Thánh Trí Năm Uẩn 15
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 15
THÍCH MINH THÀNH
Xin đại chúng nhớ về Đức Phật, nhớ về Trúc Lâm Tinh Xá, nhớ về hình bóng của Đức Thế Tôn và thánh chúng trong vườn Trúc vây quanh Đức Phật và các Tỳ-kheo, những thiện nam nữ cư sĩ từ rất xa về nương bên Đức Thế Tôn và thánh chúng thật là đẹp. Mỗi ngày Thế Tôn nói pháp cho chư Thiên và loài người, bên hương thất Ngài trầm mặc trong thiền định an tịnh, tôn giả Ananda là người kề cận.
Phúc lạc thay cho những ai được gần gũi bên Thế Tôn!
Công đức thay cho những ai được hầu cận bên Ngài tướng quân của chánh pháp!
Ngài Xá-lợi-phất dẫn đầu cho trí tuệ, chăm sóc và dạy dỗ chúng Tăng. Thánh đức Mục-kiền-liên đầu đà khổ hạnh mẫu mực thánh chúng. Tôn giả Ma-ha-ca-diếp là bậc thanh tịnh, thanh cao, thánh thiện, là bậc trưởng thượng, trưởng lão của Tăng chúng. Chư Tỳ-kheo mới xuất gia được các ngài quan tâm, nhắc nhở, chỉ dạy. Mỗi ngày được kề cận, trực tiếp lắng nghe pháp âm từ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, được lắng nghe thánh trí về năm uẩn, được lắng nghe chân tướng khổ đau của thế giới và con đường chấm dứt diệt tận khổ đau. Các ngài lần lượt đi đến chỗ cùng tận viên tế của đau khổ, chấm dứt tử sanh. Chúng ta cách xa Phật hơn 2600 năm, giờ đây chúng ta ngồi trong vườn trúc giữa núi đồi đại ngàn trong tinh thần hòa kính, trang nghiêm thanh tịnh để tưởng nhớ về bậc đại đạo sư.
Thật là phúc duyên cho chúng ta!
Thật là phước báu cho chúng ta!
Thật là công đức tối thượng cho chúng ta trong thời kì đầy rẫy hoạn nạn, tai ương toàn thế giới!
Chúng ta ở trong không gian mát lạnh bình yên xa vắng, an tịnh và trầm mặc. Hãy quán niệm Đức Phật, quán niệm thánh chúng, quán niệm giáo pháp. Chúng ta thật là bình an, phúc lạc! Một đại chúng tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, an tịnh và trầm mặc. Tuyệt diệu làm sao! Vi diệu làm sao! An tịnh làm sao Trúc Lâm Tinh Xá đã được tái hiện, Kỳ Viên Tinh Xá đâu đây vang vọng pháp âm của Đức Như Lai:
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
(Trung Bộ Kinh - 131. Kinh Nhất dạ hiền giả)
Trong giây phút này hãy nhiệt tâm tu tập, mấy ai biết được ngày mai ra sao.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là truy tìm quá khứ.
Nhớ lại những cảm giác trong quá khứ, hoan hỷ ưa thích trong đó, những hình bóng trong tâm của quá khứ, những suy nghĩ trước kia và hân hoan trong đó, vui thích trong đó. Như vậy này các Tỳ-kheo là truy tìm quá khứ. Những hình sắc, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức trước kia nhớ lại và thích thú, ái luyến, mê đắm trong đó.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ"; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là không truy tìm quá khứ (Trung Bộ Kinh - 131. Kinh Nhất dạ hiền giả).
Vị ấy không có ái dục tham trong những sắc; thọ; tưởng; hành; thức của quá khứ đó. Như vậy, này các Tỳ-kheo là không truy tìm quá khứ. Chúng ta đang nghe thánh ngữ của Đức Thế Tôn giảng ở Trúc Lâm Kỳ Viên ngày xưa. Những hình bóng đó sanh khởi lên, cảm giác, những nghĩ tưởng đó sanh khởi lên trong tâm thì không hân hoan, không tìm kiếm, không ưa thích, không ái, không tham dục trong đó. Vị ấy biết nó là trống rỗng, sắc quá khứ đã qua, những cảm giác quá khứ đã không còn, những hình bóng đó chỉ là trống rỗng, những suy nghĩ đó là vô thường, vô ngã. Vị ấy biết rằng đeo đuổi, dính mắc, hân hoan, ưa thích trong đó chỉ là ưa thích bong bóng, ưa thích bọt nước, ưa thích hình ảnh trong mộng nên vị ấy trong truy tìm sự hân hoan trong đó. Như vậy này các Tỳ-kheo là không truy tìm quá khứ. Vị ấy chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Vị ấy cảm nhận một cách trọn vẹn sâu sắc thực tài, sự thật đang có mặt trong hiện tại. Đó gọi là quá khứ không truy tìm, chỉ có pháp ở hiện tại.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy là tưởng của tôi... là hành của tôi... là thức của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là ước vọng trong tương lai.
