Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm sao trở thành người xuất gia đúng nghĩa

2026-03-03 00:56:02
LÀM SAO TRỞ THÀNH

NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Xuất gia chân chính: PAGEREF _Toc112940897 \h 1

II. Mục đích tu hành: PAGEREF _Toc112940898 \h 5

III. Cư trú tham – sân – si: PAGEREF _Toc112940899 \h 7

IV. Tác ý: PAGEREF _Toc112940900 \h 14

V. Tàm quý: PAGEREF _Toc112940901 \h 18

VI. Thanh tịnh: PAGEREF _Toc112940902 \h 22

VII. Hộ trì căn: PAGEREF _Toc112940903 \h 26

VII. Tiết độ trong ăn uống: PAGEREF _Toc112940904 \h 31

VIII. Tứ oai nghi: PAGEREF _Toc112940905 \h 34

I. Xuất gia chân chính:

Trên tay quý vị là quyển “Trích Quảng Thượng Nhân Pháp Ngữ”. Là một quyển sách nhỏ Minh Thành gửi tặng đến tất cả các hành giả an cư ở đây. Mỗi lần Minh Thành đến thăm hòa thượng Tôn sư, thì Minh Thành đều được những lời chỉ dạy của hòa thượng rất là tâm huyết, sâu sắc, chia sẻ những kinh nghiệm tu, học và hành đạo trong cuộc đời của hòa thượng. Những lời dạy đó Minh Thành ghi chép lại thành quyển sách nhỏ này. Hòa thượng là một bậc Tôn sư của chúng ta, đã dày công tạo dựng những đạo tràng rất to lớn, cũng như là học viện Phật giáo Việt Nam. Làm được những việc khó làm, nhẫn được những điều khó nhẫn và thành tựu được những điều khó thành. Đây là một tấm gương lớn mà riêng bản thân Minh Thành cũng như tất cả anh em huynh đệ, người xuất gia, chúng ta cố gắng noi theo và học hỏi.

Hôm nay, được sự chỉ dạy của hòa thượng Tôn sư, Minh Thành xin chia sẻ cùng tất cả các huynh đệ về những pháp tác thành Sa-môn, mình có thể nói đơn giản là định nghĩa về người tu. Đây là một bài kinh rất quan trọng trong Trung Bộ Kinh bài kinh số 39 trang 593 là “Đại Kinh  Xóm Ngựa”, bài kinh này sẽ nói cho chúng ta những pháp để làm nên một tu sĩ, điều kiện nào để tác thành một vị Sa-môn, những yếu tố nào để cho chúng ta trở thành một người xuất gia chơn chánh. Chúng ta phải nắm thật vững những yếu tố này, để mình tự thực tập và nếu mình có duyên chia sẻ lại với những huynh đệ sau này.

Trước khi mình vào bài kinh, Minh Thành muốn pháp đàm chia sẻ với mấy huynh đệ. Theo mấy huynh đệ nghĩ, người xuất gia của mình phải cần những yếu tố nào để trở thành một người xuất gia chân chính?

Huynh đệ cứ việc phát biểu thoải mái, thân thiện, trong sự trao đổi, để mình tu học. Theo mấy huynh đệ nghĩ, cái chỗ mà huynh đệ được học, được biết từ khi xuất gia tới bây giờ, thì mình muốn trở thành một người xuất gia hoàn hảo thì mình phải cần bao nhiêu điều kiện? Đây là vấn đề rất quan trọng, nếu mà mình không nắm vững cái này, thì sự xuất gia của mình sẽ không thành tựu viên mãn.

( Huynh đệ cứ giơ tay phát biểu, không sao, mình cứ phát biểu một cách thân thiện, thoải mái trong tinh thần tu học. Mời mấy huynh đệ.)

“- Hay là để nghe xong rồi sau đó phát biểu sau. Chắc là nghe trước đi, rồi phần sau mình sẽ có chương trình pháp đàm, hỏi đáp, soi xét, nhất trí không?

- Nhất trí”

Trong sự tu tập bản thân Minh Thành qua mấy mươi năm, mình thấy rằng các huynh để chúng ta hãy để tâm vào năm bộ kinh Nikāya, rất là quan trọng. Hôm nay các huynh đệ nghe bài kinh này, các huynh đệ sẽ vô cùng xúc động trước lời của Đức Phật. Khi Đức Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga, ở trong một xã Assapura tức là xóm Ngựa nên gọi là “Kinh Xóm Ngựa”.

“Thế Tôn gọi các thầy Tỳ-kheo, và Thế Tôn nói như vầy:

Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỳ-kheo, dân chúng biết các Ông là như vậy. Nếu các ông được hỏi: “Các Ông là ai?” Thì các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỳ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy. Thì này các Tỳ-kheo, các Ông phải tu tập như sau: Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn. Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được  kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không phải trở thành vô dụng, mà xuất gia có kết quả, có thành tích”.

Chúng ta nghe lời Đức Phật, mình thấy rất cảm động. Các thầy Tỳ-kheo người dân sẽ gọi các thầy là người tu, người xuất gia, bậc Sa-môn. Như vậy thì, các thầy làm sao phải thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn. Nếu có như vậy thì cái danh xưng đó mới chân chánh, cái sự tự nhận là Sa-môn, là tu sĩ, là Tỳ-kheo, là xuất gia, mới đúng như thật. Những đồ mà chúng ta thọ nhận cúng dường như y phục, giường chổng, thuốc men, đồ ăn, thuốc uống, phòng xá... Mình nhận cái đồ đó là người cúng dường sẽ có lợi ích, mình cũng được lợi ích. Chứ mình không thể xuất gia trở thành vô dụng, không có kết quả, không có thành tích gì hết. Như vậy thì “ Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn?”. 

(Có một sư huynh muốn phát biểu gì đó, xin mời huynh.)

Huynh đệ 1:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên thượng tọa giảng sư, sau khi được thượng tọa giảng sư gợi ý cho chúng con qua đoạn kinh trong “Đại Kinh Xóm Ngựa”, thì câu hỏi trước của thượng tọa giảng sư con hiểu ra được một chút, con xin được trả lời qua sự gợi ý của thượng toạ. Khi một người xuất gia, tu học thì phải theo lời Đức Phật dạy, đó là làm sao cho chúng ta xứng với danh xưng là Sa-môn, để cho khi những người cúng dường cho mình từ thức ăn, sàng toạ, đến mọi thứ, để họ được lợi ích. Vì nếu như chúng ta không hướng đến hạnh Sa-môn thì những vật dụng của người ta cúng dường sẽ không được lợi ích nhiều. Cho nên Đức Thế Tôn muốn khẳng định lại và để cho chúng ta có sự chắc chắn, kiên định trên bước đường tu tập đó là phải hướng về cái hạnh Sa-môn quả và muốn hướng về hạnh Sa-môn quả thì phải thành tựu thứ nhất là: Người xuất gia phải thành tựu được tàm và quý là điều quan trọng. Và cái thứ hai là một khi đã hướng về hạnh Sa-môn quả thì phải hướng về nội tâm, thân, khẩu, ý phải thanh tịnh, luôn hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, và luôn tinh tấn, nỗ lực nhận định, đoạn trừ các tham dục. Đấy là mục tiêu và mục đích để hướng về hạnh Sa-môn quả. Và khi chúng con là những người mới tu, thì chúng con cũng sẽ cố gắng từng bước để hoàn chỉnh. Còn về hạnh Sa-môn quả mà Đức Thế Tôn muốn đệ tử noi theo và hướng đến thì từ từ, qua quá trình tu tập sẽ trải nghiệm để có hướng tới. Qua gợi ý của thượng tọa thì con chỉ hiểu được từng ấy, cúi mong thượng toạ chia sẻ thêm lời để chúng cho con hiểu thêm. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

( Cho một tràng pháo tay thật lớn. Sư huynh này rất giỏi, không biết có mở bài kinh ra xem không, chứ nếu mà thuộc là giỏi lắm, tự nhớ bài luôn phải không? Vậy là giỏi lắm, bây giờ thực tập nữa, giỏi được cái phần văn)

Những cách tác thành Sa-môn, Đức Phật dạy trong này rất là kỹ. Nhưng mà trước khi nói điều này thì Minh Thành chia sẻ một chút pháp hành để các huynh đệ thấy, để mà mình mở cánh cửa để mình đi vào những pháp tác thành Sa-môn.

Một câu hỏi được đặt ra, mời mấy huynh đệ trả lời, bây giờ có hứng thú rồi đó, nãy giờ máy nó bắt đầu hoạt động rồi, phải không? Minh Thành hỏi các huynh đệ, mục đích của người xuất gia là gì? Mục đích của sự tu tập là gì? Những cái mà mình ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, quán chiếu này, nọ, kia để làm gì?

II. Mục đích tu hành:

Xin thưa với các huynh đệ là đến giờ chia sẻ thì Minh Thành sẽ không cho các huynh đệ ngồi yên nghe đâu. Minh Thành bắt mọi người cùng làm việc với nhau. Minh Thành hỏi lại: Bây giờ các huynh đệ ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, rồi quán chiếu này, nọ, kia mục đích để làm gì? ( Không giơ tay, cứ đứng lên nói, cứ việc nói không có gì ngại hết, cứ nói).

Huynh đệ 2:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 

Kính bạch thượng tọa, kính thưa thiền đường đại chúng, như lời thượng dạy và tọa hỏi, mục đích tu tập là gì? Theo con, trong đạo Phật lấy từ bi làm chính. Người học Phật có từ bi thì mới trang trải tâm từ cho mọi người, mà từ bi ở đây thể hiện đó là lòng thương người, từ độ, độ tha, trì chú, niệm Phật, ngồi thiền là để trưởng dưỡng tâm từ bi của chúng ta. Làm sao mà tâm từ bi của Đức Phật dung hòa vào tâm từ bi của chúng ta, song ướp tâm từ bi của người học Phật để từ đó chúng ta lợi lạc, tha nhân, giúp mọi người thoát ly sanh tử, luân hồi trong hiện tại và mãi mãi về sau. 

