Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Lợi Ích Tu Học Nikāya

2026-03-03 00:56:03
Pháp Đàm - Lợi Ích Tu Học Nikāya

Thích Minh Thành

Ngày 29 tháng 03 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sư cô Huệ Quý chia sẻ: PAGEREF _Toc137052673 \h 1

II. Phật tử số 2 trình pháp: PAGEREF _Toc137052674 \h 3

III. Phật tử số 3 trình pháp: PAGEREF _Toc137052675 \h 7

IV. Phật tử số 4 trình pháp: PAGEREF _Toc137052676 \h 11

V. Phật tử số 5 trình pháp: PAGEREF _Toc137052677 \h 13

VI. Phật tử số 6 trình pháp: PAGEREF _Toc137052678 \h 15

VII. Phật tử số 7 trình pháp: PAGEREF _Toc137052679 \h 22

Đạo tràng Nikāya của chúng ta là đạo tràng tu học theo đường lối chân chánh, những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật từ kinh tạng Nikāya để thấy được những lợi ích, hiệu quả. Để cho tự bản thân mỗi hành giả có thêm nhiều động lực, có được niềm tin, có được sức mạnh để có thể nỗ lực hơn, tinh tấn trong việc tu học của tự thân. Cũng như có thể giúp ích cho những bạn đồng tu hữu duyên, những vị đồng phạm hạnh với tâm chân thành, chân chánh muốn tu học theo lời dạy của Đức Phật với pháp học, pháp hành, đường hướng, phương pháp cụ thể với những thực hành, hiệu quả, lợi ích trong việc tu học.

Nên ngày hôm nay đại chúng Linh Quy sẽ cùng chia sẻ pháp đàm về mười điều lợi ích trong Tinh hoa Nikāya cũng như những lợi ích, hiệu quả, công năng, tác dụng trong việc tu học, nghiên cứu thực hành của chính tự thân cùng nhau chia sẻ. Để đại chúng có được nhiều niềm hân hoan, động lực, lợi ích thiết thực để ngày một tinh tấn, tăng trưởng trong Thánh trí tuệ, Thánh giới uẩn và Thánh định theo con đường Bát Chánh Đạo để thành tựu cứu cánh phạm hạnh, cũng như ngày một tăng thượng các thiện pháp trong tự thân tâm.

I. Sư cô Huệ Quý chia sẻ:

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Con được nhân duyên biết đến dòng pháp Nikāya, trong suốt thời gian tu tập tại đây, từ những nền tảng căn bản đầu tiên, khi đến với dòng pháp này là con được thực hành ba pháp, đó là chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Từ ba pháp này được ứng dụng trong mọi sinh hoạt hằng ngày, trong tất cả mỗi người mỗi lúc. Khi an trú ba pháp giúp con nhận diện rõ được thân tâm của mình, biết rõ những cảm thọ sanh khởi trong tâm của mình, nó như thế nào để từ đó phát hiện được mầm móng của tham, sân, si, vô minh, bản ngã và có những biện pháp nhiếp phục.

Cũng từ việc đi sâu vào nhận diện ngũ uẩn được thực hành tâm hiền, an tịnh, lắng dịu, thân tâm mình hiểu được rõ chính bản thân mình mà từ trước khi vào dòng pháp này con bị tham, sân, si, bản ngã chi phối. Mặc dù nó không thể hiện cách thô tháo ra bên ngoài nhưng nó ngấm ngầm bên trong của sự tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Vì không gặp được Chánh pháp, không gặp được thầy chỉ dạy nên con đã nhiều năm sống trong sự vô minh, tham, sân, si, bản ngã. Và khi biết đến dòng pháp Nikāya này, con đã biết được ngũ uẩn, biết được thân tâm mình, biết được cội gốc của tham, sân, si từ trong cảm thọ. Từ đó đã giúp con rất nhiều trong việc nhìn nhận lại việc tu tập của mình.

Và con mỗi ngày được tu tập ở đây, theo thời khóa của đại chúng khi nghe pháp, khi tụng kinh, khi tọa thiền, khi pháp đàm… cũng như mọi thời khóa sinh hoạt cùng đại chúng đã giúp con quay về nhận diện thâm tâm mình mỗi ngày một sáng tỏ hơn. Con cảm thấy rất hạnh phúc, hỷ lạc từng ngày từng phút, con phát hiện ra trong nội tâm mình rất nhiều những cấu uế mà chỉ có pháp nhận diện ngũ uẩn quay về thâm tâm mình mới giúp cho con nhận rõ những cấu uế đó và có cách nhiếp phục và đoạn trừ.

Có thể nói chưa bao giờ con cảm thấy mình rất được hạnh phúc khi được tu tập, niềm hạnh phúc này chỉ có được khi con biết đến Thánh pháp Nikāya. Chính vì vậy, con chưa bao giờ có suy nghĩ rời khởi ngọn núi này để đi tìm một đạo lộ, một phương pháp tu tập nào khác. Ngoài những lời dạy nguyên chất của Đức Phật chỉ thẳng vào tâm của người, chỉ thẳng vào những cấu uế trong nội tâm mình nhìn thấy và nhiếp phục, đoạn trừ.

Chính niềm hỷ lạc khi được gặp Chánh pháp, con cảm thấy có một sự thông cảm, thấu hiểu cho những người bạn đồng tu của mình đang trên con đường tu tập nhưng không biết được Chánh pháp. Cũng như các Phật tử, các quý sư cô về đây tu tập, con cảm thấy rất vui, mừng. Và khi được sự cho phép của sư phụ, quý thầy, chia sẻ pháp cho quý Phật tử, cũng như quý sư cô, con cũng hết lòng nhiệt tâm để giúp đỡ trong khả năng của mình, cũng như những niềm vui mà con được tu tập trong dòng pháp này. Con đem chia sẻ cho mọi người, lan tỏa niềm hạnh phúc, hỷ lạc trong Chánh pháp để mỗi người cũng có những niềm vui, hạnh phúc giống như con.

Trên con đường tu học dòng pháp Nikāya, được tụng đọc những bài kinh, những lời dạy của Đức Phật, con cảm thấy rất thấm thía. Rất nhiều những bài kinh khi con đọc đã giúp cho con nhìn lại chính bản thân mình, tự sách tấn mình hằng ngày để khi một ngày nào đó có vô thường đến với con, con cũng có được chút ít hành trang để lúc đó con không phải có một sự hoảng loạn trước sự vô thường đến với mình. Có thể nói, đến với dòng pháp Nikāya, với Thánh trí về ngũ uẩn đã phơi bày tất cả sự thật của thân tâm này, của thế giới này, vũ trụ này. Đây là một trí tuệ vô thường.

Còn rất nhiều những niềm hạnh phúc, niềm hỷ lạc khi con đến với dòng pháp Nikāya, có thể những lời, những ngôn ngữ con nói ra không thể nào diễn tả hết niềm hạnh phúc của con khi biết đến Chánh pháp này. Con chỉ luôn luôn tâm niệm mình là phải cố gắng mỗi ngày, mỗi giờ, luôn luôn an trú trong Chánh pháp. Để không phụ công ơn của bậc đạo sư, người đã không dừng lại Chánh pháp đã mai một một thời gian, cũng như sư phụ hằng ngày trùng tuyên và giảng dạy Thánh pháp đến với chúng con.

Con thành kính tri ân Đức Thế Tôn, bậc đạo sư, sư phụ.

II. Phật tử số 2 trình pháp:

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Con xin nói về những lợi ích khi nói về kinh Nikāya.

Lời đầu tiên, con xin tri ân trên Đức … 28:53 Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con xin tri ân trên hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu, con xin tri ân trên bậc đạo sư, bậc ân sư đã dắt dẫn chúng con, ngưỡng bái bạch trên sư phụ.

