KINH VÍ DỤ CON RẮN 4 - Chỉ Cần Tin Tưởng - Thương Mến Phật Tất Cả Đều Hướng Đến Thiên Giới
Nikāya Giảng Giải
CHỈ CẦN TIN TƯỞNG
THƯƠNG MẾN PHẬT TẤT CẢ ĐỀU HƯỚNG ĐẾN THIÊN GIỚI?!
KINH VÍ DỤ CON RẮN 4
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Cảnh động tâm không động PAGEREF _Toc141868422 \h 1
II.Kinh Ví Dụ Con Rắn (tt) PAGEREF _Toc141868423 \h 2
1.An tịnh trước khen chê PAGEREF _Toc141868424 \h 2
2.Các tầng Thánh quả PAGEREF _Toc141868425 \h 4
III.Nói với người xuất gia PAGEREF _Toc141868426 \h 10
Cảnh động tâm không động
Đối với Minh Thành, ngày nào cũng như ngày nào, không thấy có gì là Tết nên không có gì phải lăng xăng. Thời điểm này là lúc Minh Thành thấy mọi người càng tăng thêm những tham dục, sân hận, càng tăng thêm sự dao động, buông lung phóng dật, thân tâm càng động loạn nhiều thêm. Minh Thành thường tận dụng cơ hội những ngày lễ tết tất bật ở ngoài đời để chúng ta tu nhiều hơn lúc bình thường, ở ngoài càng động thì bên trong càng phải tĩnh, lấy tĩnh chế động thì chúng ta sẽ có niềm vui trọn vẹn, độc siêu ngoại vật. Trong sách xưa thường có câu "thế ngoại cao nhân" nghĩa là những con người cao thượng ở ngoài thế gian, những người này không ưa thích, không bị tác động, không bị lôi cuốn bởi những biến động, những quan niệm thông thường ở đời, tâm người ta không bị dao động. Người tu nếu không khéo cũng bị dòng đời cuốn trôi, người bên ngoài động thì mình cũng lăng xăng.
Người tu là người đang hướng đến thượng nhân pháp, xuất thế pháp, xuất ly lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc, giải thoát lạc, là bậc xuất sĩ, xuất trần, đó cũng là nghĩa của xuất gia, đi ra khỏi những thói quen thông thường, quy ước của phàm phu, chế định pháp. Còn những lễ hội ngoài kia là do từ xưa đã đặt để ra như vậy, đó chỉ là những quy ước của thế gian, mình đừng dính vào đó. Mình sống ngày nào cũng là ngày quay lại tự thân nhiếp phục tham, sân, si, bẻ gãy bản ngã, tinh cần, tinh tấn thể nhập vào dòng ánh sáng của chư Phật và các bậc Thánh, đó mới là tâm của người tu.
Trên núi vào lễ tết không trang hoàng gì cả, chỉ có mấy cành trúc đơn sơ, do thường có khách đến viếng chùa nên để thêm vài cây mai, cây đào vào dịp này. Còn lại mọi việc vẫn bình thường, đại chúng vẫn tu tập, lao tác như mọi ngày. Trong phương diện khác, chúng ta không có cái tết một năm một lần của thế gian, mà ngày nào mình cũng có mùa xuân của Thánh pháp, sáng nào mình cũng có mùa xuân. Tết của mình là lúc nghe pháp, lúc ngồi thiền, lúc trùng tuyên Pháp bảo. Tết của mình là lúc cùng nhau sum vầy tu học, đó là tết đoàn viên.
Ngay bây giờ tâm mình an vui, tĩnh lặng, trí tuệ được tỏa rạng sáng ngời, lòng rộng mở trong sự thấy biết sâu sắc của trí tuệ… Đó chính là niềm hạnh phúc của chúng ta chứ không phải niềm hạnh phúc từ hoa mai, hoa đào, bánh chưng, bánh tét, bao lì xì… Đại chúng phải nhớ điều này để nỗ lực tu tập. Bằng không, khi thấy dưới phố rộn ràng thì trong lòng mình cũng rộn rã, bị ngoại cảnh lôi kéo. Hãy nhớ rằng, người càng động thì ta phải càng tĩnh, người càng hôn mê thì ta càng phải thức tỉnh.
"Như giữa đống rác nhớp,
Quăng bỏ trên đường lớn,
Chỗ ấy hoa sen nở,
Thơm sạch, đẹp ý người"
"Cũng vậy giữa quần sanh,
Uế nhiễm, mù, phàm tục,
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Sáng ngời với Tuệ Trí".
(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa)
Được trở về với núi rừng là hạnh phúc không gì diễn tả được, chúng ta đang ngồi trong rừng nhưng rất hạnh phúc, bình an vì được sống trong Chánh Pháp; còn ngoài kia, ngày tết mọi người náo nhiệt, ca hát nhảy múa, không có chánh niệm, không có pháp tu thì càng mệt mỏi.
“Vui tịnh lạc” là niềm vui của sự an tịnh, ngay cả người thân nhất trong gia đình mà lăng xăng, dao động là Minh Thành không có ở gần. Người tu là tìm cầu sự tịch tĩnh an lạc, sống tịch tĩnh an lạc, mình tìm niềm vui trong sự tĩnh lặng. Con thường nhắc nhở mọi người oai nghi, tế hạnh cũng là vì vậy, sáu căn phải an nhiên, đến đi vắng lặng, vừa rồi đạo tràng Nikāya tất niên không có bao nhiêu người nhưng những lời trình pháp rất thấm thía tâm can. Ở giữa Sài thành náo nhiệt nhưng khung cảnh trang nghiêm, thanh tịnh, thầy trò quây quần bên nhau không khác gì ở núi rừng cho nên hãy hướng đến sự tịch tịnh, sự an tịnh, hãy tập thật nhiều, dù cho chuyện gì xảy ra cũng phải tập trầm tĩnh, bình thản, dù có trời sập cũng tập an nhiên, thân này sắp chết, sắp tan hoại cũng phải tập lắng dịu.
Kinh Ví Dụ Con Rắn (tt)
An tịnh trước khen chê
"Chư Tỳ-kheo, nếu ở đây những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho Như Lai tức giận, thì này các Tỳ-kheo, ở đây, Như Lai không có sân hận, không có bất mãn, tâm không phẫn nộ. Chư Tỳ-kheo, nếu ở đây, những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỳ-kheo, ở đây Như Lai không có hoan hỉ, sung sướng, Tâm không thích thú. Chư Tỳ-kheo, nếu những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỳ-kheo, ở đây Như Lai suy nghĩ: 'Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm'".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Nếu có người cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường thì Đức Phật không hoan hỉ, không sung sướng, không thích thú, mà Ngài trú trong sự an tịnh. Nếu có người mắng nhiếc, chửi rủa, phỉ báng, muốn làm cho Ngài nổi nóng lên nhưng Ngài vẫn không sân hận, không phẫn nộ, bất mãn mà tâm yên lặng. Dù được mắng chửi hay xưng tụng, lễ lạy thì tâm vẫn an bình, an tịnh, tại sao lại vậy? Vì "Như Lai suy nghĩ: 'Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm'".
Tại sao những người khác tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường Ngài mà Ngài lại nghĩ đây là điều xưa kia đã từng biết rõ? Những người này đều có nhân quả ngày xưa với Ngài cho nên người ta cảm nhận được quả ngọt, cảm nhận được những điều lành, điều thiện, điều tốt mà Ngài đã hướng dẫn, dạy dỗ, giúp đỡ cho nên bây giờ họ gặp Ngài thì cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tất cả đều là nhân quả. Trách nhiệm của Ngài là hướng dẫn, chỉ dẫn cho những người muốn tu tập, muốn giải thoát và có duyên đến với Ngài. Đó là trách nhiệm Ngài phải làm nên Ngài không hoan hỉ, không sung sướng, tâm không thích thú.
Thưa chư tôn đức và các bậc hiền trí, Minh Thành có viết hàng chục bài dài để xưng tán bậc Đạo sư nhưng Ngài không nói câu nào cả. Có khi đọc một bài dài có khi 5-7 trang trong nước mắt mà Ngài không nói câu nào cả, tâm Ngài không dao động, không hoan hỉ, không thích thú, không vui sướng với những lời xưng tán tận cùng của con.