Nam Mô a Di Đà Phật”

(Mời quý huynh để tiếp theo)

Huynh đệ 3:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính bạch thượng tọa, con nghĩ rằng cái việc mình tu tập như tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật là để mình có thể phát sanh được trí tuệ. Và từ trí tuệ này mình mới đạt được cứu cánh của người tu, là được cái sự an lạc và giải thoát. 

Nam Mô a Di Đà Phật”.

( Mời quý huynh đệ tiếp theo)

Huynh đệ 4:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên thượng tọa. Mục đích tu tập của người học Phật là để giúp cho nội tâm được thanh tịnh và đoạn trừ được tham, sân, si. Mà muốn đoạn trừ tham, sân, si, thì như thầy Nhất Bảo vừa phát biểu, đó là để trí tuệ phát sanh. Nhưng mục đích ban đầu là thanh lọc nội tâm, làm cho nội tâm thanh tịnh. Đây là cái hiểu của con”.

Mục đích của sự tu tập làm đoạn tận tham, đoạn tận sân và đoạn tận si, trong năm bộ kinh Nikāya điều nói như vậy hết. Các huynh đệ nhớ, là mình phải y cứ theo trong kinh chứ không phải theo cách suy nghĩ của mình, nhớ kỹ nha.

III. Cư trú tham – sân – si:

Rồi, đó là giải quyết được câu hỏi thứ nhất, bây giờ tới câu hỏi thứ hai. “Tham, sân, si cư trú ở đâu?”

Bây giờ mình nói mình đi giết giặc, diệt giặc, dẹp giặc, mà mình không biết giặt ở đâu thì làm sao mà mình giết giặc. Huynh đệ phát biểu đi, câu hỏi này rất quan trọng. “Tham, sân, si, cư trú ở đâu?” Những câu hỏi, những vấn đề hôm nay Minh Thành chia sẻ, xin thưa đều là những vấn đề rất là trọng yếu trong sự tu tập. Nếu quý huynh đệ nắm vững thì quý huynh đệ sẽ có cánh cửa đi vào pháp hành để thực tập.

Huynh đệ 5:

“Dạ kính bạch sư phụ thượng tọa, theo con nghĩ thì tham, sân, si cư trú nơi tam nghiệp của mình (thân, khẩu, ý). Khi bình thường tâm của mình lắng đọng, thì mình sẽ không có thể nhìn thấy được, mà khi nó động thì mình sẽ thấy rõ được tham, sân, si. Những hành động, suy nghĩ và những cử chỉ của bản thân, mình sẽ nhận biết được và thấy rõ được. Mô Phật. Con xin phép”

(Một vị nói tham sân si cư trú ở thân, miệng, ý. Mời một huynh đệ khác.)

Huynh đệ 6:

“Mô phật, con kính bạch trên thượng tọa, con nghĩ rằng tham, sân, si cư trú trong bản ngã ạ”

Huynh đệ 7:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch giáo thọ sư, con nghĩ tham sân si ở mọi lúc mọi nơi, giống như khi chúng ta thiếu Chánh niệm tỉnh giác. Tham, sân, si do nơi chúng ta chấp thủ năm uẩn và cái thân tứ đại của mình. Do mình chấp thuộc vào nó, cho nên phải có sự khởi của tham sân si, sự hiện hữu tham, sân, si”.

(Mời quý huynh đệ khác. Nếu mình không biết chỗ trú của tham, sân, si thì mình không thể diệt tận được tham sân si, mình không thể nhổ tận gốc nó được.)

Huynh đệ 8:

“ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính Bạch thượng thọ giảng sư và cùng thiền đường đại chúng. Theo con nghĩ, tham, sân, si nó không có nơi cư trú, nhưng nó sẽ có sự hiện hữu tại sáu căn đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý”.

Các huynh đệ cùng nhau hợp tác để làm việc nha. Ở trên lớp học của mình là vận hành, vận dụng, tư duy, quan sát, quán chiếu. Chỗ này là chỗ rất rất là quan trọng. Nếu mà quý huynh đệ không nhìn ra chỗ căn cứ địa của phiền não, thì mình không thể nhiếp phục được phiền não, càng không thể đoạn tận được phiền não. Nãy giờ là mình nói chung chung, cũng có ý chứ không phải là không có, mà còn chung chung.

Bây giờ Minh Thành hỏi quý huynh đệ, khi mình nổi giận lên, thì lúc đó như thế nào? Huynh đệ có nhìn lại cái cảm giác của mình không? Lúc mình nổi lên một cơn giận thì nó như thế nào? Đầu tiên, là nó nóng từ chỗ ở giữa lồng ngực nó nóng ra, bắt đầu hực cái hơi nó lên trên, nó làm đỏ hai gò má, đỏ cái lỗ tai, hai con mắt bắt đầu đỏ lên nữa, rồi cái miệng bắt đầu giật giật, thấy rõ chưa? Bắt đầu nó sẽ phát ra lời nói và hành động.

Đức Phật dạy mình, người xuất gia phải luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác. Nhìn lại tâm của mình, nhìn lại sự vận hành bên trong của các pháp, đó là Tứ Niệm Xứ. Trọng tâm quan trọng trong sự thực tập là cảm giác toàn thân, luôn luôn nhìn lại trong cảm giác của mình, tại vì tham, sân và si nó cư trú bên trong cảm giác. Cảm giác là cái chỗ mà mình thấy rõ nhất, nếu mà mình thường nhìn lại.

Quý huynh đệ thấy đối tượng nào đó mà mình khởi lên tâm tham muốn, thì cảm giác lúc đó có còn bình thường nữa không? nó biến động, biến đổi liền. Thậm chí nó rung rung. Và cái si là sao? nó cũng ngay vô cái cảm giác thôi, bắt đầu nó trì trệ, thân tâm trì trệ, vai nó thụm xuống, đầu nó nghiêng nghiêng xuống, con mắt nó sụp sụp xuống, cảm giác của hôn trầm, của si mê là ngay trong cảm giác đó đó, nó trì trệ xuống, nó trì xuống, nó kéo xuống. Cho nên, sự tu tập của chúng ta là phải luôn luôn nhìn lại cảm giác. Đây là sự tu tập rất quan trọng trong mọi sự tu tập. Nếu mình không nhìn lại cảm giác thì mình sẽ không phát hiện ra, sân nó khởi lên như thế nào, nó an trú như thế nào và nó chấm dứt như thế. Tham nó khởi lên ra làm sao, nó vận hành như thế nào và nó chấm dứt như thế nào. Si nó sân khởi như thế nào, nó an trú như thế nào và nó đoạn diệt như thế nào, mình sẽ không thấy. Mà mình cứ nghĩ rằng, tham, sân, si là tại người kia, tại câu nói kia, tại chuyện nọ, mà mình không biết rằng, tham, sân, si là nó phát khởi từ bên trong cảm giác.

Khi mình thường thường nhìn lại cảm giác thì khi nó thay đổi, biến động, mình thấy được liền, mà mình có cách để nhiếp phục nó. Bởi vì thời gian chúng ta rất ngắn, chỉ có một buổi thôi, nên mình thành chỉ giới thiệu tổng quát thôi, chứ cái này nó có trong kinh Đức Phật dạy, có hết. Quý huynh đệ về lên trang linhquyphapan.vn, trên đó sẽ có bài về “Năm triền cái” mà chút nữa chúng ta cũng sẽ có học khái quát, Đức Phật nói rất là rõ, tại sao mà tham, sân, si nó sanh khởi? tại sao nó lớn mạnh? rồi dùng phương pháp nào để mà chấm dứt nó? có hết. Nguyên nhân nó sanh khởi, nguyên nhân nó phát triển rộng lớn và làm sao để dừng nó, để dứt nó?, là có phương pháp rõ ràng, đầy đủ hết.

Bây giờ, mấy huynh đệ thấy chỗ cư trú của tham, sân, si chưa? ở trong cảm giác. Cảm giác của mình có ba loại cảm giác: Cảm giác khó chịu gọi là khổ thọ, cảm giác dễ chịu gọi là lạc thọ, cảm giác không khó chịu, không dễ chịu gọi là xả thọ hoặc bất lạc, bất khổ thọ. Thí dụ như mình được mời đi ăn chư tăng, hay là ăn ở nhà hàng chẳng hạn. Lúc đó lên mười lăm món ăn, đủ thứ hết, lúc đó mình gắp từng món thì mình cảm thấy cảm giác nó ra sao? Cảm giác là dễ chịu, khoan khoái, thích thú, ngon. Thì trong cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú, ngon đó thì tham dục, tham ái và tham ăn ở trong đó. Huynh đệ thấy sâu sắc không?

Nếu mà mình không Chánh niệm và tỉnh giác thì mình sẽ không nhìn ra, mình tưởng đâu tham là cái gì đó lớn lao như lấy đồ của người ta, không phải. Nó rất là vi tế, nhỏ nhiệm, nó có mọi lúc, mọi nơi trong sinh hoạt của mình. Mà mình thấy được nó thì mình đã thành tựu trí huệ sâu sắc, mình thấy được cái tham dục, tham ái nó cư trú trong cảm giác đó, là mình đã thành tựu được trí huệ. Sau khi mình thấy nó rồi, mình sẽ có phương pháp ngăn chặn, nhiếp phục và đoạn diệt nó. Còn lúc mình ăn ngon, mình nói chuyện vui vẻ này, nọ, kia, có khi mình không biết rằng, tham nó đang có mặt trong nội tâm của mình, tham đang sanh khởi, đang tồn tại, đang vận hành trong nội tâm mà mình không biết.

