Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Hãy Thừa Kế & Tiếp Nối Chánh Pháp ! (Kinh Thừa Tự Pháp - Trung Bộ)

2026-03-03 00:56:02
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

HÃY THỪA KẾ & TIẾP NỐI CHÁNH PHÁP!

KINH THỪA TỰ PHÁP - TRUNG BỘ

–Thích Minh Thành–

Kính bạch chư tôn đức, kính thưa tất cả quý thầy cô Tăng Ni sinh. Hôm nay Minh Thành được sự chỉ dạy của chư tôn đức, chúng ta tiếp tục chương trình tu học, thời gian còn lại chỉ có ba buổi là bắt đầu thi nên chúng ta sẽ đi thẳng vào những bài kinh quan trọng, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về bài kinh Thừa tự pháp, Trung Bộ Kinh. Thời gian trước nay chúng ta đã chuẩn bị những tư lương, hành trang, những bước đệm, những sự sửa soạn để đi vào kinh cho nên hôm nay chúng ta chính thức đi vào kinh. Trước khi vào kinh Minh Thành xin nhắc lại trong thời gian vừa qua các vị có ngồi thiền nhận diện ngũ uẩn không? Phương pháp thực tập nhận diện ngũ uẩn là cách cửa để bước vào ngôi nhà Phật pháp cho nên Minh Thành nhắc lại mọi người cần cố gắng thực tập cái này, vì không nhận diện ngũ uẩn là không thấy được thân tâm mình. Khi dịch diễn ra có những hoàn cảnh đau buồn, những em bé mất cha, mất mẹ hoặc mất cả cha lẫn mẹ thành trẻ mồ côi, có những gia đình mất đi năm bảy người, những giọt lệ, những sự đau đớn, sanh ly tử biệt, xót xa, những hoàn cảnh bi thương, đau lòng đó thì chúng ta nghe, chúng ta cảm nhận như thế nào? Khi nghe về những điều đó thì trong tâm chúng ta có những hình ảnh các em bé mồ côi, những đứa trẻ mất cha mất mẹ trong dòng lệ tuôn rơi khổ sở, hình ảnh đó là tưởng uẩn, có cảm giác xót xa là thọ, những lời nói lầm thầm là hành và rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng là thức.

Tựa đề bài kinh là Thừa tự pháp, thừa tự là việc thừa hưởng tài sản của cha ông để lại và nhận trách nhiệm lo việc thờ cúng của dòng họ tổ tiên theo lệ xưa. Người con được thừa hưởng tài sản của cha ông để lại và lo việc thờ cúng dòng họ tổ tiên gọi là người con thừa tự. Thừa là thừa kế, tự là tiếp nối, mình được thừa kế và có trách nhiệm giữ gìn, tiếp nối thì gọi là thừa tự pháp, ở ngoài đời là thừa kế tài sản còn trong pháp là thừa tự chánh pháp. Chánh pháp là gì? Pháp là bao trùm vũ trụ, vạn vật, tất cả pháp, chữ "pháp" này là cái được Đức Phật chứng ngộ, sự thật của vũ trụ, nhân sinh, thân tâm trên thế giới này được Đức Phật chứng ngộ, nói đơn giản nhất pháp là sự thật về đau khổ, từ xưa đến nay Thế Tôn chỉ nói về hai điều là khổ và phương pháp diệt khổ.

"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ". (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)

