗ có nơi xả y chứ không phải muốn đắp chỗ nào là đắp, không phải muốn cởi chỗ nào là cởi.

Khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm, biết rõ việc mình đang làm là biết bằng trí tuệ ly tham, khi ăn phải kiểm soát tốc độ gắp, nhai, nuốt, không được gắp lia lịa đưa lên miệng nhai liên tục, nuốt ừng ực, đó là không có tuệ tri, phải biết gắp như thế nào. Có người đi dự khóa tu niệm Phật 7 ngày về thì Minh Thành hỏi đi tu về nhớ cái gì thì trả lời đĩa tàu hủ có 4 miếng mà ông đó gắp hết 2 miếng rồi, tức quá trời, đi tu nguyên một khóa về hỏi nhớ gì nhất thì trả lời vậy. Chính vì việc ăn không có chánh niệm, không có oai nghi nên làm người tu không được thanh tịnh, một mâm bốn người có bốn miếng tàu hủ thì mỗi người một miếng vậy mà một mình ông đó gắp hết hai miếng rồi. Cho nên khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm, tất cả những điều này làm thành phẩm chất, đức hạnh, đạo hạnh, phẩm cách, đức độ, giới hạnh, oai nghi, phong thái của một người xuất gia.

Minh Thành đang chia sẻ về bốn loại bệnh của người xuất gia cho lớp Ni, khi chưa xuất gia tôi làm ông, làm cha, tôi muốn ăn gì tùy thích, muốn nhai, nếm, ngủ nghỉ tùy ý, còn giờ vào xuất làm gì cũng bị nhắc nhở, phải ăn như vầy, phải đi như vầy, phải ngủ như vầy thì bỏ về, không tu nữa, tu những điều này là vỏ ngoài của phạm hạnh giống như cái cây có vỏ ngoài, nhưng vỏ ngoài mình còn không có thành làm sao có được cái lõi, cái cây này có cũng như không, những điều này tác thành tác phong của người xuất gia.

Này các Tỳ-kheo, có bốn loại bệnh này cho người xuất gia. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, người có dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. 

Người ấy vì nhiều dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.

Vị ấy nỗ lực, cố gắng, tinh tấn để được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.

Vị ấy sau khi tính toán, đi đến các gia đình; sau khi tính toán, ngồi xuống; sau khi tính toán, thuyết pháp; sau khi tính toán, ngưng nín tiểu tiện, đại tiện.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, là bốn chứng bệnh của người xuất gia.

(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVI. Phẩm Các Căn, (VII) Bệnh)

Khi ăn mà biết bằng trí huệ là ăn không phải để vui đùa, đam mê, vui thích, ăn không phải là thứ trang sức làm đẹp thân người mà ăn để thành tựu cứu cánh Phạm hạnh giải thoát, đó gọi là tuệ tri trong khi ăn uống, nhai nếm. Còn lúc ăn chỉ thấy món này món kia có hương vị, sắc, cái dục thúc giục ăn cho nhanh, uống nước ừng ực có khi bị sặc nữa. Biết bằng trí tuệ những gì mình đang làm để đưa đến ly tham, nhàm chán, từ bỏ, đưa đến sự yểm ly, đoạn diệt, đó cũng là pháp ấn, tất cả pháp tu nào không đưa đến những điều này đều không phải cái pháp chánh thống của Đức Phật.

Rồi Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:

- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn".

(Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) Thông Ðiệp)

Những gì Đức Phật nói trong kinh đều là khẩu quyết, Đức Phật chỉ nói tổng cương lĩnh, từ đó mình phải hiểu ra những vấn đề nhỏ nhặt. Khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm, không phải đang đi xe mà mắc tiểu là bước xuống tấp vào lề làm tại chỗ, phải biết chỗ đi cho phù hợp. Rồi đi vào toilet phải như thế nào, đi rồi không xả nước hoặc mang dép dậm lên thành bồn cầu dơ bẩn rồi để vậy đi ra… tất cả những cái đó là không biết rõ việc mình đang làm. Phải thực tập trong từng chi tiết nhỏ, đi vào toilet phải như thế nào, trong khi đang đi phải như thế nào, đi ra phải như thế nào, không phải vào đó rồi phát ra những âm thanh xấu hổ, phải kĩ lưỡng, chánh niệm tỉnh giác trong từng hành động.