Rồi bây giờ mình nghe câu nói của huynh đệ, mà câu nói đó “xóc hông” mình, lúc đó mình có cảm giác gì? Mình thấy khó chịu, đồng nghĩa với khổ thọ. Thì trong cảm giác đó có gì trong đó? có sân đang cư trú trong đó, mà lúc đó mình không nhận diện được trong cảm giác của mình hiện tại nó có một sự sân hận. Nếu như nó nhỏ thì mình để cho nó qua, nếu như nó vừa vừa thì mình bực, mình nói lại vài câu, còn nếu nó lớn, thì nó sanh chuyện. Và từ những cái nhỏ nhỏ đó, mình không thấy, không biết, mình để cho nó qua mặt mình, rồi những cái nhỏ nhặt đó nó tích tụ lâu ngày, tới lúc nó vỡ đập, vỡ đê, lũ nó tràn ra, sạt xuống, là đại họa. Tại vì nó đã tích tụ từng cái nhỏ nhỏ, nhiệm nhiệm, nó đã qua mặt mình mà mình không phát hiện ra. Ví dụ có một cô đi làm cho bà chủ, cứ mỗi ngày cô đó ăn trộm mười, hai chục, năm chục đô, cứ mỗi ngày cổ đều làm như vậy. Rồi tới năm năm, bà chủ đó phát hiện ra, tính ra một ngày năm ba chục đô như vậy cộng lại trong năm năm, thì nó ra rất nhiều tiền. Cô này đưa lại cho bà chủ một lúc mấy chục ngàn đô, mà người ta còn chưa bỏ qua. Tính cộng ra khi bị phát hiện ra, bà chủ bị cô giúp việc đã qua mặt nhường ấy năm rồi.

Thì trong nội tâm mình cũng vậy, mình để cho tham, sân, si nó qua mặt mình hết, mình không thấy, không biết, mình không nhiếp phục được. Mà như thế, khi nó tích tụ lần lần, tới lúc nó bung lớn ra, thậm chí ra đời đến lúc tóc mọc dài, có hai được ba đứa trẻ đi qua, đi lại nói “ chào sư ông đi con” mới phát hiện ra, mà lúc đó đã muộn rồi. Trong khi sự tu tập này, là sự tu tập mình nhìn ra từng cái nhỏ nhiệm, từ cái máy động ở trong nội tâm của mình. Mình nhìn ở trong cảm giác, mình sẽ thấy rất rõ, thưa các huynh đệ, nó vừa manh nha thôi, là mình thấy rồi. Tại vì cảm giác của mình nó thay đổi là mình thấy được liền. Thấy được là mình tránh duyên, mình nhiếp phục, mình có phương pháp chuyển hóa.

Cho nên, tham, dục được trị bằng Quán bất tịnh, ba mươi hai thể trượt và chín giai đoạn của một tử thi, đó là phương pháp nhiếp phục tham dục. Ngoài phương pháp này ra, thì không có phương pháp nào khác để nhiếp phục tận cùng, triệt để nó hết. Đây là pháp của bậc Chánh Đẳng Giác, không có ai vượt qua được bậc Chánh Đẳng Giác hết. Và bây giờ, người xuất gia của mình, có mấy người mà Quán bất tịnh, mấy người mà thuộc Ba mươi hai thể trược ( tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận, hoành, cách, mô, nước mắt, máu, mủ, nước miếng, nước tiểu, mỡ, đàm, phân, niêm dịch…), mình phải thuộc hết ba mươi hai thể trược đó. Và mình quán chiếu được chính giai đoạn của một xác chết “khi mình nằm xuống chết thì nó phình lên như thế nào? nó nứt nẻ ra, nước vàng, máu, mủ, giòi chảy ra từ hai lỗ mắt, giòi nó ăn hết trong bộ đồ lòng, rồi nó tràn ra, giòi từ đầu đến chân”. Quán chiếu như vậy “ ăn riết rồi còn một chút thịt, mỡ dính trong đó. Rồi từ từ nó ăn hết, còn bộ xương, còn cái đầu lâu, rồi đây là xương sườn, đây là xương chân, xương mông, xương sọ, rải rác mỗi chỗ một thứ, từ từ năm tháng nó bào mòn, rồi nó nát ra, trở thành cát bụi hết”, mỗi ngày quán chiếu như vậy đó, thì diệt tận tham dục luôn. Huynh đệ cứ thực tập, thì quý huynh đệ thấy, lúc nào bị dục, tham nó chi phối, thì mình ngồi trở lại.

Minh Thành giới thiệu cho mấy huynh đệ mấy đoạn clip tối nay về coi liền nha. Thứ nhất là clip “Xác thân tứ đại” số 1, số 2. Nhớ ghi lại, mấy đoạn clip này coi phải cẩn thận. Một đoạn clip nữa là “ Quán bất tịnh cùng lời dạy Tứ Niệm Xứ của Đức Phật”. Ba đoạn clip đó, quý huynh đệ về coi ba trăm lần, mình coi rồi mình quán “đó là thân của mình”, thì cái đó nó trị được bệnh tham dục, tham ái. Mà tâm mình bị chi phối bởi những cái đó. Mình đừng có đợi khi bị chi phối mình mới quán, nhớ là mỗi ngày mình phải quán, rồi tới lúc đó mình mới dùng được. Chứ bây giờ, tới lúc mình thấy quá tịnh rồi, mình muốn quải đải đi theo rồi, mình mới mở Quán bất tịnh ra, thì lúc đó muộn, không còn kịp nữa, nước đã tới chân, đã tới cổ rồi. Cho nên nhiều người nói “tại sao con Quán bất tịnh mà con thấy tịnh không vậy?”. Tại vì bình thường mình không có quán, rồi tới lúc mình vô mê hồn trận, bát quái trận rồi, mình không đi vô Bát Chánh Đạo. Huynh đệ thấy không, thì lúc đó làm sao còn kịp nữa. Đợi đến lúc sân, rồi mới quán từ bi, làm sao quán nổi.

Cho nên từ tâm giải thoát là phương pháp trị tận gốc của sân hận, có phương pháp hết. Còn si là dùng phương pháp tinh tấn, dõng mãnh, tinh cần, tinh tấn giới, dõng mãnh giới, làm cho tâm mình khởi phát lên sự mạnh mẽ, nỗ lực, tinh tấn. Quán chiếu tới cái khổ trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Quán chiếu những cái khổ của những người bệnh nằm liệt giường, liệt chiếu, những người ăn xin, những người tật nguyền, những cảnh khổ đó, thì tự nhiên sự buồn ngủ, giải dượi, làm biếng, nó tan liền. Mình dùng “Như lý tác ý”, nghĩa là tự nói với mình, tự chửi mình, tự mắng mình, mắng cái tâm làm biếng đó, chửi cái tâm tham ái, tham dục đó. Giống như lấy cây roi mà quất vô con trâu, quất mạnh vô, thì đó gọi là Như lý tác ý.

IV. Tác ý:

Phương pháp Như lý tác ý này là nó xuyên suốt Thánh phàm, từ khi bắt đầu tu tập, cho tới thành tựu Thánh Đạo, Thánh quả, là Như lý tác ý này nó quyết định quan trọng. Tức là, mình dùng những lời nói thật là mạnh, để mình khiển trách cái tự tâm của mình. Nói thí dụ, có một thầy Tỳ-kheo thời Đức Phật. Thầy này đi ra ngoài bãi tha ma, thi lâm (cái rừng để thây chết), đi ra nghĩa trang, nghĩa địa để Quán bất tịnh. Khi ra như vậy, thầy nhìn thấy một xác chết của một cô gái mới vừa chết không lâu. Lúc đó tâm khởi lên tâm dục, thì thầy mới thấy được tâm mình khởi lên dục tâm như vậy, thì cảm thấy xấu hổ (đây là phương pháp thứ nhất mà chúng ta sẽ học, là tàm quý đây) ở đây thì thầy này thấy quá xấu hổ, quá nhục nhã, quá tàm quý. Thầy quán “mình ra để mình Quán bất tịnh mà, cái xác chết vậy, mà mình khởi ái dục, dâm dục lên”, thầy này mới phát khởi tâm tàm quý, xấu hổ cực độ. Rồi thầy khởi trí quán thật là mạnh lên, đốt hết tất cả dục tham, phiền não, chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ. Cho nên, phương pháp tác thành Sa-môn chuẩn bị học đầu tiên là phát tàm quý này, rất là hay. Từ nào giờ mình để cho qua, ít mà có đào sâu, nhưng hôm nay chúng ta học, thì quý huynh đệ sẽ thấy hay lắm, cái pháp hổ thẹn này rất hay.

Ví dụ thứ hai, có một thầy Tỳ-kheo khác ( quý huynh đệ biết ở Ấn Độ nó nóng đến mức độ nào, nóng mà nổi tiếng thế giới). Thầy này đang ngồi thiền trưa, nóng quá muốn xả thiền đi ra, thì thầy này dùng Như lý tác ý, khởi lên một sự suy tư “ cái nóng này, nó đâu bằng một chút xíu nào của cái nóng ở địa ngục, trong lò lửa, chảo dầu sôi, ôm cột đồng cháy đỏ, thì cái nóng này đâu có là gì. Bây giờ mình không tinh tấn, nỗ lực, cái nóng này mình không chịu nổi, thì cái nóng địa ngục làm sao mình chịu đựng được?”. Lúc đó, thầy này mới phát khởi một tuệ quán mạnh mẽ, quán chiếu, lúc đó dùng cái lửa trí huệ đốt cháy hết tất cả phiền não, chứng quả A-La-Hán ngay tại chỗ. Huynh đệ thấy Như lý tác ý nó khiếp không?. Mình mà nghĩ theo chiều kia là nó đi theo cái chiều phàm, đi theo cái chiều giải đãi, lười biếng. Còn quay lại cái chiều này là chiều tinh tấn, tinh cần, dõng mãnh, chứng quả A-La-Hán ngay tại chỗ.