Còn chúng ta được khen thì có hai trạng thái, một là vui thích, hai là miệng nói "không có, tôi không có vậy" nhưng tâm lại thấy khoan khoái, chứ không quay trở lại để xem cảm thọ rồi nhiếp phục, chế ngự bên trong. Khi đó chỉ thấy có một người khen ngợi, tôn trọng mình. Khi bị chỉ trích, la rầy, quở trách, mắng chửi cũng không xem lại cảm thọ, không nhiếp phục cảm thọ, chỉ thấy có một người mắng chửi, chỉ trích mình, vì thấy theo tà kiến nên mình nói sai, nghĩ sai, làm sai.
Đối với những sự khen chê chúng ta phải để tâm thật nhiều để tu học, khi được khen hay bị chê thì phải quay lại xem có tự ngã sanh khởi không, nếu có thì phải làm cho cảm thọ này lắng dịu và phá thân kiến đó. Lúc bình thường mà không an tịnh thì khi hữu sự không cách nào nhiếp phục được. Chưa kể tai nạn xảy đến, những miếng mồi nhử ngon lành của dục, tham, ái đưa đến thì không chống đỡ được. Vì ta thường sống trong si mê, vô minh, bản ngã nên khi bị tham, sân bên ngoài tác động là rất dễ đánh mất mình.
"Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho các Ông tức giận, ở đây các Ông chớ có sân hận, bất mãn, tâm chớ khởi phẫn nộ. Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông chớ có hoan hỉ, sung sướng, tâm sanh thích thú. Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông hãy suy nghĩ: Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ, đây là những trách nhiệm ta phải làm".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Mọi việc xảy ra chỉ là nhân quả. Do nhân giúp đỡ, làm những điều thiện, điều tốt cho người nên họ cảm ơn, yêu quý mình. Cho nên không có gì để khoan khoái, thích thú, sung sướng để tăng lên cái tôi, cái ta. Thế Tôn dạy mình phải suy nghĩ đây là những trách nhiệm mà ta phải làm. Việc phục vụ, hướng dẫn, đặt để, tạo duyên cho họ tu học là trách nhiệm, bổn phận của một người tu. Trách nhiệm là phải như vậy, bổn phận là phải như vậy, việc làm của mình phải như vậy. Chúng ta ăn uống, nhận biết bao sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng của Phật tử, thậm chí các vị phải bớt ăn, bớt mặc, thậm chí không dám ăn để cúng dường thì trách nhiệm, bổn phận của mình là phải hướng dẫn, nhắc nhở, đặt để, khuyến khích cho họ tu hành những thiện pháp.
Các tầng Thánh quả
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị Tỳ-kheo, là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, lý tưởng đã thành đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được giải thoát nhờ chánh trí, vòng luân chuyển (sanh tử) của những vị này không thể chỉ bày.
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Pháp đã được Ngài thuyết giảng, làm cho tỏ lộ ra, hiển lộ rõ ràng, mở ra và chỉ cho mọi người thì gọi là khai thị (‘khai’ là mở ra, ‘thị’ là chỉ cho thấy). Ngài loại trừ tất cả những gì còn che đậy, gỡ ra những lớp vải quấn cũ. Nghĩa là chẳng hạn mình có bao vàng hay có bao kim cương được cất giấu, quấn trong nhiều lớp, qua năm tháng những tấm vải này đã cũ kĩ; Thế Tôn là người mở những lớp vải đó ra và chỉ cho mọi người thấy đây là pháp, đây là Thánh trí huệ, đây là sự thật, đó là ý nghĩa của chữ "loại trừ các vải quấn cũ".
Ngài mở ra những gì bị che giấu để chỉ cho chúng sanh, những vị A-la-hán được dứt hết các mê lầm, tu hành chứng đạt viên thành tròn đầy, việc cần làm đã làm xong, gánh nặng đã đặt xuống, tất cả những kiết sử, những sự trói cột, sai khiến trong ba cõi đã dứt sạch. Các Ngài được giải thoát nhờ chánh trí, cho nên dòng luân chuyển sanh tử của những vị này không thể chỉ bày. Các Ngài không còn ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, trời, A-tu-la nữa, không còn sanh ra trong thân thể bất tịnh, trong những tâm thức đầy rẫy những cấu uế, không còn vô minh, tham ái, chấp thủ, không đi vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức; mà các Ngài hoàn toàn thanh tịnh vượt ra khỏi lục đạo, đạt được tâm giải thoát, tuệ giải thoát, bất động giải thoát. Như vậy thì làm sao chỉ bày dòng luân chuyển sanh tử ấy được!?
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỳ-kheo nào đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, thì những vị này thành các vị hóa sanh, nhập diệt tại đây, không còn phải trở lui vào đời này nữa"
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Những vị này hóa sanh lên Tịnh Cư Thiên, họ đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không còn trở lui vào đời này nữa. Minh Thành thường ví dụ bất thình lình mình ghé vào cây xăng để đi toilet, bước vào toilet thấy bẩn thỉu, hôi thối vô cùng nên mình rời khỏi lập tức, không bao giờ muốn trở lại nữa. Các Ngài nhìn thấy thân tâm, thế giới này giống như cái toilet không được lau chùi đó, các Ngài không muốn trở lại.
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỳ-kheo nào đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham sân si, thì tất cả những vị ấy thành bậc Nhất lai, chỉ đến đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Đoạn trừ ba kiết sử là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, làm cho tham, sân, si giảm bớt rất nhiều gọi là muội lược; nhờ đó các vị này chỉ trở lại đời này một lần nữa rồi sẽ diệt tận khổ đau. Ý nghĩa của chữ "diệt tận khổ đau" là không còn trở lui lại nữa, nghĩa là không còn tham, sân, si nữa, không còn nắm trong ngũ uẩn này nữa, gọi là dứt hết khổ đau. Còn trở lại đây nữa là còn khổ đau, còn mang cái thân này là còn chịu khổ, còn pjtrở lại cái toilet hôi thối đó một lần nữa thôi để chịu đựng nó bốc lên mùi tham, mùi giận, mùi vô minh, bản ngã, hơn thua, giành giật, đấu đá, mưu mô, mưu sĩ, mưu tính, mưu hại. Các bậc hiền Thánh thời Đức Phật sống độc cư, viễn ly, nếu có sống chung là sống chung với các bậc Hiền trí.
"Sống chung với người ngu,
Lâu dài bị lo buồn.
Khổ thay gần người ngu,
Như thường sống kẻ thù.
Vui thay, gần người trí,
Như chung sống bà con".
(Kinh Pháp Cú 15 – Phẩm An Lạc)
Vì sân si, bản ngã, hơn thua nên con người làm nhau mệt mỏi. Quý vị tại gia sẽ thấm thía điều này rất nhiều, nhất là khi những người trong nhà mình không biết tu, suốt ngày cứ tham, sân, si, bản ngã, tranh giành, thị phi nên rất mệt mỏi. Cho nên Thế Tôn nói sống gần người ngu như sống với kẻ thù, còn sống gần người trí như được sống với bà con. Bà con của mình là những vị chuyển tộc, thay đổi dòng họ, không còn Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị C nữa mà tất cả đều trở thành dòng họ Sakya, dòng họ Thích-ca, dòng họ của chánh kiến, của hiền trí. Vì thế khi các vị quy y đều đổi thành Hiền + tên của quý vị nếu là nữ, Trí + tên của quý vị nếu là nam, đó chính là sự chuyển tộc. Người xuất gia được gọi là Thích Tử - con của dòng họ Thích-ca, con của dòng họ Thánh nhân, con của dòng họ Chánh Đẳng Chánh Giác, con của dòng họ Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác, Thế Gian Giải. Còn sống với người đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã rất khổ sở, mệt mỏi.
Các Tỳ-kheo cự cãi nhau nên Thế Tôn bỏ vào rừng sống với những con voi, con khỉ, không cho ai đi theo cả. Có vị Tỳ-kheo nói sống với loài vật khỏe hơn sống với con người vì nó không biết tính toán hơn thua gì cả, chỉ biết ăn và uống thì Thế Tôn xác nhận là đúng.
"Bạch Thế Tôn, cởi mở thay như loài thú vật. Bạch Thế Tôn, con có thể nhiếp phục con voi, một cách khiến con voi ấy mỗi khi đi hay đến Campa, liền trình bày mọi sự gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt. Nhưng bạch Thế Tôn, những người đầy tớ của chúng con, những người phục dịch, những người làm công, thân hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ý hành họ làm một cách khác nữa. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn biết được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh, trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người! Bạch Thế Tôn, cởi mở thay, như loài thú vật!
