Thánh Trí Năm Uẩn 5 - Soi Sáng
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 5
SOI SÁNG
ĐĐ.Thích Minh Thành giảng
Minh Thành muốn các huynh đệ có buổi pháp đàm cảm nhận môn học của chúng ta về năm uẩn cũng như những lợi ích và khó khăn.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng. Con có băn khoăn trong quá trình tu học hằng ngày, trong thời gian thầy dạy về kinh Nikāya này thì thầy nhấn mạnh rất nhiều về năm uẩn. Trước khi mình nhận diện được ngũ uẩn thì tâm con không được nhất tâm. Khi ngồi thiền thì gặp vọng tưởng rất nhiều, thứ hai là những sự huân tầm, thứ ba là tâm bị dao động thành ra khi mình ngồi sẽ không nhận diện được ngũ uẩn. Thầy có thể giúp con giải quyết khó khăn đó, trước khi nhận diện ngũ uẩn thì cần phải làm gì.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính thưa giáo thọ sư và đại chúng. Con có một băn khoăn và muốn thực tập nhưng chưa làm được. Tuần vừa rồi con nghe thầy nói là quay lại sáu căn, hộ trì sáu căn và nhiếp phục sáu căn, phát giác, xem động chuyển thì phải tẩy rửa và diệt tận. Thật sự trong cuộc sống con gặp rất nhiều sự va chạm, mình có thể ứng dụng lời thầy nói nhưng con chưa làm được cho nên tâm bị xao động, bứt rứt. Mong thầy giúp con làm sao để mình tẩy rửa hoặc là diệt tận cái tâm đau khổ.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên giáo thọ sư. Con có một thắc mắc, khi con nhận thức được thân này là ngũ uẩn, do tứ đại hợp thành thì tâm mình là giả tạo, do bốn uẩn tạo thành. Nếu mình đã nhận định được rồi thì định hướng tiếp theo sẽ như thế nào, con cảm thấy bị hụt hẫng, mất định hướng, mình tồn tại nhằm mục đích nào và hướng về đâu.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy giáo thọ. Theo con được biết thì ba pháp tuyệt diệu là rõ biết trước mặt, cảm nhận cảm giác toàn thân và chánh niệm tỉnh giác. Con xin hỏi phần thứ ba là chánh niệm tỉnh giác là mình quán chiếu về năm uẩn hay mình chỉ cảm nhận cảm giác của thân, tâm, và phương pháp để mình diệt trừ những cảm giác đó.
Câu hỏi thứ nhất, làm thế nào để đối trị hôn trầm và vọng tưởng. Đây là hai chướng ngại lớn nhất khó vượt qua trong khi thực tập thiền, nó có thể kéo dài dù cho mình thực tập lâu, nếu mình không có sự hướng dẫn chính xác và không có sự quyết tâm thì hết sức là khó đối trị, khó vượt qua để chinh phục. Ngay cả khi không phải ngồi thiền mà thậm chí cả khi nghe pháp, hai trạng thái này hay xâm chiếm trong thân tâm của mình, quý huynh đệ phải nghe giáo trình "Năm truyền cái" mà Minh Thành đang giảng cho Cao đẳng Tăng, bên đó có nguyên giáo trình về năm truyền cái. Đức Phật dạy rất kĩ về thức ăn của năm truyền cái, do mình cho nó ăn cho nên nó mới lớn mạnh mà mình không biết mình đang cho những thứ này ăn, mình nuôi nó mà bây giờ mình muốn cho nó chết, điều này không thể xảy ra. Mình nuôi mà mình không biết mình đang nuôi, mình không nhận diện cảm giác thì khi hôn trầm đến là mình không biết và mình nhập cuộc vào chung. Hoặc là vọng tưởng sanh khởi lên thì lúc đó mình đi theo luôn, giống như người bảo vệ gác cửa ngủ gục thì người vô kẻ ra không biết, tức là cái tâm không có sự tu tập chánh niệm tỉnh giác để rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng gì đang sanh khởi, đang có mặt, đang xâm chiếm và áp đảo nội tâm mình. Nếu mình nhận diện cảm giác thì hôn trầm tới mình sẽ biết, khi đó hai mắt sẽ nặng xuống, mặt và đầu như thịt bị nhão, chảy ra. Nếu có chống đối thì con mắt sẽ nhướng nhướng, còn không là sụp luôn. Khi một người có nhận diện cảm giác toàn thân thì hôn trầm vừa đến là bắt gặp được ngay để đánh đuổi nó, đây là nhiệt tâm trong sự tu học, là tinh cần, là tỉnh giác trong kinh Tứ Niệm Xứ. Do mình không nhiệt tâm nên hôn trầm tới là mình theo luôn vì mình đâu có biết nó tới, mình không biết nó đang xâm nhập và áp đảo nên khi nó tới là mình phải tác ý hết sức mạnh, phải cảm giác thật mạnh ở hai vùng mắt, mở hết tầm nhìn cho nên ba pháp của mình là cực kì quan trọng. Lúc nào vào lớp Minh Thành cũng cho thực hành ba pháp, trừ khi nào quên thì thôi. Ngay khi mình đi, đứng, bất cứ chỗ nào cũng phải thực hành ba pháp, vì khi mình thực tập chánh niệm trước mặt thì tầm nhìn rộng mở hết mức và thậm chí một người thực tập tâm vô lượng thì con mắt nhìn xuống nhưng tầm nhìn mở hết mức ra, trong cái thọ, tưởng, thức của người đó là xuyên thủng hết tường vách, núi đồi. Đó là cái thấy trú trong tâm vô lượng, đó là chánh niệm trước mặt của vô lượng tâm. Thành ra cái nhìn đó tuy là nhìn xuống nhưng là cái nhìn xuyên thủng hết tất cả chướng ngại vật, đó là một cái tâm rộng mở vô lượng. Nếu với một cái nhìn như vậy thì hôn trầm làm sao có thể tấn công, người này thực tập liên tục hằng ngày, hằng giờ, hằng tháng, hằng năm chứ không phải chỉ thực tập lúc ngồi thiền, mình thực tập như vậy thì hôn trầm không thể tấn công. Hôm trước Minh Thành nói thực tập ba pháp thì Minh Thành chỉ nói phần tầm nhìn rộng mở hết mức ra hai bên chứ Minh Thành chưa nói tới phần xuyên thủng hết chướng ngại vật, xuyên thủng lên trên nóc nhà, xuyên thủng hai bên vách và xuyên thủng xuống dưới cho đến khi tâm mình vô lượng, đó là trú trong vô lượng tâm định, là trải bốn tâm từ; bi; hỷ; xả. Muốn vậy thì mình phải có công năng thực tập lâu ngày, siêng năng tinh tấn. Quý huynh đệ nghe lại năm truyền cái bên Cao đẳng, Minh Thành nói rất kĩ thức ăn của nó là gì, phương pháp đoạn diệt ra sao, thời gian hạn hẹp ở đây chúng ta chỉ nói tổng quát, trên trang linhquyphapan.vn có giáo trình năm truyền cái, tất cả những gì về năm truyền cái mà Đức Phật dạy trong năm bộ kinh Nikāya đều có trong đó. Trạo cữ cũng vậy, thức ăn của hôn trầm Đức Phật nói là tâm thụ động, lười biếng, buồn ngủ, ăn no và biếng nhát, mình nghĩ năm truyền cái này mình diệt hoài không được, tại mình cho nó ăn thì làm sao diệt được nó. Trước khi ngồi thiền ăn cho no thì làm sao thiền, đó là mình cho nó ăn. Cái tâm không năng động, không hân hoan trong sự tu học, không tác ý hỷ lạc, không làm sanh khởi sự thích thú, hiếm có khó gặp, cung kính đối với pháp cho nên vào ngồi có xác không có hồn. Sự tu học phải hết sức để tâm, phải nỗ lực và tìm đủ mọi cách thì mới thành công, chứ không phải tu thụ động, lơ lơ cho qua ngày thì sự tu tập đó không đi tới đâu.
