Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 4 - Hoàng Hậu Thành Thánh Lãnh Đạo Ni Đoàn

2026-03-03 00:56:03
Nikāya Thiền Quán

Tỳ-Kheo Ni Thời Đức Phật 4

Hoàng Hậu Thành Thánh Lãnh Đạo Ni Đoàn

Thích Minh Thành

Ngày 20 tháng 6 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cung kính Thánh Pháp PAGEREF _Toc146356912 \h 1

II. Chánh Kiến PAGEREF _Toc146356913 \h 3

III. Hoàng Hậu xuất gia PAGEREF _Toc146356914 \h 6

IV. Trình pháp PAGEREF _Toc146356915 \h 15

V. Dặn dò trong tu học PAGEREF _Toc146356916 \h 19

I. Cung kính Thánh Pháp

Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni (3 lần)

Bạch chư tôn hiền đức, chư vị hiền trí. Chắc có lẽ quý vị cũng bất ngờ, sao giờ này con còn ở đây. Đoàn Hà Nội chắc vui lắm, hoan hỉ lắm hả? Sáng lên tới giây phút cuối cùng còn đứng lại, vô thường cho nên còn ở đây. Chú sư nam phụ giúp bên làng tu trong rừng thiền, chú vừa xuống xe đi 1 đoạn. Thì hay tin đứa cháu chú mới hơn 10 tuổi, đi tắm ngoài hồ nước ở Bảo Lộc bị chết. Hơn 10 tuổi thôi, hồ nước đó nghe chú nói lại là chết nhiều người lắm. Cỡ 1 tháng là có 1 người chết, vậy mà người ta vẫn đi tắm. Từ ngày con biết chú này, thì con biết chú này không phải đạo Phật, nhưng mà có cái tâm giúp đỡ cho mình, rất là tốt. Mới biết chú thời gian ngắn thôi, nhưng mà đã chứng kiến 3 người trong gia đình chú chết.

Cách đây chừng 1, 2 tháng thì người cô hay dì chết, trước đó nữa là người thân trong gia đình. Một thời gian hơn có 1 năm thôi, mà 3,4 người chết. Chúng ta đang ngồi ở đây, ngay giờ phút này có nhiều người chết. Ngay trong khoảnh khắc này, có nhiều người tắt thở trong bệnh viện, ở trên giường bệnh. Ngay giờ phút này không phải 1 người, mà nhiều người, rất nhiều người. Không phải chỉ là người già, trước chúng ta còn nhớ vị Tỳ-kheo Ni đổ nước bát rửa chân không ạ? Đổ lần thứ nhất dòng nước chảy ngắn, đổ lần thứ 2 dòng nước chảy xa hơn 1 chút, đổ lần thứ 3 thì dòng nước dài hơn 1 chút. Đó là chỉ cho tất cả những sinh mạng đều phải chết, đều phải kết thúc trong sự chết, và đều không thể vượt qua cái chết.

Khi mình nghĩ được điều đó, mình tu học mình vui lắm. Nhiều khi con bước từ bên thất con bước qua đây, con sợ cho đại chúng học nhiều đại chúng ngán. Cho nên, con mới chỉ con mới chỉ con đại chúng cách tác ý. Học sinh bây giờ đi học từ 5h sáng cho đến 7h tối, thậm chí sớm hơn nữa. Chúng ta nghe pháp 1 ngày có 2, 3 buổi không có là gì hết. Chúng ta trình pháp lâu lâu 1 chút không có là gì hết, dừng có tâm chống đối. Cái tâm không có hiền thiện, là nó chống đối cái pháp. Cái tâm đó là tâm vô minh, tâm bản ngã, tâm chống đối, tâm bất kính. Thành ra là mình suy nghiệm có nhiều cái hay lắm, tất cả rất là nhỏ nhiệm, mình không có trí tuệ mình không thấy được. Như vậy mình được học, được nghe pháp, mình trình pháp, được trùng tuyên pháp bảo, đó làm cái phước báu của mình.

Hàng ngàn, hàng vạn, hàng trăm ngàn, nhiều vạn, nhiều ngàn, nhiều tỷ chúng sanh không có được cái duyên nghe được pháp. Tương tự Phật pháp nhiều khi còn chưa nghe được, huống hồ chi là Chánh pháp. Cho nên mình trú được cái tâm như vậy, là mình diệt phải được những cái ý niệm tà kiến. “Trình pháp gì mà trình hoài vậy?” Cái tâm đó là cái tâm ác, tâm không có hiền, mình phải tu sâu rồi mình mới thấy. Cái này đối với người mới thì không sao đâu, tu sâu mình mới thấy. Mình biết rằng vô lượng vô lượng chúng sanh, tìm 1 cơ hội để được nghe pháp cũng không có. Người ta chìm đắm trong khổ đau, mê muội, si ám. Mà mình được nghe pháp, được nhắc nhở trong pháp, được có người nhắc nhở cho mình mà mình chống đối, khinh thường.

Thì như vậy là mình mất cơ hội với Thánh pháp, sau này mình sẽ khổ đau lâu dài. Cho nên cái cung kính pháp rất quan trọng, con nhờ cung kính pháp, cho nên mới tìm được Chánh pháp trong cái thời kỳ cuối của tưởng pháp. Cái đó là 1 trong những kinh nghiệm mà con chia sẻ cho chúng ta, không phải cá nhân 1 người nào, mà là chung hết tất cả, chung hết những ngũ uẩn. Thành ra chúng ta biết rằng trong giây phút chúng ta ngồi đây, có nhiều người khổ, nhiều người bệnh, nhiều người chết lắm. Nhiều người đang chìm ngập trong những hận thù, nhiều đang đắm mình trong dòng sông của dục vọng. Nhiều người đang bị thiêu đốt trong những cảm giác nhiệt não, nóng bức. Nhiều người đang quờ quạng không biết lối đi, họ đi đến đường cùng, họ đi đến ngõ cụt.

Giống như 1 vị Tỳ-kheo Ni đi tự tử, mà chứng đắc được lục thông. Không phải người nào đi tự tử cũng chứng đắc được lục thông đâu, mà do căn lành vô lượng kiếp của Ngài. Cho nên chúng ta mà có trí tuệ quán chiếu nó hay lắm, tuyệt vời lắm. Tâm chúng ta sẽ tùy thuận với pháp, gọi là tùy pháp, hành pháp, cung kính pháp, quy y pháp, an trú pháp, tăng thượng ở trong pháp. Còn nếu mình không có quán chiếu, là mình không biết. Mười tuổi, mười hai tuổi chết rồi, 3 tuổi, 5 tuổi, còn trong bụng mẹ, mới sanh ra chết. Nếu mà chúng ta có thiên nhãn thông, mà có được cái Chánh kiến thì chúng ta đắc đạo lập tức thôi. Bởi vì chúng ta không có nhìn thấy, nhiều khi nó ở sát bên mình, trên đầu mình, mình cũng không có nhìn thấy. Mình nói trên đầu mình có gì đâu, chung quanh có ai mình cũng không thấy.

Chư thiên, chư thần ở đây mình đâu có thấy. Cho nên mình sống trong vô minh, nhưng mà khổ 1 cái là mình bản ngã. Mình tin chắc cái gì mình nghe, mình thấy là đúng hết, những bậc có trí tuệ nói mình không có nghe, mình khổ đau. Cho nên khi Thế Tôn còn tại thế, mà biết bao nhiêu người đâu có nghe. Đừng nói chi là mình, kế bên Đức Phật mà biết bao nhiêu chúng sanh trầm luân, ngay cả người trong dòng họ của Ngài. Thành ra nói 1 chút xíu vậy để chúng ta quán chiếu, nhiều cái để chúng ta ngồi mà suy ngẫm. Mà chúng ta cứ quán chiếu, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, suy tư, quán xét như vậy là chúng ta mau thể nhập Thánh trí tuệ lắm. Cái gì cũng phải quán chiếu hết, bất cứ 1 chuyện gì chúng ta cũng quán chiếu hết.