-- Thật như vậy, này Pessa! Thật như vậy, này Pessa! Này Pessa, rối ren thay, như loài người! Cởi mở thay, như loài thú vật!"
(Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Nhìn mây, nhìn trời, nhìn cây cỏ, các con vật không có tính toán gì nhiều, còn con người đầy rẫy những âm mưu, toan tính, sân hận, hơn thua. Thế Tôn nói Ngài sống một mình trong rừng nên ngay cả đại tiểu tiện cũng thấy thoải mái. Vừa rồi có các bạn trẻ lên núi nên chú Tân bảo không muốn qua bếp vì ồn ào, đó là một vị cư sĩ thấm pháp là không thích ồn ào chứ đừng nói gì người xuất gia. Mình không biết tu, không biết an tịnh, lắng dịu, không biết nhiếp phục thân tâm, cảm thọ là đi đến đâu cũng như cái chợ. Thế Tôn đã đuổi một nhóm 500 vị Tỳ-kheo đến cúng dường vì ồn ào.
"Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta (Xá-lợi-phất) và Moggallana (Mục-kiền-liên) cầm đầu cùng đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, nên các tiếng náo động ồn ào khởi lên. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
-- Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.
-- 'Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallama cầm đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.
'Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỳ-kheo ấy: 'Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả'.
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo ấy như sau:
Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.
Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy đang ngồi một bên:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?
-- Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên
-- Hãy đi đi này các Tỳ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta.
(Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)
Đặc sản đạo tràng của chúng ta là phải an tịnh, lắng dịu, điều này rất quan trọng, đây là điều dễ nhất có thể làm được, mất cái này là mất đạo tràng Nikāya, mất đi cái vỏ bên ngoài chứ chưa nói đến cái hiền thiện, trí tuệ bên trong. Các huynh đệ hoặc tỉ muội ở chung với nhau nhưng có người cứ dao động, lăng xăng, nói chuyện huyên thuyên từ sáng đến chiều thì làm sao mình yên tịnh để ngồi thiền, đọc kinh, chính bản thân người đó cũng không thấy nhục, có khi được chỉ dạy cũng không nghe. Chúng ta phải nhắc nhở nhau "hiền giả ơi hiền giả, hiền giả buông lung nhiều quá rồi", "hiền giả ơi nhận diện cảm thọ đi", nhất là những người mới đến phải nhắc để họ biết, không phải đi đâu cũng đem cái loa phóng thanh theo rồi làm cho động chúng, động niệm, tổn phước. Tất cả những vị mới về đều phải được nhắc nhở về gia phong, nề nếp ở đây là an tịnh, lắng dịu.
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỳ-kheo nào đoạn trừ ba kiết sử, thì tất cả những vị ấy trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc ác thú, quyết định hướng đến chánh giác".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Dù chưa hết tham, sân, si nhưng trọng tâm là phá được kiết sử, thành tựu cái thấy đúng về ngũ uẩn, thấy những đau khổ, tai họa, bất an thì tất cả những vị ấy thành tựu Dự Lưu, tham dự vào dòng chảy trí tuệ của bậc Thánh, không còn thối đọa vào đường ác, không còn bị đọa lạc ác thú, quyết định hướng đến chánh giác. Chỉ cần phá thân kiến vỡ ra thì hoài nghi, giới cấm thủ theo đó cũng diệt tận; mình chính thức được tham dự vào dòng chảy trí tuệ của bậc Thánh nếu mình đủ duyên, nếu mình còn sống.
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỳ-kheo nào là những vị tùy pháp hành, tùy tín hành, thì tất cả những vị này sẽ hướng về chánh giác.
Chư Tỳ-kheo, như vậy pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ khỏi các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy được hướng về chư Thiên.
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Như thế nào gọi là tùy pháp hành, tùy tín hành? Những ai thực hành theo pháp Đức Phật dạy thì những vị đó nhất định sẽ hướng đến chánh giác, dù thực hành chưa được bao nhiêu nhưng vẫn không từ bỏ thì chắc chắn vị này sẽ hướng đến chánh giác, vì Chánh Pháp có khả năng đưa người hướng về phía trước, dòng chảy của pháp sẽ đưa mình ra biển Chánh giác, biển Chánh tri kiến, biển của sự thật, biển của Thánh trí về khổ. Dòng chảy này sẽ đưa mình ra nếu mình thực hành, cứ thực hành từ từ nó sẽ ngấm rồi đưa mình hướng về chánh giác. Chánh giác là sự thấy biết đúng, chánh xác, cái thấy đúng của bậc Thánh, mình cứ thực tập, dù chết cũng không bỏ, cứ nghe pháp cho nên bây giờ mỗi ngày mình cứ nghe pháp, dành thời gian thiền quán thì đến khi chết chắc chắn tối thiểu chúng ta cũng hướng về chánh giác, hướng Dự Lưu làm đệ tử của Đức Phật. Mỗi ngày chúng ta đều nghe pháp, đều thiền quán, mỗi khóa tu đều có mặt thì từ đây cho đến chết chắc chắn chúng ta sẽ hướng Dự Lưu. Cứ nhớ "vô thường đó, đừng có mê, đừng tưởng khổ là vui", "trống rỗng, vô ngã, cái nùi giẻ đó, đừng có ngông nghênh, vênh váo cái mặt lên, nhục lắm nha", cứ nhắc nhở như vậy là tùy pháp hành, nhất định sẽ hướng về chánh giác.
Như vậy, tùy pháp hành là hiểu được, thấy được rồi thực hành. Còn tùy tín hành nghĩa là tin theo và làm theo, chưa hiểu được nhiều. Người tùy tín hành là vị có lòng tin mạnh mẽ, có khi chưa hiểu được nhiều nhưng có lòng tin, rồi vì lòng tin đó mà làm theo, Đức Phật nói tất cả những vị này sẽ hướng về chánh giác. Tại sao lại vậy? Vì pháp được Ngài khéo giảng, là cho tỏ lộ, làm cho khai thông, chỉ rõ, loại trừ hết những gì bị che kín cho nên những vị đó sẽ được như vậy, vì đây là chánh pháp, là sự thật cho nên chỉ cần tin, chỉ cần làm theo thì chắc chắn sẽ có kết quả.
Chúng ta phải kính mến Ngài, tin tưởng nơi Ngài vì khi kính Ngài, tin Ngài thì chắc chắn mình sẽ làm theo lời dạy của Ngài; làm theo lời dạy của Ngài là nhân thiên pháp, là thiện pháp. Chúng ta có cảm nhận được từ tâm bi mẫn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không? Đây gọi là từ vô lượng tâm của Ngài, không còn bỏ sót cái gì nữa mà Ngài nói cho tận cùng, từ bậc Thánh A-la-hán đến Bất Lai, Nhất Lai, Thất Lai, Dự Lưu, hướng Dự Lưu rồi cuối cùng dù chỉ có lòng tin thương mến Ngài thì những người đó cũng hướng về chư thiên. Từ ái làm sao! Từ bi làm sao là lời nói này của Đức Như Lai, là tình thương này của Đức Thế Tôn, là lòng đại từ, đại bi của bậc Thiện Thệ.
Nói với người xuất gia
Khi chiêm nghiệm về đời sống này chúng ta sẽ thấy hết sức ngao ngán. Có những vị đến chùa xin được đi làm lấy tiền nhưng chưa làm gì đã kêu đưa tiền này cho họ, chưa làm gì đã sân si, thậm chí còn gây ra nhiều chuyện bất ổn, phá phách; sau đó mình nói họ chắc không làm được rồi thì họ bảo không làm thì phải đưa tiền mới về. Đó là người Phật tử, đi đến chùa mà còn vậy. Cho nên Minh Thành vô cùng ngao ngán trước những tâm sân si, bản ngã, tâm ác dục, vừa dục vừa ác; thật sự sợ với những tâm thức gai góc, dao kéo. Nhờ quán chiếu cho sâu sắc thì ta mới có tâm thoát ra một cách mạnh mẽ và quyết liệt. Bằng không, chỉ thấy khía cạnh vị ngọt mà không quán về nguy hiểm và tác hại của đời sống này thì khó có tâm từ bỏ để tu tập. Phải quán sự nguy hại cho sung mãn, nhìn sâu vào trong đó để chiêm nghiệm thật nhiều. Có những vị tuy tu học, lễ lạy như vậy nhưng Minh Thành vẫn thấy lo sợ cho họ vì tâm những vị này chưa được thuần thiện, mầm mống của những ác, bất thiện vẫn còn nhiều. Vì thế Minh Thành không muốn đi chia sẻ nhiều nữa, lâu lâu chia sẻ bằng cả tấm lòng nhưng ở dưới lại trừng trợn, con thấy những ánh mắt mà con không dám nhìn. Qua đó mình mới thấy vì sao tượng pháp chuẩn bị qua thời kì cuối là mạt pháp.