Vọng tưởng, trạo cử, lăng xăng thì hết sức khó nhiếp phục, đây là kiết sử chứ không phải bình thường. Người đó đang bị kiết sử và người này không nhiếp phục được thân hành, khẩu hành. Thân hành, khẩu hành chính là hành động của thân và lời nói của miệng. Tại sao luôn luôn lúc nào trước khi vào học Minh Thành cũng cho quý huynh đệ yên tĩnh vài phút, đó là nhiếp phục truyền cái trạo cử, nếu không nhiếp phục thì học không được. Sở dĩ ngài A-nan-da truyền trì được pháp tạng cho chúng ta vì khi nghe pháp là ngài hoàn toàn không có năm truyền cái, lúc nào cũng vậy cho nên ngài mới nghe và nhớ hết được tất cả lời Phật dạy. Còn mình đang nghe thì bỗng nhiên nhớ lại giận người nào đó, hay nhớ người mình thương thì sự ghi nhận của mình không trong sáng và bị phóng tâm. Trước khi vào học thì Minh Thành cho các huynh đệ thực tập trạo cử truyền cái. Sự trói cột, sự che đậy của thân tâm, và mình muốn đối trị thì không có gì khác ngoài tu tịnh chỉ, tức là làm cho dừng lại những sự tháo động, đó là phương pháp đối trị. Đối với một người lăng xăng lóc chóc, náo động thì người này không có trí tuệ thâm sâu dù cho có học tới đâu đi nữa, thành ra một người có tu tập tâm thì người này phải nhiếp phục được năm truyền cái, đây là bước quyết định đối với người tu. Ở đây chỉ mới nói nhiếp phục chứ chưa nói đoạn tận, nhiếp phục tức là mình có khả năng khống chế nó được, thâu nhiếp và chế ngự nó được thì mới có hy vọng trong sự tu tiến, còn không là không được. Vì truyền thống của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác là đoạn tận năm truyền cái, an trú tâm trên bốn Niệm Xứ và tu tập bảy giác chi, tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều đi qua con đường này, đây gọi là truyền thống của các bậc Chánh Đẳng Giác. Nếu mình không nhiếp phục được năm truyền cái thì dù cho có ở trong chùa bốn chục năm đi nữa mình vẫn là kẻ đứng ngoài cửa chùa, chưa vào được cửa pháp môn. Người mà cứ ngồi đâu gục đó hoặc suy nghĩ lung tung, nói luyên thuyên, thân dao động lăng xăng, một người tối ngày nghĩ tham sân, hoài nghi thì làm sao người đó có thể nhập được thánh tri kiến. Cái thấy của Đức Phật là cái thấy của bậc thánh, nếu một tâm quá thấp kém, hạ liệt và đầy rẫy bụi đời, miên man trong năm truyền cái thì không thể thấy được, hoặc có thấy được là thấy được trên phần tưởng tri, thức tri hoặc thấy một ít nhỏ bên ngoài chứ không thể đi vào tuệ tri một cách sâu sắc được. Biết bằng trí tuệ phải bằng một nội tâm tịch tịnh, này các Tỳ-kheo, hãy tu tập thiền định, Tỳ-kheo tu tập thiền định các pháp như thật hiển hiện. Các pháp gì như thật hiển hiện? Mắt vô thường, như thật hiển hiện. Tai vô thường, như thật hiển hiện. Mũi, lưỡi vô thường, như thật hiển hiện. Thân, ý vô thường, như thật hiển hiện. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức vô thường, như thật hiển hiện. Căn vô thường, trần vô thường, thức vô thường, khổ vô ngã, như thật hiển hiện. Xúc vô thường, như thật hiển hiện. Thọ vô thường, như thật hiển hiện. Các ái, chấp thủ vô thường, khổ vô ngã, hoại diệt như thật hiển hiện. Đó là công năng của tu tập thiền định, do mình thành tựu chánh tri kiến về năm uẩn thì thiền định của mình mới gọi là thánh chánh định. Chỗ này thâm sâu.
Chúng ta tu học thì đại đa số là nhảy cấp bậc nên không thành công, nếu có thành công thì chỉ thành công rất nhỏ chứ không phải như thành công mà Đức Phật nói là thánh quả. Vì mới vào là tu tập chánh niệm, mà chánh niệm nằm ở phần thứ bảy trong Bát Chánh Đạo, mình chưa đi qua chánh kiến, chánh tư duy, giống như nhảy vô mình học lớp bảy nên sự tu tập không có kết quả. Mình còn chưa biết chánh kiến là gì thì làm sao mình tu chánh niệm, mình chưa biết thế nào là chánh niệm, tà niệm thì làm sao mình tu chánh niệm? Nó phải đi qua từng bước, sáu cái thánh tư lương phía trước là sửa soạn, chuẩn bị để có thể đi vào chánh niệm. Ví dụ quý huynh đệ muốn cất nhà là nhảy vào cất liền hay phải có sự chuẩn bị, phải có xi măng, gạch cát, bản vẽ… thì sự tu học cũng học, phải có sự chuẩn bị. Mà sự chuẩn bị là thánh tri kiến, thánh tư duy, thánh chánh ngữ, thánh chánh nghiệp, thánh chánh mạng, thánh chánh tinh tấn rồi mới tới thánh chánh niệm. Một sự tu học nghiêm túc, để tâm thì rất khác.
Nhiếp phục được năm truyền cái này là cả một sự cố gắng. Ba pháp là nền tảng của tất cả pháp hành. Bất cứ một pháp hành nào trong đạo Phật mà không có cảm giác toàn thân thì pháp hành đó sẽ không đưa đến kết quả rốt ráo. Cảm giác toàn thân là nơi hội tụ của tất cả các pháp, nếu mình không đứng trên cảm giác toàn thân thì giống như mình đứng trên hư không, từ chỗ cảm giác toàn thân mới nhận diện năm uẩn, từ nhận diện năm uẩn thì mình mới thấy tham sân si bên trong, đây là trả lời luôn cho mấy câu hỏi sau. Thấy được tham sân si thì có phương pháp đoạn tận nó. Thành ra đây là một đạo lộ tuyệt vời, mấy huynh đệ chịu thực tập, tu học rồi sẽ thấy, trên toàn thế giới không có một đạo lộ tu học nào đầy đủ như vầy.
Câu hỏi thứ hai, cái tâm đó không nên bỏ mà nên phát huy. Đừng nghĩ rằng cái gì khó chịu là muốn bỏ, chỉ muốn cái dễ chịu. Này các Tỳ-kheo, các thầy không được bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Mình nghĩ rằng đi tu cho sướng, cho khỏe, không lo gì nữa, đó là sai lầm, một người như vậy là một người yếu hèn, hạ liệt. Mình bỏ gánh nặng của ác và bất thiện pháp để mình gánh một gánh nặng của thiện pháp, công đức và trí tuệ, chứ không phải tu là không được gì hết, cái đó không đúng, không phải là vô sở đắc, kinh Nikāya không dạy như vậy. Mình tu theo kiểu đó là mình không có gì hết, khỏi cần tu gì nữa, không cần giữ giới, không cần thiền định, không cần thu nhiếp sáu căn ma nghiệp. Cái này khủng khiếp vô cùng, là tà kiến cho chúng sanh chìm đắm, không có ngày thoát khỏi luân hồi sanh tử, đây là những tư tưởng cực kì khủng khiếp. Minh Thành nói mà thấy sợ, Minh Thành đã chết trong đó bây giờ mới thoát ra được, Minh Thành không muốn các huynh đệ bị chết trong đó. Nghĩa là học riết rồi xem thường Tam bảo, xem thường giới luật, không tôn kính thiền định, không đạt được mục đích trí huệ, cái gì cũng không hết, không này là xuống địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Trong Tăng Chi Bộ kinh nói một người thành tựu chánh tri kiến mà không cung kính bậc đạo sư, không cung kính thiền định, không cung kính pháp, không cung kính Tăng thì sự kiện này không thể xảy ra, không thể có một sự bất kính với Phật, với pháp, với Tăng, với giới, với thiền định mà gọi là thành tựu chánh tri kiến, điều này không thể xảy ra. Một người đã hướng Dự lưu và Nhập lưu thánh quả thì người này cung kính tuyệt đối với Phật, pháp, Tăng, đối với giới và thiền định. Thậm chí người này có mất mạng thì tâm cung kính đó vẫn không dao động thì mới gọi là tịnh tính bất động, đó là bậc thánh quả thứ nhất, thành tựu tứ bất động tính, lòng tin trong sáng, không còn bị lay động. Thật là thảm họa cho người nào tu riết rồi coi thường Tam bảo, cho nên những vụ đốt tượng Phật hết sức nguy hiểm, những tư tưởng đó ăn vào đầu mình là mình chết. Một người phát biểu bất kính với Phật thì người này là người hết sức khủng khiếp, dám phát ngôn siêu Phật thì người đó là ma, vì một người thành tựu chánh tri kiến là kính Phật tuyệt đối. Mình vẫn chưa biết được hết về Đức Phật, thậm chí mình có xuất gia hết cuộc đời ở trong chùa mình cũng chưa thành tựu chánh kiến được với Đức Phật, mình còn hiểu sai về Đức Phật rất nhiều. Đức Phật là đã ra khỏi năm uẩn, cái mà mình đau khổ, khóc than, lo lắng, muốn sống chết thì Đức Phật nhìn giống bong bóng, vứt bỏ như giẻ rách, mình không thể nào hiểu nổi trừ bậc Dự lưu thánh quả Tu-đà-hoàn mới biết được Đức Phật là ai.