II. Chánh Kiến

Mà chúng ta quán chiếu rồi chúng ta thấy hay lắm, cái thấy biết của mình nó tăng thượng, trí tuệ của mình nó lớn mạnh. Cái sự hiểu biết của mình càng ngày càng thẫm thấu, thấu triệt ở trong cái thực tướng của thế giới này, của đời sống, ngũ uẩn này. Cho nên chúng ta nghe “Trưởng Lão Ni Kệ”, nói về các Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật. Không phải chúng ta chỉ nghe kể chuyện không, mà mỗi 1 vị trong đó là 1 khía cạnh của đời sống chúng ta. Chúng ta giống như soi tấm gương, mình sẽ phản chiếu được hình ảnh của mình trong các vị đó, mình sẽ thành tựu được trí tuệ. Thí vụ như bây giờ con nói như vầy thì các ngài thấy sao: Bị mắng, bị chửi, bị la, bị rày. Mình rút cái dòng sanh tử của mình 8 tỷ kiếp thì mình chịu không? Mình chịu bị la, mắng, rầy chừng 10 năm, mình chịu không? Hơn 8 tỷ kiếp nữa, vô lượng, vô số, vô biên kiếp.

Mà người đó không phải là ai, mà là con. Con được bậc đạo sư dạy dỗ rất nghiêm khắc, rất là phải dùng cái từ là “hạ độc thủ”, ở đây con chưa có hạ ai hết. Mình muốn huấn luyện 1 cái tâm thức của 1 con người, để có thể từ hướng dự lưu cho đến nhập lưu, là mình phải bầm dập. Mình phải bầm mình, bầm dập, nát nhừ hết cái bản ngã của mình, mình mới vào được. Mới có hướng dự lưu thôi đó, chưa có nhập lưu. Còn mình tu mà ai đụng tới mình 1 chút là không được, thì còn xa lắm. Không ai đụng tới mình được hết, đụng tới là mình nhảy dựng lên. Mình bao biện, bao che, che chắn, rào chắn, bảo vệ cái tự ngã này 1 cách rất là kiên cứng như tường đồng vách sắt vậy đó. Thì khó mà có thể nhập lưu, mình phải chịu sự công phá thành trì.

Từ những gọi là gươm thần, kiếm Thánh của các bậc đại trí tuệ, bậc chân nhân. Mình phải chịu đựng nỗi những cái gươm thần, kiếm Thánh đó, thậm chí vu khống, chứ đừng nói chi người ta nói sự thật. Thì mới hi vọng, chứng tỏ cái bản ngã của mình nó đã bị đánh ngã xuống. Mình phải chịu được những cú trời giáng, sấm sét. Con chứng kiến bậc tôn giả của chúng ta, khi mà ngày sự dụng cờ phong của Thánh tuệ. Thì nó văng văng hết, ở trong đạo tràng rớt hết. Ngày truy sát vô minh, mặt mày, lỗ tai đỏ hết trơn, từ đó về sau họ không đi theo Ngài nữa, có những tư tưởng chống đối lại. Mà đó theo con biết lúc đó chỉ là nhẹ thôi, mà có những vị mà Ngài nhắc nhở, rày la thì oán hận. Thành ra dòng pháp này, thì tâm hiền trí là quyết định.

Thành tựu cái tâm hiền tương đối 70, 80% là có được trí tuệ của Chánh kiến. Còn không bề ngoài nhìn thấy như vậy, nhưng bên trong là 1 sự chống đối ngầm. Mình thấy, hoặc là mình không thấy, hoặc là mình thấy không hết. Mình phải nỗ lực để thấy, thật sự Thánh pháp này khó, không dễ chút nào. Cũng chính cái khó đó mới thành tựu được thánh hiền, thánh Tăng. Cũng như chúng ta hổm rày con nghe Ni sư nói các vị sư cô về, ngồi thiền sáng đêm, rất là tốt, cho 1 tràng pháo tay lớn đi. Không biết bên quý thầy có ai ngồi sáng đêm không? Thấy ông bà tổ tông của mình tu như vậy đó, bây giờ mình xấu hổ với ông bà tổ tiên của mình phải không? Hồi sáng con dùng cái từ gì? Bườn lên, chạy lên, đuổi theo, rượt theo, bắt cho kịp nắm được tay của các Ngài. Chịu không? Chạm tới kim thân La-hán.

Khi mình thành tựu Chánh tri kiến, là lúc đó mình chạm tới kim thân La-hán. Khi mình đoạn tận các lậu hoặc, mình với các Ngài đồng đẳng, ngang hàng với nhau. Khi mình thành tựu Chánh tri kiến, mình hoàn toàn tin tuyệt đối 100%. Dù cho kề cái dao ngang cổ, đưa nòng súng vô mà kêu mình nói: “Cuộc đời này là vui”, thì mình nói: “Không, là khổ”. Là bụp, lên chư thiên ở, tịnh cư luôn, chịu không? Bất lai. Chúng ta sẽ thấy các vị Tỳ-kheo Ni, các Ngài là như vậy đó. Cô Tuệ Quý nghe nói vậy hoan hỉ quá hả? Đúng ra chúng ta học 1 ngày 8 tiếng thôi, chưa bằng mấy em trẻ bây giờ đi học đâu, 6 tiếng là bình thường. Bây giờ chúng ta nghe đầu tiên là bà Mahapajapati Gotami, Thánh tổ của các vị đó. Mà không phải bên Ni không đâu, mà của cả chúng con, tại vì chúng con nhiều đời nhiều kiếp cũng là nữ rồi.

Trong người nữ có chất của người nam, trong người nam có chất của người nữ. Tại vì tất cả trong vòng luân hồi này từng là nam nữ, cha mẹ, thậm chí có chất chó, chất heo, chất gà trong đó nữa, lục đạo luân hồi là mình đi qua hết đó. Lâu lâu là chúng ta có tính chất Trư Bát Giới trong đó không? Lâu lâu chúng ta có tính chất mà hở ra 1 chút là gâu gâu không? Có không nói nhỏ vậy? “Dạ có”. Chúng ta đi qua hết rồi, những cái thân đó đều đi qua hết, cho nên chúng ta phải thiền quán. Hồi sáng Ni sư có nói: “Mấy bài này chúng con có đọc rồi, có nghe rồi mà không có thọ giống như vậy”. Làm sao mà thọ giống như vậy được? Không có 1 người hướng dẫn đúng pháp, chân chánh, đánh thẳng vào trong cảm thọ. Thì đọc phớt phớt qua thôi, không có rung động, kinh chấn và tràn trề nước mắt như vậy đâu.

Phải nhờ bậc đạo sư, tôn giả khai mở dòng cảm thọ hiền trí cho mình. Sau đó những thiện pháp, Thánh pháp mới chạm được trái tim của mình. Cho nên những buổi đầu chúng ta được học với Ngài, tức là Ngài làm lệ quán đảnh cho chúng ta. Ngài đâu có cầm cái bông, cái cây để rưới lên đầu mình đâu. Mà cái Thánh thủy của Ngài đưa vào bên trong, gội cảm thọ của mình cho nó thành hiền thiện. Rồi bây giờ chúng ta dễ xúc động phải không? Dễ xúc động đối với thiện pháp lắm phải không? Hồi xưa chúng ta dễ chúng động với những thế pháp, bây giờ chúng ta dễ xúc động với Thánh pháp. Thầy Nghĩa kêu cái là khóc liền, hôm qua có khóc không con thưa thầy? Mà khóc như vậy là tốt, chứ không khóc là không tốt.