Minh Thành có phước duyên đến Hong Kong gặp được Hòa Thượng bên đó, đó là một vị trưởng thượng, vừa là luật sư vừa là kiến trúc sư dạy mình như một chú tiểu, để thức ăn vào miệng chứ không được để miệng chồm tới thức ăn. Tức là khi ăn cơm thì phải gắp đồ ăn đưa lên miệng, không được để miệng đưa vào tô, dĩa đựng thức ăn, mình đi đến thức ăn là tướng của bần cùng còn thức ăn đến với mình là tướng phú quý, cao sang, vì vậy nhìn vào cách ăn sẽ biết được người đó ở đẳng cấp nào, tất cả đều phải học chứ không đơn giản, tất cả đều là nghệ thuật chánh niệm. Cái miệng mình đi đến thức ăn thể hiện sự bần cùng, nghèo hèn, thú vật, súc sanh, còn thức ăn được đưa lên miệng thể hiện sự cao sang, phú quý cho nên khi ăn mà ăn lấy ăn để, cúi xuống húp xì xụp phát ra âm thanh là nghèo hèn, túng thiếu, đói khát, ở đây đang nói ngoài đời còn chánh niệm ly tham của đạo Phật khác hơn nữa.

Trong đạo tràng Nikāya, hàng trăm Phật tử ăn cơm không phát ra tiếng động, không nghe tiếng khua đũa muỗng, ăn cơm là một thời khóa cực kì quan trọng trong một ngày tu vì trong giờ đó dục tham ái vận hành, biểu hiện rõ nhất nên giờ đó phải tu nhiều hơn bình thường, tu mà kĩ càng là phải kiểm soát, quán chiếu, nỗ lực nhiếp phục trong mọi sinh hoạt chứ không phải tu là đúng giờ lên công phu, tụng niệm là xong. Khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm, ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên dẫn 500 vị tân Tỳ-kheo thăm Thế Tôn, trong lúc lấy tọa cụ, y bát làm náo động cả một khu vực nên Đức Phật gọi ngài Anan ra đuổi đi hết vì họ không thực thành Thân Hành Niệm.

Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta (Xá-lợi-phất) và Moggallana (Mục-kiền-liên) cầm đầu cùng đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, nên các tiếng náo động ồn ào khởi lên. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

-- Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.

-- "Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallama cầm đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.

-- "Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỳ-kheo ấy: "Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả".

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo ấy như sau:

-- Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy đang ngồi một bên:

-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?

-- Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.

-- Hãy đi đi này các Tỳ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp lại sàng tọa, cầm lấy y bát rồi ra đi.

(Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)

Mình đừng nghĩ Đức Phật lúc nào cũng từ bi, Đức Phật cũng có quở trách, rầy la nghiêm khắc. Cho nên phải biết rõ việc mình đang làm, biết rõ hơi thở vào ra, biết rõ cảm giác toàn thân, sự an tịnh toàn thân, biết rõ cảm giác bên trong có thúc giục, có bực bội, có bản ngã, sân si hay không, biết bằng trí tuệ để làm cho nó lắng dịu, an tịnh. Khi nói cần nói đúng thời, đúng sự thật, nói bằng từ tâm, nói lời lợi ích chứ không nói lời phù phiếm, vô nghĩa. Tất cả những cái này đầu cần sự chánh niệm và mình phải biết những cái pháp này mới thực tập được, còn không học không biết thì làm sao thực tập? Văn không có đủ thì làm sao có tư?