Khi con đến dòng pháp Nikāya này, nhờ dòng pháp này mà tất cả chúng con ở đây được tâm hiền thiện, tâm thương, tâm hòa đồng, có một đại chúng hiền thiện, khi chúng con đến với những tấm lòng, tình thương, với những sự quan tâm giúp đỡ mà những đoàn thể khác không thể có được. Đây là lợi ích đầu tiên một con người đến với dòng pháp này, dòng pháp đã làm cho con người hiền thiện, hiền lành, hiền đức và có tình thương đối với mọi người. Đó là lợi ích đầu tiên của những người nào bước đến dòng pháp, cũng như chính bản thân con.

Lợi ích thứ hai là khi đến dòng pháp này, chúng con nhìn lại được chính mình, nhìn lại được những cấu uế, rác bẩn, những tâm không hiền thiện, những tội lỗi, những lỗi lầm mà mình đã làm. Lợi ích ở đây là không phải nhìn thấy mà mình được nói ra, bộc bạch, lột tả ra tất cả những gì xấu xa của bản thân mà mình không ngại một cái gì. Nếu không gặp dòng pháp này thì suốt đời có những việc những người thân cận mình nhất mà mình cũng không thể nói nhưng khi vào dòng pháp này, những lợi ích của dòng pháp này cho chúng ta trở về với con người chân thật thật sự.

Và chính bản thân con, khi con vào dòng pháp này, dù con tu mấy chục năm nhưng trong con tham, sân, si vẫn còn, những cấu uế vẫn còn, không chỉ còn mà còn nhiều hơn nữa và có thể phát triển hơn nữa. Đó là sự thật của cuộc sống hiện tại mà những người tu giống như chúng con mắc phải. Bị bản ngã, bị sự cung kính của những hàng Phật tử đưa chúng con lên, chúng con mắc phải nhiều nghiệp vì không phải đỗ lỗi cho họ nhưng vì bản ngã của chúng con, khi thấy được người ta cung kính, cúng dường, người ta phụng dưỡng bản ngã của mình càng ngày càng lớn.

Khi vào dòng pháp này thì tất cả đều được tẩy rửa, gọt bỏ như sư phụ thường dạy là bẻ gãy sừng của nó, không cho nó ngông ngênh thì khi chúng con đến dòng pháp này, chúng con đã làm được những việc đó mặc dù nó chưa hết sạch nhưng phần nào đó cũng giúp chúng con lấy lại được chính bản thân mình một sự hiền thiện, hiền hòa. Khi tu vào dòng pháp này, con nhìn lại được chính mình, sửa đổi những thói hư, tật xấu và bước từng bước chập chững trên con đường mà bậc thầy vĩ đại của chúng sanh đã chỉ dẫn. Từng cử chỉ, oai nghi, hành động quay về với chính mình, sống với chính mình, biết với chính mình, không nhìn người, không nhìn lỗi người.

Chúng con cũng đang được sự lợi ích đó, mặc dù không hoàn toàn được trong sạch nhưng phần nào cũng giúp cho bản thân con được biết chính mình, được sửa lỗi chính mình và càng ngày càng hoàn thiện bản thân mình hơn. Trước đây con cũng không biết ngũ uẩn là gì, chỉ biết cái tôi cái ta. Khi biết được ngũ uẩn, con thấy mình rất cấu uế, nhơ nhớp, nhục nhã, nhưng hằng ngày với những lời dạy của sư phụ, chúng con được tắm pháp mỗi ngày, tâm thiện của chúng con mỗi ngày tăng thượng.

Con đã rửa, đang rửa và cũng sẽ rửa sạch tâm trong đời tu của mình để làm một người con của Đức Phật, một người đệ tử của Đức Phật. Con đã sửa được những hành động của con, đi, đứng, nằm, ngồi, mặc dù không nhớ xuyên suốt cả ngày nhưng cũng nhớ được phần nào, đôi lúc trong ngày cũng nhiều khi thất niệm, cũng sân, si, bản ngã nhưng khi khởi lên thì mình biết được và cố gắng nhiếp phục nó.

Con cũng cố gắng nhiếp phục được cảm thọ. Như mỗi lần con chưa vào dòng pháp này, con làm việc gì hay con muốn nói chuyện với ai thì trong cảm giác của con run rẩy, sợ hãi nhưng khi con biết được, con nhìn được nó thì sư phụ, quý thầy dạy phải nhiếp phục cảm thọ thì con cũng tác ý, nhiếp phục. Giờ mỗi lần đến con tụng pháp bảo thì con cũng không bị rung rẩy như trước nữa, khi đến phiên mình thì mình chỉ tụng thôi. Mình không run rẩy như trước đây mà nghe đến phiên con là cả người con run bần bậc lên. Giờ con như lý tác ý, con tác ý an tịnh lắng dịu, để tâm con cũng lắng dịu xuống.

Trong cuộc sống thì chúng con là những người đã học Phật ở chung với nhau cũng không khỏi những va chạm. Mặc dù nó không lớn nhưng trong tâm mình cũng có một sự dao động, nó cũng có phóng dật, nó cũng bị sai khiến nhưng nó chỉ khởi lên thì chúng con cũng biết được và nhiếp phục được nó. Đó là những lợi ích khi con quay về với kinh Nikāya con thấy thật hạnh phúc.

Tâm con hằng ngày cũng nhè nhẹ, an tịnh, lắng dịu. Khi bước vào dòng pháp này chúng con xả bỏ được rất nhiều. Vừa rồi con bị bệnh thì con cũng xả được nhiều thứ, ví dụ như trước kia con là một tu sĩ thì con đi ra đường con phải có một áo nhật. Nếu lỡ ngày nào con đi đâu bệnh hoạn gì vội vàng nhưng không lấy được áo nhật thì con không dám đi ra đường. Nhưng giờ thân này con thấy nhàm chán, khi con bệnh thì con thấy nhàm chán thân này, có gì đây đâu, nếu vô thường đến thì hơi thở không thở được là kết thúc một cuộc đời nên con đã nhàm chán thân này. Khi đi ra đường không có áo nhật nên con bị bệnh nhưng con vẫn đi bình thường, trong tâm con không nghĩ có ai đang nhìn mình hay không bị xấu hổ.

Con mang đôi dép có chữ Huệ Lý viết tắt rất to và đôi dép thừa so với chân con khoảng một lóng tay nhưng con vẫn mang đi bình thường và lên tới thành phố. Trong khi ý hành không có nói là mình phải này phải kia hay trong cảm giác không sợ người ta nhìn mà nó thấy rất an lạc, bình an, nhẹ nhàng, thoải mái. Và khi con bệnh nôn mửa và đi ngoài nên khi nghĩ tới thức ăn là con sợ hãi vô cùng, giờ con nhàm chán luôn cả thức ăn. Con nghĩ tới thức ăn là con sợ tới tận tóc gáy.

Khi con bệnh thì con nghĩ là con cũng dứt được ái của gia đình, con nghĩ mình đau dữ vậy mà vô thường chết ở đây thì có gia đình nào ở đây đâu? Chỉ có bạn thân hữu, nhưng bạn thân hữu cũng không đi theo mình được, chỉ có nghiệp đi theo mình thôi. Con nghĩ vậy nên con cũng không buồn xài điện thoại nữa. Mỗi lần con đau là con bắt điện thoại lên, nhắn tin, con gọi với gia đình rằng con bị bệnh này bệnh kia, con đang nằm chỗ đó chỗ kia. Giờ con cũng không buồn cho ai biết, nó thấy nhàm chán với thân xác này.