Phải khóc 1 thời gian cho nó khô ráo, cho nó rửa, rồi sau đó 1 thời gian nó lắng dịu lại. Còn cái người trơ trơ mà không thấy khóc, không thấy cảm xúc, chấn động gì hết thì cái đó cũng hơi khó, phải có cái giai đoạn để gội rửa. Trước khi Đức Thế Tôn ra đời, thì nàng được sanh ở Devadaha, tên gia đình của nàng là Gotama. Nàng là em gái của Maya phu nhân – hoàng hậu Ma-ha-ma-ya. Các thầy đoán tướng tuyên đoán rằng các người con của 2 chị em, sẽ là vị chuyển luân vương. Là vị thống trị cả địa cầu, cả thiên hả bằng hiền đức. Cai trị quốc bằng đạo đức, không có cai trị bằng quyền uy. Khi vua Tịnh Phạn đến tuổi trưởng thành, thì cưới 2 chị em của Ngài. Sau đó Thế Tôn đản sanh, trong khi Thế Tôn chuyển pháp luân lở Vườn nai, thì bà đi đến Vesali, còn phụ vương của Đức Thế Tôn đắc được quả A-la-hán và mệnh chung.

III. Hoàng Hậu xuất gia

Ở đây chúng ta mới biết phải không? Vua Tịnh Phạn đắc được Thánh quả tối cao, A-la-hán luôn. Chúng ta nhớ hình ảnh Đức Thế Tôn về thăm bệnh Ngài đó, hình ảnh cuối cùng là Đức Thế Tôn thuyết pháp cho vua Tịnh Phạn chứng đắc Thánh quả tối cao – A-la-hán. Thì lúc đó ngài Ma-ha-ba-xà-ba-đề muốn đi xuất gia, mới xin phép bậc đạo sư – Đức Thế Tôn, nhưng không được chấp nhận. Bà mới cắt tóc, đắp y, sau 1 thời giảng kinh, về tinh cần nỗ lực. Bà đi ra cùng với 500 Thích Ca nữ, 500 người con gái dòng họ Thích Ca. Chồng của 500 người này đi xuất gia hết trơn, do vua Tịnh Phạn phái 9 phái đoàn đi thỉnh đức vua. Mà phái đoàn nào tới cũng xuất gia hết, không có về báo cáo.

Giống như Ấn Đức lên đây tính mấy ngày thôi, bây giờ ở đây 3 năm, cạo đầu luôn. Cho 1 tràng pháp tay, còn ai nữa không? Mấy người? Hồi đó là bà Tiên chết rồi, tro cốt còn ở trong phòng, mà vừa rồi hình như là chị hay em gì đó xin về rồi. Bà tu thiền theo tiên, 12h đêm bà ngồi thiền, 30 năm. Mà bà rất là hiền, lúc đầu lên đi tính đi du lịch chơi, xin vài hôm ở lại chơi, mà ở cho tới ngày chết luôn. Con bên Pháp qua đây rước về mà cũng không chịu về, cùng quay lại đây ở. Con đặt pháp danh cho bà là Nhân Tiên, rất là hiền, rất dễ thương. Khi bà ra đi có rất là nhiều điềm lạ lắm. Bà ngồi thiền 30 năm, rất là hiền lành, hiền thiện, từ ái, không bao giờ mà nói xấu ai, ít nói lắm.

Khi xin quy y Tam Bảo con đặt pháp danh cho bà là Nhân Tiên, khi bà ra đi rất là đặt biệt. Con không có nhớ kỹ lắm là con ở bên Mỹ, hay ở Mỹ về gì đó mà đúng ra là bà không có được gặp con. Nhưng mà không biết sao mà người ta làm cứ trục trặc quài, cho tới ngày đưa bà trong bệnh viện về. Thì chính ngày đó là con từ bên nước nào đó về, mà 1, 2 ngày nữa thôi là con lại đi qua Mỹ hoằng pháp. Nhưng đúng lúc ngày con về thì cái hòm, cái xác bà về chùa Bửu Liên đúng ngay ngày đó. Khi hỏa táng bà, thì xương của bà thành như pha lê, trong suốt hết toàn bộ. Con không có biết, nhưng nghe các vị sau này kể lại. Có lúc nói chơi thì mấy người trong bếp hỏi khi bà chết bà để lại cái gì? Thì bà trả lời để lại cái xâu chuỗi.

Cái xâu chuỗi con nghe nói lại là bằng chất liệu rất là bình thường, nhưng mà đốt lên thì những hạt chuỗi đó còn. Trở lại vấn đề là đất lành chim đậu, huống hồ chi bậc đại giác tối tôn Đức Như Lai. Thì các vị này khổ đau quá, mà về gặp bậc đại cứu khổ, thì thôi ở lại chứ đâu có đi. Cho nên là phái bao nhiêu phái đoàn về, là xuất gia hết trơn. Như vậy thì 500 Thích Ca nữ này là chồng đi tu hết. Mà thường thường chồng đi tu thì thôi đi kiếm ông khác, cái đó rất bình thường phải không? Nhưng mà cái túc duyên của các vị này, cái phước báu, công đức mà sanh trong dòng họ Thích Ca. Cho nên 500 vị này đi chung với Ngài đi đến Vesali, xin Đức Thế Tôn cho xuất gia. Câu chuyện này cũng hấp dẫn lắm, mình kể ra chút đi. Cái này chắc mấy sư bà kể hay hơn con, mấy Ni sư kể đi.

Đức Thế Tôn không cho người nữ xuất gia, lần thứ nhất Ngài không có đồng ý. Mà cạo tóc, đắp y, đầu trần, chân không, mà là hoàng hậu đi như vậy là bao nhiêu trăm cây số. Mà lội bộ à, chứ không phải đi xe hơi như mình đâu. Khi Bồ Tát đản sanh 7 ngày thái tử Tất Đạt Đa, hoàng hậu Maya đã lên cung trời Đâu Suất rồi. Sau đó thì Ngài Ma-ha-ba-xà-ba-đề này nuôi thái tử, cho đến khi khôn lớn, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân. Như vậy thì đi xin dẫn 500 người như vậy đó, đầu trần, chân đất, nắng noi, 50 độ, máu chảy, trầy trụa hết trơn. Mặt mày lem luốt, mồ hôi mồ kê đổ ướt áo, ướt y hết trơn. Chúng ta nghĩ đi, hoàng hậu chứ đâu phải người con gái bình thường đâu.

Thì chúng ta tưởng tượng tình cảnh mình ôm bình bát, đi khất thực từ trong nhà trù, mình đi ra cái cây phía ngoài vườn trúc chút xíu mà mình trình pháp bị đau chân, dẫm vô gai. Có chút xíu vậy thôi mà mình phải chiến đấu, phải nhiếp phục cảm thọ. Mà bấy giờ chúng ta biết thời tiết đâu phải như Bảo Lộc, ở đây có những vị đi Ấn Độ chưa? Có rồi phải không. Chúng ta thấy như vậy mà Đức Phật không nhận lời, không cho. Mà là mẹ nuôi từ nhỏ tới lớn, nằm trong dòng Thích Ca nữ là dòng họ bà con đó, lần thứ 2 vô xin cũng không cho. Lần thứ 3 ngài Ananda năn nỉ, kể lể: “Bạch Thế Tôn, Ngài là Thái tử, Ngài sanh ra 7 ngày thì hoàng hậu qua đời, 1 tay di mẫu nuôi lớn, giáo dưỡng rồi cho đến hy sinh cho Ngài đi xuất gia…” Mà đâu phải Đức Phật không biết đâu, mà phải đợi như vậy đó.