Ở bên Thái Lan vào thời kì sư phụ của Ngài Ajahn Chah có hai trường phái tu tập, một phái ở ngoài thành phố để làm các việc Phật sự, công ích xã hội, lo lắng giáo hội; còn một phái là vào rừng sâu để tu. Minh Thành thấy bây giờ phát triển theo như vậy cũng là hợp thời, chính vì vậy trong 4 năm con đã đi tìm chỗ trong rừng để tu vì đây không phải là pháp phổ biến, đại trà, phải là người thật tâm cầu giải thoát khổ đau mới có thể cảm thọ được, thấm đẫm được. Khi bước lên mảnh đất được chọn để xây dựng thiền thất đầu tiên thì con không để ý nhưng chú Kha chỉ cho con trên bầu trời là hình dáng phụng hoàng lửa của đám mây. Hôm nay là ngày chuẩn bị dựng thiền thất đầu tiên của làng tu, vị trí nằm ở tận cùng trong sát bìa rừng.
Thật sự người tu chúng ta phải hướng đến chỗ rời xa thế tục, đó là xuất gia, xuất ly, xuất sĩ, xuất trần. Phải chiêm nghiệm thật kĩ những chữ này: xuất gia, xuất sĩ, xuất ly, xuất trần để mình nhớ rằng xuất gia là phải đi ra khỏi căn nhà thế tục, xuất sĩ là một con người thoát ra, xuất ly là xa lìa, xuất trần là ra khỏi phàm tục. Chúng ta đã đi xuất gia rồi thì đừng trở lại những tâm niệm thế tục, đừng quay trở lại những cái vui của ăn, của chơi, của đi du lịch, của lễ hội hè tết. Chúng ta đừng quay trở lại những cái mà mình đã từ bỏ, những cái mà mình đã khạc nhổ, đừng liếm trở lại những đàm vãi mình đã khạc ra; phải tìm được sự hỷ lạc tối thượng trong Thánh pháp, không phải đi tìm cái vui liên hệ đến vật chất tầm thường, thấp hèn của phàm phu. Chúng ta phải hướng đến sự thoát ra một cách mạnh mẽ vì không còn kịp nữa, nhà đã cháy rồi, địa cầu đang bốc lửa, trái tim chúng ta đang bốc lửa, cảm thọ chúng ta đang bốc lửa, mắt, mũi, miệng, lỗ tai và cái thân này đang bốc lửa dục, lửa tham, lửa sân, những ngọn lửa của ưa thích hiện hữu, tham đắm hiện hữu, nó đang bốc cháy.
Những mầm mống, triệu chứng bất thường của dịch bệnh báo hiệu có thể xảy ra đại dịch khủng khiếp hơn lúc trước. Mỗi người chúng ta ngoài giờ tu hãy chọn cho mình một gốc cây, một tảng đá, một khóm trúc để thiền tư, mở những bài pháp lên nghe rồi thiền tư, thiền định và tư duy những lời Đức Phật dạy, hướng tâm mình đến sự xuất ly. Đừng để cho tâm này yếu kém, đừng thân xuất gia mà tâm tại gia, người ta thì thân tại gia nhưng tâm họ lại xuất gia, trong khi mình thân xuất gia nhưng tâm lại tại gia thì nhục nhã, xấu hổ vô cùng. Đời tu mà không lo tăng thượng, hướng thượng, không tiến tới đức hạnh cao thượng, trí tuệ cao thượng, thiền định cao thượng, giải thoát cao thượng, không có ý chí nỗ lực chiến đấu, không chịu tác chiến, không có chiến lược, không có hành động, chỉ sống qua ngày thì làm sao đến được chỗ cần phải đến.
Bây giờ đi đến đâu cũng thấy tham, sân, si đầy rẫy, những ác và bất thiện pháp cũng đầy rẫy, những dục vọng, những ác tham, những hơn thua, những mưu tính, mưu toan cũng đầy rẫy từ bên trong đến bên ngoài. Không phải chỉ ngoài đời mà ngay cả người tu thân xuất gia nhưng tâm không xuất gia. Thật sự là đau lòng! Thật sự xót xa! Chúng ta phải thực tập tâm bi này thật thâm sâu để xót xa cho chính mình, cho hữu tình chúng sanh, phải thực tập tâm bi này một cách sâu sắc làm tâm xót xa, nhức nhối cho chính mình. Trước nay chúng ta nói tâm từ, tâm hỷ, tâm xả nhiều nhưng tâm bi ít nói. Do chúng ta không dùng từ chứ thật ra con thường xuyên nhắc nhở thương xót chính mình, ray rứt, ưu tư cho chính mình, đó chính là tâm bi. Luôn khắc khoải, buồn đau, bất an vì sự tu học không thăng tiến, không lớn mạnh của mình, đó là tâm bi. Phải phát triển tâm này lên để hướng thượng đến chỗ lìa xa, rời ra một cách mạnh mẽ.
Thật sự không thể biết được ngày mai chúng ta còn được ngồi đây học như thế này nữa không, đâu thể biết chiều tối nay chúng ta có ngồi thiền chung với nhau được nữa không. Hơn nữa, ngay khi chúng ta ngồi chung với nhau nhưng không thể biết có thật sự chung một tâm hay không. Nhìn bên ngoài thấy ngồi chung một hàng, ngồi chung một thiền đường nhưng có thật sự tâm đồng nhất không, có thật sự là tâm xuất gia và thân xuất gia không?! Chúng ta phải đặt ra những câu hỏi như vậy và viết ra trong nhật kí tu học, trong cảm nhận tu học để nhắc nhở tự thân. Hãy tô thật đậm, vẽ thật đậm, phát họa thật rõ ràng những nghĩ tưởng về viễn ly, về xả ly, về xuất ly, về xuất trần, xuất thế, cứu cánh Phạm hạnh xuất gia trong đời tu này. Phải trăn trở, suy tư, thao thức, tác ý, hành động, làm mới mình, thay đổi mình.
Khi được vào thất là chúng ta có cơ hội được ở một mình, có cơ hội nhìn lại thân tâm sâu sắc, đầy đủ, có cơ hội để phát giác, phát hiện những cấu nhiễm thô tế, có cơ hội hiểu được mình kĩ lưỡng hơn. Đây cũng là cơ hội chúng ta tận lực, dốc toàn lực, tâm lực, hạnh lực, nguyện lực, sức lực, trí lực, thần lực, pháp lực, đạo lực, định lực, niệm lực, tuệ lực để chiến đấu. Vì vậy, khi vào thất phải tu sống tu chết chứ không phải vào để nghỉ dưỡng. Nhờ nhớ nghĩ như vậy nên thời gian đó mình sẽ bước qua những cấp độ mới.
Hãy nhớ thật kĩ khi vào thất là cơ hội để mình chuyển mình, chuyển thân, chuyển tâm, chuyển tộc, chuyển tuệ. Sau khi dùng hết tất cả trí lực, sức lực, thần lực, hạnh lực, nguyện lực, pháp lực, tuệ lực thì sau mỗi lần nhập thất mình sẽ bước lên một bước mới, còn nếu tu với tâm hờ hững, tâm buông trôi thì nhập thất cũng không được lợi ích bao nhiêu. Nhớ kĩ điều này để mình sử dụng quỹ thời gian quý báu nhất của cuộc đời mình cho sự tu học, sau khi ra thất cũng phải duy trì, hành trì, tiếp tục phát triển những thiện pháp đó, nếu không sẽ mất. Thế nên phải duy trì những thiện pháp mình đã có trong thời gian độc cư, an trú trong đó và theo đà đó để tiếp tục phát triển, giữ vị trí. Khi ra ngoài mình cố gắng giữ vững chỗ đứng như trong khi thất để có cơ hội mình bước lên những bước tiếp theo.
Chúc quý vị có một ngày tinh tấn trong Thánh pháp.