Nhờ dòng pháp này con cũng được nhàm chán rất nhiều. Khi hai chị em về thành phố thuê phòng trọ, người ta làm một phòng rộng 1m2, cao 1m2, dài 2m, năm bề đều bít, chỉ chừa một cái lỗ hai người chui vào. Khi hai người đi vào trong đó thì con nghĩ như là nằm trong quan tài và trong phòng đó có mười tám hộc như vậy, hộc nào ít thì một người, hộc nào nhiều thì hai người. Con thấy như mười tám hộc này nằm chung một ngôi mộ, con vào đó con thấy an lạc, thanh tịnh, chưa bao giờ con nghĩ con có căn bệnh trong người mà con cứ cười hoài, cười mà sợ người ta nghe, hai chị em cứ che miệng cười suốt, thấy an lạc, hoan hỷ.

Nếu trước đây con chưa vào dòng pháp này, đừng nói đến hộc đó mà nói đến ở với một số đông người như vậy thì con cũng không bao giờ bước vào chỗ đó, đừng nói là con nằm, ngủ như người ta. Khoảng cách giữa giường bên này với bên kia chỉ có một mét. Ban đầu ông cụ ở giường đối diện tiếp nối với con, ông ho cả đàn, ho khụ khụ, ông ho tiếng đầu tiên, thứ hai, thứ ba thì trong con cảm giác của con cũng thấy ghê ghê. Nhưng con nghĩ mình ở gần người ho ho như vậy rồi bệnh của họ nhiễm qua, nhưng đến lần thứ ba thì con nghĩ là “Mày đó! Mày đang ho đó! Mày nhờm gớm cái gì?” Trong phòng thì toàn người bệnh, có bà già, trẻ em ho thì con nói “Mày đó, mày cố gắng đi. Nhìn lại cho rõ đi!”

Sau đó thì cảm giác của con về thanh tịnh. Hai chị em cứ cười khúc khích suốt, dù nằm trong hộc đó cũng cười an lạc. Cô Hằng hỏi là “Mai sáng ăn gì sư?” Thì con nghĩ là “Nằm trong hòm không biết mai có dậy được không mà đòi ăn gì?” Con cứ nghĩ như vậy cứ cười nhưng không nói với cô, sợ nói thì người ta cười.

Nên con nghĩ, vào dòng pháp này, nhiều lợi lạc cho mình, không xem thân này là gì, chỉ là trống rỗng không không. Biết được như vậy, cảm nhận được như vậy, thấy sự thật như vậy, thấy cuộc đời này là khổ, có thân này là khổ, già, bệnh là khổ, thấy sự thật cuộc đời này thật là khổ. Không có gì ngoài khổ cả nên chúng con rất an lạc.

Con cám ơn trên sư phụ đã cho con về đây tu học và biết đến dòng pháp này, về đây nương chúng tu học và nhìn ra được bản thân này, nhìn nhận được sự lợi ích, hạnh phúc, sự an lạc của pháp, đưa mình đến chỗ an lạc. Mặc dù không có gì nhưng thân tâm vẫn yên ổn.

III. Phật tử số 3 trình pháp:

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Thông qua lời hướng dẫn của thầy Pháp Tâm nói về mười điều lợi ích trong tinh hoa Nikāya, phước duyên của con cũng được đọc hai lần trong quyển Tinh Hoa Nikāya và có thấy mười điều lợi ích. Và hôm qua cũng được nghe sư phụ nói về mười điều lợi ích, cũng như tối nay con có ngồi xem lại và thấy mình cũng có mười điều lợi ích như vậy theo trình tự, thứ tự mười điều lợi ích đó.

Điều đầu tiên là trực chỉ Phật ngôn, thứ hai là mình sẽ biết được đời sống thực tế và xã hội của Đức Phật. Thứ ba là sẽ tiếp xúc với trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật. Pháp học, pháp hành được rộng mở, không gò bó. Thứ năm là tâm nguyện tu học chân chánh, chắc chắn có thể sẽ được thành tựu. Thứ sáu là biết rõ điều cần nên làm là gì. Thứ bảy là tâm của mình sẽ được an trú trên trí tuệ của bậc Chánh đẳng chánh giác. Thứ tám chính là sẽ được gieo duyên với Chánh pháp chánh đạo. Thứ chín là chắc chắn được sự chấm dứt sanh tử. Thứ mười là tuệ đã khai mở và đạo chắc chắn sẽ thành tựu.

Bản thân của con sau khi được đọc qua mười điều lợi ích này, con thấy một điều hết sức hạnh phúc. Vì nó đi theo trình tự rõ ràng, từ điều số một đến điều số mười và con xin được đưa sự thể ngiệm, suy nghĩ của con trong mười điều như trên.

Điều đầu tiên là trực chỉ Phật ngôn, là trực tiếp y chỉ, y cứ trong lời của Phật dạy mà không thông qua bất kì lời nói của cá nhân hay thành kiến cá nhân nào. Bản thân của con cảm thấy rất đúng, chính xác. Vì mình vào trong kinh Nikāya này thì mình sẽ được theo lời nói của Đức Phật, thông qua đó mình sẽ được khai mở trí tuệ, được hiểu một cách sâu sắc là nhờ có vị Chánh tri kiến, bậc đạo sư đã mở trí tuệ của mình thông qua nhận diện ngũ uẩn. Sau khi nhận diện ngũ uẩn một cách rõ ràng, sâu sắc thì mình sẽ đọc những bài kinh, những lời Phật dạy mình sẽ hiểu một cách tường tận, rõ ràng. Cũng có thể sự hỗ trợ, trợ giúp diễn giải, giảng giải trên sư phụ làm cho trí tuệ của mình được khai sáng, khai mở nhiều hơn.

Thứ hai, thứ ba là biết được thực tế đời sống xã hội và cũng tiếp xúc được trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật trong thời của Ngài còn tại thế. Trong những bài kinh Trường Bộ hay Trung Bộ đều giảng giải một cách rất rõ ràng, sâu sắc, vào trong đời sống thực tế xã hội ngay thời bấy giờ. Và trong trí tuệ của Đức Phật, khi Ngài tiếp đối, tiếp đãi với những vị chống đối với Ngài.

Ví dụ trong bài kinh Potaliya, Trung Bộ Kinh tập 1 bài 54: sau khi gặp Đức Phật, gia chủ này mặc quần áo rất tươm tất, đi giày và mang dù nên Đức Phật gọi Ngài là gia chủ. Vị đó cảm thấy rất tức giận, tại sao Đức Phật gọi Ngài là gia chủ? Trong khi đó Ngài nói với Đức Phật là người đã từ bỏ hết các nhiệp vụ và những tục sự, những chuyện của thế gian thì Ngài đã đoạn tận hoàn toàn, tại sao lại nói Ngài là gia chủ?

Đức Phật giải thích rõ ràng là gia chủ đoạn tận những chuyện của thế gian theo như ông thì không giống với sự đoạn tận trong giới luật của bậc Thánh. Đức Phật diễn giải ra tám pháp đó từng cái, từng chi tiết rất rõ ràng. Cùng với trí tuệ với người đang nghe có thể tiếp nhận được hay không. Ngài diễn giải ra đến mức mà không thể có người nào khác có thể khiêu khích lại Ngài.

Đó là một bài kinh con thấy rất tâm đắc đối với trí tuệ của Ngài đối với gia chủ Potaliya.

Sau đó, sau khi được Đức Phật khai mở trí tuệ thì gia chủ Potaliya đã xin quy y Đức Phật, trở thành đệ tử của Ngài.

Đó là thứ hai và thứ ba, là mình đã được trực tiếp nhìn nhận bài kinh và thấy được xã hội, đời sống lúc đó, mình cũng thấy được trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật khi tiếp nối, nói chuyện hay khai mở trí tuệ cho những vị gia chủ, những du sĩ ngoại đạo hoặc là đệ tử của Ngài.