Ở trong kinh thì nói tắt, nhưng mình phải hiểu được rằng ngài Ananda than thở lắm. Bây giờ mấy ông chồng thì đi tu thành A-la-hán hết rồi, còn những vị này cũng là hoàng thất ở trong cung. Hoàng tộc, hoàng thất, hoàng phi, những vị gọi là phu nhân của các vị tướng quân. Ngài Ananda năn nỉ hết lời, rồi trình thưa, thì lúc đó Đức Thế Tôn mới nói là người nữ xuất gia, thì giáo pháp của Đức Phật rút ngắn lại 500 lần. “Chánh pháp đúng ra sẽ tồn tại 1000 năm, khi có người nữ xuất hiện trong giáo pháp của ta, thì giáo pháp này rút ngắn lại phân nửa”. Đức Phật nói với hoàng hậu, nếu đồng ý 8 cung kính đối với bên Tỳ-kheo Tăng thì sẽ được xuất gia. Sau này chúng ta sẽ học những bài kinh ở trong Trường Bộ, nói cái này rất chi tiết.

Thì ngài Ma-ha-ba-xà-ba-đề bạch thế tôn: “Chúng con rất hoan hỉ, Thế Tôn nói chúng con sẽ thọ trì”. Sau khi Thế Tôn nói 8 pháp cung kính (bát kỉnh pháp) đó rồi, thì bà mới khen ngợi, cảm ơn vô cùng: “Bạch Thế Tôn, giống như người phụ nữ thích trang sức đẹp đẽ, được đặt cái vòng hoa lên cổ, thì càng đẹp hơn nữa. Chúng con nguyện thọ trì 8 pháp cung kính này đến trọ cuộc đời”,thì lúc đó Thế Tôn mới đồng ý. Thì bây giờ 1 số nước Phật giáo nguyên thủy, các sư cô truyền thống Nam tông này biết nè. Vẫn không cho người nữ xuất gia, chỉ làm tu nữ thôi. Nhưng mà như vậy thì xét sâu sắc thì Đức Phật cho phép rồi, tại sao mình không cho. Thành ra chỗ đó là cái vấn đề, nhiều cái để chúng ta chiêm nghiệm. Khi nhắc lại cái này, thì cả bên Ni chúng phải về đọc lại và thiền quán.

Lý do vì sao mà 5 lần, 7 lượt Thế Tôn không có cho? Mà khi cho là Chánh pháp rút ngắn đi phân nửa, từ 1000 năm, còn 500 năm. Phải thiền quán, mình biết rằng tấm lòng đại bi của Đức Phật, Ngài đâu có bao giờ có 1 cái tâm phân biệt, hay là thành kiến đâu. Vì cái nghiệp của người nữ, hôm trước chúng ta có học sơ lược vài bản kinh. Quý vị về mở Phân Loại Nikaya của tôn giả thì có ở trong đó, mình coi lại. Để mình nhắc nhớ những tập khí, thói quen, nghiệp của mình, để mình đừng có quên. Mình phải đọc tụng “Bát Kỉnh Pháp” đó nửa tháng, mình đọc tụng chung với giới. Các vị lớn đem cái đó ra nhắc nhở trong đại chúng, rất là tốt. Cái đó là không có gì là thiệt thòi hết, càng tốt thêm cho mình.

Càng có sự cung kính, càng có sự nhiếp phục bản ngã, càng có sự khiêm cung nhiều chừng nào, thì đức hạnh nhiều chừng đó. Sự thành tựu của mình trong pháp càng mau chống chứng được, càng vững mạnh, càng sâu sắc, càng viên mãn chứng được. Cho nên ngài Ananda năn nỉ, cầu xin 5 lần, 7 bảy lượt, rồi Đức Phật đưa là 8 cái pháp cung kính trọn đời. Thì di mẫu cúi lạy, hoan hỉ thọ trì, từ đó mở màn lịch sử cho Tam Bao ở tại thế gian đầy đủ tứ chúng. Đầy đủ 4 thánh đệ tử của Đức Phật, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, cần sự nam, cần sự nữ, đầy đủ 4 bốn chúng hiền Thánh. Con bây giờ xúc động lắm, nói là 1 hồi là khóc. Rất dễ xúc động với Thánh pháp, với từ tâm của Đức Phật, ngài Ananda hay là di mẫu.

Nghe 2 chữ “di mẫu” thôi là xúc động. Mình nghĩ 1 hoàng hậu chánh cung, mà cạo đầu, đi chân không, vác cái y mà lội hàng 5, 7 trăm, hàng ngàn cây số. Chân sung, chảy máu, quỳ lạy 5 lần, 7 lượt mà Đức Thế Tôn không có đồng ý. Cho nên mình mới thấy được chữ “hiền Thánh”, “hiền trí” nó đẹp đến mức độ nào. Thật sự tại sao mà con lấy chữ “hiền trí”, để đặt pháp danh cho các vị. Bây giờ quy y là lấy bên nam chữ “trí”, bên nữ chữ “hiền”. Chính là 2 đức tính tuyệt đối quan trọng, để trở thành Thánh đệ tử. Một người mà cái tâm không có hiền lành, là không có tu dòng pháp này được. Một người không có trí tuệ, là không có thể nhập được Thánh trí ngũ uẩn.

Cho nên mình thấy người xưa hiền lành, chân thành, chân thật, thật thà. Trực hạnh, diệu hạnh, chân chánh hạnh, ứng pháp hạnh mới là Đệ tử của Thế Tôn. Thật sự con đọc ở trong nikaya, con đọc từng chữ nó thấm thía, trào dâng, phấn khởi, hân hoan. Tại vì mình thấy những bậc ngày xưa là những bậc hiền đức, cái tâm hết sức là chân chất, thuần lương, hiền thiện, trong sáng, trong sạch và rất là thành cung kính đối với Phật và các bậc Thánh. Cho nên các Ngài rất là mau thành tựu Thánh quả lắm. Cái tâm chúng sanh bây giờ là cái tâm nó không có chân thật, ngoài mặt là như vậy đó, nhưng trong tâm không phải vậy. Mà mình nhận diện ngũ uẩn, mình nhìn thấy là mình đau lòng lắm. Mình có thể thấy những cái mà bản thân họ không thấy, thì rất là xót xa.

Bởi vậy mà tại sao mình không có đắc đạo, là cái trực hạnh mình không có. Tức là cái tâm chân thành, chân thật, thật sự trước mặt cũng vậy, mà sau lưng cũng giống như vậy. Thì cái đó tìm bây giờ rất là khó, mà người được đức tính đó, thì người này tu giống như là mở cửa bước vào thôi. Ở ngoài tuy là nói vậy, làm vậy nhưng mà trong tâm nghĩ khác. Mình nhớ bài kinh trong Trung Bộ Kinh không? Cái miệng họ nói như vầy, mà cái tâm học lại nghĩ khác. Cho nên sáng nay tại sao thiền quán mà con nói rất mạnh, có thể có một số Phật tử mới sẽ bất ngờ: “Sao mà nói mạnh vậy?” Thế giới này là hôn ám, dối trá, thấp hèn, cái bản chất của ngũ uẩn là như vậy đó.

Trừ các bậc nhập lưu thôi, mới là 1 cái tâm thật sự là chân thật, chân thành. Còn chưa vào các Thánh vị là cái tâm quanh co, giấu diếm, trước mặt như vầy nhưng sau lưng khác, không có chân thành, chân thật. Cho nên mình đọc trong này, mình coi các vị Thánh đệ tử bên Tăng nữa, hay lắm, hạnh phúc lắm. Mình học cái này, mình có 1 sức mạnh. Bên Tăng có nhiều vị bị cùi, rớt từng ngón tay, rớt nguyên cánh tay xuống mà tu chứng Thánh quá A-la-hán luôn. Bởi vậy mình thấy, khi Đức Thế Tôn đồng ý rồi, bậc đạo sự chấp nhận và dạy 8 kính pháp cho các Tỳ-kheo Ni. Sau khi xuất gia thì di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề đến yết kiến Đức Phật. Bà đứng 1 bên, Đức Phật thuyết pháp cho bà, bà tinh cần, tinh tấn, nỗ lực lắm.