Vị ấy nghĩ rằng tiền của này, tài sản này, đất vườn, nhà cửa, xe cộ sau này sẽ được như vầy và vị ấy truy tìm sự hân hoan trong đó. Khi nghĩ về những tài sản, vật chất, sắc thân trong tương lai, những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng sanh khởi lên thì vị ấy thích thú trong đó, mong rằng sau này tôi sẽ có những cảm giác như vậy, những suy nghĩ về tương lai thì vị ấy đi tìm sự hân hoan trong đó. Như vậy, này các Tỳ-kheo là ước vọng tương lai. Sau này tôi sẽ trở thành như vậy, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức của tôi trong tương lai sẽ như vầy thì vị ấy truy tìm sự hân hoan trong ấy. Đó là ước vọng tương lai, vị đó không cảm nhận chính xác khoảnh khắc hiện tại mà sống trong ảo tưởng, ảo vọng, ảo mộng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là không ước vọng trong tương lai.
Có sự suy nghĩ, có những hình bóng hiện ra nơi nội tâm về tương lai mình sẽ ra sao nhưng vị đó không truy tìm cái hân hoan, ưa thích trong đó. Họ chỉ biết nó là những thọ; tưởng; hành của sự ảo vọng cho nên vị ấy không ước vọng trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo gọi là không ước vọng trong tương lai. Dù cho sao này mình có thành cái gì thì nó cũng là vô thường, trống rỗng, vô ngã, không truy tầm sự hân hoan trong đó, không tìm kiếm sự thích thú, không chạy theo sự ưa muốn, khoan khoái, đam mê trong những cảm giác, nghĩ tưởng ảo vọng về tương lai đó. Như vậy, này các Tỳ-kheo gọi là không ước vọng trong tương lai. Đức Thế Tôn thật là tối thượng! Đức Thế Tôn thật là từ bi vô hạn! Ngài giải thích cho chúng ta thế nào là truy tìm quá khứ, thế nào không truy tìm quá khứ, thế nào là ước vọng tương lai, thế nào là không ước vọng tương lai. Ngài chỉ cặn kẽ đầy đủ, chi li, từng câu từng chữ lặp tới lặp lui, dặn dò hơn cha mẹ mà chúng ta lại đọc một cách phớt lờ, đọc một cách hời hợt, không cẩn thận, không nắm bắt được yếu nghĩa Phật dạy. Cuối cùng chúng ta thực tập và hành trì không có kết quả.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Đây là chỗ rất nhiều người hiểu lầm. Sự an trú trong hiện tại không đơn giản như mình nghĩ là ngồi đây với trúc xanh, sương mờ ảo, không khí mát lạnh nên thích quá, đã quá nhưng không phải như vậy. Phật không dạy an trú với hiện tại như vậy. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã giải thích từng câu từng chữ, từng ý từng lời thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại và thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Kẻ phàm phu không nghe chánh pháp, không gặp bậc chánh kiến, bậc thánh nhân, bậc Chân nhân, không tu tập, không thuần thục trong pháp của bậc thánh, cho rằng thân xác này, tài sản này là tôi, là của tôi. Cho rằng những cảm giác nơi thân xác này là tôi, là của tôi; những hình bóng trong tâm cho đó là tôi, là của tôi; những suy nghĩ cho đó là tôi, là của tôi; những nhận thức rõ biết cho đó là tôi, là của tôi. Như vậy, này các Tỳ-kheo là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Điều này thật vi diệu tối thượng! Đây là đề tài thiền quán, chỉ cần 1 câu nói của bậc Chánh Đẳng Giác cần phải đem sinh mạng để thể nhập, cần phải đem cuộc đời này để hành trì. Phật không giảng thế nào là pháp hiện tại, thế nào là bị lôi cuốn trong pháp hiện tại mà người nào cho ngũ uẩn là tôi thì người đó sẽ bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Mình cho thân này là mình, mình muốn hình vóc này chỉ được bao nhiêu kí thôi nhưng lại bị béo phì thì có khổ không? Mình muốn hình vóc này cỡ 60kg nhưng giờ chỉ còn 40kg thì có khổ không? Mình muốn da mặt mịn màng, không có mụn nhưng cứ liên tục nổi mụn thì có khổ không? Mình muốn đó là cái chân của mình nhưng bị tai nạn hay bệnh hoạn thì cái chân đó giờ bị hoại tử, phải cắt bỏ đi thì mình có bị đau khổ không? Mình yêu thích cây kiểng này, cho nó là của mình, ngủ dậy bị trộm lấy mất thì mình có bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại không, có bị đau khổ không? Cho nên Đức Phật không giải thích lôi cuốn trong các pháp hiện tại là cái gì mà lại nói nếu cho năm uẩn này là tôi, là của tôi thì bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại, năm uẩn là bao trùm hết tất cả nhân sinh vũ trụ này rồi. Đó là cửa thứ nhất trong Bát Thánh Đạo, người không vào cửa thứ nhất, tức là thấy đúng thì người này chắc chắn bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại, bị đau khổ, sầu bi ưu não, bị tàn phá trong các pháp hiện tại. Người này chạy lòng vòng trong năm uẩn mà năm uẩn thì luôn biến đổi, luôn vô thường nên người này sẽ đau khổ, sầu bi ưu não dài dài. Đau khổ cho chúng ta vô lượng kiếp rồi! Chúng ta đã nhận năm uẩn này làm tôi, là chính mình, là ta, là tự ngã của mình. Chúng ta bị lôi cuốn vô số lần, chúng ta đã bị đày ải vô số kể, chúng ta đã bị hành hạ trong vô ức năm.