Thứ tư là pháp học, pháp hành được khai mở, vì trong bài kinh Bảy xứ hay bài kinh Đáng được ăn hoặc nhiều bài kinh khác mà Đức Phật nói về sự sanh khởi của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tại sao sanh khởi, nguyên nhân vì sao sanh khởi và con đường để chấm dứt sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đó chính là pháp học rất rộng mở, không gò bó, không làm cho mình suy nghĩ miên man mà thực tế rõ ràng, thông qua trí tuệ của bậc Chánh kiến, giúp cho mình khai mở trí tuệ rất rõ ràng trong tự thân của mình.

Thứ năm là người có tâm chân thành tha thiết thì có thể sẽ được thành tựu. Vì khi vào trong dòng pháp này, mình sẽ tu tập tâm hiền, tâm chân thành, thành thật và với tâm rất chân thành mong muốn mình đi tìm con đường mà mình phải đi tìm. Và khi gặp được dòng Chánh pháp này thì sự tu tập thành tựu là điều chắc chắn có thể xảy ra.

Thứ sáu là phải biết rõ điều cần làm là gì. Khi mình đã có sự nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc thì mỗi ngày công việc của mình, của một người tu thật sự chính là sự nhận diện ngũ uẩn, nhận diện tham, sân, si trong nội tâm của mình. Đó là điều mình biết được nếu như mình vào trong Chánh pháp này, công việc mình cần làm là gì và mình sẽ hiểu rõ hơn, không giống như lúc trước, khi con vào đạo tu tập thì rất lơ mơ không biết là mình nên tu tập cái gì.

Thứ bảy là tâm của mình sẽ được an trú trong trí tuệ của bậc Chánh đẳng chánh giác. Đây là một điều con thấy rất hay, như sư phụ đã nói với con là khi mình tu tập trong dòng Chánh pháp này thì trí tuệ về ngũ uẩn giống như ngọn lửa của ngũ uẩn, ngọn đèn. Đức Phật sẽ truyền trao lại ngọn đèn đó cho mình và mình y cứ, mượn vào trong ngọn đèn đó tu tập, nhận diện ngũ uẩn sâu sắc. Và khi đã nhận diện được ngũ uẩn sâu sắc thì trí tuệ đó sẽ được trao lại trở thành ngọn đèn của mình.

Thứ tám là gieo duyên đối với Chánh pháp, Chánh đạo. Đây là điều hết sức hạnh phúc, không biết những kiếp trước con như thế nào có thể đọa trong địa ngục rất nhiều nhưng trong kiếp này, nhờ phước còn sót lại và được gặp Chánh pháp Nikāya thì đó là một điều con rất mừng. Bây giờ sự tu tập của con vẫn còn chậm chạp, hoặc có thể không tiến tới hoặc trên con đường đang bị chặn đứng, nhưng với lòng quyết tâm sâu sắc, gieo duyên, hiểu được Chánh pháp, Chánh đạo, Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, tất cả con đường và cố gắng tu tập thêm chút nữa thì sự gieo duyên này nó sẽ là gốc để cho đời sau của mình sẽ tiếp tục được gặp Chánh pháp.

Thứ chín là một người tu tập theo kinh Nikāya thì có thể sẽ thực chứng được sự chấm dứt sanh tử, đây là điều có thể xảy ra và điều này chắc chắn có thể xảy ra nếu như mình toàn tâm toàn ý đi theo trên con đường tu học Nikāya này. Vì con đường tu học Nikāya này chỉ cho mình về năm uẩn và chỉ rõ tại sao lại có năm uẩn, tại sao có tham ái trên năm uẩn. Đức Phật là người đã chỉ rõ cho mình thoát ra khỏi năm uẩn. Khi mình đã thoát ra khỏi năm uẩn chính là mình thoát ra được, chấm dứt được sanh tử luân hồi, vì sanh tử luân hồi chính là năm uẩn.

Thứ mười là tuệ đã khai mở và đạo chắc chắn thành tựu. Khi bậc đạo sư chỉ dạy, khai mở trí tuệ một cách rất rõ ràng, chi tiết và chúng con nương theo trí tuệ đó để tu tập thì cho dù trong đời sống này, chúng con không được thành tựu trong Bốn Đôi Tám Chúng. Mỗi ngày chúng con đều tu tập nương theo trí tuệ đó từng ngày, nên trong kiếp này có thể chúng con không thành tựu được quả vị cao nhất, nhưng chắc chắn trong kiếp sau, nhiều kiếp sau thì khi chúng con được sanh ra làm người thì nếu có nhân duyên chúng con được nghe lại những lời nói từ trong kinh tạng Nikāya như bài kinh Nghe với tai như hôm qua sư phụ đã giảng thì trí tuệ được khai mở một lần nữa, đường đạo chắc chắn sẽ viên thành.

Đó là những cái con suy tư, suy ngẫm trong mười điều lợi ích trong tinh hoa Nikāya, con xin trình lên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Và với một trú tuệ còn sơ cơ, đang tu tập trên con đường này, không thể tránh khỏi những sự sai sót, có thể sanh ra những bản ngã không đáng có, con xin thành tâm sám hối và mong trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng hoan hỷ bỏ qua cho con.

IV. Phật tử số 4 trình pháp:

Con kính bạch trên thầy, kính thưa chư tôn đức cùng toàn thể đại chúng.

Ngày hôm qua con có nghe thầy giảng về mười điều lợi ích về sự tu tập, vì con học hơi chậm nên khi nghe thầy giảng như vậy thì khi về thì con không nhớ được bao nhiêu. Người ta thường nói con trí tuệ Bát Giới nên giờ con chỉ có thể nói về lợi ích khi con tu tập.

Trước khi lên đây con cũng rất trăn trở về sự tu tập của mình, mặc dù như vậy nhưng khi nghe huynh đệ rủ đi chơi hay em con rủ đi đây đi đó thì con cũng phóng tâm muốn đi chỗ này chỗ nọ để đi chơi. Nhưng từ khi con bước chân lên đây, tiếp cận với lời Phật chỉ dạy. Mỗi ngày nghe được lời Phật thì không hiểu sao những tâm niệm đó của con đã dứt hoàn toàn, không một mảy mai con muốn đi đâu nữa. Đó là lợi ích đầu tiên con thấy.

Từ khi con lên đây, như lần trước con đã nói, là con nghĩ mình là người mới vào đạo, con cũng như là đứa học lớp mẫu giáo. Con cũng nghe thầy dạy là muốn tu tập trong dòng pháp này thì trước hết phải tu tập tâm hiền từ sáu tháng đến ba năm thì khi đó con nghĩ “Sao lại tu lâu như vậy? Mình cũng đâu có dữ gì? Mình cũng ngoan hiền mà?” Nhưng lời thầy nói thì con thực hành theo nhưng trong lòng con cứ nghĩ rằng “Mình tu sáu tháng thôi, chắc được rồi, để mình tu cái khác nữa!”

Nhưng thực tế khi con vào thực hành thì con thấy rằng chữ hiền này không đơn giản như con nghĩ, nó rất rộng. Hiền từ oai nghi, đi đứng, nằm ngồi, từ hành động của mình và đi sâu vào thọ, tưởng, hành của mình cũng phải hiền, mắt, tai, mũi, lưỡi cũng phải hiền và nhiều mặt khác nữa. Con mới thấy rằng “Cái này chắc mình tu suốt đời cũng chưa xong!” Sau đó con bắt đầu thực tập, mỗi sáng thức dậy thì con bước xuống giường thì con cũng phải nhắc nhở là “Bước xuống cho hiền nha!” Khi con lấy kem, bàn chải đánh răng thì con cũng nhắc “Lấy cho hiền!” Con thấy mỗi mỗi điều gì cũng nhắc nhở mình làm phải cho hiền.