./.
CHỈ CẦN TIN TƯỞNG
THƯƠNG MẾN PHẬT TẤT CẢ ĐỀU HƯỚNG ĐẾN THIÊN GIỚI?!
KINH VÍ DỤ CON RẮN 4
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Cảnh động tâm không động PAGEREF _Toc141868422 \h 1
II.Kinh Ví Dụ Con Rắn (tt) PAGEREF _Toc141868423 \h 2
1.An tịnh trước khen chê PAGEREF _Toc141868424 \h 2
2.Các tầng Thánh quả PAGEREF _Toc141868425 \h 4
III.Nói với người xuất gia PAGEREF _Toc141868426 \h 10
Cảnh động tâm không động
Đối với Minh Thành, ngày nào cũng như ngày nào, không thấy có gì là Tết nên không có gì phải lăng xăng. Thời điểm này là lúc Minh Thành thấy mọi người càng tăng thêm những tham dục, sân hận, càng tăng thêm sự dao động, buông lung phóng dật, thân tâm càng động loạn nhiều thêm. Minh Thành thường tận dụng cơ hội những ngày lễ tết tất bật ở ngoài đời để chúng ta tu nhiều hơn lúc bình thường, ở ngoài càng động thì bên trong càng phải tĩnh, lấy tĩnh chế động thì chúng ta sẽ có niềm vui trọn vẹn, độc siêu ngoại vật. Trong sách xưa thường có câu "thế ngoại cao nhân" nghĩa là những con người cao thượng ở ngoài thế gian, những người này không ưa thích, không bị tác động, không bị lôi cuốn bởi những biến động, những quan niệm thông thường ở đời, tâm người ta không bị dao động. Người tu nếu không khéo cũng bị dòng đời cuốn trôi, người bên ngoài động thì mình cũng lăng xăng.
Người tu là người đang hướng đến thượng nhân pháp, xuất thế pháp, xuất ly lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc, giải thoát lạc, là bậc xuất sĩ, xuất trần, đó cũng là nghĩa của xuất gia, đi ra khỏi những thói quen thông thường, quy ước của phàm phu, chế định pháp. Còn những lễ hội ngoài kia là do từ xưa đã đặt để ra như vậy, đó chỉ là những quy ước của thế gian, mình đừng dính vào đó. Mình sống ngày nào cũng là ngày quay lại tự thân nhiếp phục tham, sân, si, bẻ gãy bản ngã, tinh cần, tinh tấn thể nhập vào dòng ánh sáng của chư Phật và các bậc Thánh, đó mới là tâm của người tu.
Trên núi vào lễ tết không trang hoàng gì cả, chỉ có mấy cành trúc đơn sơ, do thường có khách đến viếng chùa nên để thêm vài cây mai, cây đào vào dịp này. Còn lại mọi việc vẫn bình thường, đại chúng vẫn tu tập, lao tác như mọi ngày. Trong phương diện khác, chúng ta không có cái tết một năm một lần của thế gian, mà ngày nào mình cũng có mùa xuân của Thánh pháp, sáng nào mình cũng có mùa xuân. Tết của mình là lúc nghe pháp, lúc ngồi thiền, lúc trùng tuyên Pháp bảo. Tết của mình là lúc cùng nhau sum vầy tu học, đó là tết đoàn viên.
Ngay bây giờ tâm mình an vui, tĩnh lặng, trí tuệ được tỏa rạng sáng ngời, lòng rộng mở trong sự thấy biết sâu sắc của trí tuệ… Đó chính là niềm hạnh phúc của chúng ta chứ không phải niềm hạnh phúc từ hoa mai, hoa đào, bánh chưng, bánh tét, bao lì xì… Đại chúng phải nhớ điều này để nỗ lực tu tập. Bằng không, khi thấy dưới phố rộn ràng thì trong lòng mình cũng rộn rã, bị ngoại cảnh lôi kéo. Hãy nhớ rằng, người càng động thì ta phải càng tĩnh, người càng hôn mê thì ta càng phải thức tỉnh.
"Như giữa đống rác nhớp,
Quăng bỏ trên đường lớn,
Chỗ ấy hoa sen nở,
Thơm sạch, đẹp ý người"
"Cũng vậy giữa quần sanh,
Uế nhiễm, mù, phàm tục,
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Sáng ngời với Tuệ Trí".
(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa)
Được trở về với núi rừng là hạnh phúc không gì diễn tả được, chúng ta đang ngồi trong rừng nhưng rất hạnh phúc, bình an vì được sống trong Chánh Pháp; còn ngoài kia, ngày tết mọi người náo nhiệt, ca hát nhảy múa, không có chánh niệm, không có pháp tu thì càng mệt mỏi.
“Vui tịnh lạc” là niềm vui của sự an tịnh, ngay cả người thân nhất trong gia đình mà lăng xăng, dao động là Minh Thành không có ở gần. Người tu là tìm cầu sự tịch tĩnh an lạc, sống tịch tĩnh an lạc, mình tìm niềm vui trong sự tĩnh lặng. Con thường nhắc nhở mọi người oai nghi, tế hạnh cũng là vì vậy, sáu căn phải an nhiên, đến đi vắng lặng, vừa rồi đạo tràng Nikāya tất niên không có bao nhiêu người nhưng những lời trình pháp rất thấm thía tâm can. Ở giữa Sài thành náo nhiệt nhưng khung cảnh trang nghiêm, thanh tịnh, thầy trò quây quần bên nhau không khác gì ở núi rừng cho nên hãy hướng đến sự tịch tịnh, sự an tịnh, hãy tập thật nhiều, dù cho chuyện gì xảy ra cũng phải tập trầm tĩnh, bình thản, dù có trời sập cũng tập an nhiên, thân này sắp chết, sắp tan hoại cũng phải tập lắng dịu.
Kinh Ví Dụ Con Rắn (tt)
An tịnh trước khen chê
"Chư Tỳ-kheo, nếu ở đây những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho Như Lai tức giận, thì này các Tỳ-kheo, ở đây, Như Lai không có sân hận, không có bất mãn, tâm không phẫn nộ. Chư Tỳ-kheo, nếu ở đây, những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỳ-kheo, ở đây Như Lai không có hoan hỉ, sung sướng, Tâm không thích thú. Chư Tỳ-kheo, nếu những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỳ-kheo, ở đây Như Lai suy nghĩ: 'Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm'".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Nếu có người cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường thì Đức Phật không hoan hỉ, không sung sướng, không thích thú, mà Ngài trú trong sự an tịnh. Nếu có người mắng nhiếc, chửi rủa, phỉ báng, muốn làm cho Ngài nổi nóng lên nhưng Ngài vẫn không sân hận, không phẫn nộ, bất mãn mà tâm yên lặng. Dù được mắng chửi hay xưng tụng, lễ lạy thì tâm vẫn an bình, an tịnh, tại sao lại vậy? Vì "Như Lai suy nghĩ: 'Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm'".
Tại sao những người khác tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường Ngài mà Ngài lại nghĩ đây là điều xưa kia đã từng biết rõ? Những người này đều có nhân quả ngày xưa với Ngài cho nên người ta cảm nhận được quả ngọt, cảm nhận được những điều lành, điều thiện, điều tốt mà Ngài đã hướng dẫn, dạy dỗ, giúp đỡ cho nên bây giờ họ gặp Ngài thì cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tất cả đều là nhân quả. Trách nhiệm của Ngài là hướng dẫn, chỉ dẫn cho những người muốn tu tập, muốn giải thoát và có duyên đến với Ngài. Đó là trách nhiệm Ngài phải làm nên Ngài không hoan hỉ, không sung sướng, tâm không thích thú.
Thưa chư tôn đức và các bậc hiền trí, Minh Thành có viết hàng chục bài dài để xưng tán bậc Đạo sư nhưng Ngài không nói câu nào cả. Có khi đọc một bài dài có khi 5-7 trang trong nước mắt mà Ngài không nói câu nào cả, tâm Ngài không dao động, không hoan hỉ, không thích thú, không vui sướng với những lời xưng tán tận cùng của con.