Ở trong kinh có 1 đoạn là sau khi đến đảnh lễ, bà bạch Đức Thế Tôn: “Con bây giờ già, lớn tuổi, không còn nhiều thời gian. Mong Thế Tôn vì lòng thương xót cho con, dạy cho con 1 cách vắn tắt nhất để con có thể ngày đêm thực hành”. Đức Thế Tôn nói: “Bà thấy ái đâu đoạn đó”. Giống như hồi sáng con chia sẻ đó, mình thấy mình thích cái gì, mình khoái cái gì, thì diệt hết tất cả những cái đó. Cộng với cái Chánh tri kiến của mình, Chánh tri kiến tức là nó phá vô minh, còn cái này đoạn ái là trừ khát ái, thì như vậy là xong. Đức Phật dạy vắn tắt là “ái đâu đoạn đó”, bà thấy bà yêu, bà thích, bà mong, bà muốn cái gì thì diệt hết tất cả những cái đó. Thì như vậy bà về nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm ngày đêm dốc hết tâm lực, trí lực, sức lực.

Và cuối cùng: “Bà tinh cần, tinh tấn chứng quả A-la-hán với trí tuệ trực giác và phân tích. 500 Tỳ kheo Ni sau khi nghe Tôn giả Nandaka giáo giới, chứng được sáu thắng trí. Vì vậy bà đắc Thánh quả tối cao, và 500 vị này đều chứng quả A-la-hán”. Thật là tuyệt diệu, thật là thần diệu, thật là tối thượng, mầu nhiệm, tối thắng. Một vị hoàng hậu chánh cung, dùng tất cả tâm lực, trí lực, sức lực của mình dồn hết tu quyết tử. Ngày đêm tinh cần, tinh tấn, ái đâu đoạn đó, thích cái gì diệt cái đó, muốn cái gì dập tắt cái đó. Tẩy sạch hoàn toàn, trong 1 thời gian ngắn đắc được Thánh quả tột cùng, dòng sanh tử tận cùng. Đức hạnh thanh tịnh viên thành, việc cần làm đã làm xong. Không còn trở lui lại trạng thái tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã và sầu, bi, khổ, ưu não trong 5 thủ uẩn này nữa.

Chẳng những bà chứng đắc, mà 500 vị Thích Ca nữ đều thành tựu Thánh quả. Một ngày kia khi bậc đạo sư ngôi giữa Thánh chúng, tại tinh xá Kỳ Viên. Đức Thế Tôn xác nhận bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề, là vị có kinh nghiệm đệ nhất. Sống hưởng thọ hạnh phúc, giải thoát, Niết-bàn. Một vị chánh cung hoàng hậu đã trải qua tất cả đời, thấu hiểu tất những gì trên đời này. Cho nên là bậc kinh nghiệm đệ nhất, chính vì vậy trở thành Thánh tổ của Ni chúng. Sau này các người nữ đi vào với bà, bà dạy dỗ đều là thành tựu cứu phạm hạnh. Từ đó về sau chỉ hưởng thọ hạnh phúc, giải thoát, Niết-bàn thôi. Diệt tận tất cả khổ rồi, tất cả khổ đều chấm dứt hoàn toàn, không còn 1 chút nào nữa.

Để nói lên lòng biết ơn của mình, bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề tuyên bố chánh trí của mình trước mặt Thế Tôn. Và tán thán hạnh đức của Như Lai, đã giúp đỡ, hộ trì cho bà mà trước đây không được gặp. Ở trước mắt Đức Thế Tôn, nói lên bài kệ tán thán Đức Phật, và tuyên bố mình chứng Thánh quả. Chúng ta thấy các bậc Thánh ngày xưa không? Chứng ngộ rồi là biết, ngay trước Phật trình bày con chứng đắc rồi. Nhưng mà khỏi cần nói thì Đức Phật cũng biết, tuyệt vời không? Muốn không? Đó là Thánh tổ đó. Con không có biết vừa rồi, các vị làm lễ tưởng niệm Tỳ-kheo Ni đại ái đạo, có đọc lại bài kinh này không. Bây giờ chúng ta nghe bài này, bài nay phải nghe âm điệu của quy y mới hùng tráng. Chúng ta nghe xong chúng ta đứng lên đảnh lễ Ngài.

“Bậc Giác Ngộ anh hùng,

Con xin đảnh lễ Ngài

Ngài là bậc tối thượng,

Giữa mọi loài chúng sanh.

Ngài giải khổ cho con,

Cùng rất nhiều người khác.

Liễu tri mọi đau khổ,

Gột sạch nhân khát ái.

Con đường Thánh Tám ngành,

Đoạn diệt, ta chứng ngộ.

Trước ta sống là mẹ,

Là con, là Cha, anh,

Là ông nội, ông ngoại.

Đời sống trước là vậy,

Nay ta thấy Thế Tôn,

Thân này thân tối hậu

Sanh, tử được đoạn tận,

Nay không còn tái sanh.

Siêng tinh cần, nỗ lực,

Thường kiên trì, tinh tấn,

Hãy thắng, đệ tử Phật,

Hòa hợp, đảnh lễ Ngài.

Vì hạnh phúc mọi người,

Ma Gia sanh Cù Đàm,

Giải thoát nhơn đau khổ,

Cho người bị bệnh chết.”

Bài kệ vừa rồi chúng ta đọc và đảnh lễ, đó là bài kệ của ngài Tỳ-kheo Ni Ma-ha-ba-xà-ba-đề, bậc đại ái đạo. Ni chúng cố học thuộc bài đó, bài đó là chứng đạo kệ của thánh tổ Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật. Mình không biết bài đó là thiếu sót, học thuộc bài đó. Con nhớ bài này là lúc đó con có kêu các vị, lấy để đọc tụng kinh đó. Nhắc quý vị đã quên, thì nhớ hôm nay lấy lại, trích ra để làm bài tụng mỗi đêm của chúng ta. Cái phần con mới vừa đọc thôi, làm bài đảnh lễ Đức Phật hàng ngày, trước khi vào tụng bất cứ kinh điển gì. Bài này là xưng tán Đức Phật, xưng tán Như Lai, cũng là chứng đạo kệ của đại ái đạo Tỳ-kheo Ni thánh tổ. Chúng ta học thuộc, để những buổi tụng đọc pháp bảo chúng ta đọc, mình tưởng nhớ.

Chúng ta thấy bài kệ này hết sức là sâu sắc, thâm thúy, và hết sức là hùng dũng, mạnh mẽ. Cái câu đầu tiên là gì:

“Bậc giác ngộ anh hùng,

Con xin đảnh lễ Ngài,

Ngài là bậc tối thượng,

Giữa mọi loài chúng sanh,

Ngài giải khổ cho con,

Cùng rất nhiều người khác.”

Đây là bài kệ tuyên bố Chánh trí của vị Tỳ-kheo Ni, A-lan-hán thánh tổ. Hạnh phúc, tuyệt vời không? Con thấy sư cô Tuệ Quý rung rung nước mắt rồi hả, có muốn chia sẻ không? Nên chia sẻ đi, thánh tổ của mình đó. Ai có cảm xúc thì chia sẻ, để chúng ta qua bản kinh khác uổng lắm, mai mốt không có chia cảm xúc này nữa được đâu. Chúng ta học rất là chậm, rất là từ từ, chúng ta vừa học vừa thiền quán như vậy đó. Không có cần học hết kinh mau, học để mà chứng đắc trí tuệ, chứ không phải học để hết kinh. Học để đạt được trí tuệ, mà Đức Phật truyền cho mình.