Chữ "pháp" ở đây tức là bao trùm tất cả những gì hiện hữu trên đời sống này, ở đây chúng ta cần hiểu Đức Phật chứng ngộ hai phần, đó là trí về ngũ uẩn và trí về lậu hoặc, do ngài chứng được hai trí tuệ này nên ngài diệt tận tất cả vô minh, tham ái, phiền não và cấu nhiễm của tâm. Trí về ngũ uẩn là trí thấy biết được thân tâm của mình vì ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức là bao trùm nhân sinh, vũ trụ, thế giới, không còn gì ngoài năm uẩn này. Sắc này bao trùm tứ đại, từ hạt bụi cho đến quả địa cầu, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ là bao gồm phần tinh thần bên trong cho nên trí năm uẩn này còn gọi là trí thế giới, trí vũ trụ hoặc là nhất thiết trí, tức là trí tuệ thấy biết hết tất cả sự vật, hiện tượng, vật chất, tinh thần, tâm linh của chúng sanh, của hữu tình, của vạn loại. Cho nên tu mà không thấy được thân tâm chính mình thì không thể gọi là tu tâm, vì tâm gồm bốn thành phần thọ; tưởng; hành; thức mà không biết lúc đó cảm giác của mình ra sao, tức là vô tri về cảm giác, trong tâm đang có hình bóng gì không biết là cũng vô minh về tưởng, đang suy nghĩ cái gì cũng không biết là vô minh về hành, trong tâm đang nhận thức, rõ biết ra sao cũng không biết là vô minh về thức vì vậy một người tu mà không thấy không biết gì về tâm thì làm sao gọi là tu tâm. Điều quan trọng là cần nhận diện ngũ uẩn, xem lại nội tâm, kiểm tra những nhóm này ở bên trong nội tâm đang có mặt như thế nào, đang vận hành ra sao, đang xâm chiếm, chi phối, áp đảo ra sao đều phải thấy biết, chẳng những vậy còn phải biết sự sanh diệt của sắc, của cảm giác, của những hình bóng, suy nghĩ và nhận thức, từ đâu nó có mặt, tính chất của nó là như thế nào và làm sao để nó chấm dứt, đó là bảy trí về sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và tham ái, ngũ uẩn đoạn diệt là do hết vô minh và tham ái, con đường đưa đến sự chấm dứt hết vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn là Bát Chánh Đạo, gọi là ngũ uẩn diệt đạo, tức là chấm dứt sự không thấy không biết và chấm dứt sự say mê, ưa thích trong năm thứ vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, khổ đau, sầu, bi và ưu não, con đường đó chỉ có Bát Chánh Đạo, thấy được như vậy, hiểu được và biết được như vậy thì gọi là thấy được pháp. Nếu tu mà chỉ chạy theo chữ nghĩa, hình thức, câu cú, văn kệ mà không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình như thế nào thì cái đó chưa phải là người học pháp, thấy pháp, hành pháp cho nên không thể thừa tự pháp được. Pháp phải có trong con người mình và mình tiếp nhận được pháp thì mới có thể truyền thừa cái pháp, tiếp nối cái pháp và trao truyền cái pháp, đó chính là người thừa hưởng tài sản của cha ông để lại và nhận trách nhiệm duy trì, thờ cúng, truyền thừa lại cho những đời sau thì mới gọi là thừa tự, cho nên điều đầu tiên muốn thừa tự pháp thì phải biết pháp là gì. Sở dĩ có ra hình dáng của mình, có ra những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm và sanh khởi những cái biết bám chấp vào thân xác này là do không thấy biết bản chất của năm thứ này, đó là vô minh và tham ái nên ngũ uẩn mới sanh ra. Vô minh là không thấy không biết đúng sự thật về sắc, không thấy không biết đúng sự thật về các cảm giác, không thấy không biết đúng sự thật về những hình bóng trong tâm, không thấy không biết đúng sự thật về bản chất của suy nghĩ, nhận thức cho nên mình yêu thích nó, vì không biết rồi yêu thích nên ngũ uẩn sanh ra, giống như mình không biết trong món ăn có chất độc, chỉ thấy màu sắc đẹp, mùi hấp dẫn nên nghĩ rằng nó thơm ngon, bổ béo, còn khi đã biết trong món ăn có độc thì dù thơm ngon cỡ nào vẫn không ăn, cho nên cái biết đó là minh, còn cái không biết là vô minh. Cũng vậy, mình yêu thích hình hài, vóc dáng này, yêu thích những món đồ xung quanh nên mình mới vui sướng, tạo dựng với nó, mình yêu thích cảm giác nên các cảm giác cứ sanh ra hoài, nghĩa là trong tâm có những cảm giác rồi từ cảm giác đó lại thèm khát, muốn được những cảm giác khác, nó cứ đòi hỏi, từ sự đòi hỏi đó cứ chạy tìm, cái vòng này lặp lại bất tận cho nên trong kinh định nghĩa ngũ uẩn là chúng nó liên tục sanh khởi cho nên gọi là chúng sanh, những cảm giác này cứ sanh khởi, những suy nghĩ, hình bóng cứ sanh khởi và mình không hiểu biết nó là nguy hiểm, là sự trói cột, khổ đau nên cứ ưa thích nó mà yêu thích là tham ái, còn không hiểu biết là vô minh. Vì không hiểu biết, vì tham ái nên nó có mặt, cho đến lúc nào mình thấy được ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng thì lòng khao khát, ưa thích, chạy đuổi được từ bỏ, chấm dứt thì lúc đó vô minh và tham ái không còn nên ngũ uẩn chấm dứt. Con đường đưa đến sự chấm dứt này là tám đúng, là Bát Thánh Đạo, xuất phát từ sự thấy đúng về ngũ uẩn, chỉ có thấy đúng mới đưa đến nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, siêng đúng, sống đúng, định đúng, quán đúng, từ đó mới đi đến chấm dứt sự tái tạo ra những đời sống vô thường, đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi.