Này các Tỳ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm (Trung Bộ Kinh 26. Kinh Thánh cầu- thánh cầu giải thoát).
Như vậy là tiếp nối mãi mãi vĩnh hằng bất tận sanh tử. May mắn cho chúng ta! Phước báu cho chúng ta! Công đức cho chúng ta! Trí tuệ cho chúng ta! Ngày hôm nay chúng ta gặp được thánh pháp. Chúng ta đã bắt đầu nhìn thấy được năm uẩn, bắt đầu ghê sợ, sợ hãi, lo sợ đối với năm uẩn này. Chúng ta bắt đầu bước lên, bước ra khỏi năm uẩn. Phúc lành cho chúng ta đang ngồi đây, đang nghe những lời này, đang đặt hết trái tim bằng tất cả tấm lòng để đón nhận thánh trí, thánh pháp, thánh ngữ trong một không gian thần thánh này để chúng ta nghe thánh pháp tạng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại (Trung Bộ Kinh - 131. Kinh Nhất dạ hiền giả).
Bậc đa văn thánh đệ tử, tức là đệ tử của Đức Phật được nghe nhiều về kinh tạng Nikāya, được nghe nhiều về thánh trí năm uẩn, được gặp bậc chánh kiến, chánh nhân, Chân nhân, được nghe pháp, được tu tập thuần thục trong thánh pháp. Vị ấy không cho rằng thân xác tứ đại này là tôi, là tự ngã của tôi, không cho những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức rõ biết này là tôi, là của tôi. Như vậy, này các Tỳ-kheo là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Các chú tập sự xuất gia lâu lâu nội tâm khởi lên những hình bóng về vợ con thì tác ý "cái tưởng này không phải tôi, không phải là của tôi, cái tưởng này chỉ là ảo tưởng". Phải quán chiếu để thoát ra thì mới không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Nếu mình không nhìn thấy, không quán chiếu, không tác ý, không thoát ra sẽ bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại dù cho người xung quanh không thấy. Nó lôi mình xuống núi trở về nhà, ngồi thiền mà hình ảnh người làm mình tức giận hôm qua hiện lên, khi sanh khởi lên những cảm giác khó chịu, những suy nghĩ thì tác ý "hình bóng này không phải là tôi, không phải là của tôi. Cảm thọ sân này đáng từ bỏ, không phải tôi, không phải của tôi". Tác ý sự buông xả, xả ly, diệt tận, làm cho nó tan biến thành mây, thành khói, thành hư không thì mình không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Đây là một pháp hành tuyệt vời, tối thượng. Hôm trước các chú nói với Minh Thành cửa Quán Chiếu Đường bị cạy nên các chú phải canh chừng làm bỏ giờ nghe pháp. Minh Thành nói để đó, phải vào nghe pháp thì đó là chúng ta không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Điều này phải được thực tập, phải được hành trì, nếu chỉ vì một việc nhỏ mà mọi người giao động, lăng xăng là bị các pháp hiện tại lôi cuốn. Tất cả những cái này là đời sống hằng ngày, là sự hành trì, đây là hơi thở, là bát cơm, chung trà, là ly nước, là bước đi, là lời nói. Bất thình lình có người đang ngồi ở đây bị tai biến đột quỵ, nếu tự thân người đó không cho rằng thân xác này là tôi, là của tôi thì người đó vẫn giữ được chánh niệm tỉnh giác, nếu trong đại chúng đều tu tập thánh trí năm uẩn này thì cũng không có kinh hãi và hoảng loạn. Đó là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Còn gì hạnh phúc bằng sự bất động tâm giải thoát trước mọi sự vật hiện tượng? Dù cho có gì xảy ra trên cuộc đời này người thật sự thể nhập thánh trí năm uẩn vẫn giữ được trạng thái an tịnh trầm mặc, ung dung và thư thái.
Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).
Lúc bấy giờ, một con rắn độc rơi trên thân Tôn giả Upasena.
Rồi Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:
Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.
Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:
Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.
Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:
Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: "Tôi là con mắt", hay: "Con mắt là của tôi"... "Tôi là cái lưỡi", hay: "Cái lưỡi là của tôi"... "Tôi là ý", hay: "Ý là của tôi", thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: "Tôi là con mắt", hay: "Con mắt là của tôi"... "Tôi là cái lưỡi", hay: "Cái lưỡi là của tôi"... hay: "Tôi là ý", hay: "Ý là của tôi", thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.
Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: "Tôi là con mắt", hay: "Con mắt là của tôi"... hay: "Tôi là cái lưỡi", hay: "Lưỡi là của tôi"... hay: "Tôi là ý", hay: "Ý là của tôi".
Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.
Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, 69. VII. Upasena).