Câu thứ ba là nhìn ra năm uẩn rồi hoang mang, cái này đã có từ thời Đức Phật rồi, đã có nhiều bài kinh nói về vấn đề này. Bây giờ Tôn giả Gotama nói sắc là vô thường, cảm giác, nghĩ tưởng, thức cũng vô thường vô ngã thì tôi còn gì? Còn thánh trí năm uẩn là kinh thiên động địa, rúng động toàn thế giới, một ngàn thế giới cũng rúng động khi Đức Phật chuyển pháp luân này, tại vì tất cả chúng sanh trong ngàn triệu hành tinh cũng không có một người nào thành tựu được thánh trí này để chứng ngộ, chỉ có duy nhất một bậc tối thượng, tối đệ nhất nên không thể có người ngang hàng để so sánh. Minh Thành hay dùng từ "Thánh chúa", là chúa tể của các bậc thánh, là cha đẻ của tất cả thánh hiền, tất cả những vị tu theo Phật đều đi đến chỗ sạch hết phiền não giống Phật nhưng không thể gọi là Phật, chỉ có duy nhất một Đức Phật, làm gì có hai bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện cùng lúc, điều này không thể xảy ra. Cho nên mình hiểu lầm, nói là "Con muốn tu thành Phật", nói cái đó là mình không biết gì hết, chừng nào chánh pháp của Phật Thích-ca hoại diệt hoàn toàn, không ai biết đến danh từ "Tam bảo" là gì nữa, và trong vô lượng vô biên kiếp, 91 lần Trái Đất thành hoại được ví dụ bằng ngôi thành trì bằng sắt dài 19km, để hạt cải xuống hết 19km, mỗi một 100 năm lấy lên một hạt cải, lấy hết số hạt cải đó cũng chưa được một kiếp của Trái Đất, như vậy là 91 lần thành hoại của Trái Đất này mà chỉ có 7 Đức Phật xuất hiện: Phật Tỳ Bà Thi; Phật Thi Khí; Phật Tỳ Xá Phù; Phật Câu Lưu Tôn; Phật Câu Na Hàm Mâu Ni; Phật Ca Diếp và Phật Thích-ca Mâu-ni. Chỉ có 7 Đức Phật được đề cập trong kinh tạng Pali Nikāya, bây giờ ai cũng nói mình là Phật vì mình có biết Phật là gì đâu. Quý huynh đệ có biết rằng dung nhan vô tướng của Phật là kinh khiếp lắm, Phật đã từ bỏ và chấm dứt ngũ uẩn, những thứ này là những thứ vô thường, sanh diệt và khốn khổ, bất tịnh. Mình còn mê đắm, say sưa trong đống thịt này mà Đức Phật đã vứt bỏ.
Mình tu riết rồi tâm mình không còn lo gì nữa, phạm giới cũng không lo, không sợ, không sám hối, mình trơ trơ trước sai lầm thì đây là pháp thối đọa, rơi xuống vực thẳm. Quý huynh đệ còn nhớ lúc mình mới thọ giới mà có làm gì sai là "Sư phụ ơi, con làm cái này sai rồi, cô kia nắm tay con", tu thêm 5,7 năm là "sao bây giờ không ai nắm tay con, con kiếm con nắm". Chết không? Đó là xem thường, không còn sợ hãi lo lắng, không còn cảm thấy tội lỗi nữa. Hết sức nguy hiểm, thật sự cái này Minh Thành hết sức lo sợ, đã 30 năm ở trong chùa và càng ngày càng lo sợ, lo sợ cho mình và lo sợ cho những người tu xung quanh mình. Vì càng ngày càng chai lì với giới ác và bất thiện pháp, chai sạn với tội lỗi và những sự thối đọa. Phải nuôi dưỡng cái tâm ray rứt, đau khổ, hoảng sợ đối với ác và bất thiện pháp, phải làm cho tâm này quảng đại và bao trùm khắp thân tâm, chính cái này mới đẩy mình đi đến sự tu tinh tấn, phá diệt cái ác và bất thiện pháp. Minh Thành có một bài "Từ nhục nhã đưa đến thánh quả", đây là hai pháp tàm quý đưa đến Dự lưu thánh quả, không phải chuyện bình thường. Quý huynh đệ thấy lạ không? Nào giờ đâu có ai nói như vậy nhưng trong Nikāya nói cái này, từ nhục nhã và sợ hãi sẽ đưa đến các bậc hiền thánh. Cái này quan trọng, con người mình trơ trơ, không biết xấu hổ thì không còn gì để nói, còn thua mấy người Phật tử mới đến chùa.
Mình nói kĩ về câu hỏi thứ ba. Đừng sợ, cái sợ đó là lậu hoặc, dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Chữ "Lậu" là nó ngấm ngầm qua mặt mình giống như đi hàng lậu, có nhiều người nuốt hàng lậu vô bụng, cuối cùng cũng soi ra, nếu không soi ra là nó qua mặt. Cho nên lậu là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động qua mặt mình mà mình không biết, không hay. Có ba loại ngấm ngầm hoạt động: Dục. Mình đi nắng, mệt, vào toa-lét múc nước dội ào ào thì mình có biết cái gì đang múc không? Đó chính là cảm giác thúc giục bên trong, cho nên cái xối nước là một hành động trong trạng thái của dục, còn người có chánh niệm tỉnh giác thì người ta vẫn ghi nhận cảm giác dễ chịu nhưng người ta xối từ từ, nhẹ nhàng chứ không phải vào làm ào ào, người kế bên nghe là biết đang xối nước trong trạng thái của dục. Chứ không phải dục là chuyện nam nữ, cái đó không cần học ai cũng biết, khỏi tu cũng biết cần gì vào chùa tu để mà ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da. Khi ngủ mà tới giờ công phu hay tới giờ ngồi thiền, đánh chuông rồi vẫn lăn qua lăn lại, mình ráng nằm 10 phút nữa thì đó là dục, mình không nhiếp phục được. Đó là những cái mình biết, còn những cái mình không biết thì vi tế lắm cho nên tại sao mình phải hộ trì căn, không phải chuyện dễ. Ví dụ hình bóng một đối tượng đẹp phớt qua thì mắt mình tự nhiên hướng về người đó thì đó đều là những hoạt động của dục, ái và tham. Quý huynh đệ có thấy nó ăn sâu vào xương, da, thịt, từ đời xa xưa truyền lại gen dục, gen tham, gen ái này. Cái ăn, cái mặc, cái nhìn ngó, đi đứng… tất cả những cái sâu thẳm bên trong là dục đang vận hành, nó đang hoạt động, điều khiển, nó là kiết sử, trói buộc mình mà mình không thấy, mình nói "Đâu có đâu, con cũng tu cũng hành ngon lành, tới giờ công phu con lên công phu mà, con đâu có bỏ tu đâu sao thầy nói con bỏ tu, con đâu có dục sao thầy nói con dục", đó là phàm phu, vô minh. Chỉ có thánh trí mới thấy được, nếu mình không nương tựa vào thánh trí của Đức Phật thì làm sao mình biết được dục lậu là cái gì? Xin thưa quý huynh đệ mình tu suốt đời mà không gặp thiện tri thức, không gặp chánh tri kiến thì mình không thể biết được, mình nói "tôi tắm thì tôi xối nước, làm gì khó quá la vậy? Khó quá ai chịu nổi?", mình không biết cái đó là thánh trí chứ không phải phàm tình, còn mình sống là sống theo phàm tình, mình muốn phàm thì cứ phàm, còn mình muốn là thánh thì phải học thánh trí năm uẩn, học thì sẽ phát giác tất cả những rác bẩn có trong mọi khía cạnh, gõ ngách, không có cái gì có thể qua mặt thánh trí đó được. Do công lực nhận diện năm uẩn và cảm giác toàn thân mới nhìn ra được. Quý huynh đệ thấy tại sao mình lên ăn quá đường, rõ ràng miệng đọc "tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu" nhưng vẫn nói chuyện huyên thuyên từ đầu tới cuối, là do cái dục trong tâm nói, nó thúc giục kêu nói, nói cho đã và thích là ái, muốn nói nữa là tham. Ghê chưa? Ai chỉ cho mình cái này? Người đó ngồi mà hoàn toàn không biết cái dục đang điều khiển người đó, cái ái đang xâm chiếm tâm, và cái tham đang áp đảo người đó, nhưng ra dạy Phật tử là "Im lặng, không được nói chuyện nha", xong rồi vào ăn thì nói tùm lum. Cho nên dạy đâu ai nghe "ông nói sao bắt tôi im?" Cho nên định nghĩa Như Lai là làm sao thì nói vậy, nói sao thì làm vậy, như vậy mới là Như Lai, từ đêm thành Chánh Giác cho đến đêm nhập Niết-bàn thì ở khoảng giữa đó thì những gì Ta tuyên thuyết tất cả không thể khác được. Từ ngày tuyên bố dưới cội Bồ Đề cho đến khi nhắm mắt dưới Sala song thọ với những gì Ta tuyên thuyết khai thị trong tạng kinh Nikāya thì này các Tỳ-kheo không thể thay đổi và đổi khác được. Đó là lời của Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ, không phải chuyện bình thường. Còn mình bây giờ nói một hồi là "Phật có câu…", sau câu đó là lời tầm bậy, hoặc là "trong kinh có câu…" rồi nói tầm bậy. Chết! Cho nên chánh pháp diệt vong. Nói kinh mà nói một hồi ra nhà nho, nhà lão cũng nói kinh Phật. Trời ơi là trời! Bây giờ để mình thật sự nhận thức được đúng chánh pháp là rất khó, vì nói gì cho vui, nói gì cho vừa lòng là thích, là vỗ tay rồi tham sân si càng bành trướng thêm, chánh pháp sẽ mai một và đi đến hoại diệt. Một khi mình đã không nhận thức chính xác về pháp thì làm sao mình tu tập đúng, mà không tu tập đúng thì làm sao mình có kết quả như Đức Phật nói, như vậy là tất cả bốn đôi tám chúng, tất cả quả vị đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ Sa-môn quả sẽ không còn, tất cả những bậc hiền thánh Tăng sẽ không còn ở thế gian này nữa, nếu mình không hiểu đúng chánh pháp và hành đúng thì cái mình được chỉ là danh Tăng chứ không phải là thánh Tăng. Thánh Tăng là phải tu đúng theo đạo lộ của kinh Nikāya, phải diệt tận tham sân si và bản ngã, cho nên mọi người đừng sợ khi Phật nói tất cả là năm uẩn.