Ví dụ tiếp theo, có một thầy Tỳ-kheo nữa, vào trời lạnh mùa đông, ông ngồi thiền, ông thấy “sao lạnh quá, bây giờ ngã xuống nằm, quấn cái mền vô là đã” (lâu lâu mình có vụ này không? nướng nướng thêm chút đỉnh nữa ha, kẻng đánh rồi nhưng mà thôi kệ, ráng thêm chút xíu nữa, mót mót thêm chút nữa vậy). Thầy này thấy lạnh và bắt đầu có ý niệm muốn ngã xuống để ngủ, lúc đó thầy này dùng Như lý tác ý, tức là mình suy xét đúng Chánh pháp, quay ngược trở lại suy nghĩ “cái lạnh này mà mình chịu không nổi, thì làm sao mình chịu nổi cái lạnh của hàng băng địa ngục?” vận dụng tuệ quán, phát khởi được trí huệ, quán chiếu tận cùng và cuối cùng thành tựu thánh quả tối cao.

Đó là Minh Thành đưa ra ba trường hợp, để cho quý huynh đệ thấy Như lý tác ý nó rất quan trọng, hằng ngày mình phải tu tập. Và đó là nói chuyện xưa, bây giờ nói chuyện nay. Có một thầy tiến sĩ tốt nghiệp ở Ấn Độ về, đi dạy ở bên trường, thì thầy tâm sự với Minh Thành. Ở bên Ấn Độ lúc giữa trưa là nó nóng bốn mươi mấy độ. Thầy ngồi thầy học, thì nóng quá không chịu nổi, thầy muốn đứng lên đi vòng vòng chơi, không muốn học. Lúc đó đó thậm chí thầy muốn “thôi giờ đi về Việt Nam đi, nóng quá chịu không nổi”. Khi thầy khởi ý nghĩ như vậy lên, thì thầy nhìn ra ở ngoài, thầy thấy giữa trưa nóng như vậy mà mấy đứa trẻ ở trần, nó chơi đá banh, mồ hôi nhễu nhão. Thầy nói “tại sao những đứa trẻ đó vì cái vui chơi thôi, mà nó dám chịu đựng cái nóng, cái nực, mồ hôi đổ ướt như vậy. Còn mình vì sự tu hành, giác ngộ, giải thoát, bỏ nhà, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ đất nước, quê hương đi cầu học. Rồi bao nhiêu Phật tử lo cho mình, cha mẹ mong đợi mình, một sự nóng chút mà mình chịu không được. Bắt ngồi xuống, học” và cuối cùng tốt nghiệp tiến sĩ Phật học, đáng tuyên dương không?

Cho nên huynh đệ nhớ, Như lý tác ý này hay lắm, bây giờ Minh Thành đưa ra một ví dụ nữa để huynh đệ thấy. Chẳng hạn như, bây giờ phân công buổi sáng cho ba huynh đệ lau cái giảng đường này. Tới chừng đến giờ, mình ra mình lau có một mình, hai ông kia đi đâu mất tiêu, không thấy. Lúc đó mình tác ý làm sao? Mình phải tác ý như vậy “Tại sao gọi là công quả? Có công thì có quả, đây là cơ hội cho mình, thứ nhất là rèn luyện cái tâm” Lúc đó mình nhìn lại cảm thọ liền, coi cảm giác của mình lúc đó làm sao, cảm giác hai người kia không xuống mà mình có một mình lúc đó cái cảm giác của mình có sân không, nếu mà có sân, mình nhiếp phục, và tiếp đó mình coi mình “phải tập kiên trì, nhẫn nại, chịu khó, mình nhìn xem hòa thượng Tôn Sư gánh vác bao nhiêu công chuyện, trong nước, ngoài nước, tất cả, toàn quốc. Mà mình bây giờ có cái giảng đường chút xíu như vậy không lẽ mình làm không được?”.

Mình tác ý như vậy đó, rồi xong mình mới tác ý là “mình phải tập nhẫn những điều khó nhẫn, làm những điều khó làm, mình phải nhiếp phục được cái tâm sân hận này, nhiếp phục được cái cảm thọ này, mình phải làm chủ cái nội tâm của mình, không để cho cái tâm sân này nó chiếm ngự, chế ngự, đánh phá mình. Và đây là cơ hội cho mình công phu, công quả, vun bồi phước đức. Chính những phước đức nhỏ này, mà sau này mình mới có thể làm thầy, mới có thể hướng dẫn mọi người tu tập. Cái nhỏ xíu này mình không nhẫn được, biết đâu huynh đệ, sư huynh kia bị bệnh, hình như sáng này nghe nói nhức đầu hay sao đó. Biết đâu mai mốt mình bệnh rồi lúc đó ai giúp, thôi mình gánh cho huynh đệ mình”. Trong khi đó mình vẫn làm mà mình nhiếp phục được cái tâm của mình, lúc đó cái trí của mình sáng tỏ ở trong cái từ nhẫn. Thì huynh đệ thấy tuyệt vời không? Chịu làm cái này không?

Thực tập đi, huynh đệ ta sẽ thấy kỳ diệu lắm. Đúng ra chỗ đó là nó sân hận mà nó không có sân, chỗ này gọi là “hỏa diệm hóa hồng liên”, trong lửa đỏ mà hóa ra sen hồng. Đúng chỗ đó là nó nổi sân, mà mình nhiếp phục, làm chủ được, mà mình còn khởi tâm từ nữa, mình quán chiếu “bà già ngoài kia kìa tám chục tuổi kìa, cái ông già kia chín mươi ba tuổi kìa, mà còn đi bán vé số, còn đi móc bọc, lượm bọc. Còn bây giờ mình là người xuất gia, mình nói mình vì mọi người, vì Phật pháp, vì chúng sanh, mà lau có chút xíu như vậy mà không được hay sao?” đó là Như lý tác ý đó. Huynh đệ thực tập đi, rồi huynh đệ sẽ thấy, trong mọi hoàn cảnh, thậm chí trong những nghịch cảnh, những bất ngờ mà nó đến cho mình, mà huynh đệ có sự tu tập này rồi thì huynh đệ giống như có áo giáp bằng đồng rồi, mình có sự nhiếp phục ở trong tâm, rất là hay. Còn đối với cái tham cũng vậy, với mọi trường hợp khác cũng vậy, cái này đòi hỏi mình phải kiên trì nhẫn nại để thực tập.

Bây giờ chúng ta bước vào những pháp tác thành Sa-môn, nãy giờ Minh Thành muốn chia sẻ với huynh đệ cái quan trọng, cánh cửa để huynh đệ đi vào pháp hành, là chỗ nhìn lại cảm giác. Nếu mà không nhìn lại cảm giác thì mình không phát hiện được tham, sân, si, mà mình không phát hiện được tham, sân, si, thì mình không thể nhiếp phục được nó. Cho nên, đó là cánh cửa để đi vào tất cả pháp hành của đạo Phật, của Phật giáo gọi là quán thọ, tức là phải luôn luôn nhìn lại cảm giác, cảm giác nó sẽ gắn liền với thân tâm của mình, mình mới nhìn thấy rõ.

“ Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn? Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý, này các Tỳ-kheo, các Ông phải tu tập. Này các Tỳ-kheo, các ông có thể khởi lên ý kiến: Chúng ta đã thành tựu tàm quý đến mức độ này, như vậy là vừa đủ, đến mức độ này như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đính Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỳ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa”.

V. Tàm quý:

Như vậy, thì pháp đầu tiên mà Đức Phật dạy mình để tác thành Sa-môn, những điều kiện để thành một người tu sĩ hoàn hảo, những yếu tố để trở thành một người tu chân chánh, là chúng ta sẽ thành tựu tàm quý. Thành tựu tàm quý là mình phải luôn luôn có cái tâm hổ thẹn, cái tâm này hay lắm. Mỗi khi mình bước lên lễ Phật, mình nhìn lên Đức Đại Giác Thế Tôn, mình thấy mình xấu hổ, ngài cũng là một con người, mà là thái tử quyền uy thiên hạ, mà bỏ hết tất cả, mà bây giờ mình đi vô chùa đây, có khi chỉ vì một ly nước, một món ăn hay một cái bao thư thôi mà nếu không khéo thì huynh đệ thấy có phiền não không? Đó là sự xấu hổ, sự nhục nhã, sự tàm quý.

Mình lấy một ví dụ thực tế cho huynh đệ thấy, mình nói trên lý thuyết thì cao siêu lắm. Bây giờ, tự nhiên có một cô Phật tử bước vô, thấy quý thầy đang đứng là có tám người, cổ lấy cái bao thơ để cúng dường, mà cổ có bảy cái bao thơ thôi, tới phiên mình thì hết, nó đưa mình vô những hoàn cảnh éo le như vậy. Ngay lúc đó mình coi cảm giác của mình nó như thế nào? Huynh đệ thấy không?. Hay mình nói những chuyện rất là bình thường, giờ mình đem nước yến phát cho mọi mọi người, mỗi người một lon. Tất cả có tám chục người, mình là cái người đứng hàng tám mươi, tự nhiên tới bảy mươi chín thì nó hết, đưa mình chai nước suối uống đỡ, thì sao? Tất cả trong những chỗ đó mình phải coi cái cảm giác của mình. Các huynh đệ thấy, sự tu không phải là ngồi tụng kinh niệm Phật, ngay chỗ đó mới gọi là tu. Tụng kinh niệm Phật, cái đó là tu căn bản ở trên chánh điện, ở trên thiền đường, còn cái tu sâu sắc là tu ngay chỗ cần phải tu, là ngay chỗ phiền não đó, ngay chỗ đó mình có vận dụng được hay không. Còn trên chánh điện thì ai lên ngồi cũng được hết, mà cái lúc bị sân khởi lên, bị tham khởi lên, bị những cảnh trái ý nghịch lòng, chướng tai gai mắt, thì lúc đó mình phải có phương pháp nhiếp phục, chuyển hóa.