Đối với bốn Thánh trí về lậu hoặc thì trước tiên phải biết lậu hoặc là gì, đó là sự mê lầm. Hoặc là mê lầm, tiếng việt hay nói mê hoặc, sự mê hoặc này luôn hoạt động ngấm ngầm. Lậu là qua mặt, nó nhỏ nhiệm, vi tế rồi qua mặt mà mình không hay biết, muốn thấy được bộ mặt thật sự của những thứ làm mình đau khổ thì phải đi qua nhận diện ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn giống như mở cánh cửa đi vào nhà rồi mới thấy trong nhà có gì thì đó chính là lậu hoặc. Khi nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhận diện được năm uẩn là mở được cánh cửa bước vào ngôi nhà nội tâm thì bắt đầu mới thấy trong nhà có cái gì, sau khi nhận diện được ngũ uẩn mới biết được lậu hoặc. Cho nên việc nhận diện năm uẩn vô cùng quan trọng, không biết nhận diện năm uẩn thì không thể biết được lúc đó đang có cảm giác gì, không biết được tham, sân, si ở trong ba cảm thọ, khi nhận diện năm uẩn mở ra được cánh cửa căn nhà nội tâm mới thấy trong tâm toàn rác bẩn, lậu hoặc, dơ bẩn. Mình không thấy những cái cấu nhiễm, lậu hoặc này, những cái dơ bẩn trong tâm đã làm tổ thâm căn cố đế vì không từ cái trí năm uẩn soi rọi vào đó, mình đã quen hướng ngoại nhìn ra ngoài xem người đó tốt hay xấu chứ không nhìn lại lúc đó trong tâm đang có cảm thọ gì, tham hay sân, chính vì nhìn ra ngoài nên mới không thấy bên trong, bây giờ phải dùng trí năm uẩn để nội soi bên trong và hệ quả tất yếu của việc nội soi là nhìn thấy tâm cấu uế. Đầu tiên thấy được tâm cấu nhiễm ngấm ngầm hoạt động qua mặt mình, trong đó có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Dục lậu là một sự ham muốn ngấm ngầm và mình vô tri, không hiểu, không biết gì về nó, cái dục thô ở ngoài là dục còn cái dục thô tế mình không hiểu về nó giống như không biết tại sao lại thấy bức xúc, đó chính là dục lậu, người nào có nhận diện ngũ uẩn, có thiền định, nội soi, quán chiếu mới nhìn ra được dục lậu như thế nào, tu trong chùa lâu năm nhưng ít nghe người nào nói về dục lậu của bản thân, đó là do mình không nương theo trí mà Đức Phật thành tựu nên không nhìn thấy được dục lậu, vì thế trạng thái ngấm ngầm hoạt động, bức xúc, đòi hỏi, ước mơ, thèm thuồng bên trong là dục lậu. Hữu lậu là một trạng thái dao động, không yên tịnh, muốn cái này muốn cái kia nhưng sâu sắc hơn tất cả là nó yêu thích sự hiện hữu trong năm uẩn, trong kinh dùng từ "hữu ái" là yêu thích sự hiện hữu, chính vì vậy mà có mặt trong luân hồi. Vô minh lậu rất vi tế, mình nói bản thân thấy an ổn, không còn sân hay tham nữa nhưng thật ra ở sâu bên trong là một tâm mê không thấy tham ái, vô minh, trạng thái đó giống như bất khổ bất lạc thọ, chỉ thấy đơ đơ nhưng đó là trạng thái của vô minh, thậm chí là thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng cái minh cũng không tỏ rạng, có thấy cũng chỉ thấy một phần nào đó thôi chứ không thể thấy hết. Lậu hoặc sanh là do vô minh và tham ái, lậu hoặc diệt là khi hết vô minh và tham ái, con đường chấm dứt tất cả lậu hoặc là Bát Chánh Đạo, đó là khát quát về chữ "pháp". Nhìn ra thân thể, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm, từ đó đưa đến chỗ thấy được sự cấu nhiễm trong tâm và dùng mọi cách để nhiếp phục, tẩy sạch và đoạn tận, đó chính là tổng cương lĩnh của chánh pháp, Thánh pháp, Phật pháp. Từ trí năm uẩn quay lại nhìn để phát giác, phát hiện ra những cấu uế, cấu nhiễm trong tâm sẽ thấy được các lậu hoặc, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, sự tẩy sạch, diệt tận những thứ đó chính là tu, đó là tổng cương lĩnh của chữ "pháp".