Bây giờ mình sẽ nói đến hữu lậu, cái này cũng hết sức thâm sâu. Hữu lậu là trong suy nghĩ, trong cảm giác, trong tưởng, trong tâm mình muốn hiện hữu, muốn có mặt. Đây cũng là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động thâm sâu bên trong là luôn luôn muốn mình hiện hữu trong năm uẩn, muốn có sắc mà sắc phải đẹp cho nên nói tu để đời sau giàu, sướng là ai cũng thích, muốn có những cảm giác êm ái, dễ chịu, muốn có những tưởng, những suy nghĩ hay ho, muốn có thức mà trong đó là bám chấp trong năm uẩn. Mình bấm chấp vào một cái vô thường, một cái khổ, vô ngã thì mình có được an lạc không? Mình bám chấp vào cái bất tịnh, cái duyên sanh tan nát, mình bám vào đống thịt này hoài thì làm sao mình đi ra khỏi luân hồi, làm sao giải thoát? Một cái ý niệm muốn tham đắm, hiện hữu trong năm uẩn này là hữu lậu. Mình gọi giải thoát nhưng giải thoát cái gì? Giải thoát sanh; già; bệnh; chết, nhưng cái sanh; già; bệnh; chết đó y cứ vào đâu mà có? Chính là từ trong dục, tham, ái đối với năm uẩn này. Do lòng tham, lòng dục, lòng ái đối với sắc, đối với năm uẩn này cho nên mới sanh ra thân ngũ uẩn, từ thân ngũ uẩn này đã có sanh là có già; bệnh; chết. Từ vô minh, không thấy được ngũ uẩn là vô thường, là khổ, là vô ngã, bất tịnh, không thấy tùy phế thận, không thấy ruột; phèo; phổi… cho nên mình mới ưa thích, say mê điên đảo cái tham ái này. Đây là một đạo lộ rõ ràng, điều hết sức quan trọng là phá hữu lậu, phá được một cái tâm tham ái, ưa thích trong năm uẩn này, khởi một sức mạnh này mới có thể đi đến giải thoát được. Nếu mình không tham sắc mà mình tham một cảm giác yên tịnh thì đó vẫn còn ở trong sắc giới và cõi sắc giới cho nên những cõi vô sắc, mà vô sắc là sống bằng tâm tưởng, bằng cảm giác, thì những cõi vô sắc đó không còn thân thịt này nữa. Dục giới là tầng của mình, là lấy dục làm chánh yếu. Sắc giới chính là tầng của chư Thiên, các huynh đệ nằm chiêm bao thấy mình đi đây đi đó thì chư Thiên sống y như cảnh giới đó, các chư Thiên không có thân, chỉ có hình bóng hết sức vi tế của sắc uẩn, sắc tưởng, cho nên đó gọi là sắc giới, là chú trọng vào sắc đẹp, ánh sáng, một vị Thiên xuống hỏi pháp Đức Phật là sáng cả một thành phố vì các vị đó thì dục đã nhẹ rồi nhưng có phước đức nên tích tụ ra sắc pháp thù thắng vi diệu. Thế giới cao cấp hơn nữa thì sắc là vô thường, chỉ có tâm lắng diệu, yên tịnh thì đó là vô sắc giới, là trú trong thức, trong tưởng và trong cảm thọ,
Một huynh hỏi khi đã khinh an thì đi theo cảm giác hay hơi thở. Quý huynh đệ phải thực tập ba pháp, đừng trú vào một cái, như vậy thì tâm của mình rất nhỏ hẹp. Trú trong hơi thở nhỏ hẹp thì không đủ sức phá được khối vô minh uẩn to lớn, mình nhắm mắt hít vào thở ra một lúc là đi luôn trong vô minh, trong si cho nên phải thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn. Có cảm giác dễ chịu thì mình biết có cảm giác dễ chịu nhưng mình đừng dính mắc vào, vì một khi đã dính vào thì mình thích thú đi ra không được, nhưng cảm giác đó là vô thường, khi đã mất thì mình lại đau khổ. Cứ đi tìm cảm giác thích thú, dễ chịu đó hoài, tìm không được thì khổ, cứ hễ dính mắc vào một trong năm uẩn là khổ. Mình phải nhớ những cảm giác hiền thiện, cảm giác khinh an là phải nuôi dưỡng, những cảm giác sân si, bản ngã là mình đánh phá triệt để, cho nên sự tu hành của chúng ta tạm chia làm ba bước, cái này quan trọng, phải nhớ kĩ. Bước thứ nhất là mình diệt ác, mình nỗ lực quyết tâm tiêu diệt tất cả ác và bất thiện pháp. Bước thứ hai là mình tu thiện. Bước thứ ba là mình vượt lên trên cả thiện lẫn ác, tức là mình từ bỏ năm uẩn, đi vào Niết-bàn, bất động tâm giải thoát, vì mình dính vào cái thiện là mình bị kẹt vào trong phước báo, mình hưởng phước báo rồi mê trong đó là bị đọa.
Bước thứ nhất mình nói diệt ác là đơn giản nhưng đó là cả một công trình, nếu mình không biết ác là gì sao mình diệt. Ví dụ như nãy giờ Minh Thành phân tích để mọi người thấy dục lậu vì trước nay mình không biết. Như vậy mình muốn biết thật sự nó là ác và bất thiện pháp thì phải cảm giác toàn thân và nhận diện năm uẩn, từ đó mới biết cái nào là thiện, cái nào là ác, còn không nhận diện năm uẩn thì mình sẽ không biết, cho dù có biết thì cũng chỉ biết cái thô bên ngoài. Nếu một người không thành tựu trí năm uẩn thì dù cho người đó tu đến mức độ nào đi nữa cũng vĩnh viễn không thể bước vào Dự lưu thánh quả, năm uẩn mới là trí tuệ đầy đủ của thân tâm nếu mình biết chỉ có một, hai cái thì làm sao đầy đủ, mà nếu không đầy đủ thì những cái khác nó vận hành, nó hoạt động, nó phối hợp nhau đánh du kích thì làm sao mình biết cho nên vĩnh viễn mình không thể nào nhiếp phục được. Vì vậy một người không thành tựu trí năm uẩn thì không thể nào bước vào Nhập lưu là quả vị đầu tiên trong tứ thánh quả, không thể có sự thành công thứ nhất trong bốn thành công của Đức Phật, cho nên trí năm uẩn là tuyệt đối cũng là tiểu tạng Nikāya, tức là những cái tinh hoa, cốt lõi nhất của kinh Nikāya đều nằm trong thánh trí năm uẩn, người nào không học hết được Nikāya thì học một phần này là nắm hết tất cả. Mình tu là mình căn cứ trên xâu chuỗi, cuốn kinh, cái áo, dáng ngồi, mình tụng được mấy bộ? Mình niệm được mấy xâu? Mình ngồi được mấy tiếng? Mình trì được mấy câu? Đây chỉ là phương tiện bên ngoài, còn bên trong là mình đã biết được tham sân si ở đâu chưa? Tại sao mình có tham? Làm sao để hết tham? Tại sao cái sân sanh khởi lên? Làm sao để hết sân? Cái gì làm cho mình khổ? Làm sao để chấm dứt khổ? Thánh trí về năm uẩn này chính là cốt lõi, tu là tu ngay chỗ này chứ không phải việc mình tu là mình tính xem mình tụng một ngày mấy bộ, rồi tham sân si còn hơn nữa tại mình không quay lại nhìn thân tâm để diệt bản ngã, mình không thấy cái ngã nó hoạt động. Những cái đó là dã tràng xe cát biển đông, chỉ làm được một chút phước thiện bên ngoài, mình có thấy cảm giác lúc mình tu như thế nào không? Nghĩ tưởng bên trong nội tâm là cái gì? Quý huynh đệ thấy cái trí năm uẩn này nó phơi bày hết tất cả những gì bị giấu kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những người có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho những người đi lạc hướng. Chỗ này mới giải quyết tất cả toàn bộ đau khổ của chúng sanh. Này các Tỳ-kheo, xưa và nay Như Lai chỉ tuyên bố hai điều, các ông phải ghi khắc để nhớ là sự thật về khổ đau của năm uẩn và con đường chấm dứt khổ đau của năm uẩn. Nắm được hai điều này là nắm được trái tim của Đức Thế Tôn.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.