Mình quay lại mình nhìn cái tâm “đương nhiên có thể buồn sao không buồn được. Sao ai cũng chia hết mà chia cho mình như vậy?” Lúc đó mình nhìn lên Phật “Mình thấy xấu hổ, đây là một sự xấu hổ, nhục nhã, tàm quý quá. Thái tử bỏ hết địa vị như vậy, còn mình vì có một lon nước yến mà cái tâm mình phiền não như vậy, thì mình có xứng đáng với Sa-môn hạnh hay không? có xứng đáng với Thánh hạnh, Xuất ly hạnh, Viễn ly hạnh hay không? mình xấu hổ”. Hay là ngay trong giờ mình đang ngồi thiền, mình nhắm mắt lại thấy có cái bóng hồng hiện lên, rồi mình hỏi “làm sao giết được người trong mộng?”, cái bóng nào đó mà trước khi đi tu hay sao đó mà nó hiện lên, thì những chỗ đó mình khởi lên tâm tàm quý, hổ thẹn, mình không tiếp nối nữa “Bậc Đức Thế Tôn, những bậc A-La-Hán, những bậc Hiền Thánh Tăng từ bỏ các dục, đoạn tận các dục, đời sống hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch. Tại sao mình xuất gia như vậy mà mình còn suy nghĩ những cái này? mình còn làm những cái điều không phù hợp với giới hạnh thanh tịnh như vậy?. Mình cảm thấy xấu hổ, mình nhục nhã, mình tàm quý”.

Thì quý huynh để thấy, đây là pháp nuôi lớn, tại vì mình thấy được cái này, mình sẽ giữ giới được. Nếu mình không có thực tập pháp tàm quý, hổ thẹn, xấu hổ, nhục nhã này, là mình dễ phạm giới lắm, tại vì mình sai rồi mà mình vẫn trơ trơ, mình không cảm thấy sự xấu hổ, tàm quý, nhục nhã sâu sắc, sắc bén, ở trong nội tâm. Mình có gì sai, thì không chỉ mình về mình lạy Phật, mình sám hối, mà mình phải dập đầu kêu “cộp cộp” (mình nhớ để tấm thảm đằng trước nha), dập đầu xuống cho nó nghe cái tiếng, lạy cho nó đỏ cái trán luôn. Thậm chí nó mạnh quá, ngày xưa có những vị cao tăng là tự đánh mình, châm chích bản thân mình luôn, ta phải dùng biện pháp mạnh như vậy. Cho nên phương pháp tàm quý này quan trọng lắm, các huynh đệ thấy không, quan trọng lắm.

Chẳng hạn mình lên Bảo đường mình ăn cơm, mình mà có biết hộ trì căn, có biết tàm quý thì mình không nói chuyện. Còn nhiều khi mình thấy, từ từ riết rồi khi trở thành thói quen rồi, thì mạnh người này, người này nói, mạnh người kia, người kia nói, mà không phải nói chuyện tu tập, nói những chuyện không có liên hệ đến mục đích, nhớ Đức Thế Tôn dùng từ “không liên hệ đến mục đích”. Có những đề tài của câu chuyện, những đề tài ít dục, những đề tài tri túc, viễn ly, tăng thời thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học, giải thoát, giải thoát tri kiến học, những đề tài đó là những đề tài cần phải thảo luận, cần phải được đàm luận, cần phải được bàn luận, mà bàn luận ở chỗ cần bàn luận.

Còn giờ đó là giờ không có nói chuyện, thì mình phải nhiếp tâm “Này các Tỳ-kheo, có hai sự việc khi các thầy gặp nhau cần phải thực hiện, một là im lặng của bậc Thánh, hai là đàm luận Chánh pháp. Đó là hai điều các thầy khi gặp nhau, cần phải thực hiện”, đó là lời dạy của Đức Thế Tôn. Nếu mà mình thường thường có sự hổ thẹn này, nó hay lắm, rất là hay. Mình có cái gì sai trong nội tâm, mình thấy xấu hổ “cái này nếu người khác biết thì mặt mũi mình độn thổ ở đâu?”. Huynh đệ nghĩ đi những cái mình tham dục ở trong lòng, mình sân hận, mình nghĩ trong nội tâm của mình, nếu như người ngoài thấy được những suy nghĩ, những tâm niệm đó, mà những người khác, những bậc đồng Phạm hạnh, những bậc trí, những bậc cùng tu với mình, hay là Phật tử, người ta nhìn thấy được nội tâm của mình như vậy, thì lúc đó mình còn mặt mũi nào nhìn người ta nữa. Cha mẹ mình thấy mình còn biết trốn ở đâu? Cho nên, mình phát khởi được, nuôi lớn cái tâm tàm quý, hổ thẹn này, hay lắm, tuyệt diệu vô cùng, nhưng cái này bây giờ mình bị quên nhiều lắm, quên rất là nhiều.

Quý huynh đệ để ý, ngay cả ở trong chùa lâu năm đi nữa, mà không có thực tập cái này, thì mình nhìn thấy nhiều khi không giống ông thầy. Chỗ này là những tấm gương để mình soi đó, mình không có nói xấu ai hết, nhưng mà mình nhìn cái đó để mình soi lại mình “đó là những tấm gương không thực tập cái pháp hổ thẹn, tàm quý, mình không thể như vậy. Mình phải là người thực tập cái tàm quý sắc bén, sự hổ thẹn sâu sắc, để mà mình thành tựu được Sa-môn hạnh, đức hạnh của người tu, nết hạnh của người xuất gia ( đạo hạnh của người tu hành, gọi là Sa-môn hạnh)”. Từ cái Sa-môn hạnh này, nó mới đưa đến Sa-môn quả, hoa trái của người tu. Cho nên hôm nào mình sai quấy nào đó, mình ngồi trở lại, mình vô chánh điện mình lạy, làm cho nó phát khởi cảm giác hổ thẹn, quý huynh đệ nhớ, cái này là chỗ quan trọng. Mình phải làm cho nó phát sanh ra một cảm giác hổ thẹn, chứ không phải chỉ làm trên hành động, hay là nói trên miệng. Mà phải thực sự phát sanh ra cảm giác là rất hổ thẹn, tàm quý, xấu hổ, nhục nhã đối trước Phật, đối trước pháp, đối trước tăng, đối trước Long Thiên hộ pháp, đối với cha mẹ mình, làm cho mình phát khởi được cảm giác hổ thẹn đó, thì mình tu sẽ thành công. Cái đó là mình có trí huệ đó, cái gì cũng vậy, phải làm cho nó phát sanh cảm giác.

VI. Thanh tịnh:

Rồi việc thứ hai “Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? Thân hành, khẩu hành, ý hành, của chúng ta phải được trong sạch, thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, không có che giấu, Nhưng chúng ta không vì thân, miệng, ý thanh tịnh ấy, mà khen mình, chê người”. Các câu này cũng rất quan trọng. Việc tiếp theo là chính chỗ mình tàm quý, hổ thẹn, xấu hổ thường trực ở trong nội tâm của mình. Nó sẽ dẫn đến phương pháp kế tiếp là ý nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta sẽ trong sạch, tại vì mình có hổ thẹn. Thực tập cho nó trong sạch, thanh tịnh và minh chánh. Ở đây “ minh” là sáng suốt, “chánh” là chân chánh, ngay thẳng, không có che giấu, gọi là phát lộ.

Nếu có cái gì sai, mình bày tỏ trước đại chúng, mình sám hối. Bày tỏ ở trước bậc đạo sư, hòa thượng Tôn sư, hòa thượng luật sư, bày tỏ trước sư phụ mình, trước những vị mà mình tin tưởng là những vị có đạo hạnh “Bạch hòa thượng bây giờ con phạm cái lỗi này, con thấy xấu hổ, tàm quý, nhục nhã cho người tu quá. Xin hòa thượng hay, sư phụ, quý thầy chứng minh cho con. Con hứa từ nay con sẽ chấn chỉnh, thay đổi lại”, thì cái đó giúp cho mình đi đến chỗ thân, miệng, ý được trong sạch. Mình luôn luôn thực tập những điều này, và khi mình được rồi, thì mình cũng không khen mình, chê người, cái này rất hay.

Luôn luôn lúc nào ở phía sau Đức Phật cũng dặn câu này hết “không có khen mình, chê người” dẫu cho mình có làm được tới trọn vẹn như vậy, mình cũng không có khen mình, chê người, tại sao? Khi mình thấy mình hay, người ta dở, thì lúc đó là bản ngã. Mà mình tu tập để mình quán chiếu, phá các bản ngã, mình chỉ lo cái phần mình thôi, không có nhìn người khác, những người khác là tấm gương cho mình học, nếu người ta tốt mình học theo kiểu tốt nếu người ta không tốt là mình quay lại, mình hổ thẹn cho chính mình. Không có khen mình, chê người, không thấy mình hay hơn người ta.

Và điều tiếp theo, công việc đáng phải làm hơn nữa là gì “Này các Tỳ-kheo, sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh, sự nuôi sống” cái này quan trọng đó quý huynh đệ. Đời sống ảnh của người xuất gia mình là chánh mạng, quan trọng lắm. Những người đi đến cúng dường của mình là phải cúng dường đúng pháp, không phải vì tình người, vì lấy lòng, vì làm cho họ vui, để mình được sự cúng dường, cái đó không phải là cúng dường đúng pháp. Huống hồ chi bây giờ, những việc kinh doanh này, nọ, kia là không đúng với tinh thần mà Đức Phật dạy trong giới luật.

Quý huynh đệ đọc kinh sẽ thấy, trong giới luật mình không có kinh doanh. Còn trường hợp người tu sĩ mình bước lên hát, mà mấy thầy mình bữa giờ ca liên tục, từ lúc hai ông thầy giả lên ca, bây giờ mấy ông thầy thật cũng bắt chước theo ca rồi. Mà lời ca ở trong kinh nói là đồng nghĩa với than khóc, ở trong phát và luật của Như Lai. Còn sự nhảy múa là đồng nghĩa với điên loạn ở trong giáo pháp. Cái này rất là quan trọng, mình làm không khéo từ từ là chính mình hủy hoại Chánh pháp. Và hình ảnh của người xuất gia nó sẽ mất đi giá trị tôn kính của Tăng Bảo.