Ngài Upasena không nhập Niết-bàn trong thất hay trong Tinh Xá mà lại nhập Niết-bàn ngoài trời, một trong những đầu đà ở ngoài bãi đất trống ngoài trời. Đó là cái hạnh của người xuất gia, cho nên tại sao lâu lâu chúng ta phải ra hứng sương. Chúng ta sẽ có những đêm ngồi thiền tới 12h đêm hoặc ngồi sáng đêm để cảm nhận sự khó khăn gian khổ của Đức Phật, các vị thánh Tăng, Tỳ-kheo ngày xưa hoặc các vị cao Tăng cận đại gần đây cũng có. Chứ chúng ta mới ngồi chút thôi là lo sợ, học thì buồn ngủ, tu thì ngồi không yên, làm thì không muốn làm, ngồi thiền thì khó chịu hay giao động nhưng nói thì rất hay. Người tu chúng ta phải có tuệ quán ngay chính đây, không động không rung chuyển. Vào một ngày gần đây chúng ta sẽ không ăn sáng, tại sao cứ tới giờ là phải ăn, vậy thì làm sao chấm dứt luân hồi, đầu thai lại để ăn tiếp. Cái tâm mình trú vào pháp chưa vững chắc, đi ăn là bị pháp hiện tại lôi cuốn. Cho nên cái pháp hiện tại này rất thâm sâu, nó bao trùm tất cả, cái tâm mình bị chấp thủ vào giờ đó, tới đúng giờ đó là phải ăn, chấp thủ vào chỗ ngồi đó, chấp thủ vào việc đó, người đó, chấp thủ vào thân xác đó, đi ra không được, sự việc phải như vậy mới đồng ý chứ không giống vậy là không chịu được, đó gọi là chấp thủ. Minh Thành thường không thông báo trước việc sẽ làm, có khi cũng rất vất vả nhưng có khi cũng có cái hay vì cái chết không cho mình biết trước, nhiễm dịch bệnh không cho mình biết trước, tai nạn giao thông không cho mình biết trước, tai biến đột quỵ không thông báo trước, bị điên loạn thần kinh không cho mình biết trước thì tại sao cái nào mình cũng muốn phải thông báo trước, phải chuẩn bị cho chu đáo? Mình phải tập thích ứng với hoàn cảnh, không có gì là đúng hay sai ngoại trừ thấy năm uẩn là tôi, là của tôi là sai, tham sân si và bản ngã là sai, mà hễ thấy năm uẩn là tôi, là của tôi thì sẽ có tham sân si, vô minh và bản ngã đi theo sau đó. Không bao giờ có sự kiện nhìn thấy năm uẩn là tôi, là của tôi mà không có tham sân si, vô minh và bản ngã. Đối với 1 người cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi mà người đó không tham, không sân, không si, không bản ngã, không chấp thủ thì sự kiện đó không thể xảy ra. Đối với 1 người thường quán chiếu, thường nghiền ngẫm, thường chiêm nghiệm sắc; thọ; tưởng; hành; thức không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi thì người đó đi đến chỗ bào mòn, đoạn giảm tham sân si thì sự kiện này chắc chắn xảy ra. Tại sao trong thiền đường thì thiền, còn đứng dậy hay bước ra khỏi cửa là hết thiền? Như vậy vàng trong cửa hàng mới là vàng, còn đem ra khỏi cửa thì không phải là vàng nữa hay sao? Tại sao chỉ thiền trong thiền đường thôi? Hãy hỏi cái tâm hay buông lung phóng dật như vậy, là do nó bị các pháp hiện tại lôi cuốn nên không thiền được. Phải làm sao cho trí tuệ chánh niệm tỉnh giác thì tự lợi lợi tha còn nếu không thì không làm, nói không làm thì không hẳn vậy nhưng mình phải làm sao nhiếp phục được cái làm này làm nọ. Mình bị 2 thái cực: Một là làm thì chấp thủ vào đó; hai là không làm thì đó là bản ngã. Nhưng làm hay không làm đều sai hết, vì làm hay không làm đều bị pháp hiện tại lôi cuốn. Không làm cũng phiền não, thấy người ta làm trật cũng khó chịu cho nên làm sao để các pháp hiện tại không lôi cuốn là phải có chánh kiến.
Bài kinh Nhất dạ hiền giả này được Đức Phật nói với các vị Tỳ-kheo, không ai hỏi mà tự Đức Phật nói, gọi là vô vấn tự thuyết.
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Những cái đã qua thì đừng tìm lại, không có khoan khoái thích thú và tham đắm trong đó. Những cái chưa đến thì đừng ước mơ ảo vọng vì những cái này vô thường, trống rỗng, vô ngã, nó cứ lẩn quẩn trong tham sân si, vô minh, bản ngã, sầu bi khổ ưu não. Ước vọng để làm gì?
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Pháp hiện tại là 3 pháp mình đang thực tập, thiện pháp lạc trú nhưng trong cái trí soi sáng, phá vỡ sự chấp thủ của năm uẩn.
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Phải đọc những câu này cho ngấm vào từng thớ thịt, những câu này Minh Thành đọc mà cảm thấy đã, hễ nghe chữ chết là cảm thấy thích thú trong người, không cảm thấy tham muốn, sân hận hay dính mắc gì nữa. Minh Thành đã thấy rất nhiều, con chim đâm đầu vào cửa kính rồi chết, ếch nhái nhảy vào rồi bị kiến cắn chết, thằn lằn đứt đuôi bị kiến rỉa, rắn ăn những con chuột. Những thầy, huynh đệ tu chung có người chết, có người bị khùng, có người hoàn tục, có người bị tai nạn. Những vị tôn túc Hòa Thượng vài bữa nghe có vị này mất, vị kia mất. Xin đại chúng đừng nghĩ rằng ngày nào cũng được gặp Minh Thành ở đây, cũng đừng chán Minh Thành vì ngày nào cũng nghe giảng.