SOI SÁNG
ĐĐ.Thích Minh Thành giảng
Minh Thành muốn các huynh đệ có buổi pháp đàm cảm nhận môn học của chúng ta về năm uẩn cũng như những lợi ích và khó khăn.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng. Con có băn khoăn trong quá trình tu học hằng ngày, trong thời gian thầy dạy về kinh Nikāya này thì thầy nhấn mạnh rất nhiều về năm uẩn. Trước khi mình nhận diện được ngũ uẩn thì tâm con không được nhất tâm. Khi ngồi thiền thì gặp vọng tưởng rất nhiều, thứ hai là những sự huân tầm, thứ ba là tâm bị dao động thành ra khi mình ngồi sẽ không nhận diện được ngũ uẩn. Thầy có thể giúp con giải quyết khó khăn đó, trước khi nhận diện ngũ uẩn thì cần phải làm gì.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính thưa giáo thọ sư và đại chúng. Con có một băn khoăn và muốn thực tập nhưng chưa làm được. Tuần vừa rồi con nghe thầy nói là quay lại sáu căn, hộ trì sáu căn và nhiếp phục sáu căn, phát giác, xem động chuyển thì phải tẩy rửa và diệt tận. Thật sự trong cuộc sống con gặp rất nhiều sự va chạm, mình có thể ứng dụng lời thầy nói nhưng con chưa làm được cho nên tâm bị xao động, bứt rứt. Mong thầy giúp con làm sao để mình tẩy rửa hoặc là diệt tận cái tâm đau khổ.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên giáo thọ sư. Con có một thắc mắc, khi con nhận thức được thân này là ngũ uẩn, do tứ đại hợp thành thì tâm mình là giả tạo, do bốn uẩn tạo thành. Nếu mình đã nhận định được rồi thì định hướng tiếp theo sẽ như thế nào, con cảm thấy bị hụt hẫng, mất định hướng, mình tồn tại nhằm mục đích nào và hướng về đâu.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy giáo thọ. Theo con được biết thì ba pháp tuyệt diệu là rõ biết trước mặt, cảm nhận cảm giác toàn thân và chánh niệm tỉnh giác. Con xin hỏi phần thứ ba là chánh niệm tỉnh giác là mình quán chiếu về năm uẩn hay mình chỉ cảm nhận cảm giác của thân, tâm, và phương pháp để mình diệt trừ những cảm giác đó.
Câu hỏi thứ nhất, làm thế nào để đối trị hôn trầm và vọng tưởng. Đây là hai chướng ngại lớn nhất khó vượt qua trong khi thực tập thiền, nó có thể kéo dài dù cho mình thực tập lâu, nếu mình không có sự hướng dẫn chính xác và không có sự quyết tâm thì hết sức là khó đối trị, khó vượt qua để chinh phục. Ngay cả khi không phải ngồi thiền mà thậm chí cả khi nghe pháp, hai trạng thái này hay xâm chiếm trong thân tâm của mình, quý huynh đệ phải nghe giáo trình "Năm truyền cái" mà Minh Thành đang giảng cho Cao đẳng Tăng, bên đó có nguyên giáo trình về năm truyền cái. Đức Phật dạy rất kĩ về thức ăn của năm truyền cái, do mình cho nó ăn cho nên nó mới lớn mạnh mà mình không biết mình đang cho những thứ này ăn, mình nuôi nó mà bây giờ mình muốn cho nó chết, điều này không thể xảy ra. Mình nuôi mà mình không biết mình đang nuôi, mình không nhận diện cảm giác thì khi hôn trầm đến là mình không biết và mình nhập cuộc vào chung. Hoặc là vọng tưởng sanh khởi lên thì lúc đó mình đi theo luôn, giống như người bảo vệ gác cửa ngủ gục thì người vô kẻ ra không biết, tức là cái tâm không có sự tu tập chánh niệm tỉnh giác để rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng gì đang sanh khởi, đang có mặt, đang xâm chiếm và áp đảo nội tâm mình. Nếu mình nhận diện cảm giác thì hôn trầm tới mình sẽ biết, khi đó hai mắt sẽ nặng xuống, mặt và đầu như thịt bị nhão, chảy ra. Nếu có chống đối thì con mắt sẽ nhướng nhướng, còn không là sụp luôn. Khi một người có nhận diện cảm giác toàn thân thì hôn trầm vừa đến là bắt gặp được ngay để đánh đuổi nó, đây là nhiệt tâm trong sự tu học, là tinh cần, là tỉnh giác trong kinh Tứ Niệm Xứ. Do mình không nhiệt tâm nên hôn trầm tới là mình theo luôn vì mình đâu có biết nó tới, mình không biết nó đang xâm nhập và áp đảo nên khi nó tới là mình phải tác ý hết sức mạnh, phải cảm giác thật mạnh ở hai vùng mắt, mở hết tầm nhìn cho nên ba pháp của mình là cực kì quan trọng. Lúc nào vào lớp Minh Thành cũng cho thực hành ba pháp, trừ khi nào quên thì thôi. Ngay khi mình đi, đứng, bất cứ chỗ nào cũng phải thực hành ba pháp, vì khi mình thực tập chánh niệm trước mặt thì tầm nhìn rộng mở hết mức và thậm chí một người thực tập tâm vô lượng thì con mắt nhìn xuống nhưng tầm nhìn mở hết mức ra, trong cái thọ, tưởng, thức của người đó là xuyên thủng hết tường vách, núi đồi. Đó là cái thấy trú trong tâm vô lượng, đó là chánh niệm trước mặt của vô lượng tâm. Thành ra cái nhìn đó tuy là nhìn xuống nhưng là cái nhìn xuyên thủng hết tất cả chướng ngại vật, đó là một cái tâm rộng mở vô lượng. Nếu với một cái nhìn như vậy thì hôn trầm làm sao có thể tấn công, người này thực tập liên tục hằng ngày, hằng giờ, hằng tháng, hằng năm chứ không phải chỉ thực tập lúc ngồi thiền, mình thực tập như vậy thì hôn trầm không thể tấn công. Hôm trước Minh Thành nói thực tập ba pháp thì Minh Thành chỉ nói phần tầm nhìn rộng mở hết mức ra hai bên chứ Minh Thành chưa nói tới phần xuyên thủng hết chướng ngại vật, xuyên thủng lên trên nóc nhà, xuyên thủng hai bên vách và xuyên thủng xuống dưới cho đến khi tâm mình vô lượng, đó là trú trong vô lượng tâm định, là trải bốn tâm từ; bi; hỷ; xả. Muốn vậy thì mình phải có công năng thực tập lâu ngày, siêng năng tinh tấn. Quý huynh đệ nghe lại năm truyền cái bên Cao đẳng, Minh Thành nói rất kĩ thức ăn của nó là gì, phương pháp đoạn diệt ra sao, thời gian hạn hẹp ở đây chúng ta chỉ nói tổng quát, trên trang linhquyphapan.vn có giáo trình năm truyền cái, tất cả những gì về năm truyền cái mà Đức Phật dạy trong năm bộ kinh Nikāya đều có trong đó. Trạo cữ cũng vậy, thức ăn của hôn trầm Đức Phật nói là tâm thụ động, lười biếng, buồn ngủ, ăn no và biếng nhát, mình nghĩ năm truyền cái này mình diệt hoài không được, tại mình cho nó ăn thì làm sao diệt được nó. Trước khi ngồi thiền ăn cho no thì làm sao thiền, đó là mình cho nó ăn. Cái tâm không năng động, không hân hoan trong sự tu học, không tác ý hỷ lạc, không làm sanh khởi sự thích thú, hiếm có khó gặp, cung kính đối với pháp cho nên vào ngồi có xác không có hồn. Sự tu học phải hết sức để tâm, phải nỗ lực và tìm đủ mọi cách thì mới thành công, chứ không phải tu thụ động, lơ lơ cho qua ngày thì sự tu tập đó không đi tới đâu.