Bởi vì Tăng Bảo của mình đúng theo tinh thần, là bốn đôi, tám bậc Hiền thánh tăng, là những vị hướng Dự lưu, rồi từ hướng Dự lưu mà nhị quả, tam quả, tứ quả, là bốn đôi, tám bậc. Mà những vị này là trực hạnh, là chơn chánh hạnh, là ứng lý hạnh, diệu hạnh. Những bậc này là những bậc đáng chắp tay, đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng đảnh lễ, “ruộng phước vô thượng” ở đời, chứ không phải là một vị ở trong Tăng Bảo, mà quý huynh đệ nghĩ là chuyện đơn giản đâu.

Đúng theo tinh thần của Đức Phật, một vị Tăng là cao quý lắm, là bậc thầy, đâu có thể mình đi ra mình hát, mình làm cho người ta mua vui được, thành ra cái này là cái rất là quan trọng. Mà cất lên những lời hát đó đương nhiên là phạm giới rồi, làm sao mà thân, miệng, ý thanh tịnh được. Cho nên, cái này là mình phải cẩn thận không khéo là từ một người làm sai, mà mấy người kia không biết, thấy cũng được, rồi bắt chước làm theo, từ cái sai này, nó dẫn tới cái sai khác, rồi cuối cùng giới luật sụp đổ, giới pháp đạo Phật bị mai một.

Thành ra mình phải giữ gìn thân, miệng, ý, phải giữ gìn rất cẩn thận. Mình nói ra cái lời gì, mình coi cái lời đó có phù hợp với Chánh pháp hay không? Cái lời này là phát xuất từ cái gì? Nói ra từ tâm từ mẫn, hay vì tâm tham ái, tâm sân hận, hay nói ra ở trong trạng thái không sáng tỏ, tức là trong trạng thái si. Thì mình phải tỉnh giác và Chánh niệm trong khi nói, trong khi làm và trong khi suy nghĩ. Mình gạn lọc nội tâm của mình từ từ, thì lần lần nó mới tới “ba nghiệp thanh tịnh”, nói thì nó đơn giản, nhưng cả cuộc đời mình làm chưa xong. Phải có sự gạn lọc, phải có sự nhìn lại, hổ thẹn, tàm quý, chuyển hóa, tịnh hóa, làm cho nó sạch từ từ. Chứ không phải kiểu mình vô sáng chiều, hai thời, rồi xong, không phải, tinh thần tu không phải như vậy. Đúng theo tinh thần Đức Phật cái tu nó sâu sắc, nó nhỏ nhiệm, nó tinh cần tinh tấn, liên tục, không gián đoạn, luôn luôn nhìn lại, cho nên quý huynh đệ thấy, ở đây cái pháp “sanh mạng thanh tịnh” này quan trọng lắm.

Huynh đệ nghĩ đi, bây giờ một người xuất gia của mình mà đi kinh doanh, thì huynh đệ nghĩ sao? nó trật, nó sai rất nặng. Nếu mà mình làm chuyện lời lỗ như vậy, thì làm sao mình ngồi thiền? mình vô ngồi thiền mà mình tính lời tính lỗ thì làm sao ngồi thiền? Rồi bây giờ bao nhiêu những chương trình liên tục hoài như vậy, mình không có thời gian để mà mình tịnh chỉ nội tâm, không có thời gian nội soi, nội quán, soi rọi, nhìn lại. Cho nên, bây giờ Minh Thành mong tất cả quý huynh đệ về, ai cũng sắm cái máy nội soi hết đi, để mình soi, đừng xài cái máy ngoại soi. Mình soi cho người ta mà thấy phiền não, còn soi trở vô thì mình thấy mình hổ thẹn, mình lo mình điều chỉnh nội tâm của mình, hay lắm, phải nội soi, nội quán, nội tĩnh. Cho nên, đời sống người xuất gia mình là đời sống cao thượng.

Mình nhớ ngày xưa thời Đức Phật, các thầy ôm bình bát, mà cho tới bây giờ ở các nước Miến Điện, Sri Lanka hay Thái Lan, huynh đệ thấy những hình ảnh hàng đoàn, hàng trăm vị đi khất thực, mình bây giờ mình không khất thực, mình được sự cúng dường, nhưng mà mình ngồi ở trên quả đường mình phải như thế nào? Có nhiều bài kinh xúc động lắm, Đức Phật nói “Này các vị Tỳ-kheo, các ông có biết rằng, ở con người thông thường mà kêu rằng: Mi là đồ ăn xin, mi là đồ khất sĩ, là nó nặng như thế nào hay không? Cho nên, mình người xuất gia, từ cái chỗ cao, mình hạ đến cái chỗ thấp nhất xã hội, là một người ăn xin (khất sĩ là người ăn xin)”. Khi mình ngồi trên quả đường đó mình phải nhớ “mình là người ăn xin”, mà mình luôn luôn xem lại cái đức hạnh, giới hạnh, thiền định, trí tuệ, sự tu tập của mình tới mức độ nào? Để mình ngồi đó, người ta quỳ, người ta lạy mình, có các bà đáng má mình, đáng ông nội, bà ngoại mình, thậm chí có những người lớn tuổi hơn ông bà mình nữa. Mình nhận cái đó, mình phải có sự quán chiếu đó, thì nó mới có thể tiêu hóa được, chứ bằng không là “tín thí nan tiêu, tán tâm tạp thoại” (Cái câu này mà lâu lâu cũng nghe nói chuyện hoài đúng không ta?).

Đó là nhắc nhở mình, để mà mình nội quán, nếu mà mình nội quán như vậy thì cái ăn của mình, cái sự thọ dụng này nó sẽ đem lại lợi ích như lúc nãy Đức Phật nói “cái sự thọ dụng này, cái sự tiếp nhận những phẩm vật này, là nó đem lại kết quả, nó đem lại thành tích của sự tu tập, chứ không phải sự thọ dụng suông, trống rỗng, vô nghĩa, vô ích cho người tính thí cúng dường”. Cho nên chỗ này là chỗ Chánh mạng, mình cần chiêm nghiệm, suy nghĩ sâu sắc ở trong đời sống hàng ngày của mình.



VII. Hộ trì căn:

“Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa?. Khi mình thực tập được Chánh mạng rồi mình còn việc làm thêm nữa. Chúng ta phải hộ trì các căn”, cái này thật sự rất rất quan trọng, “hộ trì các căn”, không thể quên sự hộ trì. Tại sao mình đi ra đường phải đội nón bảo hiểm? Tại sao mình lên xe hơi mình phải thắt dây an toàn? Tại sao mình phải mang giày, mang dép? Tại sao ra nắng mình phải mang kính mát? Tại sao ở xứ lạnh mình phải khoác áo ấm vô? Tại sao mình không ở ngoài trời, mà mình cất nhà có phòng đàng hoàng vô ở? Tất cả cái đó là bảo hiểm, bảo vệ, bảo dưỡng, bảo trì cái thân này.

Mà cái thân này mình biết bảo vệ, bảo dưỡng, bảo trì, mà cái tâm này mình quên bảo vệ, bảo hiểm, bảo dưỡng. Chính vì mình không có hộ trì tâm, không có phòng hộ các căn, cho nên các căn của mình rong ruổi, gọi là tâm hoang vu, một cái tâm nó rong ruổi, chạy đuổi. Trong Kinh Pháp Cú, các huynh đệ thấy Đức Phật nói “Không hình, không tướng mà đi rất xa, trên trời dưới biển đi đủ thứ mỗi chỗ mỗi nơi, mình không kéo lại được”. Thấy cái thân ngồi đó, thấy ngồi trang nghiêm, thẳng lưng ngon lành, nhìn giống như được Phật nhập cốt vậy, nhưng mà tưởng nhớ chuyện ở đâu đâu, huynh đệ thấy ghê gớm cái tâm này không? Ghê gớm cái tâm này lắm.

Cho nên, cái tâm mà được tu tập thì cái tâm đó mới có thể nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, định tĩnh, vững chắc, chói sáng. Còn cái tâm mà không có tu tập là cái tâm hoang vu, cái tâm rong ruổi, chạy đuổi. Mà muốn cái tâm tu tập thì phải hộ trì các căn, “trì” là giữ, “hộ” là mình phải phòng hộ, ngăn chặn nó, bảo vệ, giữ gìn nó. Như thế nào? “Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng”. Những nguyên nhân gì khiến cho con mắt không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu, bi, cái ác và bất thiện pháp khởi lên. Chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt và thực hành sự hộ trì con mắt”. Những cái câu này rất là đắt đỏ lắm. Những câu này là của bậc Chánh Đẳng Giác, những kinh nghiệm của ngài chứ không phải là thường.

Tại sao “khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung và không nắm giữ tướng riêng” là sao?. Thí dụ bây giờ, quý huynh đệ nhìn lên cái lẵng hoa trên này, mình nhìn tổng quát nó, thì như vậy gọi là tướng chung. Mình nhìn chi tiết từng cánh, từng nhụy ở bên trong của nó, mình xem đóa hoa này với đóa hoa kia, nó lớn, nó nhỏ, nó vừa, rồi cái màu sắc của nó… những cái nhỏ nhiệm đó gọi là tướng riêng. Mà mình không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng là sao? là mình biết rằng, đây là sắc uẩn, chứ không có gì khác hết, đây là đất nước, gió, lửa hình thành, là tứ đại.

Thấy rõ được sắc là do tứ đại hình thành, chứ không có cái gì khác, tất cả từ nhà tranh cho đến tòa nhà cao nhất thành phố, hàng bảy tám chục tầng, thì nó cũng là sắc uẩn, không hơn không kém. Nếu như mình nhìn thấy được bản chất để tạo thành các hình tướng đó, đều là sắc chất, đều là sắc uẩn, đều là tứ đại, thì cái tâm phân biệt của mình đối với các sắc đó giảm bớt. Quý huynh đệ, cái này rất là quan trọng, nếu mình nhìn mà chỉ thấy “ô, cái này đẹp quá ha” “cái này sao xấu vậy?”, thì cái nhìn đó là cái nhìn của vô văn phàm phu, không khác gì người không tu hết.