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
./.
THÍCH MINH THÀNH
Xin đại chúng nhớ về Đức Phật, nhớ về Trúc Lâm Tinh Xá, nhớ về hình bóng của Đức Thế Tôn và thánh chúng trong vườn Trúc vây quanh Đức Phật và các Tỳ-kheo, những thiện nam nữ cư sĩ từ rất xa về nương bên Đức Thế Tôn và thánh chúng thật là đẹp. Mỗi ngày Thế Tôn nói pháp cho chư Thiên và loài người, bên hương thất Ngài trầm mặc trong thiền định an tịnh, tôn giả Ananda là người kề cận.
Phúc lạc thay cho những ai được gần gũi bên Thế Tôn!
Công đức thay cho những ai được hầu cận bên Ngài tướng quân của chánh pháp!
Ngài Xá-lợi-phất dẫn đầu cho trí tuệ, chăm sóc và dạy dỗ chúng Tăng. Thánh đức Mục-kiền-liên đầu đà khổ hạnh mẫu mực thánh chúng. Tôn giả Ma-ha-ca-diếp là bậc thanh tịnh, thanh cao, thánh thiện, là bậc trưởng thượng, trưởng lão của Tăng chúng. Chư Tỳ-kheo mới xuất gia được các ngài quan tâm, nhắc nhở, chỉ dạy. Mỗi ngày được kề cận, trực tiếp lắng nghe pháp âm từ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, được lắng nghe thánh trí về năm uẩn, được lắng nghe chân tướng khổ đau của thế giới và con đường chấm dứt diệt tận khổ đau. Các ngài lần lượt đi đến chỗ cùng tận viên tế của đau khổ, chấm dứt tử sanh. Chúng ta cách xa Phật hơn 2600 năm, giờ đây chúng ta ngồi trong vườn trúc giữa núi đồi đại ngàn trong tinh thần hòa kính, trang nghiêm thanh tịnh để tưởng nhớ về bậc đại đạo sư.
Thật là phúc duyên cho chúng ta!
Thật là phước báu cho chúng ta!
Thật là công đức tối thượng cho chúng ta trong thời kì đầy rẫy hoạn nạn, tai ương toàn thế giới!
Chúng ta ở trong không gian mát lạnh bình yên xa vắng, an tịnh và trầm mặc. Hãy quán niệm Đức Phật, quán niệm thánh chúng, quán niệm giáo pháp. Chúng ta thật là bình an, phúc lạc! Một đại chúng tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, an tịnh và trầm mặc. Tuyệt diệu làm sao! Vi diệu làm sao! An tịnh làm sao Trúc Lâm Tinh Xá đã được tái hiện, Kỳ Viên Tinh Xá đâu đây vang vọng pháp âm của Đức Như Lai:
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
(Trung Bộ Kinh - 131. Kinh Nhất dạ hiền giả)
Trong giây phút này hãy nhiệt tâm tu tập, mấy ai biết được ngày mai ra sao.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là truy tìm quá khứ.
Nhớ lại những cảm giác trong quá khứ, hoan hỷ ưa thích trong đó, những hình bóng trong tâm của quá khứ, những suy nghĩ trước kia và hân hoan trong đó, vui thích trong đó. Như vậy này các Tỳ-kheo là truy tìm quá khứ. Những hình sắc, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức trước kia nhớ lại và thích thú, ái luyến, mê đắm trong đó.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ"; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là không truy tìm quá khứ (Trung Bộ Kinh - 131. Kinh Nhất dạ hiền giả).
Vị ấy không có ái dục tham trong những sắc; thọ; tưởng; hành; thức của quá khứ đó. Như vậy, này các Tỳ-kheo là không truy tìm quá khứ. Chúng ta đang nghe thánh ngữ của Đức Thế Tôn giảng ở Trúc Lâm Kỳ Viên ngày xưa. Những hình bóng đó sanh khởi lên, cảm giác, những nghĩ tưởng đó sanh khởi lên trong tâm thì không hân hoan, không tìm kiếm, không ưa thích, không ái, không tham dục trong đó. Vị ấy biết nó là trống rỗng, sắc quá khứ đã qua, những cảm giác quá khứ đã không còn, những hình bóng đó chỉ là trống rỗng, những suy nghĩ đó là vô thường, vô ngã. Vị ấy biết rằng đeo đuổi, dính mắc, hân hoan, ưa thích trong đó chỉ là ưa thích bong bóng, ưa thích bọt nước, ưa thích hình ảnh trong mộng nên vị ấy trong truy tìm sự hân hoan trong đó. Như vậy này các Tỳ-kheo là không truy tìm quá khứ. Vị ấy chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Vị ấy cảm nhận một cách trọn vẹn sâu sắc thực tài, sự thật đang có mặt trong hiện tại. Đó gọi là quá khứ không truy tìm, chỉ có pháp ở hiện tại.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy là tưởng của tôi... là hành của tôi... là thức của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là ước vọng trong tương lai.