Như khi con lấy nước, con để ca thẳng, nước chảy lên tiếng thì con thấy “Vậy cũng chưa hiền nha!” Khi đi vào nhà vệ sinh thì con nhắc “Gõ vậy có hiền chưa?” Khi con mở cửa, đóng cửa thì con cũng phải tự nhìn lại là mình làm vậy có hiền chưa… Những hành động của mình thì con đều phải để ý, để con nhắc nhở làm cho hiền.

Đi sâu vào thọ, tưởng, hành thì mỗi khi có những chuyện không như ý thì con cũng nhắc nhở, khi con cảm thấy khó chịu thì con kêu “Thọ phải hiền nha!” thì con không muốn nói gì nữa hết. Còn nếu không nhắc thì miệng mình sẽ muốn nói. Khi con nhắc như vậy thì con không muốn nói gì nữa, con nín và con nhiếp phục được cảm thọ đó.

Cho tới khi những suy nghĩ lung tung thì con cũng kêu tên và nhắc nhở “Phải hiền nha!” Lúc nào con cũng kêu tâm hiền để con nhắc nhở con. Con thấy rất nhiều, khi mình đi ăn, đi tắm, đi giặt đồ hoặc bất kì cái gì con thấy đều phải nhắc nhở, sự nhắc nhở đó khiến cho tâm con an tịnh được hơn. Đối với mắt cũng vậy, khi thấy cái gì đó vừa ý, hoặc không vừa ý thì con cũng nhắc nhở “Mắt cho hiền nha!”

Con thấy nó rất có lợi ích, tự nhiên mình thấy mình cũng nhẹ nhàng từ thân cho tới tâm và cũng ít muốn nói chuyện gì nhiều. Mỗi khi con khởi trong tâm là ý hành muốn nói thì tự nhiên con nhắc nhở những điều là điều thiện, điều tốt thì con để cho phát triển, nhưng những cái gì không hay thì con phải nhắc nhở.

Nên tâm hiền này không như con nghĩ một chút nào, nó rất là sâu. Từ đó con thấy có công việc để con làm suốt ngày, từ sáng mở mắt ra cho tới chiều tối. Tuy nói là như vậy nhưng đôi khi con cũng thất niệm, con không nhớ, nhưng nếu như mình cố gắng thực hành, tập hoài thì con nghĩ rằng mình sẽ nhớ.

Khi thực hành được tâm hiền phần nào thì con thấy rất có lợi ích cho bản thân và mọi người. Vì khi mình hiền rồi thì mọi người xung quanh cũng rất dễ chịu. Có những lúc con hay quên thì con đã nhắc là “Mình đã tu thật chưa? Tại sao mình quên hoài vậy?” Nếu mình là người tu thật thì phải cố gắng nhắc nhở tâm mình để sửa đổi những cái sâu, dở trong tâm. Để nhiếp phục những cái sâu, dở đó cho bản thân mình được hoàn thiện hơn.

Con mới lên đây được một tháng mấy nên con chỉ tập được bấy nhiêu đó kính trình lên thầy cùng chư tôn đức và đại chúng.

V. Phật tử số 5 trình pháp:

Con kính đảnh lễ sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng hiền thiện.

Con kính bạch sư phụ, hôm qua con được nghe sư phụ dạy tinh hoa Nikāya, vì bệnh nên con ở phòng nghe trực tiếp nên không cùng nghe với đại chúng. Sáng nay pháp đàm về Mười lợi ích khi tu học Nikāya, lúc đó con mới hồi tưởng lại để có những ý để sáng nay nếu được gọi tên thì con sẽ trình.

Tưởng của con nhớ lại năm 2021, sau khi an cư kiết hạ, con cùng sư phụ và sư đệ đem đại tạng kinh ra đọc mỗi ngày sáng và chiều. Khi con đọc xong thì con cũng nhận thấy trong đại tạng này Đức Phật nói cốt tủy là ngũ uẩn. Nhưng dù biết như vậy nhưng con không thật sự hiểu thấu đáo, ngũ uẩn nói cái gì trong đó? Như là nhìn nhận Chánh kiến của bậc đạo sư như sư phụ đã chỉ dạy, con chỉ thấy lướt bên ngoài là ngũ uẩn chính là cái mà Đức Phật muốn truyền dạy, để mình nhìn lại chính mình để tu tập.

Con có thưa với sư phụ ni của con là “Mình đã đọc đại tạng rồi, mình biết Đức Phật dạy như vậy rồi sao mình không hành theo lời Đức Phật dạy?” Sư phụ ni của con nói là “Thời Đức Phật khác, thời nay khác, thời nay không hành được theo thời của Đức Phật.” Nên con nó là “Phật dạy mà sao hành được? Không lẽ Phật ra đời thì Phật chỉ độ cho những người thời xưa thôi sao? Rồi mấy người thời nay không áp đụng được? Vậy giờ mình thờ Phật để làm gì? Mình để cho mấy người thời xưa thờ Phật chứ? Vì họ được lợi ích từ lời Phật dạy thì họ phải thờ, còn mình không áp dụng được thì mình thờ làm gì?” Khi con thưa như vậy thì sư phụ ni của con chỉ im lặng. Sau này khi con cầu nguyện chư thiên phù hộ cho con gặp được nơi tu tập đúng Chánh pháp và con đủ duyên lành biết được nơi Linh Quy Pháp Ấn, sư phụ dạy về ngũ uẩn và cho đệ tử thực hành theo thì con rất hoan hỷ.

Từ ngày lên đây tu tập, khi những ngày đầu con nhìn thấy những cấu uế, rác bẩn trong tâm con thì con mừng lắm. Rồi con nghe các vị trình pháp nói là thấy mình dơ quá nên nhiều lúc cũng nổi sân, bất mãn, lúc đó con không hiểu “Sao tự nhiên mình thấy mình dơ thì mình nên sửa, sao lại buồn, sân, bất mãn?” Nhưng mấy ngày qua thật sự con mới hiểu được ý nghĩa của câu nói mà quý vị trình pháp.

Hai hôm qua con có phụ việc ở bếp, cùng với bị bệnh, dù việc cũng nhẹ nhàng nhưng con thấy dưới bếp mình phải xúc rất nhiều. Khi con thấy các vị dưới bếp xúc như vậy thì lúc đầu con cũng còn tác ý là để con dạy mình rồi một lúc sau thất niệm, quên tác ý thì con cũng bị phóng dật, chạy theo cảnh. Khi mình phụ dưới bếp nên không đi tụng pháp bảo chung với chúng, không ngồi thiền, không có thời gian với chúng nên về mở các bài pháp sư phụ giảng lúc trước, nghe rồi ngủ lúc nào không biết. Nên hai ngày đó con thấy mình tu tập không được bao nhiêu, không được tinh tấn trong tu tập, cứ lo cho thân mình khỏe, để cho mình làm được việc.

Mấy ngày gần đây, sư Quý chuyển qua gần chỗ của con, quý vị thường hay qua chỗ sư Quý để nhờ dò bài, có những tiếng ồn thì tâm khó chịu của con khởi lên nói “Sao ồn quá, sao đọc sách được?” Nghe pháp thì phải mở to lên để át tiếng ồn! Lúc đó, tâm mình không được tu với chúng thì tâm mình đã giảm đi năm mươi phần trăm rồi, rồi lại thất niệm, tâm sân khởi lên, lúc đó may là con còn nhớ lại lời của sư phụ dạy là mình phải nhìn lại cảm thọ của mình, mình đừng nhìn cảnh.

Con nhìn lại con dạy nó là “Sư Quý đang dạy cho quý vị là thiện pháp. Những điều sư Quý dạy là mình cũng lắng tai mình nghe, không phải chỉ dạy cho những người khác không mà mình phải nghe, có những điều mình cần học hỏi trong đó.” Con tác ý như vậy thì con lắng tai nghe sư Quý dạy các vị đó và con không đọc sách nữa.

