Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thế Nào Là Hành Pháp & Tùy Pháp

2026-03-03 00:56:03
Kinh Nikāya Giảng Giải

Thế Nào Là Hành Pháp & Tùy Pháp

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chán nản – xa lìa PAGEREF _Toc204010106 \h 1

II. Quán vô thường PAGEREF _Toc204010107 \h 4

III. Quán khổ PAGEREF _Toc204010108 \h 6

IV. Quán vô ngã PAGEREF _Toc204010109 \h 8

I. Chán nản – xa lìa

"-- Ðối với vị Tỳ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Ðối với sắc, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thọ, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với tưởng, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với các hành, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thức, vị ấy sống nhiều yếm ly." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng VII. Tùy Pháp)

Nhiều yểm ly tức là nhiều sự chán nản và xa lìa, chữ "tùy" ở đây là tùy thuận, là thuận theo pháp, sống với pháp, thực hành pháp, thuận theo pháp, không có trái nghịch với pháp thì gọi là tùy pháp, tùy thuận. Một người thuận theo pháp, thực hành pháp, sống với pháp thì người này sống nhiều với sự nhàm chán, lìa xa đối với sắc, vị này không có ưa thích những cái hình sắc, hình tướng, những cái màu sắc, những cái hình tướng đẹp đẽ đó, vị này nhàm chán, muốn rời xa, không còn say mê trong những cái sắc tướng nữa, không còn ưa thích, không còn tham đắm. Vị này sẽ sống nhiều với sự nhàm chán và muốn rời xa nó, đối với thọ vị ấy sống nhiều với sự chán lìa, chán nản, xa lìa, đối với tưởng vị ấy sống nhiều với sự chán nản, xa lìa, đối với hành vị ấy sống nhiều với sự chán nản, xa lìa, đối với thức vị ấy sống nhiều với sự chán nản, xa lìa.

Tại sao vị ấy sống chán nản, xa lìa nhiều? Là vị ấy nhìn thấy cái tính chất già, bệnh, chết, sầu bi và bị phiền não, vị ấy nhìn thấy cái tính chất của sự sanh ra này là mệt mỏi, sự có mặt này là một sự chán chường, thấy đời sống này là một sự bất an, một sự ưu tư, lo lắng, là một sự bắp bênh, vô định và đầy bất trắc, đầy bất an, bất ổn, bất thường, bất định cho nên ở trong tâm người tu hướng đến sự nhàm chán, ly tham là vậy đó, muốn rời xa là tại vì bây giờ cha con, mẹ con, thầy trò, anh em bất thình lình trở mặt, vợ chồng cũng có thể thành kẻ thù, cha con, mẹ con cũng có thể vì tiền bạc mà trở thành người dưng, cắt hộ khẩu không nói một lời, đưa nhau ra tòa kiện tụng nhau. Vợ chồng chưa nói là đầu độc, giết hại nhau, con mà giết cha, học đại học luật mà dùng những cái kiến thức chính cha mẹ nuôi nấng, dạy dỗ, bảo bọc cho mình đi học, nó dùng những cái kiến thức đó để giết cha mẹ, tạo hiện trường giả. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Như vậy thì có cái gì không dám làm ra?

Cô gái này đi học đại học luật thứ năm thứ hai, thứ ba gì đó thì cha cô mắng chửi, la rầy là cô giết cha của mình luôn, phóng hỏa tạo hiện trường giả. Thật sự khi nhìn sâu vào cái bản chất của đời sống này thật sự mình sanh một cái sự nhàm chán tột độ, mạnh mẽ, thầy trò với nhau mà chỉ cần nói một tiếng không vừa lòng thôi là có thể quay mặt trở lưng, không còn là thầy trò nữa, anh em ruột mà đụng chạm tới quyền lợi như hôm trước những dòng nước mắt, đường đi chút thôi có thể xảy ra án mạng, có thể huynh đệ tương tàn, một hai tấc đất, bốn năm tấc đất là giết người, án mạng, chung thân, tử hình. Vì mấy cái tờ giấy xanh xanh đỏ đỏ đó có thể hủy hoại nhau, hủy diệt nhau, đó là tính chất khổ đau, đó là cái tính chất buồn lo, đó là cái tính chất bất an, bất ổn, bất trắc, bất thường của đời sống ngũ uẩn này, của những xác thân tứ đại đồ gốm này.