Còn chúng ta được khen thì có hai trạng thái, một là vui thích, hai là miệng nói "không có, tôi không có vậy" nhưng tâm lại thấy khoan khoái, chứ không quay trở lại để xem cảm thọ rồi nhiếp phục, chế ngự bên trong. Khi đó chỉ thấy có một người khen ngợi, tôn trọng mình. Khi bị chỉ trích, la rầy, quở trách, mắng chửi cũng không xem lại cảm thọ, không nhiếp phục cảm thọ, chỉ thấy có một người mắng chửi, chỉ trích mình, vì thấy theo tà kiến nên mình nói sai, nghĩ sai, làm sai.
Đối với những sự khen chê chúng ta phải để tâm thật nhiều để tu học, khi được khen hay bị chê thì phải quay lại xem có tự ngã sanh khởi không, nếu có thì phải làm cho cảm thọ này lắng dịu và phá thân kiến đó. Lúc bình thường mà không an tịnh thì khi hữu sự không cách nào nhiếp phục được. Chưa kể tai nạn xảy đến, những miếng mồi nhử ngon lành của dục, tham, ái đưa đến thì không chống đỡ được. Vì ta thường sống trong si mê, vô minh, bản ngã nên khi bị tham, sân bên ngoài tác động là rất dễ đánh mất mình.
"Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho các Ông tức giận, ở đây các Ông chớ có sân hận, bất mãn, tâm chớ khởi phẫn nộ. Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông chớ có hoan hỉ, sung sướng, tâm sanh thích thú. Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông hãy suy nghĩ: Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ, đây là những trách nhiệm ta phải làm".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Mọi việc xảy ra chỉ là nhân quả. Do nhân giúp đỡ, làm những điều thiện, điều tốt cho người nên họ cảm ơn, yêu quý mình. Cho nên không có gì để khoan khoái, thích thú, sung sướng để tăng lên cái tôi, cái ta. Thế Tôn dạy mình phải suy nghĩ đây là những trách nhiệm mà ta phải làm. Việc phục vụ, hướng dẫn, đặt để, tạo duyên cho họ tu học là trách nhiệm, bổn phận của một người tu. Trách nhiệm là phải như vậy, bổn phận là phải như vậy, việc làm của mình phải như vậy. Chúng ta ăn uống, nhận biết bao sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng của Phật tử, thậm chí các vị phải bớt ăn, bớt mặc, thậm chí không dám ăn để cúng dường thì trách nhiệm, bổn phận của mình là phải hướng dẫn, nhắc nhở, đặt để, khuyến khích cho họ tu hành những thiện pháp.
Các tầng Thánh quả
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị Tỳ-kheo, là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, lý tưởng đã thành đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được giải thoát nhờ chánh trí, vòng luân chuyển (sanh tử) của những vị này không thể chỉ bày.
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Pháp đã được Ngài thuyết giảng, làm cho tỏ lộ ra, hiển lộ rõ ràng, mở ra và chỉ cho mọi người thì gọi là khai thị (‘khai’ là mở ra, ‘thị’ là chỉ cho thấy). Ngài loại trừ tất cả những gì còn che đậy, gỡ ra những lớp vải quấn cũ. Nghĩa là chẳng hạn mình có bao vàng hay có bao kim cương được cất giấu, quấn trong nhiều lớp, qua năm tháng những tấm vải này đã cũ kĩ; Thế Tôn là người mở những lớp vải đó ra và chỉ cho mọi người thấy đây là pháp, đây là Thánh trí huệ, đây là sự thật, đó là ý nghĩa của chữ "loại trừ các vải quấn cũ".
Ngài mở ra những gì bị che giấu để chỉ cho chúng sanh, những vị A-la-hán được dứt hết các mê lầm, tu hành chứng đạt viên thành tròn đầy, việc cần làm đã làm xong, gánh nặng đã đặt xuống, tất cả những kiết sử, những sự trói cột, sai khiến trong ba cõi đã dứt sạch. Các Ngài được giải thoát nhờ chánh trí, cho nên dòng luân chuyển sanh tử của những vị này không thể chỉ bày. Các Ngài không còn ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, trời, A-tu-la nữa, không còn sanh ra trong thân thể bất tịnh, trong những tâm thức đầy rẫy những cấu uế, không còn vô minh, tham ái, chấp thủ, không đi vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức; mà các Ngài hoàn toàn thanh tịnh vượt ra khỏi lục đạo, đạt được tâm giải thoát, tuệ giải thoát, bất động giải thoát. Như vậy thì làm sao chỉ bày dòng luân chuyển sanh tử ấy được!?
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỳ-kheo nào đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, thì những vị này thành các vị hóa sanh, nhập diệt tại đây, không còn phải trở lui vào đời này nữa"
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Những vị này hóa sanh lên Tịnh Cư Thiên, họ đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không còn trở lui vào đời này nữa. Minh Thành thường ví dụ bất thình lình mình ghé vào cây xăng để đi toilet, bước vào toilet thấy bẩn thỉu, hôi thối vô cùng nên mình rời khỏi lập tức, không bao giờ muốn trở lại nữa. Các Ngài nhìn thấy thân tâm, thế giới này giống như cái toilet không được lau chùi đó, các Ngài không muốn trở lại.
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỳ-kheo nào đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham sân si, thì tất cả những vị ấy thành bậc Nhất lai, chỉ đến đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Đoạn trừ ba kiết sử là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, làm cho tham, sân, si giảm bớt rất nhiều gọi là muội lược; nhờ đó các vị này chỉ trở lại đời này một lần nữa rồi sẽ diệt tận khổ đau. Ý nghĩa của chữ "diệt tận khổ đau" là không còn trở lui lại nữa, nghĩa là không còn tham, sân, si nữa, không còn nắm trong ngũ uẩn này nữa, gọi là dứt hết khổ đau. Còn trở lại đây nữa là còn khổ đau, còn mang cái thân này là còn chịu khổ, còn pjtrở lại cái toilet hôi thối đó một lần nữa thôi để chịu đựng nó bốc lên mùi tham, mùi giận, mùi vô minh, bản ngã, hơn thua, giành giật, đấu đá, mưu mô, mưu sĩ, mưu tính, mưu hại. Các bậc hiền Thánh thời Đức Phật sống độc cư, viễn ly, nếu có sống chung là sống chung với các bậc Hiền trí.
"Sống chung với người ngu,
Lâu dài bị lo buồn.
Khổ thay gần người ngu,
Như thường sống kẻ thù.
Vui thay, gần người trí,
Như chung sống bà con".
(Kinh Pháp Cú 15 – Phẩm An Lạc)
Vì sân si, bản ngã, hơn thua nên con người làm nhau mệt mỏi. Quý vị tại gia sẽ thấm thía điều này rất nhiều, nhất là khi những người trong nhà mình không biết tu, suốt ngày cứ tham, sân, si, bản ngã, tranh giành, thị phi nên rất mệt mỏi. Cho nên Thế Tôn nói sống gần người ngu như sống với kẻ thù, còn sống gần người trí như được sống với bà con. Bà con của mình là những vị chuyển tộc, thay đổi dòng họ, không còn Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị C nữa mà tất cả đều trở thành dòng họ Sakya, dòng họ Thích-ca, dòng họ của chánh kiến, của hiền trí. Vì thế khi các vị quy y đều đổi thành Hiền + tên của quý vị nếu là nữ, Trí + tên của quý vị nếu là nam, đó chính là sự chuyển tộc. Người xuất gia được gọi là Thích Tử - con của dòng họ Thích-ca, con của dòng họ Thánh nhân, con của dòng họ Chánh Đẳng Chánh Giác, con của dòng họ Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác, Thế Gian Giải. Còn sống với người đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã rất khổ sở, mệt mỏi.
Các Tỳ-kheo cự cãi nhau nên Thế Tôn bỏ vào rừng sống với những con voi, con khỉ, không cho ai đi theo cả. Có vị Tỳ-kheo nói sống với loài vật khỏe hơn sống với con người vì nó không biết tính toán hơn thua gì cả, chỉ biết ăn và uống thì Thế Tôn xác nhận là đúng.
"Bạch Thế Tôn, cởi mở thay như loài thú vật. Bạch Thế Tôn, con có thể nhiếp phục con voi, một cách khiến con voi ấy mỗi khi đi hay đến Campa, liền trình bày mọi sự gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt. Nhưng bạch Thế Tôn, những người đầy tớ của chúng con, những người phục dịch, những người làm công, thân hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ý hành họ làm một cách khác nữa. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn biết được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh, trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người! Bạch Thế Tôn, cởi mở thay, như loài thú vật!