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo', --'Bạch Thế Tôn', các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói:

-- Này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: 'Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?'. Và này các Tỳ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: 'Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp', mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: 'Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp'.

Và này các Tỳ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: 'Cả Thầy và trò là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật', mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: 'Cả Thầy và trò đều là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật'. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: 'Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?'. (Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)

Như Lai thương tưởng đến các thầy các cô bằng lòng bi mẫn, bằng tâm đại từ. Đọc những câu kinh này thật xúc động, rưng nước mắt, những lời của Đức Thế Tôn như còn văng vẳng bên tai, những lời ngài dặn dò được lặp tới lặp lui rất nhiều lần, các thầy Tỳ-kheo phải là những người thừa kế và tiếp nối chánh pháp của ngài chứ đừng làm những người chỉ biết thừa kế tài sản vật chất, là người tu mà thừa kế tải sản vật chất sẽ bị người khác xem thường và chẳng những xem thường các thầy các cô và người ta còn xem thường cả bậc đạo sư. Từng lời từng chữ trong kinh như rót vào tim chúng ta bằng cả dòng nước mát, bằng cả dòng sữa mẹ, bằng cả lòng thương tưởng của bậc đạo sư đối với đệ tử. Ngọt ngào làm sao, tha thiết, chân thành làm sao, từ bi làm sao. Đọc những lời kinh này chúng ta có cảm nhận được tình thương của ngài đối với chúng ta không? "Con đừng chỉ biết thừa kế tài sản sẽ bị người ta chê cười con và cũng chê cười luôn cả thầy nữa", "người ta sẽ chê cười cả thầy lẫn trò chúng ta đó con", "các con phải nhớ thật kĩ điều này phải thừa kế được chánh pháp của ta, phải biết tiếp nối chánh pháp của ta, phải biết giữ gìn, tu tập, truyền bá Thánh pháp tối thượng này của ta, đó là con đường, là đạo lộ nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Đây là con đường cao thượng, cao đẹp, thánh thiện, là con đường của hiền Thánh, đại Thánh. Các thầy các cô phải nhớ lấy điều này". Khi học kinh phải dùng thọ; tưởng; hành quay ngược về 2600 năm trước để nhìn thấy hình ảnh của Đức Thế Tôn với giọng nói bằng tất cả từ ái, từ bi, bằng cả tình thương bao la, tha thiết, da diết, ngài quan tâm với tất cả tấm lòng đối với hàng đệ tử, chúng ta phải cảm nhận được một cách sâu sắc tình thương của Đức Thế Tôn đối với chúng ta. Cho đến hôm nay chúng ta đã thừa kế được gì từ nơi chánh pháp? Chúng ta đã hiểu pháp được bao nhiêu, đã tu tập được bao nhiêu? Thật là ngọt ngào, ấm áp! Chúng ta như đang sống trong trái tim của Thế Tôn, chúng ta như đang uống dòng sữa Thánh trí của Đức Phật, chúng ta như đang được ánh sáng mặt trời của ngài chiếu chạm đến trái tim nên thật mát mẻ, thanh lương, đó là lời nhắn nhủ đầu tiên của bài kinh do chính Đức Phật và bậc tướng quân chánh pháp Xá-lợi-phất thuyết giảng.