Tối lại, con suy nghĩ lại những tâm bất thiện của mình, con liên tưởng ra, con thấy “Sao mình xấu xa quá, tính của mình xấu xa quá, sư phụ kêu mình học tâm hiền mà sao mình không hiền gì hết? Người ta qua trả bài mà mình cũng khó chịu là sao?” Con liên tưởng giống như lúc trước bị nghẹt mũi nên mình không nghe mùi mà giờ mình được chữa lành rồi mà mình lại nghe mùi của mình thối từ trên xuống dưới, chín lỗ chỗ nào cũng thối. Tự nhiên mình nghe hôi quá nên mình nghĩ “Thôi, bịt luôn mũi để cho khỏi nghe mùi thối nữa.”

Lúc đó con mới hiểu là lúc trước tại sao quý vị thấy được tâm của mình nó cấu uế thì tự nhiên sanh ra tâm sân và bất mãn. Nên giờ con mới hiểu được là thì ra có lẽ như vậy nên các vị trình pháp nói như vậy, giờ mình cũng đang trải qua như vậy.

Nhưng sư phụ dạy mình sáng mắt rồi là để mình thấy rác, mình dọn rác, không phải là mình thấy nhiều rác quá rồi mình muốn mù trở lại để mình khỏi thấy rác khỏi dọn nữa. Con nhớ lại lời sư phụ dạy và nói “Mình cũng không hiền lắm. Mình còn hung dữ, tâm mình còn sân si quá!” Con ngồi dạy dỗ nó “Ngày xưa mày ở chùa làm ồn sư đệ có ai dám nói mày đâu. Bây giờ người ta qua tra bài rồi mày bất mãn? Khó chịu? Tâm mày sao xấu xa quá vậy?” Con dạy nó xong rồi con mới đi ngủ.

Từ khi học vào những lời nguyên chất của Đức Phật trong kinh Nikāya được sư phụ truyền trao, con nhìn lại được những cấu uế nhỏ nhiễm trong tâm của mình. Lúc trước đôi khi mình nghĩ là đúng, mình nghĩ chuyện sân si, mấy chuyện đó là mình đúng. Lúc nào mình cũng đổ lỗi “Tại người này tại người kia nên tôi mới như vậy!” Nhưng khi vào dòng pháp này con luôn được sư phụ nhắc nhở là mình phải nhìn lại mình, nhìn lại cảm thọ, những tưởng, hành của mình, mà mình không được nhìn người khác.

Mọi người không có trách nhiệm, nghĩa vụ rải hoa cho mình đi, mà bản thân mình phải mang một đôi dép để đi trên mọi địa hình. Con ngồi suy nghĩ như vậy thì rất hoan hỷ. Chỉ nhận thức được một cái nhỏ nhiệm trong tâm đó mà con cảm thấy rất vui, tối con ngủ rất ngon.

VI. Phật tử số 6 trình pháp:

Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô, quý ni sư cùng toàn thể đại chúng.

Nhân duyên hôm nay được sư phụ cho pháp đàm thì con cũng xin trình bày một số suy nghĩ của con về mười lợi ích trong việc học và hành theo Nikāya.

Đầu tiên là trực chỉ Phật ngôn, con thấy rất hay và rất may mắn khi con được tiếp xúc với dòng kinh Nikāya này. Trước đây thì con cũng rất phân vân vì con nghĩ là chỉ có một Đức Phật dạy, mà tại sao mỗi thầy lại giảng mỗi kiểu, con không biết cái nào là lời dạy nguyên chất của Đức Phật nên sinh ra tâm nghi ngờ. Và chính tâm nghi ngờ lại dính vào năm triền cái, nên trước khi được nghe sư phụ giảng và trước khi vào dòng pháp Nikāya thì cách học của con là cứ nghe một thầy giảng mười bài, mười phần thì con chỉ lấy vài ý trong đó, đến thầy khác thì cũng vậy, con chỉ lấy vài ý.

Và con thấy cứ chắp vá của người này người kia thì cuối cùng không có một đạo lộ rõ ràng, nhưng không chắp vá tin theo vì con thấy không ổn, mỗi thầy giảng mỗi kiểu và có sự mâu thuẫn. Và thêm một điều nữa là trước đây con rất nghi ngờ, vì kinh nào cũng nói tốt về Đức Phật hết thì nghi ngờ trong con nảy sinh, vì tâm lý chung là thường mình thần tượng một ai đó, hay mình theo một pháp môn nào đó thì mình thường tâng bốc hay nâng vị mình thần tượng lên. Ví dụ con thần tượng sư phụ và bậc đạo sư thì con sẽ khen sư phụ hoặc bậc đạo sư, hoặc ví dụ con thần tượng thầy Pháp Nghĩa thì những cái tốt của thầy Pháp Nghĩa con kể ra, nói rất nhiều nhưng những cái xấu hay những cái chưa tốt thì con giấu đi. Nên con không biết đâu là sự thật.

Nhưng khi vào kinh Nikāya thì con thấy rất hay. Trước đây con nghe về Đức Phật là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, đều là những cái tốt thì con thấy thật sự Đức Phật có tốt vậy không? Hay là những người sau, hậu bối vì thần tượng Đức Phật, hay muốn nhiều người theo Đức Phật nên tâng bốc Đức Phật? Thêm vào để hình tượng tăng lên để nhiều người theo? Nhưng khi vào kinh Nikāya thì con thấy rất hay, lòng tin của con tăng thêm vì trong kinh Nikāya không chỉ nói tốt về Đức Phật mà những cái chưa tốt của Đức Phật vẫn nói ra.

Trước đây thì không có kinh nào nói về Đức Phật, toàn nói về vẻ đẹp của Đức Phật, nhưng trong kinh Nikāya thì nói về Đức Phật cũng già, như bài kinh Già lúc sáng sư Tuệ Quý đọc.

Ngài Ananda nói với Đức Phật:

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Pubbàràma, trong lâu đài của mẹ Migàra.

2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng phương Tây.

3) Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, với tay xoa bóp chân tay cho Thế Tôn, thưa rằng:

-- Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời (sithilàni), nhăn nheo, thân được thấy còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

(Tương Ưng Bộ Kinh - Chương Tương Ưng Căn – Phẩm Về Già - Bài kinh Già)

Thế Tôn là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp nhưng về già không thoát khỏi quy luật của sanh tử, Thế Tôn tay chân vẫn nhăn nheo, thân vẫn cồm về phía trước. Nên con thấy trong kinh Nikāya rất rõ, thực có thực, tốt có tốt, xấu có xấu. Và trong kinh Nikāya Đức Phật cũng có nói là: Ta trước đây khổ hạnh cũng đã từng ăn phân bò. Nên con thấy rất kính phục vì rất thật, có sao nói vậy, có tốt nói tốt, có xấu nói xấu. Trong kinh Nikāya cũng có bài kinh nói Đức Phật cũng đau khốc liệt, Đức Phật định nhập Niết-bàn, nhưng Đức Phật nói là nếu Ngài nhập Niết-bàn mà không chào nên cũng chưa phải, nên chưa nhập Niết-bàn.

Nên trong kinh Nikāya rất hay, Đức Phật vẫn đau hay đau khốc liệt, vẫn phải già, tay chân nhăn nheo, mắt mờ, lưng còng và những cái khổ hạnh Đức Phật đi qua. Nên sự chân thực làm con có niềm tin vào kinh Phật rất nhiều, khi có niềm tin thì sự thực hành không bị phân vân nữa. Con thấy may mắn khi gặp được kinh Nikāya và những gì phân vân về những lời Đức Phật dạy thì nó tan biến và có niềm tin vào kinh tạng hơn. Khi có niềm tin thì sự thực hành xuyên suốt hơn và sự tu học có tiến bộ.