Nếu mà người xuất gia mình nhìn cái nào cũng ra cái đó thì mình với người không tu y như nhau, không có gì đâu mà khác. Cho nên, thế nào là sự đặc thù? Thế nào là sự khác biệt của Đa văn thánh đệ tử và vô văn phàm phu? Vô văn phàm phu là những kẻ phàm phu, không được học, không được nghe Chánh pháp. Không biết rằng tất cả sắc uẩn này là do tứ đại kết hợp và do tứ đại này hợp lại thành, là kẻ phàm phu, không có học. Còn Đa văn thánh đệ tử là được học, được nghe nhiều Chánh pháp, biết rằng tất cả các sắc uẩn là thuộc tứ đại vô thường, sẽ bị đổi thay, bị biến hoại, sớm chiều, sớm muộn nhất định sẽ hoại diệt, nhìn thấy được cái bản chất của tứ đại. Như vậy, mình không chạy theo để phân biệt tướng chung, tướng riêng, là cái nhìn của bậc Đa văn thánh đệ tử, đó là sự khác biệt sự đặc thù của người tu và người không tu. Nếu bây giờ mình vô, mà mình cũng nhìn “ô, đẹp quá, thích quá” hay “ô, xấu quá, thấy ghét, không ưa”, thì như vậy mình so với người không tu có gì khác, mình cũng y hệt những người phàm phu có gì khác đâu.

Các huynh đệ nhớ rằng, mình chưa nhập thánh, nhưng mà mình không còn là phàm nữa. Tại vì mình đang đi trên con đường của bậc thánh đệ tử, thì cái nhìn của mình không thể nhìn như người bình thường được. Cho nên, mình đi ra đường mình có bình thường không? Người ta nhìn mình đâu có bình thường, mình, tất cả huynh đệ ở đây là bất thường. Thật sự là đâu có ai mặc cái màu này đâu, đâu ai dám cạo đầu, đâu ai có tuổi nhỏ xíu mà cháu nội, cháu ngoại, người ta kêu bằng thầy, người ta xá, người ta kêu mô Phật, người ta lạy đâu. Đây là bất bình thường, là phi thường, thì mình phải có cái nhìn, cái thấy, cái suy nghĩ cũng khác thường. Đó, là sự tu tập của người xuất gia.

Cho nên bây giờ, mình nhìn một con người hay một món đồ, người đó đi vô tiếp xúc với mình. Mình nhìn thấy “ồ đẹp”, mình nhìn chung, rồi mình nhìn kỹ từ cái lỗ mũi, từ con mắt, từ cái miệng, cái hàm răng, cái nhỏ nó đẹp từng chi tiết, như vậy là mình chết rồi, chết. Cái nhìn đó là cái nhìn đưa đến dục và tham, nhìn đó là cái nhìn đưa đến ái và luyến, cái nhìn đó là sự nhìn không có hộ trì căn, cái nhìn đó là cái nhìn không có sự tu tập, nhiếp phục. Quý huynh để thấy chưa? Vậy hổm rày mình nhìn theo cái kiểu nào? Nhìn như vậy là mình thiếu sự tu tập, sự hộ trì căn rất trầm trọng, cho nên hỏi “sao tu hoài không thấy kết quả, tu hoài sao không thấy quả nào hết trơn”. Cái này muốn có quả thì ta chợ lớn mua đem về, ở chợ lớn quả A-la-hán nhiều lắm, muốn mười quả cũng được nữa. Còn cái quả A-La-Hán chân chánh là phải tu tập đúng Thánh đạo thì mới có Thánh quả, mà bây giờ Thánh đạo mình không chịu tu thì làm sao mình có Thánh quả? Thánh đạo là đây.

“Thánh” là Đức Thế Tôn, “ đạo” đây là con đường mà là Đức Thế Tôn đã đi, mình đi theo con đường đó thì cái quả giống y như Đức Thế Tôn. Còn mình không đi con đường đó, mình muốn làm gì cho nó khỏe, mình niệm câu “mô phật” thôi, cho nó khỏe, thì làm sao? Đó là câu chuyện tu mà đơn giản như vậy, quý huynh đệ thấy không. Cho nên, “khi tai nghe tiếng, khi mũi mình ngửi hương, khi lưỡi nếm vị, khi thân xúc chạm, khi ý cảm xúc các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng”.

Những nguyên nhân gì khiến cho con mắt không được chế ngự, khiến cho tham, ái, ưu, bi, cái ác và bất thiện pháp nó sanh khởi, mình phải chế ngự cái nguyên nhân đó. Tức là như lúc nãy mình nói, bây giờ mình nghĩ, mình nhớ người đó đẹp, từ dáng vẻ, dốc hình, cho đến chi tiết. Cái đó mình phải chế ngự liền, mình dùng quán ba mươi hai thể trược liền, quán “Khi mà chiếc xe tải cán lên, nó nát thành một đống bầy nhầy, lòi ruột, văng não, ốc ra”. Mình quán như vậy đó “cái thân, cái tiếng đẹp, mai mốt như vậy đó, giòi nó ăn đầy hết bộ xương, rải rác hết”. Cái thân này ngoài là da bọc thịt, thịt bọc gân, gân bọc xương, xương bọc tủy, đây là tấm thân này. 

“Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa”.

(Trích Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già)

Quán chiếu những câu đó trong Kinh Pháp Cú, ngồi quán lại, đọc bài kệ đó cho sâu. “Đây nè cái khung đó là cái xương nè. Giống như cái nhà thì có mấy cây cột, thì cái thân này khung sườn của nó là bộ xương. Quét tô bên ngoài bằng thịt, máu, là phủ lớp da bên ngoài. Gạch một đường, lột ra, máu, mỡ, da, thịt tràn ra. Phèo, phổi, tim lòi ra ngoài, bao nhiêu ruột non, ruột già kéo dài ra”. Quán chiếu như vậy trị dục tham, diệt tận, từ bỏ, nhiếp phục dục tham. Thì đó là con đường của bậc Chánh Đẳng Giác. Phải quán chiếu như vậy là trị tận gốc, không trị thì thôi mà nếu trị thì phải trị tận gốc luôn. Không tu thì thôi, tu là chứng quả luôn, chứ không tu sơ sơ, tu tới luôn, thì như vậy sẽ thành công.

Cho nên các huynh để thấy, sự tu tập của mình rất là hay, tại vì mình chưa chịu để tâm nhiều vô để mình hành trì, để mình cố gắng nỗ lực, chứ nếu mình chịu, huynh đệ thực hành là nó có kết quả rất là rõ. “Pháp của ta là khéo thuyết, là thiết thực, hiện tại, đến mà thấy, không trải qua thời gian. Tự mình có thể giác hiểu được”. Thiết thực, hiện tại, đến mà thấy, không trải qua thời gian.

VII. Tiết độ trong ăn uống:

Công việc tiếp theo là gì “ Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa?. Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để cho thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh. Nghĩ rằng, như vậy chúng ta diệt trừ những cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Câu này mình phải học thuộc lòng trong khi mình thọ thực, rất là quan trọng, chúng ta phải biết tiết độ ở trong ăn uống.

Chúng ta nhớ hình ảnh ngày xưa Đức Thế Tôn còn tại thế rất là đẹp, một ngày ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây, vậy mà bây giờ mình không thể làm được những điều đó, thì mình đọc hay mình xem trên phim, mình nhìn lại hình ảnh, mình nói về những điều đó, mình thấy hổ thẹn, thì mình phải làm gì? Có những người không ăn chiều, rất tốt. Có những người bị bệnh, không ăn không được, ăn nhưng mà phải có tâm hổ thẹn. Mà trừ những giờ chính ra, một ngày ba buổi hoặc hai buổi đó ra, thì những giờ phụ mình tuyệt đối không ăn, đừng có chút xíu là ăn, chút xíu lại ăn. Hết giờ rồi ăn xong vô, cái bụng phình to, bự chang bang, thì làm sao ngồi thiền nổi. Chiều mà ăn một tô bự thì sao mà tới giờ ngồi thiền được, mình lên là mình tưởng tượng “như xe lên đèo Bảo Lộc, máy nặng quá lên hết ga, hết công suất luôn, mà lên không nổi, lên ga nó kéo “ì ì” mà lên không được, làm tối người chung phòng còn ngủ không được nữa”, là không được. Có nhiều ông chiều không ăn, mà trưa bưng một cái bát bự, mình thấy những trường hợp mình khéo, mình phải biết ý nghĩa của nó là mình phải Chánh tư duy, Như lý tác ý này quan trọng vô cùng, mình tu là ngay chỗ tư duy, mình đừng có nghĩ tu thiền là ngồi im bặt không suy nghĩ gì hết, cái đó không phải, thiền định của Phật giáo Đạo Phật là Chánh kiến, Chánh tư duy. Nếu mình không thấy đúng, thì suy nghĩ mình không đúng, mà suy nghĩ mình không đúng, thì mình không đi theo hướng về Chánh Định được.

Cho nên, Chánh tư duy là mình thọ thực không phải vui đùa, không phải đam mê, không phải trang sức, không phải làm đẹp, không phải mình ăn cho vui, không phải mình ăn cho ngon, không phải mình ăn để cho thỏa thích cái miệng, lưỡi, không phải mình ăn cái này để làm đẹp “Ồ, các món này ăn đẹp da lắm, uống nước này đẹp da lắm, ăn món này bổ thận lắm”, chẳng hạn là vậy, thì mấy cái đó là vô văn phàm phu rồi. Tại vì ngay cái suy nghĩ đó, cái lời nói đó, thì nó đâu phát xuất từ Chánh tư duy, đâu có hộ gì căn, cái tâm mình phải hướng cái tâm đó.