IV. Trình pháp

Sư cô Tuệ Quý:

“Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni

Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý Ni sư, sư cô cùng toàn thể đại chúng. Mấy ngày vừa qua con thật sự xúc động và hạnh phúc, khi được nghe sư phụ kể chuyện về cuộc đời của các vị Thánh Ni thời Đức Phật. Con nhớ ngày đầu tiên khi sư phụ kể về vị Thánh Ni Patacara, con đã xúc động rất nhiều. Cuộc đời đau khổ của vị Thánh Ni, làm cho con liên tưởng lại cuộc đời của mình trong đời này. Mình đã từng đau khổ, nhưng sự đau khổ của mình không là gì cả so với các Ngài. Con tự nhắc mình phải nhìn thấy tấm gương, của các vị Thánh Ni mà nỗ lực rất nhiều. Con cảm thấy rất là hạnh phúc, đây là mùa an cư kiết hạ đầu tiên con được nghe sư phụ kể về cuộc đời của các vị Thánh Ni.

Có lẽ trong bao nhiêu năm xuất gia tu hành, con chưa được chiêm nghiệm sauu sắc như vậy. Con cảm thấy mình rất là hạnh phúc, so với rất nhiều huynh đệ của con cũng đang tu hành, nhưng không được lắng nghe những lời này. Từ niềm hạnh phúc, khi con biết được những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Biết được Thánh trí về ngũ uẩn, biết được con đường làm cho chúng sanh đau khổ, và con đường thoát ly, chấm dứt sự đau khổ đó. Trong suốt thời gian tu học tại Linh Quy Pháp Ấn, trong con luôn luôn có sự hoan hỉ, hạnh phúc xen lẫn sự xúc động, tàm quý về cuộc đời tu hành của mình. Con thầm biết ơn nhân duyên, có lẽ con cũng đã gieo trồng trong nhiều đời nhiều kiếp, nên con mới được biết đến Chánh pháp.

Được lắng nghe những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, được gặp bậc đạo sư, được gặp sư phụ. Trong những ngày vừa qua được lắng nghe cuộc đời của các vị Thánh Ni, trong con có thọ tưởng hành về 1 ngày nào đó, con cũng sẽ giống như các Ngài. Một ngày không xa, con có 1 niềm tin vững chắc như vậy. Bởi vì con cảm nhận, nhìn lại tự thân mình, nhận diện ngũ uẩn khi con nghe những lời dạy của Đức Phật, từ lời trùng tuyên, giảng dạy của sư phụ. Con thật sự có những cảm thọ ở trong đó, chứ không như trước đây. Khi con nghe pháp con không có những cảm thọ xúc động. Chính vì vậy khi được nghe sư phụ nói: “Pháp nằm trong lòng bàn tay của mình, quan trọng là mình có chịu xoay lại nhìn nhận chúng hay không, chứ thật sự là không xa.”

Chúng con nơi đây, đã được trao cho gia tài của Đức Phật để lại. Việc duy nhất của chúng con là làm theo những lời dạy của Đức Phật, ngoài ra không có việc nào ngoài việc làm đó. Cho nên con rất là hạnh phúc, hoan hỉ, khi được lắng nghe những bài kinh nói về cuộc đời của các vị Thánh Ni. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Phật tử 1:

“Con gập đầu cúi lại Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.

Con chân thành đảnh lễ sư phụ, sư thầy, quý Ni sư, sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin phép được chia sẻ, những cảm thọ trong con trong những ngày vừa qua. Con được nghe sư phụ diền giải, trùng tuyên về các bậc Thánh Ni trong “Trưởng Lão Ni Kệ”, trong con 1 cảm thọ bùi ngùi, xúc động mạnh. Khi sư phụ kể về nàng Patacara trải qua nỗi đau tột cùng của nỗi đau, chứng kiến 6 người thân mất trong 1 ngày. Con thấy như chính con trong đó, tưởng con nhớ lại lúc cô con mất, con lo hậu sự xong, con bị tai nạn ngồi xe lăn 1 tháng. Khi vừa chống nạn đi, thì nghe tin ba bị đột quỵ mất. Lúc đó nỗi đau của thân và tâm con, như nỗi đau của nàng Patacara đã từng trải qua.

Lúc đó con đã thấm thía về sự vô thường, con tự nói rằng: “Trên cuộc đời này không có gì là chắc, chỉ có chết là chắc nhất”. Nhưng khi con vào dòng pháp này, con thấy cây nói đó là vô minh, si ám. Bước vào dòng pháp này con nhận diện ngũ uẩn, và thấy rằng cái chết đang rình rập mình. Tai nạn này, gươm đâm đang rình rập mình. Cái chết sẽ đến với mình trong từng giây, trong từng sát-na. Và con tác ý: “Tập sống mỗi giây phút trôi qua, như thể mình lâm chung”. Để cho con không còn chủ quan, hời hợt và nhớ về niệm tử. Con tập thiền quán về bài kinh Năm Sự Kiện Cần Phải Quán Sát: “Ta phải bị già, không khỏi bị già. Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh. Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết”.

Khi con quán về: “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, thì hình ảnh mắt mù, tai điếc, da nhăn, những bước đi lom khom đang hiện ra. “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh”, nhân duyên hôm rồi do duyên con có bệnh. Khi nằm con quán sâu vào được tâm “phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh”. Hình ảnh con nằm bất động trong 9 cái lỗ đang rỉ chảy ra, tanh hôi, nhớp nhơ, hôi thối. Thật đáng sợ, đáng ê chề, gớm giếc. Và hình ảnh “ta phải bị chết, không thoát khỏi chết, con thấy thân này đang nằm lúc bệnh, với những hơi thở tàn dư thở ra, trút hơi thở cuối cùng ra đi. Và xác thân con đang nằm nghĩa địa, trở thành 1 bữa ăn thịnh soạn cho các loài chúng sanh dị loại, và thời gian sau trở về với các bụi.

Con thấy thấm thía với sự vô thường của 1 kiếp người phù du, mong manh, tạm bợ như hiển như mồng. Cho nên con nỗ lực tinh tấn dấn thân vào nhận diện ngũ uẩn, để tìm ra những lậu hoặc đang len lỏi, lén lúc trong tâm con. Ví như đồng tiền giả mà len lẫn trong 1 đống tiền thật, mình cần phải tập trung, thận trọng trú tâm quan sát, nhận diện thì mới tìm được đồng tiền giả đó. Cũng giống như những cái lậu hoặc, đang ngấm ngầm bên trong tâm con. Hôm rồi lúc đọc trùng tuyên pháo bảo xong, con đang vui thì con cười với 1 cô, thì cô đó có nói con là: “Sao nhì cô dữ quá”. Thì lúc đó con quay vào bên trong, nhận diện cái ngũ uẩn của mình như thế nào. Thì con thấy 1 sự hổ thẹn, xấu hổ, nhục nhã: “Mình tu mà để người ta nói mình dữ, mình phải coi lại mình.

Lúc đó ý hành của con khởi lên 1 sự cảm ơn, tri ân cô đã chỉ ra cái lỗi của con cho con. Một cái ý hành khác lại xen vào nói rằng: “Thôi tự biết, tự sửa là được rồi”. Con thấy trong con có 1 sự bản ngã, tụ ngã có mình trong đó, chấp vào mình, không có sự can đảm nói lời cảm ơn, tri ân cô. Qua câu chuyện lúc tối sư phụ kể về nàng Kanda mồ côi, đi xin ăn, lang thang cùng khắp từ nhà này đến nhà khác, đi lang thang đầu đường xó chợ. Con thấy như chính con cũng từng lang thang, phiêu bạt, khát ngưỡng tìm cầu Chánh pháp. Con được hạnh phúc khi được gặp sư phụ, được gặp đại chúng tinh ba, được tu tập cùng sư phụ và đại chúng.