Biết được thực tế đời sống xã hội của thời Đức Phật. Xã hội ngày xưa có nhiều người chống đối với Đức Phật, có nhiều bài kinh Đức Phật không được ai bố thí, vẫn phải nhịn đói, không như mình tưởng tượng là thành Đức Phật là lúc nào đi tới đâu thì họ xếp hai hàng cúng dường đầy đủ, Đức Phật có ngày khất thực không được vẫn nhịn đói như thường, phải uống nước. Nên con thấy rất hay, rất chân thực về xã hội thời xưa.

Thứ ba là được tiếp xúc với trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật. Con thấy điều này cũng rất may mắn khi đọc được kinh Nikāya và tiếp xúc trực tiếp với lời dạy của Đức Phật. Con thấy cả một bầu trời trí tuệ, khi trong kinh Nikāya là những vị ngoại đạo chất vấn Đức Phật thì những câu trả lời của Ngài rất hay và sâu sắc. Không thể kể hết được vì bài kinh nào cũng là trí tuệ nhưng câu trả lời của Đức Phật với ác ma mà con thấy rất hay và trí tuệ con đọc được, nhờ bài kinh đó mà con hoan hỷ ba ngày chưa hết.

Đó là ác ma gặp Đức Phật: Tại sao ông thấy con đường giải thoát rồi mà Ngài không đi một mình đi tại sao lại chỉ cho người khác? Khi gặp phải câu hỏi như vậy thì mình sẽ giải thích đủ kiểu là tại chúng sanh khổ, tại nhiều thứ. Nhưng Đức Phật đã trả lời rất trí tuệ, Đức Phật đã nói là vì họ hỏi nên Ngài chỉ, vì Ngài là Như Lai, nên họ hỏi thì Như Lai không nói dối, nếu như người khác hỏi mà tôi không chỉ thì tôi không còn là Như Lai. Nên đó là câu trả lời rất thuyết phục, rất hay nên ác ma không biết nói gì, chỉ biết đứng hình.

Câu trả lời rất đơn giản là tại họ hỏi nên tôi chỉ, nếu tôi không chỉ là Như Lai, Như Lai là không nói láo. Từ khi Ngài tuyên bố, giác ngộ là những gì Ngài tuyên bố là không có đổi khác. Vậy nên con thấy rất hay khi được tiếp xúc với kinh Nikāya.

Thứ tư là pháp học, pháp hành không bị gò bó. Con thấy pháp học, pháp hành trong kinh Nikāya rất rộng rãi, nằm trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, có lúc dùng Tứ Niệm Xứ, có lúc thì tu tập Tứ Chánh Cần, Tứ Thần Túc, tu Năm Căn, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, rất rộng rãi mà không bị gò bó vì có nhiều pháp môn chỉ gò bó trong Tứ Niệm Xứ, nhưng cũng không đủ vì có nhiều nơi chỉ chuyên về thân, hành, niệm.

Có pháp môn chuyên về niệm thân, thọ, niệm tâm, niệm pháp nhưng chỉ gò bó trong một pháp môn nhưng trong kinh Nikāya thì không bị gò bó, có lúc pháp môn này, có lúc dùng phẩm này, phẩm kia. Như trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo là cứ dùng trong đó, miễn sao giúp việc tu tập giới định tuệ để mình tăng trưởng là tốt. Nên pháp học, pháp hành rất rộng rãi.

Thứ năm là tâm nguyện tu học chân chính có khả năng được thành tựu. Chính vì tiếp xúc với Nikāya thì mới thấy rõ được con đường mình đã đi, không tiếp xúc những tà kiến, những thêm bớt của những người sau này làm mình hoang mang. Chính những sự tiếp xúc trực tiếp với lời dạy của Đức Phật nên đi đúng con đường, đạo lộ thì sẽ thành tựu Thánh quả may mắn khi đi đúng con đường trong kinh Nikāya, con đường Bát Thánh Đạo mà Đức Phật đã từng đi.

Nên hy vọng đi đúng đường thì sẽ đi đúng đích, còn nếu như đi trật đường, mục đích đi về hướng đông nhưng mình đi lệch về hướng tây thì dù có nhiệt tình, năng nổ, cố gắng bao nhiêu thì mãi mãi vẫn không đi về trúng đích. Nên thấy được con đường mà mình chỉ cần nỗ lực đi thì một ngày nào đó sẽ tới được mục đích của mình đó là giải thoát.

Thứ sáu là biết rõ điều cần tu tập. Chính vì kinh Nikāya chỉ rõ ra là mình học về ngũ uẩn nên mình biết nội tâm của mình như thế nào, và mình cần phải tu tập những cái gì. Hôm nay giai đoạn mình đang sân thì mình tu tập tâm hiền và tâm từ, hôm nay hay trong thời gian này nội tâm mình tham dục thì mình tu tập về quán bất tịnh. Hoặc hôm nay mình đang si, đang chán, đang nản thì mình tu tập về tinh tấn, tinh cần, dũng mãnh giới nên chính mình là mình biết nội tâm của mình như thế nào và mình cần phải tu tập gì. Còn người khác thì không thể biết được nội tâm mình như thế nào được? Chỉ hướng dẫn chung chung chứ không chỉ mình cách trực tiếp là mình trong giai đoạn này, mình phải tu tập những gì nên chính vì thắng trí ngũ uẩn tự mình coi lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức và mình đang biết nội tâm mình đang vướng cái gì, đang sân hay là đang dính mắc thì tu tập tâm xả.

Vì có ngũ uẩn nên biết được công việc mình cần phải làm, mình tu tập cái gì và khi hiện tại nội tâm mình có tham dục thì khi mình diệt hết tham dục thì nó giảm xuống, mình cần tu tập những cái khác mình đang vướng. Tự mình biết mình cần làm gì, nó rất hiệu quả cho việc tu của mình.

Thứ bảy là tâm được an trú trong trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác. Khi trong Tinh hoa Nikāya đã nói rõ là nếu như mình không nghe pháp, học pháp hay thực hành pháp thì mình thả lỏng, thọ, tưởng, hành chạy lung tung, nhưng nó chạy toàn hướng tham, sân, si. Vì bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp này mình đã chạy theo hướng tham, sân, si rồi vô minh, bản ngã, nên nếu mình thả lỏng, mình không an trú trong pháp thì tâm hướng ngoại và nó toàn nghĩ đến chuyện tham, sân, si, ăn, uống, hay là nhớ những chuyện trong quá khứ, nó làm tâm mình rất bực.

Nhưng chính vì mình nghe pháp hoặc an trú trong pháp, hoặc suy tư về pháp thì mình đặt thọ, tưởng, hành trong pháp. Lúc đó tham, sân, si không hoạt động thì mình không bị tham, sân, si, mình đang an trú trong trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác là không bị tham, sân, si chi phối.

Thứ tám là được gieo duyên với Chánh pháp Chánh đạo. Trong kinh Đức Phật cũng đã nói: Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thay tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm ta làm những nghiệp gì, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.

Chính vì được học kinh Nikāya nên những đời sau, nếu như chưa được giải thoát, nếu như được ai đó giảng về kinh Nikāya thì tự nhiên một cảm giác thích thú lại muốn tìm tới. Cũng như mọi người ở đây đã từng tu pháp môn, có thể tu vài chục năm nhưng khi được sư phụ giảng về kinh Nikāya, thì trong lòng có sự thúc giục và mong muốn lên núi tới đây. Và ni sư Không Tịnh, hoặc Sư Lý, hoặc những sư khác tu hành rất nhiều năm và có thể có bằng cấp tiến sĩ hay trụ trì nhưng vì nhiều đời nhiều kiếp trước đã gieo duyên với Chánh pháp nên sẵn sàng buông bỏ tất cả để lên núi.