Cho nên mình phải học thuộc đoạn này, huynh đệ về lấy bài kinh Đại Kinh Xóm Ngựa, đọc kỹ, học thuộc những câu quan trọng “không phải đam mê ở trong món ăn đó, không phải để vui đùa, không phải để trang sức, làm đẹp nữa, mà để thân này được sống lâu, bảo dưỡng, để không bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh”, cái này rất quan trọng. “Phạm hạnh” là cái hạnh thanh tịnh, cái này rất quan trọng, vì ăn cái này để mình thành tựu cứu cánh Phạm hạnh, mà cứu cánh Phạm hạnh là gì? Có hai mức để chúng ta hiểu, Phạm hạnh là giới hạnh thanh tịnh, Phạm hạnh là thành tựu Bát Chánh Đạo, thành tựu chánh quả, đó là Phạm hạnh: Một là giới đức, hai là mình phải thành tựu được thiền định về trí tuệ của Bát Chánh Đạo, người ta gọi đó là cứu cánh Phạm hạnh, là Thánh quả tối cao ở trong bốn Thánh quả, mình ăn đó, là để làm cái này nè, chứ không phải ăn là để vui, để ham thích.

Như vậy chúng ta “diệt trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới” là như thế nào? Thế nào là cảm thọ cũ? và thế nào là cảm thọ mới? Cảm thọ cũ là những cơn đói bụng, nếu mình không ăn thì đói bụng, cho nên mình diệt trừ cái cảm thọ cũ là “mình ăn đi, nó hết đói” gọi là diệt trừ cảm thọ cũ. Không cho các cảm thọ mới khởi lên, là không để cho sự tham ái dính mắc trong món ăn, chỗ này là chỗ rất là sâu sắc. Trong khi mình thọ trai, mình quán chiếu, lúc đồ ăn ngon thì huynh đệ thấy không tham ái dính mắc trong đó. Mình phải quán chiếu “nếu đồ ăn này, mình thấy nó là món này, món kia, món nọ, đủ thứ hết, mà nó đi qua khỏi cái cần cổ, rồi nó xuống dưới bụng, thì nó thành món gì? Mười món mà nó cùng vô chung một chỗ, nó tổng hợp lại, nó thành cái gì? Mà khi ăn thì nói vui cười, bao nhiêu người vui vẻ, mà lúc nó bày tiết, nó đào thải ra, thì ở trong sự lặng lẽ và cô đơn. Mà cái lúc bày tiết ra, lúc đó thì mình bịt mũi chính mình luôn, nhiều khi nó quá sức, mình phải hãm lại bớt”. Quý huynh đệ thấy không, mình quán chiếu như vậy đó, tự nhiên cái tâm mà tham về cái món ăn này của mình được giảm bớt, được trừ diệt. Quán chiếu nó, cái gì cũng phải quán chiếu, bởi vì mình tu tập về trí huệ mà, quán chiếu chứ không phải nói tới cái chuyện mà mình cứ cho qua. Tại sao vậy, mình dính mắc cái món ăn thì huynh lại thấy, mình có bị khổ không? Đưa đến khổ, bị tham là nó đưa đến khổ, tại vì mai mốt không có nữa, hoặc là mai mốt thiếu không có gì hết thì lúc đó làm sao?.

Cho nên cái pháp của Đức Phật là ly tham, là pháp tối thượng trong tất cả các pháp. Mình nói quy y Phật là gì, lưỡng túc tôn. Quy y pháp là ly dục tôn. Cái câu này quan trọng lắm, cái pháp ly dục là cái pháp tôn quý nhất của tam thiên, đại thiên thế giới. Mà ly dục là bằng trí huệ, Chánh tri kiến, để thấy rõ, để mình lìa. Còn cái ly dục của phàm phu, của người không có thành tựu Chánh tri kiến là ly dục đó do kiềm chế, do gượng ép, do miễn cưỡng thôi. Còn cái ly dục của Phật giáo mình gọi là tôn quý, là bằng Chánh tri kiến, nhìn thấy được cái bản chất của nó là vô thường, khổ, vô ngã, mình mới ly dục. Nên cái chỗ đó, nội việc ăn cơm thôi, mình tu tập rất hay “không có lỗi lầm, sống được an ổn”.

VIII. Tứ oai nghi:

Công việc gì đáng phải làm hơn nữa? Quý huynh đệ thấy càng ngày nó càng thâm sâu, rất tuyệt vời. “Này các Tỳ-kheo, chúng ta phải chú tâm cảnh giác, ban ngày ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, Chánh niệm tỉnh giác, nghĩ đến lúc thức dậy. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại”.

Phải tẩy sạch tâm tư trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm. Bất cứ lúc nào mà tâm tư mình nhìn thấy có tham sanh khởi thì tẩy liền. Có sân sanh khởi, dùng từ tâm chuyển hóa liền. Có si sanh khởi, dùng sự tinh tấn, tinh cần, dõng mãnh giới, diệt nó liền. Bất cứ lúc nào mình thấy bất thiện pháp sanh khởi là mình phải tẩy nó. Và ở trong đây, Đức Phật ví dụ năm cái pháp triền cái này rất là hay, năm cái ví dụ này rất là hay. Trước tiên “Triền cái” là gì? là trói cột và che đậy đó là pháp chướng ngại, nếu mà mình không trị năm cái này, không vượt qua năm cái này, không chinh phục năm cái này. Thì mình không nếm được hương vị của đời sống xuất gia, hương vị của viễn ly, hương vị của cái tâm thiền thanh tịnh, mình không thể nào vào sơ thiền được nếu mình còn năm cái này.

Năm cái này là gì? Năm cái triền cái, ai nhớ? (Dục tham, sân, thùy miên (hôn trầm), trạo hối và nghi). Năm cái này Đức Phật ví dụ giống như là món nợ, bệnh hoạn, ngục tù, cảnh nô lệ và con đường qua sa mạc. Dục tham, nếu trong tâm mình còn thì mình giống như đang bị mắc nợ, mình chưa trả nợ xong, tâm của mình sẽ không an. Sân là sự tức giận, nóng giận, sân hận còn chứa trong tâm mình, mà mình chưa nhiếp phục được, thì nó giống như người bị bệnh hoạn, chứng bệnh, mầm bệnh, vi khuẩn bệnh, vi trùng bệnh, nó còn ở trong thân của mình. Rồi cái sự hôn trầm (thùy miên) mà mình chưa duyệt được, thì giống như là ngục tù, mình giống như đang ở tù, hôn trầm, cứ lờ đờ, chỗ nào ngồi cũng muốn ngủ hết, bất cứ chỗ nào nhìn con mắt cũng mơ huyền mờ, con mắt lúc nào cũng hiếp xuống, lúc nào nhìn vô cũng vậy, ngồi ở đâu cũng vậy hết, đó là đang bị ngục tù. Cái sự trạo hối, cái sự lao chao, lăng xăng mà không có yên, rồi phạm những cái lỗi lầm mà tâm mình hay hối hận, thì cái đó giống như cảnh nô lệ, người này đang bị cảnh nô lệ dưới sự lăng xăng, trạo cử đó, mình không có nhiếp phục được nó, nó cứ tháy máy tay chân, muốn làm cái này, làm kia, muốn nói “không nói là chết, chứ không chịu nổi”, thì cái đó là trạng thái của trạo cử, là cảnh nô lệ. Rồi cái nghi là gì? Nó giống như con đường qua sa mạc, bên mông, không biết đường nào đi hết, nghi ngờ mà, đi tới bây giờ tu học qua bao nhiêu năm, không biết bây giờ đi pháp nào nữa, bây giờ pháp nào cũng không biết hết, thành ra như ở trong sa mạc, nó không biết đường đi. Cho năm ví dụ này tuyệt vời lắm quý huynh đệ ơi, hay lắm.

Thành ra mình phải trị cho được năm cái triền cái này, là mình tẩy các chướng ngại pháp ở trong nội tâm của mình ra và chúng ta phải Chánh niệm tỉnh giác, cái đoạn này, là quan trọng cho mình thực tập. “Chúng ta phải Chánh niệm tỉnh giác. Khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác. Khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, đều tỉnh giác. Khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y, đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đại tiện ,tiểu tiện, đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”. Cái chỗ này mà quý huynh đệ làm được, thì cái “dung nghi đĩnh đạc”, “oai nghi chánh hạnh” của một người xuất gia biểu lộ ra cái đức tướng của “xuất trần thượng sĩ”. Thực tập cái này mình sẽ thấy mỗi bước chân mình đi, mỗi sự cúi, ngước, co, duỗi của mình đều ở trong oai nghi, Chánh hạnh, ở trong Chánh niệm tỉnh thức của bậc trí huệ. Cho nên đây là những pháp tác thành Sa-môn hạnh, mình không phải đọc một hai lần, nghe một hai lần, mà quý huynh đệ mình phải nghe cái này một trăm lần, đọc một ngàn lần, đọc mà nhớ luôn, nhớ những điều quan trọng trong đây, cho đến khi mình thực tập phải đến khi nào được, là quý huynh đệ thành tựu.

Như vậy thì Minh Thành chia sẻ với quý huynh đệ những phần căn bản chứ bài kinh này chưa hết, Minh Thành chỉ giới thiệu phần căn bản theo lời chỉ dạy của hòa thượng Tôn sư. Hôm nay Minh Thành gặp quý huynh đệ trong buổi chia sẻ cuối cùng của mùa ra an cư kiết hạ năm 2018, với một tinh thần “kiếm hòa đồng giải”, mình nghĩ rằng mình là huynh đệ, anh em, gọi là “linh sơn cốt nhục”, “quyến thuộc bồ đề” trong sự tu học. Mình cùng nhau chia sẻ, để cố gắng cùng chung với nhau ở trong phước đường tự lợi, lợi tha, để mà thành tựu đời sống Phạm hạnh, cũng như là hoàn thành được hạnh Sa-môn và tác thành những cái pháp của một người tu.

Kính chúc quý tất cả các huynh đệ sau khóa an cư kiết hạ này, thành tựu, được tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học và nguyện mười phương Tam bảo gia hộ cho hòa thượng Tôn sư trí huệ quang minh như nhật nguyệt, từ bi vô lượng độ chúng sanh.

./.