Đó là điều mà con mừng, nhưng trong con có 1 nỗi lo, suy tư. Mình đã từng lăn lộn trong ba cõi, 6 nẻo luân hồi trầm luân. Con thấy thật thương cho chính mình, con tự lòng nhắc nhở mình mỗi ngày, Con không được phép buông lung phóng dật, cố gắng, nỗ lữ tu tập để báo đáp công ơn thầy tổ, cha mẹ, đàn na tính thí. Sáng nay con nghe sư phụ kể về câu chuyện nàng Siha, trải qua 7 năm đau khổ về dục vọng luyến ái. Thì con cũng bùi ngùi, xúc động, hổ thẹn, thấy mình bạt nhược, xấu hổ. Trong dục ăn, dục nói, dục làm, dục đi, chưa có thật sự nhiếp phục và điều chỉnh. Con thấy xấu hổ vô cùng, mỗi ngày tu tập thiền quán vào bài kinh “Năm Sự Kiện Cần Phải Quán Sát” để nhắc nhở mình.

Con thấy mỗi lần mình khỏe, thì cái bản ngã, tự ngã, tham, sân, si, dục ái trong mình vươn cao lên, nó thống trị mình. Còn lúc mình bệnh, mình ốm, đau, nằm bất động 1 chỗ thì nó bắt mình phục vụ, chiều chuộng, an dưỡng bảo dưỡng cái thân thối nát này. Con quán như vậy để cho con nhả ra, con bớt chấp vào cái thân 5 uẩn này. Trải qua 3 lần, từ khi con về Linh Quy Pháp Ấn tu tập, 2 lần đầu con quán có sự dằn co, giống như 1 trò kéo co, 2 bên dằn vặt qua lại không phân thắng bại. Khi lần thứ 3 con thấy con mới nhả ra được, thì nó mới tạm chấp nhận buông cái thân ngũ uẩn này. Con mới đi sâu vào quán vô thường của cái thân rỉ chảy, thối nát này được.

Con tập để cho con buông xả, xả bớt đi những cái dục vọng trong con. Lúc nãy con được nghe sư phụ chia sẻ về Tỳ-kheo Ni, vị Thánh mẫu Kiều Đàm Di. Trong con khởi lên niềm tri ân vô lượng trên Đức Thế Tôn, tôn giả Ananda, di mẫu Kiều Đàm Di. Nhờ có các vị mà ngày hôm nay Ni chúng chúng con mới được ngồi đây, được tu tập cùng Tăng đoàn. Con thành kính niệm ân đức thâm sâu vô lượng này trên Đức Thế Tôn, trên tôn giả Ananda, di mẫu Kiều Đàm di. Con nguyện cố gắng nỗ lực tu tập thành tựu phạm hạnh, theo dấu chân của các vị Thánh Ni đã từng thành tựu. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

V. Dặn dò trong tu học

Lành thay! Lành thay! Lành thay! Niệm tử rất là tốt. Thật là không có uổng công sư cô 3 lần về Linh Quy tu học, thật là chúc mừng cho cô, cô đã nuôi dưỡng cái tâm hướng dự lưu. Thật là lần thứ 1 cô lên đây mới là tìm hiểu thôi, lần thứ 2 cô lên đây con thấy cô bắt đầu có cái hướng. Con cứ để tự nhiên quán sát xem sao, lần thứ 3 này, hôm nay cô trình pháp như vậy, thì thật sự con chúc mừng cô. Cứ như vậy mà nỗ lực tinh tấn, tinh cần quyết liệt nữa. Trên đời này không có gì chắc chắn, chỉ có 1 điều chắc chắn đó là sự chết, mình nên nhớ câu đó. Từ khi nằm bệnh cô đã quán chiếu được như vậy rất là tốt, đa số người bệnh họ sẽ sống theo cái phàm tình. Mà tánh người nữ nhiều khi lại dễ hờn trách, hờn mát: “Sao không ai lo cho tôi hết”.

Bệnh rồi cộng thêm cái phiền não, thì bệnh càng thêm. Cho nên mình bệnh mà mình ứng dụng được thiền quán, thật sự là 1 cơ hội quý báu. Cái này con đã nói rất nhiều lần rồi, chính là những cơ hội, đòn bẫy giúp mình bật lên, nhảy lên, vượt lên, vượt qua những cơn bạo bệnh. Đừng có bệnh mà cứ lo than đau, có nhiều người bên nam bệnh chút than đau. Gặp kêu trình pháp toàn than đau, làm chừng 3 lần con không muốn hỏi pháp nữa. Cứ gặp là than không à, cái tâm yếu ớt còn hơn người nữ. Tuy rằng mang cái thân nam, mà cái tâm còn yếu hơn người nữ. Tuy rằng mang cái thân nữ, nhưng mà mang cái tánh trượng phu. Thành ra không phải cái thân mà quyết định hết đâu, cái tâm mới quyết định.

Cho nên trong cơn bệnh đó, là cái đòn bẫy làm cho mình vượt lên, tiến lên, hướng thượng lên, nếu mà mình khéo léo tu tập. Chừng nữa chúng ta học qua bên phần “Trưởng Lão Tăng Kệ”, có rất nhiều bậc Thánh Tăng chứng Thánh quả trong lúc bệnh, và lúc mạng chung. Tới lúc đó còn không tỉnh nữa thì lúc nào tỉnh, ngu quá trời quá đất. Lúc đó mà còn sân si, phiền não, hờn trách người này người kia. Mà trong khi đã học pháp biết rồi, tới lúc đó mà không chịu tu, còn cứ ngu. Tu không chịu tu mà cứ ngu, bệnh gần chết rồi, triển khai thiền quán hết sức lực của mình. Để mình nắm bắt cơ hội mà vượt lên luôn, ở đó mà nằm hờn trách, than vãn. Mình than 1 tỷ năm nữa mà cũng than hoài, cho nên cái điều thứ 3 mà cô nói là rất tốt.

Khi mình không có sự phòng hộ, thì người ta góp ý mình: “Nhìn thấy cô dữ quá”. Mà lúc đó mình có nhận diện ngũ uẩn thì mình thấy là: “Ờ chỗ này mình chưa được”, mình muốn có lời cảm ơn, thì cái đó là có dùng công phu tu rất tốt. Đây là bài học chung cho tất cả, chứ không riêng gì cá nhân nào hết. Thì khi mình như vậy, người ta lại người ta nói: “Sao nhìn mặt cô dữ quá”, bắt đầu mình dữ lên cho coi, có không? Thì lúc đó là mình cho người ta co cái dữ của mình đó. Mình không biết tu đó, lúc đó mình phải biết quay trở lại xấu hổ, mình thấy mình nhục: “Sao mình tu mà người ta nói mình như vậy, như vậy tức là mình chưa có hiền. Mình phải tu cho nó hiền, để người ta không nói mình dữ nữa”.

Như vậy thì ở trong sách vở người ta ví dụ đó, mình liện cục đá, con chó chạy theo cục đá đó nó sủa. Nhưng mà mình liện cục đất đó vô con sư tử, thì con sư tử nó vồ mình, nó không có chạy theo cục đất đó. Nó vồ người liện, còn con chó thì chạy theo cục đất người ta liện. Chúng ta hiểu ý của nó là cái gì không? Phải tìm ra được nguyên nhân thực sự làm cho mình khổ. Không phải câu nói của người đó, mà chính là cái tâm chưa hiền của mình. Mình phải chụp lấy cái tâm đó, tu tập cái tâm đó, chứ không phải mình đi chạy theo lời người đó nói rồi mình sân si, là mình thất bại nữa. Mà đa số là chúng ta chạy theo cái nào? Hướng ngoại không à. Mình rất là thuần thục, rất là điêu luyện, thiện xảo trong sự hướng ngoại.