Vọng tưởng, trạo cử, lăng xăng thì hết sức khó nhiếp phục, đây là kiết sử chứ không phải bình thường. Người đó đang bị kiết sử và người này không nhiếp phục được thân hành, khẩu hành. Thân hành, khẩu hành chính là hành động của thân và lời nói của miệng. Tại sao luôn luôn lúc nào trước khi vào học Minh Thành cũng cho quý huynh đệ yên tĩnh vài phút, đó là nhiếp phục truyền cái trạo cử, nếu không nhiếp phục thì học không được. Sở dĩ ngài A-nan-da truyền trì được pháp tạng cho chúng ta vì khi nghe pháp là ngài hoàn toàn không có năm truyền cái, lúc nào cũng vậy cho nên ngài mới nghe và nhớ hết được tất cả lời Phật dạy. Còn mình đang nghe thì bỗng nhiên nhớ lại giận người nào đó, hay nhớ người mình thương thì sự ghi nhận của mình không trong sáng và bị phóng tâm. Trước khi vào học thì Minh Thành cho các huynh đệ thực tập trạo cử truyền cái. Sự trói cột, sự che đậy của thân tâm, và mình muốn đối trị thì không có gì khác ngoài tu tịnh chỉ, tức là làm cho dừng lại những sự tháo động, đó là phương pháp đối trị. Đối với một người lăng xăng lóc chóc, náo động thì người này không có trí tuệ thâm sâu dù cho có học tới đâu đi nữa, thành ra một người có tu tập tâm thì người này phải nhiếp phục được năm truyền cái, đây là bước quyết định đối với người tu. Ở đây chỉ mới nói nhiếp phục chứ chưa nói đoạn tận, nhiếp phục tức là mình có khả năng khống chế nó được, thâu nhiếp và chế ngự nó được thì mới có hy vọng trong sự tu tiến, còn không là không được. Vì truyền thống của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác là đoạn tận năm truyền cái, an trú tâm trên bốn Niệm Xứ và tu tập bảy giác chi, tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều đi qua con đường này, đây gọi là truyền thống của các bậc Chánh Đẳng Giác. Nếu mình không nhiếp phục được năm truyền cái thì dù cho có ở trong chùa bốn chục năm đi nữa mình vẫn là kẻ đứng ngoài cửa chùa, chưa vào được cửa pháp môn. Người mà cứ ngồi đâu gục đó hoặc suy nghĩ lung tung, nói luyên thuyên, thân dao động lăng xăng, một người tối ngày nghĩ tham sân, hoài nghi thì làm sao người đó có thể nhập được thánh tri kiến. Cái thấy của Đức Phật là cái thấy của bậc thánh, nếu một tâm quá thấp kém, hạ liệt và đầy rẫy bụi đời, miên man trong năm truyền cái thì không thể thấy được, hoặc có thấy được là thấy được trên phần tưởng tri, thức tri hoặc thấy một ít nhỏ bên ngoài chứ không thể đi vào tuệ tri một cách sâu sắc được. Biết bằng trí tuệ phải bằng một nội tâm tịch tịnh, này các Tỳ-kheo, hãy tu tập thiền định, Tỳ-kheo tu tập thiền định các pháp như thật hiển hiện. Các pháp gì như thật hiển hiện? Mắt vô thường, như thật hiển hiện. Tai vô thường, như thật hiển hiện. Mũi, lưỡi vô thường, như thật hiển hiện. Thân, ý vô thường, như thật hiển hiện. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức vô thường, như thật hiển hiện. Căn vô thường, trần vô thường, thức vô thường, khổ vô ngã, như thật hiển hiện. Xúc vô thường, như thật hiển hiện. Thọ vô thường, như thật hiển hiện. Các ái, chấp thủ vô thường, khổ vô ngã, hoại diệt như thật hiển hiện. Đó là công năng của tu tập thiền định, do mình thành tựu chánh tri kiến về năm uẩn thì thiền định của mình mới gọi là thánh chánh định. Chỗ này thâm sâu.
Chúng ta tu học thì đại đa số là nhảy cấp bậc nên không thành công, nếu có thành công thì chỉ thành công rất nhỏ chứ không phải như thành công mà Đức Phật nói là thánh quả. Vì mới vào là tu tập chánh niệm, mà chánh niệm nằm ở phần thứ bảy trong Bát Chánh Đạo, mình chưa đi qua chánh kiến, chánh tư duy, giống như nhảy vô mình học lớp bảy nên sự tu tập không có kết quả. Mình còn chưa biết chánh kiến là gì thì làm sao mình tu chánh niệm, mình chưa biết thế nào là chánh niệm, tà niệm thì làm sao mình tu chánh niệm? Nó phải đi qua từng bước, sáu cái thánh tư lương phía trước là sửa soạn, chuẩn bị để có thể đi vào chánh niệm. Ví dụ quý huynh đệ muốn cất nhà là nhảy vào cất liền hay phải có sự chuẩn bị, phải có xi măng, gạch cát, bản vẽ… thì sự tu học cũng học, phải có sự chuẩn bị. Mà sự chuẩn bị là thánh tri kiến, thánh tư duy, thánh chánh ngữ, thánh chánh nghiệp, thánh chánh mạng, thánh chánh tinh tấn rồi mới tới thánh chánh niệm. Một sự tu học nghiêm túc, để tâm thì rất khác.
Nhiếp phục được năm truyền cái này là cả một sự cố gắng. Ba pháp là nền tảng của tất cả pháp hành. Bất cứ một pháp hành nào trong đạo Phật mà không có cảm giác toàn thân thì pháp hành đó sẽ không đưa đến kết quả rốt ráo. Cảm giác toàn thân là nơi hội tụ của tất cả các pháp, nếu mình không đứng trên cảm giác toàn thân thì giống như mình đứng trên hư không, từ chỗ cảm giác toàn thân mới nhận diện năm uẩn, từ nhận diện năm uẩn thì mình mới thấy tham sân si bên trong, đây là trả lời luôn cho mấy câu hỏi sau. Thấy được tham sân si thì có phương pháp đoạn tận nó. Thành ra đây là một đạo lộ tuyệt vời, mấy huynh đệ chịu thực tập, tu học rồi sẽ thấy, trên toàn thế giới không có một đạo lộ tu học nào đầy đủ như vầy.
Câu hỏi thứ hai, cái tâm đó không nên bỏ mà nên phát huy. Đừng nghĩ rằng cái gì khó chịu là muốn bỏ, chỉ muốn cái dễ chịu. Này các Tỳ-kheo, các thầy không được bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Mình nghĩ rằng đi tu cho sướng, cho khỏe, không lo gì nữa, đó là sai lầm, một người như vậy là một người yếu hèn, hạ liệt. Mình bỏ gánh nặng của ác và bất thiện pháp để mình gánh một gánh nặng của thiện pháp, công đức và trí tuệ, chứ không phải tu là không được gì hết, cái đó không đúng, không phải là vô sở đắc, kinh Nikāya không dạy như vậy. Mình tu theo kiểu đó là mình không có gì hết, khỏi cần tu gì nữa, không cần giữ giới, không cần thiền định, không cần thu nhiếp sáu căn ma nghiệp. Cái này khủng khiếp vô cùng, là tà kiến cho chúng sanh chìm đắm, không có ngày thoát khỏi luân hồi sanh tử, đây là những tư tưởng cực kì khủng khiếp. Minh Thành nói mà thấy sợ, Minh Thành đã chết trong đó bây giờ mới thoát ra được, Minh Thành không muốn các huynh đệ bị chết trong đó. Nghĩa là học riết rồi xem thường Tam bảo, xem thường giới luật, không tôn kính thiền định, không đạt được mục đích trí huệ, cái gì cũng không hết, không này là xuống địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Trong Tăng Chi Bộ kinh nói một người thành tựu chánh tri kiến mà không cung kính bậc đạo sư, không cung kính thiền định, không cung kính pháp, không cung kính Tăng thì sự kiện này không thể xảy ra, không thể có một sự bất kính với Phật, với pháp, với Tăng, với giới, với thiền định mà gọi là thành tựu chánh tri kiến, điều này không thể xảy ra. Một người đã hướng Dự lưu và Nhập lưu thánh quả thì người này cung kính tuyệt đối với Phật, pháp, Tăng, đối với giới và thiền định. Thậm chí người này có mất mạng thì tâm cung kính đó vẫn không dao động thì mới gọi là tịnh tính bất động, đó là bậc thánh quả thứ nhất, thành tựu tứ bất động tính, lòng tin trong sáng, không còn bị lay động. Thật là thảm họa cho người nào tu riết rồi coi thường Tam bảo, cho nên những vụ đốt tượng Phật hết sức nguy hiểm, những tư tưởng đó ăn vào đầu mình là mình chết. Một người phát biểu bất kính với Phật thì người này là người hết sức khủng khiếp, dám phát ngôn siêu Phật thì người đó là ma, vì một người thành tựu chánh tri kiến là kính Phật tuyệt đối. Mình vẫn chưa biết được hết về Đức Phật, thậm chí mình có xuất gia hết cuộc đời ở trong chùa mình cũng chưa thành tựu chánh kiến được với Đức Phật, mình còn hiểu sai về Đức Phật rất nhiều. Đức Phật là đã ra khỏi năm uẩn, cái mà mình đau khổ, khóc than, lo lắng, muốn sống chết thì Đức Phật nhìn giống bong bóng, vứt bỏ như giẻ rách, mình không thể nào hiểu nổi trừ bậc Dự lưu thánh quả Tu-đà-hoàn mới biết được Đức Phật là ai.