Có một Phật tử nói khi quán thân vô thường, mới nói thân vô thường thôi là không biết nói gì nữa, do phần văn không đủ nên muốn tu thiền quán mà tu không được, tức là nghe cái pháp không đầy đủ nên không quán chiếu được, mới lên ngồi nói thân bất tịnh thôi là hết vốn để nói. Còn người nghe rất nhiều để nói mà không chịu thiền tư, không chịu thực tập quán chiếu chiêm nghiệm nên trí huệ không thẩm thấu, không đi sâu vào pháp, phải tư duy chiêm nghiệm để thẩm thấu từ da vào thịt, từ thịt vào xương, từ xương đi vào trong tủy, phải thấm thía trí huệ đó để thể nhập thánh trí tuệ. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân, tức là quán ở phía ngoài thân hay phía trong của thân. Trong ngoài chỉ chung cho tất cả cử chỉ, hành động, oai nghi, còn quán nghĩa là quán sát, để ý, canh chừng tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân.

Quán ba mươi hai thể trược

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu".(Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)

Mình ngồi lại quán xét bứt hết tóc ra, rút hết móng tay chân để ra, bẻ hết mấy chục cái răng, lột hết da ra, lóc hết thịt ra, đây là tim, gan, lá lách, một đống ruột, máu mỡ, nước tiểu… từng bộ phận để riêng biệt, đó là ba mươi hai thể trược, quán sát từng bộ phận hiện rõ trong tâm mình, đây cũng là đề tài để quán chiếu, nếu không quán cái này không thể nhàm chán, ly tham, dục không giảm bớt được.

Này các Tỳ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: "Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)

Lấy bộ não để phía trước, lấy hai tròng con mắt ra, một đống phèo phổi, ruột gan, máu mở chảy tràn ra… Lúc con nhập thất quán cái này thì nước mắt tràn ra khóc thảm thiết như có ai đánh vì mình thấy một sự thật ngỡ ngàng và bàng hoàng, trước nay mình không nhìn theo lời Đức Phật nói, mình bị lớp da ngoài che hết mọi thứ nhớp nhơ bên trong, nhìn lớp da bên ngoài rồi đam mê, say sưa, tham đắm, chấp thủ vào đó, đến khi lột lớp da này ra nhìn sâu vào trong quán trăm ngàn lần để trí huệ trống rỗng, bất tịnh, vô ngã thâm nhập, chứng nhập, rèn luyện liên tục, kiên nhẫn, kiên trì trong ý chí của mình thì mới thành tựu cái trí bất tịnh, chứ không phải thấy tịnh rồi là không quán nữa. Lúc mới thực tập cái dục của mình sẽ chống đối, trí huệ không chịu "mình đẹp như vầy mà quán cái này làm gì" không thì "người đó đẹp vậy mà quán cái này làm gì". Mình phải diệt được ý niệm chống đối đó, bắt nó phải đi theo thánh trí thì từ từ sẽ bớt chống đối, ngoan hiền và cuối cùng dễ sử dụng, nhu nhuyến.

Tâm này, này các Tỳ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.

Tâm này, này các Tỳ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, V. Phẩm Ðặt Hướng và Trong Sáng, 1-10 Tâm Ðặt Sai Hướng v.v...)

Phải có sự thực tập thánh trí để gội rửa những cái phàm tình, vô minh và tham ái, chấp thủ trong những cái thiền quán Tứ Niệm Xứ, Thân Hành Niệm, Ba Mươi Hai Thể Trược, ngồi thiền quán chiếu liên tục để thâm nhập thánh trí, từ từ sự tham muốn trong con người sẽ lắng dịu và được nhiếp phục. Ở trên là những yếu tố cấu thành của thân này, nhìn vào đó để phơi bày ra hết những gì bị che kín, đây là công năng của chánh pháp.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)

./.