Chưa nói là mình đã nhảy vô họng người ta rồi, tâm không có an tịnh, lắng dịu. Không có an trú trong tâm hiền, tâm từ, không có thực hạnh được cái định. Không nhiếp phục và chế ngự thân, miệng, ý, không có để tâm. Người ta chưa nói đã nhảy vô họng rồi, người ta nói 1 câu mà làm lại 7 câu, như vậy là không có tu gì hết. Cho nên là con sư tử nó vồ người, con chó nó chạy theo mấy cục đá, cục sỏi. Tức là người ngu thì họ chỉ nhìn ra bên ngoài, họ trách người này người kia. Còn người trí là họ quay về bên trong, để họ nhiếp phục tâm của mình. Mình quay ra ngoài thì tỷ kiếp sau mình cũng đau khổ, rồi mình cũng khóc than rồi than khóc, than khóc rồi khóc than.

Thương thay trò than khóc, trong những cái tâm hờn trách, oán hận người này người kia. Mà mình không thấy nguyên nhân nó nằm ở trong, chính là cái cảm thọ của mình. Cảm thọ chưa có ly tham, ly sân, ly si, chưa có diệt tham sân si, chưa có đoạn tham sân si, chưa có hết tham sân si của mình, chứ không phải là bên ngoài. Đó là sư tử vồ người đó, không chạy theo người này người kia nói: “Sao nói tôi như vậy, người này nói tôi như vậy”. Nhiều khi mình nghe người ta nói gì gì đó thì đừng có hỏi, người ta nói gì kệ họ, đừng có hỏi: “Họ nói tôi sao?” Con gặp cái này nhiều lắm, có nhiều người lại nói: “Có người nói thầy vậy, vậy…” Con: “Ờ vậy hả, họ nói để họ nói đi, mình tu mình biết mình được rồi”. Chạy theo câu nói đó để làm gì?

Mình biết được câu nói đó để mình phiền não, sân si, như vậy là mình không có thông minh. Mình mới nghe câu nói thôi là trong người suy nghĩ: “Nói tôi hay nói cái gì?” Là mình tưởng tượng ra, suy diễn ra cái hành của mình, bao nhiêu cái cảm thọ dâng lên là trật lất rồi, xong rồi. Đó là bông gòn thẩy ngoài ngã 8, gió bão thổi bay tứ tung. Đức Phật dạy mình phải làm trụ đá, chôn sâu, vững trú ở trong cái nùi giẻ rách này nè. Cái nùi giẻ rách này ai có nói sao cũng được, cái thùng phân di động này ai có sỉ nhổ gì cũng được. Mình cảm ơn: “Cảm ơn, đúng rồi đó! Nó dơ, nó bẩn, nó cấu uế dữ lắm. Giờ con tu gần chết mà con làm chưa có xong, con cảm ơn các bậc thiện tri thức, các bậc hiền trí nhắc nhở”. Được không?

Người ta nói tới là sừng sộ lên hà, không biết phải nói mình không. Nhiều khi nói ai đó, mà ngồi suy nghĩ là: “Nói tôi à, xỉa vô tôi đó”. Như vậy là phiền não, ngu ơi là ngu, mà cứ tưởng mình là thông minh không à. Cho nên bất cứ mình nghe cái gì, nhất mà cái tâm giận lên là phải bình tĩnh. Giống như cây đứng yên, không có nhúc nhích. Khi khó chịu, giận lên là an tịnh, lắng dịu liền. Khi hơn thua, sân hận, bản ngã lên là an tịnh, lắng dịu liền. Khi có cái gì dao động là an tịnh, lắng dịu liền. Cho nên thật sự con rất là để tâm cho chúng ta, cho chúng ta tập những cái rất là khó tập. Mà bây giờ cũng khấm khá rồi đó, tự cho 1 tràng pháo tay luôn đi. Cho chúng ta tập rất nhiều, những cái nhỏ nhỏ.

Tại sao nhiều người lên đây đều thương, mến, thích, không muốn về nhà? Tại vì chúng ta có 1 hấp dẫn lực, 1 sức thu hút. Mà sức thu hút đó là của thiện pháp, hiền pháp, Thánh pháp, trí tuệ, từ tâm. Thấy Hiền Hạnh Cà Mau miệng cười tươi lắm, có cảm nhận được chưa? Cho nên chỗ này là tu hay lắm, ráng tu, đừng bao giờ quên tu hết. Mà tu với tất cả mọi hoàn cảnh, tất cả mọi trường hợp, chứ không phải đợi liên thiền đường, lên giảng đường mới tu. Cho nên tu là phải diệt cái tâm hướng ngoại, người mà còn tâm hướng ngoại nhiều là khó tu lắm. Dù cho có đạt được trí tuệ, thì cũng là trí tuệ bất phế thôi. Như để bánh kẹo trên đùi mình lúc ngồi, khi đứng dậy thì rớt hết xuống.

Phải là 1 người hướng nội, người thường xuyên thiền quán và lắng nghe thọ, tưởng, hành, thức thật kỹ, thì mới thành tựu được 1 trí tuệ thâm sâu. Chúng ta thấy không, chúng ta học được những cái pháp hết sức là thù thắng. Mà rất ít chỗ hiện nay được học, thì chúng ta phải biết tác ý. Chúng ta tu là quên giờ, quên giấc, quên ăn, bỏ ngủ luôn. Tuyệt vời không? Giờ nhìn lại gần 5h. Chúng ta vô trong pháp rồi là chúng ta quên ăn, bỏ ngủ: “Kệ, chết cũng không sợ nữa”. Chúng ta chưa có tu đầu đà ngày nào hết, mai mốt chúng ta sẽ tăng thượng lên. Đầu tiên con sẽ tăng cho tới 12h đêm, nếu được mà sức khỏe đầy đủ, bữa nào sẽ tăng sáng đêm luôn. Cứ nghe pháp, ngồi thiền, đi kinh hành, pháp đàm, chịu không, hoan hỉ không?

Sợ sợ hoài, sợ rồi nó cũng chết, sợ rồi nó cũng bệnh, sợ rồi nó cũng già. Mà mình không sợ nó, mình tu, mình đạt được bất tịnh. Cho nên rất là hoan hỉ, với sự trình pháp của các vị. Thành ra chúng ta học hết sức là chậm đúng không? Hôm nay chúng ta có 1 câu chuyện của ngài Gotami, Thánh mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề. Nhưng mà chúng ta học như vậy mới thấm, chứ còn học phớt phớt qua cho nhanh, cho lẹ để hết cuốn sách, hết cuốn kinh thì xong nó cũng rớt theo, trí huệ bất phế luôn, rớt hết trơn. Chúng ta học như vậy nó mới ăn sâu, rồi chúng ta về chúng ta đọc tụng, thiền quán, viết bài trình pháp rồi phám đàm. Những vị nào mình thấy ấn tượng nhất, cảm thọ nhất, mình viết bài về vị đó, trình pháp về vị đó, pháp đàm, tụng đọc về vị đó.

Và lấy những câu nói gọi là chứng đạo kệ của các vị đó học thuộc long, viết câu đó vào trong cuốn tập, vào trong chỗ mình ngồi, nhắc nhở mình hành trì. Chúng ta có pháp hỷ thì khỏi ngồi ăn cơm nha, được không? Sao nói yếu quá vậy? Các vị mà đạt thiền định là đâu có cần ăn uống gì đâu, người ta ở trong thiền định 7 ngày, 7 đêm. Các vị tu thời Đức Phật là nghe pháp, ngồi thiền sáng đêm, thường xuyên. Nhất là những ngày trăng rằm. Như vậy là hôm nay chúng ta được trùng tuyên về thiền quán, điểm 1 vài nét về cuộc đời, nhân duyên đắc đạo của Thánh mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề, đại ái đạo Tỳ-kheo Ni. Chúng ta nhớ khắc ghi, hành trì, được lợi ích cho mình và cho những người có duyên sau này khi gặp mình.