Câu thứ ba là nhìn ra năm uẩn rồi hoang mang, cái này đã có từ thời Đức Phật rồi, đã có nhiều bài kinh nói về vấn đề này. Bây giờ Tôn giả Gotama nói sắc là vô thường, cảm giác, nghĩ tưởng, thức cũng vô thường vô ngã thì tôi còn gì? Còn thánh trí năm uẩn là kinh thiên động địa, rúng động toàn thế giới, một ngàn thế giới cũng rúng động khi Đức Phật chuyển pháp luân này, tại vì tất cả chúng sanh trong ngàn triệu hành tinh cũng không có một người nào thành tựu được thánh trí này để chứng ngộ, chỉ có duy nhất một bậc tối thượng, tối đệ nhất nên không thể có người ngang hàng để so sánh. Minh Thành hay dùng từ "Thánh chúa", là chúa tể của các bậc thánh, là cha đẻ của tất cả thánh hiền, tất cả những vị tu theo Phật đều đi đến chỗ sạch hết phiền não giống Phật nhưng không thể gọi là Phật, chỉ có duy nhất một Đức Phật, làm gì có hai bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện cùng lúc, điều này không thể xảy ra. Cho nên mình hiểu lầm, nói là "Con muốn tu thành Phật", nói cái đó là mình không biết gì hết, chừng nào chánh pháp của Phật Thích-ca hoại diệt hoàn toàn, không ai biết đến danh từ "Tam bảo" là gì nữa, và trong vô lượng vô biên kiếp, 91 lần Trái Đất thành hoại được ví dụ bằng ngôi thành trì bằng sắt dài 19km, để hạt cải xuống hết 19km, mỗi một 100 năm lấy lên một hạt cải, lấy hết số hạt cải đó cũng chưa được một kiếp của Trái Đất, như vậy là 91 lần thành hoại của Trái Đất này mà chỉ có 7 Đức Phật xuất hiện: Phật Tỳ Bà Thi; Phật Thi Khí; Phật Tỳ Xá Phù; Phật Câu Lưu Tôn; Phật Câu Na Hàm Mâu Ni; Phật Ca Diếp và Phật Thích-ca Mâu-ni. Chỉ có 7 Đức Phật được đề cập trong kinh tạng Pali Nikāya, bây giờ ai cũng nói mình là Phật vì mình có biết Phật là gì đâu. Quý huynh đệ có biết rằng dung nhan vô tướng của Phật là kinh khiếp lắm, Phật đã từ bỏ và chấm dứt ngũ uẩn, những thứ này là những thứ vô thường, sanh diệt và khốn khổ, bất tịnh. Mình còn mê đắm, say sưa trong đống thịt này mà Đức Phật đã vứt bỏ.
Mình tu riết rồi tâm mình không còn lo gì nữa, phạm giới cũng không lo, không sợ, không sám hối, mình trơ trơ trước sai lầm thì đây là pháp thối đọa, rơi xuống vực thẳm. Quý huynh đệ còn nhớ lúc mình mới thọ giới mà có làm gì sai là "Sư phụ ơi, con làm cái này sai rồi, cô kia nắm tay con", tu thêm 5,7 năm là "sao bây giờ không ai nắm tay con, con kiếm con nắm". Chết không? Đó là xem thường, không còn sợ hãi lo lắng, không còn cảm thấy tội lỗi nữa. Hết sức nguy hiểm, thật sự cái này Minh Thành hết sức lo sợ, đã 30 năm ở trong chùa và càng ngày càng lo sợ, lo sợ cho mình và lo sợ cho những người tu xung quanh mình. Vì càng ngày càng chai lì với giới ác và bất thiện pháp, chai sạn với tội lỗi và những sự thối đọa. Phải nuôi dưỡng cái tâm ray rứt, đau khổ, hoảng sợ đối với ác và bất thiện pháp, phải làm cho tâm này quảng đại và bao trùm khắp thân tâm, chính cái này mới đẩy mình đi đến sự tu tinh tấn, phá diệt cái ác và bất thiện pháp. Minh Thành có một bài "Từ nhục nhã đưa đến thánh quả", đây là hai pháp tàm quý đưa đến Dự lưu thánh quả, không phải chuyện bình thường. Quý huynh đệ thấy lạ không? Nào giờ đâu có ai nói như vậy nhưng trong Nikāya nói cái này, từ nhục nhã và sợ hãi sẽ đưa đến các bậc hiền thánh. Cái này quan trọng, con người mình trơ trơ, không biết xấu hổ thì không còn gì để nói, còn thua mấy người Phật tử mới đến chùa.
Mình nói kĩ về câu hỏi thứ ba. Đừng sợ, cái sợ đó là lậu hoặc, dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Chữ "Lậu" là nó ngấm ngầm qua mặt mình giống như đi hàng lậu, có nhiều người nuốt hàng lậu vô bụng, cuối cùng cũng soi ra, nếu không soi ra là nó qua mặt. Cho nên lậu là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động qua mặt mình mà mình không biết, không hay. Có ba loại ngấm ngầm hoạt động: Dục. Mình đi nắng, mệt, vào toa-lét múc nước dội ào ào thì mình có biết cái gì đang múc không? Đó chính là cảm giác thúc giục bên trong, cho nên cái xối nước là một hành động trong trạng thái của dục, còn người có chánh niệm tỉnh giác thì người ta vẫn ghi nhận cảm giác dễ chịu nhưng người ta xối từ từ, nhẹ nhàng chứ không phải vào làm ào ào, người kế bên nghe là biết đang xối nước trong trạng thái của dục. Chứ không phải dục là chuyện nam nữ, cái đó không cần học ai cũng biết, khỏi tu cũng biết cần gì vào chùa tu để mà ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da. Khi ngủ mà tới giờ công phu hay tới giờ ngồi thiền, đánh chuông rồi vẫn lăn qua lăn lại, mình ráng nằm 10 phút nữa thì đó là dục, mình không nhiếp phục được. Đó là những cái mình biết, còn những cái mình không biết thì vi tế lắm cho nên tại sao mình phải hộ trì căn, không phải chuyện dễ. Ví dụ hình bóng một đối tượng đẹp phớt qua thì mắt mình tự nhiên hướng về người đó thì đó đều là những hoạt động của dục, ái và tham. Quý huynh đệ có thấy nó ăn sâu vào xương, da, thịt, từ đời xa xưa truyền lại gen dục, gen tham, gen ái này. Cái ăn, cái mặc, cái nhìn ngó, đi đứng… tất cả những cái sâu thẳm bên trong là dục đang vận hành, nó đang hoạt động, điều khiển, nó là kiết sử, trói buộc mình mà mình không thấy, mình nói "Đâu có đâu, con cũng tu cũng hành ngon lành, tới giờ công phu con lên công phu mà, con đâu có bỏ tu đâu sao thầy nói con bỏ tu, con đâu có dục sao thầy nói con dục", đó là phàm phu, vô minh. Chỉ có thánh trí mới thấy được, nếu mình không nương tựa vào thánh trí của Đức Phật thì làm sao mình biết được dục lậu là cái gì? Xin thưa quý huynh đệ mình tu suốt đời mà không gặp thiện tri thức, không gặp chánh tri kiến thì mình không thể biết được, mình nói "tôi tắm thì tôi xối nước, làm gì khó quá la vậy? Khó quá ai chịu nổi?", mình không biết cái đó là thánh trí chứ không phải phàm tình, còn mình sống là sống theo phàm tình, mình muốn phàm thì cứ phàm, còn mình muốn là thánh thì phải học thánh trí năm uẩn, học thì sẽ phát giác tất cả những rác bẩn có trong mọi khía cạnh, gõ ngách, không có cái gì có thể qua mặt thánh trí đó được. Do công lực nhận diện năm uẩn và cảm giác toàn thân mới nhìn ra được. Quý huynh đệ thấy tại sao mình lên ăn quá đường, rõ ràng miệng đọc "tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu" nhưng vẫn nói chuyện huyên thuyên từ đầu tới cuối, là do cái dục trong tâm nói, nó thúc giục kêu nói, nói cho đã và thích là ái, muốn nói nữa là tham. Ghê chưa? Ai chỉ cho mình cái này? Người đó ngồi mà hoàn toàn không biết cái dục đang điều khiển người đó, cái ái đang xâm chiếm tâm, và cái tham đang áp đảo người đó, nhưng ra dạy Phật tử là "Im lặng, không được nói chuyện nha", xong rồi vào ăn thì nói tùm lum. Cho nên dạy đâu ai nghe "ông nói sao bắt tôi im?" Cho nên định nghĩa Như Lai là làm sao thì nói vậy, nói sao thì làm vậy, như vậy mới là Như Lai, từ đêm thành Chánh Giác cho đến đêm nhập Niết-bàn thì ở khoảng giữa đó thì những gì Ta tuyên thuyết tất cả không thể khác được. Từ ngày tuyên bố dưới cội Bồ Đề cho đến khi nhắm mắt dưới Sala song thọ với những gì Ta tuyên thuyết khai thị trong tạng kinh Nikāya thì này các Tỳ-kheo không thể thay đổi và đổi khác được. Đó là lời của Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ, không phải chuyện bình thường. Còn mình bây giờ nói một hồi là "Phật có câu…", sau câu đó là lời tầm bậy, hoặc là "trong kinh có câu…" rồi nói tầm bậy. Chết! Cho nên chánh pháp diệt vong. Nói kinh mà nói một hồi ra nhà nho, nhà lão cũng nói kinh Phật. Trời ơi là trời! Bây giờ để mình thật sự nhận thức được đúng chánh pháp là rất khó, vì nói gì cho vui, nói gì cho vừa lòng là thích, là vỗ tay rồi tham sân si càng bành trướng thêm, chánh pháp sẽ mai một và đi đến hoại diệt. Một khi mình đã không nhận thức chính xác về pháp thì làm sao mình tu tập đúng, mà không tu tập đúng thì làm sao mình có kết quả như Đức Phật nói, như vậy là tất cả bốn đôi tám chúng, tất cả quả vị đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ Sa-môn quả sẽ không còn, tất cả những bậc hiền thánh Tăng sẽ không còn ở thế gian này nữa, nếu mình không hiểu đúng chánh pháp và hành đúng thì cái mình được chỉ là danh Tăng chứ không phải là thánh Tăng. Thánh Tăng là phải tu đúng theo đạo lộ của kinh Nikāya, phải diệt tận tham sân si và bản ngã, cho nên mọi người đừng sợ khi Phật nói tất cả là năm uẩn.