Vị ấy nghĩ rằng tiền của này, tài sản này, đất vườn, nhà cửa, xe cộ sau này sẽ được như vầy và vị ấy truy tìm sự hân hoan trong đó. Khi nghĩ về những tài sản, vật chất, sắc thân trong tương lai, những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng sanh khởi lên thì vị ấy thích thú trong đó, mong rằng sau này tôi sẽ có những cảm giác như vậy, những suy nghĩ về tương lai thì vị ấy đi tìm sự hân hoan trong đó. Như vậy, này các Tỳ-kheo là ước vọng tương lai. Sau này tôi sẽ trở thành như vậy, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức của tôi trong tương lai sẽ như vầy thì vị ấy truy tìm sự hân hoan trong ấy. Đó là ước vọng tương lai, vị đó không cảm nhận chính xác khoảnh khắc hiện tại mà sống trong ảo tưởng, ảo vọng, ảo mộng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là không ước vọng trong tương lai.
Có sự suy nghĩ, có những hình bóng hiện ra nơi nội tâm về tương lai mình sẽ ra sao nhưng vị đó không truy tìm cái hân hoan, ưa thích trong đó. Họ chỉ biết nó là những thọ; tưởng; hành của sự ảo vọng cho nên vị ấy không ước vọng trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo gọi là không ước vọng trong tương lai. Dù cho sao này mình có thành cái gì thì nó cũng là vô thường, trống rỗng, vô ngã, không truy tầm sự hân hoan trong đó, không tìm kiếm sự thích thú, không chạy theo sự ưa muốn, khoan khoái, đam mê trong những cảm giác, nghĩ tưởng ảo vọng về tương lai đó. Như vậy, này các Tỳ-kheo gọi là không ước vọng trong tương lai. Đức Thế Tôn thật là tối thượng! Đức Thế Tôn thật là từ bi vô hạn! Ngài giải thích cho chúng ta thế nào là truy tìm quá khứ, thế nào không truy tìm quá khứ, thế nào là ước vọng tương lai, thế nào là không ước vọng tương lai. Ngài chỉ cặn kẽ đầy đủ, chi li, từng câu từng chữ lặp tới lặp lui, dặn dò hơn cha mẹ mà chúng ta lại đọc một cách phớt lờ, đọc một cách hời hợt, không cẩn thận, không nắm bắt được yếu nghĩa Phật dạy. Cuối cùng chúng ta thực tập và hành trì không có kết quả.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Đây là chỗ rất nhiều người hiểu lầm. Sự an trú trong hiện tại không đơn giản như mình nghĩ là ngồi đây với trúc xanh, sương mờ ảo, không khí mát lạnh nên thích quá, đã quá nhưng không phải như vậy. Phật không dạy an trú với hiện tại như vậy. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã giải thích từng câu từng chữ, từng ý từng lời thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại và thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Kẻ phàm phu không nghe chánh pháp, không gặp bậc chánh kiến, bậc thánh nhân, bậc Chân nhân, không tu tập, không thuần thục trong pháp của bậc thánh, cho rằng thân xác này, tài sản này là tôi, là của tôi. Cho rằng những cảm giác nơi thân xác này là tôi, là của tôi; những hình bóng trong tâm cho đó là tôi, là của tôi; những suy nghĩ cho đó là tôi, là của tôi; những nhận thức rõ biết cho đó là tôi, là của tôi. Như vậy, này các Tỳ-kheo là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Điều này thật vi diệu tối thượng! Đây là đề tài thiền quán, chỉ cần 1 câu nói của bậc Chánh Đẳng Giác cần phải đem sinh mạng để thể nhập, cần phải đem cuộc đời này để hành trì. Phật không giảng thế nào là pháp hiện tại, thế nào là bị lôi cuốn trong pháp hiện tại mà người nào cho ngũ uẩn là tôi thì người đó sẽ bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Mình cho thân này là mình, mình muốn hình vóc này chỉ được bao nhiêu kí thôi nhưng lại bị béo phì thì có khổ không? Mình muốn hình vóc này cỡ 60kg nhưng giờ chỉ còn 40kg thì có khổ không? Mình muốn da mặt mịn màng, không có mụn nhưng cứ liên tục nổi mụn thì có khổ không? Mình muốn đó là cái chân của mình nhưng bị tai nạn hay bệnh hoạn thì cái chân đó giờ bị hoại tử, phải cắt bỏ đi thì mình có bị đau khổ không? Mình yêu thích cây kiểng này, cho nó là của mình, ngủ dậy bị trộm lấy mất thì mình có bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại không, có bị đau khổ không? Cho nên Đức Phật không giải thích lôi cuốn trong các pháp hiện tại là cái gì mà lại nói nếu cho năm uẩn này là tôi, là của tôi thì bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại, năm uẩn là bao trùm hết tất cả nhân sinh vũ trụ này rồi. Đó là cửa thứ nhất trong Bát Thánh Đạo, người không vào cửa thứ nhất, tức là thấy đúng thì người này chắc chắn bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại, bị đau khổ, sầu bi ưu não, bị tàn phá trong các pháp hiện tại. Người này chạy lòng vòng trong năm uẩn mà năm uẩn thì luôn biến đổi, luôn vô thường nên người này sẽ đau khổ, sầu bi ưu não dài dài. Đau khổ cho chúng ta vô lượng kiếp rồi! Chúng ta đã nhận năm uẩn này làm tôi, là chính mình, là ta, là tự ngã của mình. Chúng ta bị lôi cuốn vô số lần, chúng ta đã bị đày ải vô số kể, chúng ta đã bị hành hạ trong vô ức năm.