-- Thật như vậy, này Pessa! Thật như vậy, này Pessa! Này Pessa, rối ren thay, như loài người! Cởi mở thay, như loài thú vật!"
(Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Nhìn mây, nhìn trời, nhìn cây cỏ, các con vật không có tính toán gì nhiều, còn con người đầy rẫy những âm mưu, toan tính, sân hận, hơn thua. Thế Tôn nói Ngài sống một mình trong rừng nên ngay cả đại tiểu tiện cũng thấy thoải mái. Vừa rồi có các bạn trẻ lên núi nên chú Tân bảo không muốn qua bếp vì ồn ào, đó là một vị cư sĩ thấm pháp là không thích ồn ào chứ đừng nói gì người xuất gia. Mình không biết tu, không biết an tịnh, lắng dịu, không biết nhiếp phục thân tâm, cảm thọ là đi đến đâu cũng như cái chợ. Thế Tôn đã đuổi một nhóm 500 vị Tỳ-kheo đến cúng dường vì ồn ào.
"Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta (Xá-lợi-phất) và Moggallana (Mục-kiền-liên) cầm đầu cùng đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, nên các tiếng náo động ồn ào khởi lên. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
-- Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.
-- 'Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallama cầm đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.
'Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỳ-kheo ấy: 'Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả'.
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo ấy như sau:
Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.
Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy đang ngồi một bên:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?
-- Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên
-- Hãy đi đi này các Tỳ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta.
(Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)
Đặc sản đạo tràng của chúng ta là phải an tịnh, lắng dịu, điều này rất quan trọng, đây là điều dễ nhất có thể làm được, mất cái này là mất đạo tràng Nikāya, mất đi cái vỏ bên ngoài chứ chưa nói đến cái hiền thiện, trí tuệ bên trong. Các huynh đệ hoặc tỉ muội ở chung với nhau nhưng có người cứ dao động, lăng xăng, nói chuyện huyên thuyên từ sáng đến chiều thì làm sao mình yên tịnh để ngồi thiền, đọc kinh, chính bản thân người đó cũng không thấy nhục, có khi được chỉ dạy cũng không nghe. Chúng ta phải nhắc nhở nhau "hiền giả ơi hiền giả, hiền giả buông lung nhiều quá rồi", "hiền giả ơi nhận diện cảm thọ đi", nhất là những người mới đến phải nhắc để họ biết, không phải đi đâu cũng đem cái loa phóng thanh theo rồi làm cho động chúng, động niệm, tổn phước. Tất cả những vị mới về đều phải được nhắc nhở về gia phong, nề nếp ở đây là an tịnh, lắng dịu.
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỳ-kheo nào đoạn trừ ba kiết sử, thì tất cả những vị ấy trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc ác thú, quyết định hướng đến chánh giác".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Dù chưa hết tham, sân, si nhưng trọng tâm là phá được kiết sử, thành tựu cái thấy đúng về ngũ uẩn, thấy những đau khổ, tai họa, bất an thì tất cả những vị ấy thành tựu Dự Lưu, tham dự vào dòng chảy trí tuệ của bậc Thánh, không còn thối đọa vào đường ác, không còn bị đọa lạc ác thú, quyết định hướng đến chánh giác. Chỉ cần phá thân kiến vỡ ra thì hoài nghi, giới cấm thủ theo đó cũng diệt tận; mình chính thức được tham dự vào dòng chảy trí tuệ của bậc Thánh nếu mình đủ duyên, nếu mình còn sống.
"Chư Tỳ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được ta khéo giảng... được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỳ-kheo nào là những vị tùy pháp hành, tùy tín hành, thì tất cả những vị này sẽ hướng về chánh giác.
Chư Tỳ-kheo, như vậy pháp được Ta khéo giảng... được loại trừ khỏi các vải quấn cũ. Chư Tỳ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy được hướng về chư Thiên.
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Như thế nào gọi là tùy pháp hành, tùy tín hành? Những ai thực hành theo pháp Đức Phật dạy thì những vị đó nhất định sẽ hướng đến chánh giác, dù thực hành chưa được bao nhiêu nhưng vẫn không từ bỏ thì chắc chắn vị này sẽ hướng đến chánh giác, vì Chánh Pháp có khả năng đưa người hướng về phía trước, dòng chảy của pháp sẽ đưa mình ra biển Chánh giác, biển Chánh tri kiến, biển của sự thật, biển của Thánh trí về khổ. Dòng chảy này sẽ đưa mình ra nếu mình thực hành, cứ thực hành từ từ nó sẽ ngấm rồi đưa mình hướng về chánh giác. Chánh giác là sự thấy biết đúng, chánh xác, cái thấy đúng của bậc Thánh, mình cứ thực tập, dù chết cũng không bỏ, cứ nghe pháp cho nên bây giờ mỗi ngày mình cứ nghe pháp, dành thời gian thiền quán thì đến khi chết chắc chắn tối thiểu chúng ta cũng hướng về chánh giác, hướng Dự Lưu làm đệ tử của Đức Phật. Mỗi ngày chúng ta đều nghe pháp, đều thiền quán, mỗi khóa tu đều có mặt thì từ đây cho đến chết chắc chắn chúng ta sẽ hướng Dự Lưu. Cứ nhớ "vô thường đó, đừng có mê, đừng tưởng khổ là vui", "trống rỗng, vô ngã, cái nùi giẻ đó, đừng có ngông nghênh, vênh váo cái mặt lên, nhục lắm nha", cứ nhắc nhở như vậy là tùy pháp hành, nhất định sẽ hướng về chánh giác.
Như vậy, tùy pháp hành là hiểu được, thấy được rồi thực hành. Còn tùy tín hành nghĩa là tin theo và làm theo, chưa hiểu được nhiều. Người tùy tín hành là vị có lòng tin mạnh mẽ, có khi chưa hiểu được nhiều nhưng có lòng tin, rồi vì lòng tin đó mà làm theo, Đức Phật nói tất cả những vị này sẽ hướng về chánh giác. Tại sao lại vậy? Vì pháp được Ngài khéo giảng, là cho tỏ lộ, làm cho khai thông, chỉ rõ, loại trừ hết những gì bị che kín cho nên những vị đó sẽ được như vậy, vì đây là chánh pháp, là sự thật cho nên chỉ cần tin, chỉ cần làm theo thì chắc chắn sẽ có kết quả.
Chúng ta phải kính mến Ngài, tin tưởng nơi Ngài vì khi kính Ngài, tin Ngài thì chắc chắn mình sẽ làm theo lời dạy của Ngài; làm theo lời dạy của Ngài là nhân thiên pháp, là thiện pháp. Chúng ta có cảm nhận được từ tâm bi mẫn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không? Đây gọi là từ vô lượng tâm của Ngài, không còn bỏ sót cái gì nữa mà Ngài nói cho tận cùng, từ bậc Thánh A-la-hán đến Bất Lai, Nhất Lai, Thất Lai, Dự Lưu, hướng Dự Lưu rồi cuối cùng dù chỉ có lòng tin thương mến Ngài thì những người đó cũng hướng về chư thiên. Từ ái làm sao! Từ bi làm sao là lời nói này của Đức Như Lai, là tình thương này của Đức Thế Tôn, là lòng đại từ, đại bi của bậc Thiện Thệ.
Nói với người xuất gia
Khi chiêm nghiệm về đời sống này chúng ta sẽ thấy hết sức ngao ngán. Có những vị đến chùa xin được đi làm lấy tiền nhưng chưa làm gì đã kêu đưa tiền này cho họ, chưa làm gì đã sân si, thậm chí còn gây ra nhiều chuyện bất ổn, phá phách; sau đó mình nói họ chắc không làm được rồi thì họ bảo không làm thì phải đưa tiền mới về. Đó là người Phật tử, đi đến chùa mà còn vậy. Cho nên Minh Thành vô cùng ngao ngán trước những tâm sân si, bản ngã, tâm ác dục, vừa dục vừa ác; thật sự sợ với những tâm thức gai góc, dao kéo. Nhờ quán chiếu cho sâu sắc thì ta mới có tâm thoát ra một cách mạnh mẽ và quyết liệt. Bằng không, chỉ thấy khía cạnh vị ngọt mà không quán về nguy hiểm và tác hại của đời sống này thì khó có tâm từ bỏ để tu tập. Phải quán sự nguy hại cho sung mãn, nhìn sâu vào trong đó để chiêm nghiệm thật nhiều. Có những vị tuy tu học, lễ lạy như vậy nhưng Minh Thành vẫn thấy lo sợ cho họ vì tâm những vị này chưa được thuần thiện, mầm mống của những ác, bất thiện vẫn còn nhiều. Vì thế Minh Thành không muốn đi chia sẻ nhiều nữa, lâu lâu chia sẻ bằng cả tấm lòng nhưng ở dưới lại trừng trợn, con thấy những ánh mắt mà con không dám nhìn. Qua đó mình mới thấy vì sao tượng pháp chuẩn bị qua thời kì cuối là mạt pháp.