Bây giờ mình sẽ nói đến hữu lậu, cái này cũng hết sức thâm sâu. Hữu lậu là trong suy nghĩ, trong cảm giác, trong tưởng, trong tâm mình muốn hiện hữu, muốn có mặt. Đây cũng là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động thâm sâu bên trong là luôn luôn muốn mình hiện hữu trong năm uẩn, muốn có sắc mà sắc phải đẹp cho nên nói tu để đời sau giàu, sướng là ai cũng thích, muốn có những cảm giác êm ái, dễ chịu, muốn có những tưởng, những suy nghĩ hay ho, muốn có thức mà trong đó là bám chấp trong năm uẩn. Mình bấm chấp vào một cái vô thường, một cái khổ, vô ngã thì mình có được an lạc không? Mình bám chấp vào cái bất tịnh, cái duyên sanh tan nát, mình bám vào đống thịt này hoài thì làm sao mình đi ra khỏi luân hồi, làm sao giải thoát? Một cái ý niệm muốn tham đắm, hiện hữu trong năm uẩn này là hữu lậu. Mình gọi giải thoát nhưng giải thoát cái gì? Giải thoát sanh; già; bệnh; chết, nhưng cái sanh; già; bệnh; chết đó y cứ vào đâu mà có? Chính là từ trong dục, tham, ái đối với năm uẩn này. Do lòng tham, lòng dục, lòng ái đối với sắc, đối với năm uẩn này cho nên mới sanh ra thân ngũ uẩn, từ thân ngũ uẩn này đã có sanh là có già; bệnh; chết. Từ vô minh, không thấy được ngũ uẩn là vô thường, là khổ, là vô ngã, bất tịnh, không thấy tùy phế thận, không thấy ruột; phèo; phổi… cho nên mình mới ưa thích, say mê điên đảo cái tham ái này. Đây là một đạo lộ rõ ràng, điều hết sức quan trọng là phá hữu lậu, phá được một cái tâm tham ái, ưa thích trong năm uẩn này, khởi một sức mạnh này mới có thể đi đến giải thoát được. Nếu mình không tham sắc mà mình tham một cảm giác yên tịnh thì đó vẫn còn ở trong sắc giới và cõi sắc giới cho nên những cõi vô sắc, mà vô sắc là sống bằng tâm tưởng, bằng cảm giác, thì những cõi vô sắc đó không còn thân thịt này nữa. Dục giới là tầng của mình, là lấy dục làm chánh yếu. Sắc giới chính là tầng của chư Thiên, các huynh đệ nằm chiêm bao thấy mình đi đây đi đó thì chư Thiên sống y như cảnh giới đó, các chư Thiên không có thân, chỉ có hình bóng hết sức vi tế của sắc uẩn, sắc tưởng, cho nên đó gọi là sắc giới, là chú trọng vào sắc đẹp, ánh sáng, một vị Thiên xuống hỏi pháp Đức Phật là sáng cả một thành phố vì các vị đó thì dục đã nhẹ rồi nhưng có phước đức nên tích tụ ra sắc pháp thù thắng vi diệu. Thế giới cao cấp hơn nữa thì sắc là vô thường, chỉ có tâm lắng diệu, yên tịnh thì đó là vô sắc giới, là trú trong thức, trong tưởng và trong cảm thọ,
Một huynh hỏi khi đã khinh an thì đi theo cảm giác hay hơi thở. Quý huynh đệ phải thực tập ba pháp, đừng trú vào một cái, như vậy thì tâm của mình rất nhỏ hẹp. Trú trong hơi thở nhỏ hẹp thì không đủ sức phá được khối vô minh uẩn to lớn, mình nhắm mắt hít vào thở ra một lúc là đi luôn trong vô minh, trong si cho nên phải thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn. Có cảm giác dễ chịu thì mình biết có cảm giác dễ chịu nhưng mình đừng dính mắc vào, vì một khi đã dính vào thì mình thích thú đi ra không được, nhưng cảm giác đó là vô thường, khi đã mất thì mình lại đau khổ. Cứ đi tìm cảm giác thích thú, dễ chịu đó hoài, tìm không được thì khổ, cứ hễ dính mắc vào một trong năm uẩn là khổ. Mình phải nhớ những cảm giác hiền thiện, cảm giác khinh an là phải nuôi dưỡng, những cảm giác sân si, bản ngã là mình đánh phá triệt để, cho nên sự tu hành của chúng ta tạm chia làm ba bước, cái này quan trọng, phải nhớ kĩ. Bước thứ nhất là mình diệt ác, mình nỗ lực quyết tâm tiêu diệt tất cả ác và bất thiện pháp. Bước thứ hai là mình tu thiện. Bước thứ ba là mình vượt lên trên cả thiện lẫn ác, tức là mình từ bỏ năm uẩn, đi vào Niết-bàn, bất động tâm giải thoát, vì mình dính vào cái thiện là mình bị kẹt vào trong phước báo, mình hưởng phước báo rồi mê trong đó là bị đọa.
Bước thứ nhất mình nói diệt ác là đơn giản nhưng đó là cả một công trình, nếu mình không biết ác là gì sao mình diệt. Ví dụ như nãy giờ Minh Thành phân tích để mọi người thấy dục lậu vì trước nay mình không biết. Như vậy mình muốn biết thật sự nó là ác và bất thiện pháp thì phải cảm giác toàn thân và nhận diện năm uẩn, từ đó mới biết cái nào là thiện, cái nào là ác, còn không nhận diện năm uẩn thì mình sẽ không biết, cho dù có biết thì cũng chỉ biết cái thô bên ngoài. Nếu một người không thành tựu trí năm uẩn thì dù cho người đó tu đến mức độ nào đi nữa cũng vĩnh viễn không thể bước vào Dự lưu thánh quả, năm uẩn mới là trí tuệ đầy đủ của thân tâm nếu mình biết chỉ có một, hai cái thì làm sao đầy đủ, mà nếu không đầy đủ thì những cái khác nó vận hành, nó hoạt động, nó phối hợp nhau đánh du kích thì làm sao mình biết cho nên vĩnh viễn mình không thể nào nhiếp phục được. Vì vậy một người không thành tựu trí năm uẩn thì không thể nào bước vào Nhập lưu là quả vị đầu tiên trong tứ thánh quả, không thể có sự thành công thứ nhất trong bốn thành công của Đức Phật, cho nên trí năm uẩn là tuyệt đối cũng là tiểu tạng Nikāya, tức là những cái tinh hoa, cốt lõi nhất của kinh Nikāya đều nằm trong thánh trí năm uẩn, người nào không học hết được Nikāya thì học một phần này là nắm hết tất cả. Mình tu là mình căn cứ trên xâu chuỗi, cuốn kinh, cái áo, dáng ngồi, mình tụng được mấy bộ? Mình niệm được mấy xâu? Mình ngồi được mấy tiếng? Mình trì được mấy câu? Đây chỉ là phương tiện bên ngoài, còn bên trong là mình đã biết được tham sân si ở đâu chưa? Tại sao mình có tham? Làm sao để hết tham? Tại sao cái sân sanh khởi lên? Làm sao để hết sân? Cái gì làm cho mình khổ? Làm sao để chấm dứt khổ? Thánh trí về năm uẩn này chính là cốt lõi, tu là tu ngay chỗ này chứ không phải việc mình tu là mình tính xem mình tụng một ngày mấy bộ, rồi tham sân si còn hơn nữa tại mình không quay lại nhìn thân tâm để diệt bản ngã, mình không thấy cái ngã nó hoạt động. Những cái đó là dã tràng xe cát biển đông, chỉ làm được một chút phước thiện bên ngoài, mình có thấy cảm giác lúc mình tu như thế nào không? Nghĩ tưởng bên trong nội tâm là cái gì? Quý huynh đệ thấy cái trí năm uẩn này nó phơi bày hết tất cả những gì bị giấu kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những người có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho những người đi lạc hướng. Chỗ này mới giải quyết tất cả toàn bộ đau khổ của chúng sanh. Này các Tỳ-kheo, xưa và nay Như Lai chỉ tuyên bố hai điều, các ông phải ghi khắc để nhớ là sự thật về khổ đau của năm uẩn và con đường chấm dứt khổ đau của năm uẩn. Nắm được hai điều này là nắm được trái tim của Đức Thế Tôn.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.