"Này các Tỳ-kheo, ở đây, một thời Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực của Ta đáng được quăng bỏ. Khi ấy có hai Tỳ-kheo đến, đói lả và kiệt sức. Ta có thể nói với hai vị ấy: 'Này các Tỳ-kheo, Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực này của Ta đáng được quăng bỏ. Nếu các Ngươi muốn, hãy ăn đi. Nếu các Ngươi không muốn ăn, Ta sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay Ta sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy'. Rồi một Tỳ-kheo có thể nghĩ như sau: 'Nay Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Nhưng Thế Tôn có dạy như sau: 'Này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật'. Ðây là loại tài vật; món đồ ăn này, ta hãy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày hôm nay, bị đói lả và kiệt sức'. Rồi vị ấy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày ấy, đói lả và kiệt sức. Tỳ-kheo thứ hai nghĩ như sau: 'Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Vậy ta hãy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm nay như vậy'. Rồi vị ấy ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy. Này các Tỳ-kheo, dầu cho Tỳ-kheo này, sau khi ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy, nhưng đối với Ta, Tỳ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn, và đáng được tán thán hơn. Vì sao vậy? Vì như vậy sẽ đưa đến cho Tỳ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật". (Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)

Đức Phật đưa ra sự kiện, ngài đã ăn no và còn dư lại đồ ăn thì lúc ấy có hai vị Tỳ-kheo đói lả và kiệt sức đến. Ngài nói với hai vị Tỳ-kheo đó ngài đã ăn xong, đồ ăn dư sẽ đem bỏ nhưng các thầy có muốn dùng thì hãy dùng. Một vị Tỳ-kheo nhớ lại lời dạy của Đức Phật hãy người thừa kế, tiếp nối giáo pháp chứ đừng làm người thừa kế tài sản vật chất cho nên vị thầy này suy nghĩ món đồ ăn này thuộc về tài sản vật chất nên ngài không ăn và chịu đói. Khi Thế Tôn dùng cơm xong đã qua giờ Ngọ và hai thầy này trên đường đi khất thực không có hoặc đi xa trong rừng, ít làng mạc con người nên khi đến gặp Đức Phật là đói lả và kiệt sức, Thế Tôn thấy vậy nên hỏi hai vị thầy có dùng thì hãy dùng, không thì ngài đem bỏ. Vị thứ hai nghĩ rằng nếu không ăn thì đồ ăn cũng bỏ đi nên đã ăn để làm giảm bớt cơn đói, ngủ yên. Thế Tôn nói rằng vị Tỳ-kheo đầu tiên đáng được kính nể và đáng được tán thán hơn vị Tỳ-kheo đã ăn. Đức Phật đưa ra một sự kiện để nói về giới không ăn chiều, ngài lấy ví dụ thực tế trong đời sống để nói lên pháp. Nghe câu chuyện này chúng ta có xấu hổ không? Vị Tỳ-kheo đầu tiên thà đói lả kiệt sức chứ không ăn được Đức Phật nói rằng đáng được kính nể, đáng được tán thán hơn vị thứ hai vì thầy Tỳ-kheo đó trong một thời gian lâu ngày sẽ ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Còn mình bây giờ có khi nghĩ ăn đồ ăn của Phật có phước lắm, vì thế chúng ta mới thấy được trọng tâm trong pháp này chính là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc, đó là cốt lõi, là thước đo trong sự tu hành của chúng ta, công phu, công đức trong sự tu tập này là nhiếp phục được sự tham muốn đối với những sắc đẹp, tài sản, vật chất, đối với những âm thanh, mùi vị, những sự tiếp xúc, đụng chạm, chúng ta đã nhiếp phục được chưa và nhiếp phục được bao nhiêu, đã đoạn tận được chưa và đoạn tận được bao nhiêu, đó chính là thước đo trong sự tu tập này. Trong kinh đang nói đến món ăn, các vị đi đường xa đến đói lả người, mệt kiệt sức và được chính Đức Phật mời, sau đó Đức Phật phân tích vấn đề sâu sắc cho chúng ta thấy. Thời Đức Phật sống rất đơn giản, khoác tấm y ôm bình bát, đầu trần chân đất mỗi ngày đi ăn xin, có khi đến ăn xin bị khinh khi, chính Thế Tôn bị một vị điền chủ nói rằng ông ấy phải cày cấy mới có ăn còn rằng ngài có cày cấy gì không mà ăn, rồi một Bà-la-môn khác đang phân phát thức ăn, Thế Tôn đi lại thì bị nói sao cứ xin hoài, sau đó Đức Phật nói pháp thì vị này mới xin quy y Phật, qua đây chúng ta thấy đời sống từ bậc đạo sư cho đến các vị Thánh chúng, từ các vị Tỳ-kheo thời đó cho đến cả bây giờ là Phật giáo nguyên thủy thì những vị tu chân chánh đáng cung kính, đánh đảnh lễ, đáng cúng dường. Minh Thành lên thăm ngài cao Tăng hộ pháp của Phật giáo nguyên thủy trên núi Dinh, khi cúng dường tiền là ngài không nhận, còn phẩm vật cái nào ngài dùng thì ngài nhận, ngoài ra ngài không lấy gì cả, ngài sống đơn sơ một mình trong tịnh thất suốt cả đời

"Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá. Lúc ấy, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, liền gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Hiền giả Tỳ-kheo!' –'Thưa vâng Hiền giả', các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói:

'Này các Hiền giả, như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly? Và như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy học viễn ly?' –'Này Hiền giả, chúng tôi từ xa lại để được hiểu nghĩa lý câu nói này từ Tôn giả Sariputta. Lành thay, nếu Tôn giả Sariputta thuyết giảng nghĩa lý câu nói ấy. Sau khi được nghe Tôn giả Sariputta thuyết giảng, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì' –'Chư Hiền, vậy hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ giảng' –'Thưa vâng, Hiền giả', những Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:

-- Này chư Hiền, ở đây vị Ðạo Sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly. Những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ, và họ sống trong sự đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly.

Này chư Hiền, các Thượng Tọa Tỳ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỳ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các Thượng Tọa Tỳ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỳ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỳ-kheo do ba trường hợp này đáng bị quở trách". (Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)

Sống viễn ly là một đời sống xa lìa, lánh xa đối với năm dục trưởng dưỡng, tránh xa đối với sắc đẹp, tài sản, những gì lòe loẹt, ồn ào của phố thị. Đức Thế Tôn sống ở núi rừng, sống ở nơi thanh vắng A-lan-nhã mà mình không tùy học viễn ly thì đáng bị quở trách. Chữ viễn ly ở bên ngoài là đối với năm dục trưởng dưỡng, còn ở bên trong là đối với tham, sân, si, sâu thẳm bên trong là đối với ngũ uẩn, nói đơn giản bên ngoài là rời xa năm dục trưởng dưỡng sắc; thanh; hương; vị; xúc, rời xa những âm thanh du dương, trầm bổng, rời xa mùi thơm, những vị thức ăn ngon, rời xa những sự tiếp xúc, đụng chạm, cần phải rời xa năm thứ làm cho sự tham muốn của mình được phát triển lớn mạnh, đó chính là giới, rời xa những thứ đó tâm mới an, lòng mới yên, trí tuệ mới phát khởi, tu tập thiền quán trí tuệ mới đi thâm sâu thể nhập được, còn bây giờ chỉ toàn tiếp xúc những cái đẹp, những cái vừa lòng, thích thú, vui sướng, hấp dẫn thì làm sao đưa đến đời sống ly tham, rời xa sự tham muốn, chính trong hoàn cảnh thống khổ dịch bệnh là thời điểm thích hợp để chiêm nghiệm sống viễn ly, lúc này là thuận duyên, phù hợp để thực tập đời sống viễn ly, rời xa, ly tham. Đừng rầu rĩ, đừng buồn chán mà cần tinh cần, tinh tấn, nỗ lực để thực tập, tu học trong lúc này, người tu lúc nào cũng phải hướng về rừng núi, hướng về ở một mình an tịnh, hướng về sự rời xa phố thị ồn ào, náo nhiệt, rời xa những cảm giác tham muốn, thích thú, hướng đến rời xa những cảm giác bức xúc, bực bội, rời xa những cảm giác si dại, ngáo ngơ, rời xa những cảm giác hống hách, kiêu căng, hơn thua, ta đây, cao ngạo, nói đơn giản là thân viễn ly và tâm viễn ly. Thân viễn ly là ở chỗ xa vắng và tâm viễn ly là viễn ly những cái tham muốn, nóng giận, si mê, bản ngã. Cái thứ hai là những pháp mà thầy mình dạy phải từ bỏ nhưng mình không