Này các Tỳ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm (Trung Bộ Kinh 26. Kinh Thánh cầu- thánh cầu giải thoát).
Như vậy là tiếp nối mãi mãi vĩnh hằng bất tận sanh tử. May mắn cho chúng ta! Phước báu cho chúng ta! Công đức cho chúng ta! Trí tuệ cho chúng ta! Ngày hôm nay chúng ta gặp được thánh pháp. Chúng ta đã bắt đầu nhìn thấy được năm uẩn, bắt đầu ghê sợ, sợ hãi, lo sợ đối với năm uẩn này. Chúng ta bắt đầu bước lên, bước ra khỏi năm uẩn. Phúc lành cho chúng ta đang ngồi đây, đang nghe những lời này, đang đặt hết trái tim bằng tất cả tấm lòng để đón nhận thánh trí, thánh pháp, thánh ngữ trong một không gian thần thánh này để chúng ta nghe thánh pháp tạng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại (Trung Bộ Kinh - 131. Kinh Nhất dạ hiền giả).
Bậc đa văn thánh đệ tử, tức là đệ tử của Đức Phật được nghe nhiều về kinh tạng Nikāya, được nghe nhiều về thánh trí năm uẩn, được gặp bậc chánh kiến, chánh nhân, Chân nhân, được nghe pháp, được tu tập thuần thục trong thánh pháp. Vị ấy không cho rằng thân xác tứ đại này là tôi, là tự ngã của tôi, không cho những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức rõ biết này là tôi, là của tôi. Như vậy, này các Tỳ-kheo là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Các chú tập sự xuất gia lâu lâu nội tâm khởi lên những hình bóng về vợ con thì tác ý "cái tưởng này không phải tôi, không phải là của tôi, cái tưởng này chỉ là ảo tưởng". Phải quán chiếu để thoát ra thì mới không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Nếu mình không nhìn thấy, không quán chiếu, không tác ý, không thoát ra sẽ bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại dù cho người xung quanh không thấy. Nó lôi mình xuống núi trở về nhà, ngồi thiền mà hình ảnh người làm mình tức giận hôm qua hiện lên, khi sanh khởi lên những cảm giác khó chịu, những suy nghĩ thì tác ý "hình bóng này không phải là tôi, không phải là của tôi. Cảm thọ sân này đáng từ bỏ, không phải tôi, không phải của tôi". Tác ý sự buông xả, xả ly, diệt tận, làm cho nó tan biến thành mây, thành khói, thành hư không thì mình không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Đây là một pháp hành tuyệt vời, tối thượng. Hôm trước các chú nói với Minh Thành cửa Quán Chiếu Đường bị cạy nên các chú phải canh chừng làm bỏ giờ nghe pháp. Minh Thành nói để đó, phải vào nghe pháp thì đó là chúng ta không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Điều này phải được thực tập, phải được hành trì, nếu chỉ vì một việc nhỏ mà mọi người giao động, lăng xăng là bị các pháp hiện tại lôi cuốn. Tất cả những cái này là đời sống hằng ngày, là sự hành trì, đây là hơi thở, là bát cơm, chung trà, là ly nước, là bước đi, là lời nói. Bất thình lình có người đang ngồi ở đây bị tai biến đột quỵ, nếu tự thân người đó không cho rằng thân xác này là tôi, là của tôi thì người đó vẫn giữ được chánh niệm tỉnh giác, nếu trong đại chúng đều tu tập thánh trí năm uẩn này thì cũng không có kinh hãi và hoảng loạn. Đó là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Còn gì hạnh phúc bằng sự bất động tâm giải thoát trước mọi sự vật hiện tượng? Dù cho có gì xảy ra trên cuộc đời này người thật sự thể nhập thánh trí năm uẩn vẫn giữ được trạng thái an tịnh trầm mặc, ung dung và thư thái.
Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).
Lúc bấy giờ, một con rắn độc rơi trên thân Tôn giả Upasena.
Rồi Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:
Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.
Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:
Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.
Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:
Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: "Tôi là con mắt", hay: "Con mắt là của tôi"... "Tôi là cái lưỡi", hay: "Cái lưỡi là của tôi"... "Tôi là ý", hay: "Ý là của tôi", thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: "Tôi là con mắt", hay: "Con mắt là của tôi"... "Tôi là cái lưỡi", hay: "Cái lưỡi là của tôi"... hay: "Tôi là ý", hay: "Ý là của tôi", thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.
Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: "Tôi là con mắt", hay: "Con mắt là của tôi"... hay: "Tôi là cái lưỡi", hay: "Lưỡi là của tôi"... hay: "Tôi là ý", hay: "Ý là của tôi".
Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.
Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, 69. VII. Upasena).