Vậy nên con thấy nếu như mình gieo duyên với Chánh pháp, mình có một niềm tin mãnh liệt với Chánh pháp, không bỏ cuộc thì những kiếp sau, dù khi mình sinh ra không gặp được Chánh pháp nhưng duyên số sẽ đưa đẩy và mình sẽ tiếp tục tu Chánh pháp. Vậy nên ác nghiệp mình cũng phải trả, thiện nghiệp thì mình cũng sẽ hưởng. Nên không thể có việc là mình ác nghiệp, mình sinh ra khổ mà mình có niềm tin vào kinh Nikāya và khi mình chết thì nó mất thì không hợp với luật nhân quả.

Mình cứ đặt niềm tin vào Chánh pháp, không bỏ rơi hay không từ bỏ những lời dạy của Đức Phật thì những đời kiếp sau, dù mình sẽ luôn luôn gặp được Chánh pháp.

Thứ chín là thực tu theo kinh Nikāya thì sẽ thực chứng được chấm sanh tử. Khi tu theo kinh Nikāya thì đạo lộ rất rõ ràng, đầu tiên là mình phải thấy rõ ngũ uẩn, khi đã thấy rõ hoàn toàn ngũ uẩn thì mình đã thành tựu Chánh kiến. Đức Phật có nói là tối đa bảy đời sẽ được chấm dứt sanh tử. Nên đạo lộ rất rõ ràng, hằng ngày mình chỉ cần nhìn nhận ngũ uẩn, đến một ngày nào đó, mình thấy rõ ngũ uẩn.

Nếu như tiến sâu hơn trong đời này thì ngoài việc thành tựu Chánh kiến thì mình đoạn tận tham, sân, si. Mình có thể chứng những quả cao hơn như Nhất lai, Bất lai. Cao hơn là chứng quả A-la-hán, điều đó hoàn toàn có thể xảy ra.

Vậy nên khi học được kinh Nikāya thì con đường đi đến bất tử rất rõ, chỉ cần mình thực hành theo thì không còn gì phân vân hết, chỉ cần nhìn vào ngũ uẩn, nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si. Sự nhiếp phục mình càng nhiều thì mình sẽ đạt được Thánh quả càng cao, sự đi đến giải thoát của mình càng ngày càng gần, rất rõ, không buông lung. Không như trước đây con từng biết nói giải thoát mà không biết là giải thoát cái gì. Nhưng trong kinh Nikāya rất rõ, giải thoát khỏi ngũ uẩn, muốn giải thoát thì mình phải thấy rõ ngũ uẩn, cởi bỏ nó từ từ, giải thoát khỏi ngũ uẩn, lúc đó giải thoát không còn sinh tử.

Thứ mười là tuệ được khai mở, đạo sẽ thành tựu. Sư phụ đã giảng rất kĩ và sư Tú lúc nãy cũng trình bày trong bài kinh Tai và Mắt, là nếu như mỗi người chúng ta thấy được, học, nhận diện ngũ uẩn, thì nhiều đời nhiều kiếp sau nhân duyên sẽ đưa đẩy chúng ta tiếp tục tu học và sẽ đến một ngày được giải thoát, thành tựu viên mãn, cứu cánh phạm hạnh.

Đó là những suy nghĩ của con về mười lợi ích của tu học, học và hành theo kinh Nikāya.

VII. Phật tử số 7 trình pháp:

Thật ra, trong tu học Nikāya và trong quyển tinh hoa Nikāya về mười điều lợi ích là những điều cốt lõi, tinh yếu trên bậc đạo sư đã dày công học hỏi, nghiên cứu, cũng như hành trì và đúc kết lại, đây là những điều thiết thực.

Khi chính bản thân con nhìn lại cũng cảm thấy khi mình tu học thì sẽ có tâm rất mong muốn tự tu học những pháp, hoặc là thiết thực, thấy được lợi ích, hiệu quả và có được công năng, làm cho bản thân mình thấy được khổ, thấy được nguyên nhân của đau khổ, thấy được sự chấm dứt và phương pháp để thực tập, thực hành, hành trì, chấm dứt hoàn toàn những phiền não, khổ đau.

Muốn như vậy thì bản thân khi con được tu học, nhìn nhận được ngũ uẩn, như quý sư cô đã chia sẻ, mình nhìn lại thân tâm của chính mình, thấy được thọ, tưởng, hành vận hành những cấu uế trong tâm, thấy được những rác bẩn nhiễm ô. Khi mình không thấy, không biết thì giống như người mù thì người khác cho mình một tấm vải xấu đeo lên mà người ta nói như thế nào thì mình nghe như vậy, mình làm theo như vậy.

Nếu mình không thấy, không biết, khi con mắt được mở ra, sáng ra thì mình thấy mình đã bị lừa dối, lừa gạt thì lúc đó thật là đắng cay, khổ đau. Khi chính con đường của Đức Phật đã thấy được, trình bày, hiển thị, hiển lộ, khai thị, hướng dẫn, chỉ dạy và những vị đệ tử đi theo Ngài, bước trên con đường mà Ngài đã đi, thực hành giáo pháp của Ngài, những gì Ngài thành tựu thì các chúng đệ tử đi theo con đường chân chánh, đúng pháp thì chắc chắn sẽ có được thành tựu viên mãn.

Trong bài kinh khi Đức Phật sắp nhập Niết-bàn, Ngài độ cho Ngài Subhadda thì Ngài cũng đã tuyên bố rằng:

Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có (đệ nhất) Samôn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn.

Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo thời ở đây có (đệ nhứt) Sa-môn, cũng có đệ nhị Samôn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có

Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn.

(Trường Bô Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)

Thấy được rất nhiều trong những lời kinh trong Nikāya rất thiết thực, hiện thực, hiện tại.

Có nhiều vị đạo sĩ, ngoại đạo cũng đến hỏi Đức Phật, trong kinh có vị đến hỏi Đức Phật:

Pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?

(Kinh Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Nhỏ - Vị Bà-la-môn)

Đức Phật đã chỉ dạy là khi nhìn lại thân tâm của mình, thì các ông sẽ tự thấy, tự biết là ông có tham, sân, si. Khi nhiếp phục, đoạn tận thì ông sẽ được hạnh phúc, lợi ích an lạc dài lâu.

Rất nhiều bài kinh rất thân thiện, gần gũi với đời sống, không phải là một Đức Phật hiện thực hóa bằng trí tưởng tượng, mà đó là Đức Phật hiện thực. Đức Phật chân thật nhất, khi nhận diện ngũ uẩn và khi con đọc trong kinh, để tâm vào trong kinh, quán chiếu thọ, tưởng, hành an trú trong những lời kinh đó sẽ thấy khung cảnh rất thực hiện khởi như chính tự thân mình ở thời Đức Phật. Không phải Đức Phật chỉ độ cho những vị trong thời Đức Phật thôi, còn những vị sau này thì Đức Phật không độ. Không phải vậy, chỉ là trước đó cũng là ngũ uẩn, ngay đây cũng là ngũ uẩn, sau này cũng là ngũ uẩn. Trong tâm vô minh và khát ái mà thôi.

Khi thấy được ánh sáng, trí tuệ của Đức Phật soi sáng, ta nương tựa, nhìn, có được con mắt, mở được mắt, thấy được năm uẩn, thấy được tâm thì sẽ nương theo Thánh trí, nương theo phương pháp diệt khổ thì sẽ chấm dứt được những phiền não, những khổ đau.

Kính mời ni sư, quý sư cô và đại chúng trải tâm từ để tất cả các chư vị đều được lợi lạc, những đồng phạm hạnh với tâm chân thành, chân chánh tu học, hướng về pháp học, pháp hành chân chánh theo lời Đức Phật, được trở về nương tựa tu học.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.