chịu từ bỏ, giới luật phải từ bỏ nhưng mình không từ bỏ thì cái đó đáng bị quở trách, tự mình nhìn lại bản thân, tự mình nhìn lại giới luật, đối chiếu với pháp, nhìn sâu vào trong thọ; tưởng; hành, nhìn sâu vào tâm lậu hoặc, cấu nhiễm đó thì thấy mình đáng bị quở trách cho nên trong những ngày lạy sám hối phải phơi bày tội lỗi của mình ra, phơi bày những thứ cấu uế, cấu nhiễm trong tâm mình thì từ từ mới trong sạch, những thứ đáng từ bỏ là phải từ bỏ. Thứ ba đáng bị quở trách là "sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly", một ngày ăn nhiều bữa, phòng ốc trang trí hoành tráng, dùng hàng hiệu, đi xe mắc tiền… Đó là những thứ đáng bị quở trách, vừa bước vào cổng chùa chúng ta đã được học "tiến đạo nghiêm thân, tam thường bất túc", bậc đạo sư có khuyên răng và khuyến khích Tỳ-kheo phải giữ thân mà tiến trên đường đạo, còn ba việc ăn, mặt, và ngủ thường ngày đừng nên cho đầy đủ quá, không ăn quá no, không mặc vải đẹp, không phải lúc nào cũng trang trí phòng ốc. Đó là sống đầy đủ, còn lười biếng là không chịu ngồi thiền, không chịu nghe pháp, không siêng năng tác ý quán chiếu, nhiếp phục và đoạn tận những sân hận, vô minh, bản ngã trong thân tâm. Đọa lạc là rơi xuống, rớt xuống, dẫn đầu về chuyện này thì thất bại hoàn toàn, người tu cần ở nơi xa vắng một mình, độc cư thiền định, đời sống nhẫn dục nhẫn sắc, nhịn những thứ vui sướng của cuộc đời, đời sống đó Thế Tôn gọi là gánh nặng của cuộc đời, mình phải gánh cái gánh này chứ không phải nghĩ rằng tu rồi là không cần lo gì nữa, không còn trách nhiệm với ai nữa, thậm chí trách nhiệm còn nặng hơn cả lúc không đi tu vì khi chúng ta bỏ gánh nặng của thế gian thì phải gánh cái gánh nặng của thiện pháp, gánh cái gánh nặng của đời sống rời xa, đời sống viễn ly. Phải nhận thức cho sâu sắc vấn đề này để tu học vì nếu không là đi tu rồi sẽ thấy không còn trách nhiệm gì nữa, mình được giao nhiệm vụ quét chùa hoặc nấu cơm vậy là xong rồi, đó chỉ là trách nhiệm nhỏ trong công việc thôi còn gánh nặng lớn là phải gánh được thiện pháp, gánh được đời sống viễn ly.

"Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỳ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỳ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỳ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỳ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỳ-kheo do ba trường hợp này, đáng bị quở trách". (Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)

Các vị tu lâu hoặc mới tu mà rơi vào ba trường hợp trên đều bị la rầy, quở trách.

"Và như thế nào, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly? Này chư Hiền, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Những pháp nào, vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly". (Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)

Những pháp nào thầy mình nói phải từ bỏ, giới nói phải từ bỏ, luật nói mình phải từ bỏ thì mình phải làm theo và không sống trong sự đầy đủ, ít muốn biết đủ, đơn sơ, tối giản, sống siêng năng, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn trong việc thực hành các thiện pháp, không bỏ rơi gánh nặng của đời sống viễn ly, không đi vào đọa lạc mà dẫn đầu về đời sống viễn ly, rời xa. Đó là ba trường hợp đáng được tán thán, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.