Ở bên Thái Lan vào thời kì sư phụ của Ngài Ajahn Chah có hai trường phái tu tập, một phái ở ngoài thành phố để làm các việc Phật sự, công ích xã hội, lo lắng giáo hội; còn một phái là vào rừng sâu để tu. Minh Thành thấy bây giờ phát triển theo như vậy cũng là hợp thời, chính vì vậy trong 4 năm con đã đi tìm chỗ trong rừng để tu vì đây không phải là pháp phổ biến, đại trà, phải là người thật tâm cầu giải thoát khổ đau mới có thể cảm thọ được, thấm đẫm được. Khi bước lên mảnh đất được chọn để xây dựng thiền thất đầu tiên thì con không để ý nhưng chú Kha chỉ cho con trên bầu trời là hình dáng phụng hoàng lửa của đám mây. Hôm nay là ngày chuẩn bị dựng thiền thất đầu tiên của làng tu, vị trí nằm ở tận cùng trong sát bìa rừng.
Thật sự người tu chúng ta phải hướng đến chỗ rời xa thế tục, đó là xuất gia, xuất ly, xuất sĩ, xuất trần. Phải chiêm nghiệm thật kĩ những chữ này: xuất gia, xuất sĩ, xuất ly, xuất trần để mình nhớ rằng xuất gia là phải đi ra khỏi căn nhà thế tục, xuất sĩ là một con người thoát ra, xuất ly là xa lìa, xuất trần là ra khỏi phàm tục. Chúng ta đã đi xuất gia rồi thì đừng trở lại những tâm niệm thế tục, đừng quay trở lại những cái vui của ăn, của chơi, của đi du lịch, của lễ hội hè tết. Chúng ta đừng quay trở lại những cái mà mình đã từ bỏ, những cái mà mình đã khạc nhổ, đừng liếm trở lại những đàm vãi mình đã khạc ra; phải tìm được sự hỷ lạc tối thượng trong Thánh pháp, không phải đi tìm cái vui liên hệ đến vật chất tầm thường, thấp hèn của phàm phu. Chúng ta phải hướng đến sự thoát ra một cách mạnh mẽ vì không còn kịp nữa, nhà đã cháy rồi, địa cầu đang bốc lửa, trái tim chúng ta đang bốc lửa, cảm thọ chúng ta đang bốc lửa, mắt, mũi, miệng, lỗ tai và cái thân này đang bốc lửa dục, lửa tham, lửa sân, những ngọn lửa của ưa thích hiện hữu, tham đắm hiện hữu, nó đang bốc cháy.
Những mầm mống, triệu chứng bất thường của dịch bệnh báo hiệu có thể xảy ra đại dịch khủng khiếp hơn lúc trước. Mỗi người chúng ta ngoài giờ tu hãy chọn cho mình một gốc cây, một tảng đá, một khóm trúc để thiền tư, mở những bài pháp lên nghe rồi thiền tư, thiền định và tư duy những lời Đức Phật dạy, hướng tâm mình đến sự xuất ly. Đừng để cho tâm này yếu kém, đừng thân xuất gia mà tâm tại gia, người ta thì thân tại gia nhưng tâm họ lại xuất gia, trong khi mình thân xuất gia nhưng tâm lại tại gia thì nhục nhã, xấu hổ vô cùng. Đời tu mà không lo tăng thượng, hướng thượng, không tiến tới đức hạnh cao thượng, trí tuệ cao thượng, thiền định cao thượng, giải thoát cao thượng, không có ý chí nỗ lực chiến đấu, không chịu tác chiến, không có chiến lược, không có hành động, chỉ sống qua ngày thì làm sao đến được chỗ cần phải đến.
Bây giờ đi đến đâu cũng thấy tham, sân, si đầy rẫy, những ác và bất thiện pháp cũng đầy rẫy, những dục vọng, những ác tham, những hơn thua, những mưu tính, mưu toan cũng đầy rẫy từ bên trong đến bên ngoài. Không phải chỉ ngoài đời mà ngay cả người tu thân xuất gia nhưng tâm không xuất gia. Thật sự là đau lòng! Thật sự xót xa! Chúng ta phải thực tập tâm bi này thật thâm sâu để xót xa cho chính mình, cho hữu tình chúng sanh, phải thực tập tâm bi này một cách sâu sắc làm tâm xót xa, nhức nhối cho chính mình. Trước nay chúng ta nói tâm từ, tâm hỷ, tâm xả nhiều nhưng tâm bi ít nói. Do chúng ta không dùng từ chứ thật ra con thường xuyên nhắc nhở thương xót chính mình, ray rứt, ưu tư cho chính mình, đó chính là tâm bi. Luôn khắc khoải, buồn đau, bất an vì sự tu học không thăng tiến, không lớn mạnh của mình, đó là tâm bi. Phải phát triển tâm này lên để hướng thượng đến chỗ lìa xa, rời ra một cách mạnh mẽ.
Thật sự không thể biết được ngày mai chúng ta còn được ngồi đây học như thế này nữa không, đâu thể biết chiều tối nay chúng ta có ngồi thiền chung với nhau được nữa không. Hơn nữa, ngay khi chúng ta ngồi chung với nhau nhưng không thể biết có thật sự chung một tâm hay không. Nhìn bên ngoài thấy ngồi chung một hàng, ngồi chung một thiền đường nhưng có thật sự tâm đồng nhất không, có thật sự là tâm xuất gia và thân xuất gia không?! Chúng ta phải đặt ra những câu hỏi như vậy và viết ra trong nhật kí tu học, trong cảm nhận tu học để nhắc nhở tự thân. Hãy tô thật đậm, vẽ thật đậm, phát họa thật rõ ràng những nghĩ tưởng về viễn ly, về xả ly, về xuất ly, về xuất trần, xuất thế, cứu cánh Phạm hạnh xuất gia trong đời tu này. Phải trăn trở, suy tư, thao thức, tác ý, hành động, làm mới mình, thay đổi mình.
Khi được vào thất là chúng ta có cơ hội được ở một mình, có cơ hội nhìn lại thân tâm sâu sắc, đầy đủ, có cơ hội để phát giác, phát hiện những cấu nhiễm thô tế, có cơ hội hiểu được mình kĩ lưỡng hơn. Đây cũng là cơ hội chúng ta tận lực, dốc toàn lực, tâm lực, hạnh lực, nguyện lực, sức lực, trí lực, thần lực, pháp lực, đạo lực, định lực, niệm lực, tuệ lực để chiến đấu. Vì vậy, khi vào thất phải tu sống tu chết chứ không phải vào để nghỉ dưỡng. Nhờ nhớ nghĩ như vậy nên thời gian đó mình sẽ bước qua những cấp độ mới.
Hãy nhớ thật kĩ khi vào thất là cơ hội để mình chuyển mình, chuyển thân, chuyển tâm, chuyển tộc, chuyển tuệ. Sau khi dùng hết tất cả trí lực, sức lực, thần lực, hạnh lực, nguyện lực, pháp lực, tuệ lực thì sau mỗi lần nhập thất mình sẽ bước lên một bước mới, còn nếu tu với tâm hờ hững, tâm buông trôi thì nhập thất cũng không được lợi ích bao nhiêu. Nhớ kĩ điều này để mình sử dụng quỹ thời gian quý báu nhất của cuộc đời mình cho sự tu học, sau khi ra thất cũng phải duy trì, hành trì, tiếp tục phát triển những thiện pháp đó, nếu không sẽ mất. Thế nên phải duy trì những thiện pháp mình đã có trong thời gian độc cư, an trú trong đó và theo đà đó để tiếp tục phát triển, giữ vị trí. Khi ra ngoài mình cố gắng giữ vững chỗ đứng như trong khi thất để có cơ hội mình bước lên những bước tiếp theo.
Chúc quý vị có một ngày tinh tấn trong Thánh pháp.
./.