Ngài Upasena không nhập Niết-bàn trong thất hay trong Tinh Xá mà lại nhập Niết-bàn ngoài trời, một trong những đầu đà ở ngoài bãi đất trống ngoài trời. Đó là cái hạnh của người xuất gia, cho nên tại sao lâu lâu chúng ta phải ra hứng sương. Chúng ta sẽ có những đêm ngồi thiền tới 12h đêm hoặc ngồi sáng đêm để cảm nhận sự khó khăn gian khổ của Đức Phật, các vị thánh Tăng, Tỳ-kheo ngày xưa hoặc các vị cao Tăng cận đại gần đây cũng có. Chứ chúng ta mới ngồi chút thôi là lo sợ, học thì buồn ngủ, tu thì ngồi không yên, làm thì không muốn làm, ngồi thiền thì khó chịu hay giao động nhưng nói thì rất hay. Người tu chúng ta phải có tuệ quán ngay chính đây, không động không rung chuyển. Vào một ngày gần đây chúng ta sẽ không ăn sáng, tại sao cứ tới giờ là phải ăn, vậy thì làm sao chấm dứt luân hồi, đầu thai lại để ăn tiếp. Cái tâm mình trú vào pháp chưa vững chắc, đi ăn là bị pháp hiện tại lôi cuốn. Cho nên cái pháp hiện tại này rất thâm sâu, nó bao trùm tất cả, cái tâm mình bị chấp thủ vào giờ đó, tới đúng giờ đó là phải ăn, chấp thủ vào chỗ ngồi đó, chấp thủ vào việc đó, người đó, chấp thủ vào thân xác đó, đi ra không được, sự việc phải như vậy mới đồng ý chứ không giống vậy là không chịu được, đó gọi là chấp thủ. Minh Thành thường không thông báo trước việc sẽ làm, có khi cũng rất vất vả nhưng có khi cũng có cái hay vì cái chết không cho mình biết trước, nhiễm dịch bệnh không cho mình biết trước, tai nạn giao thông không cho mình biết trước, tai biến đột quỵ không thông báo trước, bị điên loạn thần kinh không cho mình biết trước thì tại sao cái nào mình cũng muốn phải thông báo trước, phải chuẩn bị cho chu đáo? Mình phải tập thích ứng với hoàn cảnh, không có gì là đúng hay sai ngoại trừ thấy năm uẩn là tôi, là của tôi là sai, tham sân si và bản ngã là sai, mà hễ thấy năm uẩn là tôi, là của tôi thì sẽ có tham sân si, vô minh và bản ngã đi theo sau đó. Không bao giờ có sự kiện nhìn thấy năm uẩn là tôi, là của tôi mà không có tham sân si, vô minh và bản ngã. Đối với 1 người cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi mà người đó không tham, không sân, không si, không bản ngã, không chấp thủ thì sự kiện đó không thể xảy ra. Đối với 1 người thường quán chiếu, thường nghiền ngẫm, thường chiêm nghiệm sắc; thọ; tưởng; hành; thức không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi thì người đó đi đến chỗ bào mòn, đoạn giảm tham sân si thì sự kiện này chắc chắn xảy ra. Tại sao trong thiền đường thì thiền, còn đứng dậy hay bước ra khỏi cửa là hết thiền? Như vậy vàng trong cửa hàng mới là vàng, còn đem ra khỏi cửa thì không phải là vàng nữa hay sao? Tại sao chỉ thiền trong thiền đường thôi? Hãy hỏi cái tâm hay buông lung phóng dật như vậy, là do nó bị các pháp hiện tại lôi cuốn nên không thiền được. Phải làm sao cho trí tuệ chánh niệm tỉnh giác thì tự lợi lợi tha còn nếu không thì không làm, nói không làm thì không hẳn vậy nhưng mình phải làm sao nhiếp phục được cái làm này làm nọ. Mình bị 2 thái cực: Một là làm thì chấp thủ vào đó; hai là không làm thì đó là bản ngã. Nhưng làm hay không làm đều sai hết, vì làm hay không làm đều bị pháp hiện tại lôi cuốn. Không làm cũng phiền não, thấy người ta làm trật cũng khó chịu cho nên làm sao để các pháp hiện tại không lôi cuốn là phải có chánh kiến.
Bài kinh Nhất dạ hiền giả này được Đức Phật nói với các vị Tỳ-kheo, không ai hỏi mà tự Đức Phật nói, gọi là vô vấn tự thuyết.
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Những cái đã qua thì đừng tìm lại, không có khoan khoái thích thú và tham đắm trong đó. Những cái chưa đến thì đừng ước mơ ảo vọng vì những cái này vô thường, trống rỗng, vô ngã, nó cứ lẩn quẩn trong tham sân si, vô minh, bản ngã, sầu bi khổ ưu não. Ước vọng để làm gì?
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Pháp hiện tại là 3 pháp mình đang thực tập, thiện pháp lạc trú nhưng trong cái trí soi sáng, phá vỡ sự chấp thủ của năm uẩn.
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Phải đọc những câu này cho ngấm vào từng thớ thịt, những câu này Minh Thành đọc mà cảm thấy đã, hễ nghe chữ chết là cảm thấy thích thú trong người, không cảm thấy tham muốn, sân hận hay dính mắc gì nữa. Minh Thành đã thấy rất nhiều, con chim đâm đầu vào cửa kính rồi chết, ếch nhái nhảy vào rồi bị kiến cắn chết, thằn lằn đứt đuôi bị kiến rỉa, rắn ăn những con chuột. Những thầy, huynh đệ tu chung có người chết, có người bị khùng, có người hoàn tục, có người bị tai nạn. Những vị tôn túc Hòa Thượng vài bữa nghe có vị này mất, vị kia mất. Xin đại chúng đừng nghĩ rằng ngày nào cũng được gặp Minh Thành ở đây, cũng đừng chán Minh Thành vì ngày nào cũng nghe giảng.
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
./.