Bản chất của nhân sinh này phải nhìn và phải nhìn, ngày nào chúng ta cũng phải tác ý ngày nào chúng ta cũng phải quán chiếu giờ nào chúng ta cũng phải chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, đừng để cho nó quên, vì quên là mình sẽ sập bẫy, cái bẫy vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã của đời sống này. Đừng có ngây thơ và dại khờ, trẻ nít và ấu trĩ mà cho rằng thế gian này thật sự có một cái gì chắc chắn ở trong tiền của hay là trong sắc đẹp, sức khỏe, hay là tình cảm.

Thật sự là mong manh!

Thật sự là dễ tan, dễ vỡ, dễ bể, dễ nát!

Thật sự là dễ tàn, dễ hoại, dễ diệt, dễ vong!

Thật sự là bây giờ Minh Thành ngán tới cần cổ rồi, sở dĩ mạng sống còn đây vì sự tu tập và chia sẻ pháp chứ thật sự là mình thấy ngao ngán, nhàm chán với những cái đời sống như vậy. Thật sự nó là vô tình, vô nghĩa, bất cứ lúc nào nó cũng có thể trở mặt, bất cứ lúc nào nó cũng có thể phản phúc, dối trá, lọc lừa. Thật là khủng khiếp, là sung mãn, là đầy ắp, là đầy rẫy, là đầy đường, là đầy mắt tai của mình trên cuộc đời này. Thấy chỗ nào, nhìn chỗ nào trong đó là những mưu tính, những tham lam, nhất là mình học dòng pháp này thì mình càng thấy, mà không học cái này thì không có thấy, phải học cái này thì mới thấy.

Thấy ra những cái mình trước nay chưa bao giờ thấy, biết ra những cái mà trước nay mình chưa bao giờ biết, hiểu được những cái mà trước nay mình chưa bao giờ hiểu, rõ được những điều mà trước nay mình chưa bao giờ rõ. Thấy ra rồi mình nhàm chán, mình ê chề, mình não nề, mình hướng đến sự rời xa, thoát ra và từ bỏ. Song song với sự nhàm chán là một sự hoan hỉ, hạnh phúc, chúng ta có thấy giống vậy không ạ? Đại chúng mình có thấy giống vậy không?

Đạo tràng Nikāya vừa chán ngán mà lại vừa hoan hỉ, hạnh phúc vì mình không thể ngờ được rằng trong cuộc đời này mà mình có thể được nghe được, thực hành những cái pháp thâm sâu, vi diệu, cái trí tuệ tối thượng của Đức Phật như vậy. Mình không thể ngờ chánh pháp thâm sâu tới mức độ vậy, đến để mà thấy được như vậy, mình không thể ngờ cho nên mình phải siêng năng và phải luôn nhớ, đừng có quên, mình quên là mình thất bại ngay thôi, mình quên một cái là mình sẽ chạy theo vị ngọt, quên một cái là mình sẽ chạy theo những lòe loẹt, mình quên một cái thôi là mình sẽ chạy theo những cái màu sắc. Mình quên một cái thôi là mình sẽ chạy theo những ảo ảnh, mình quên một cái thôi là mình sẽ chạy theo những hoa phù dung, mình quên một cái thôi là mình sẽ chạy theo những phù du bọt bèo, mây khói trên cuộc đời này, mình quên một cái thôi là mình sẽ bị sập bẫy, mình quên một cái thôi thì mình sẽ bị phiền não, phiền phức, phiền đau, phiền buồn, phiền khổ, phiền hận, phiền giận.

Mình chỉ cần quên một cái thôi là mình sẽ vào trong một cái dòng luẩn quẩn của bất an và hiểm nguy, tai họa cho nên phải nhớ, phải nhớ và phải nhớ. Thế Tôn dạy mình trong cái bài kinh Tùy Pháp ai sống nhiều với sự chán lìa đối với sắc, ai sống nhiều với sự chán lìa đối với cảm thọ, ai sống nhiều sự chán lìa đối với những hình bóng trong tâm tưởng, ai sống chán lìa thật nhiều đối với những suy nghĩ của hành, ai sống chán lìa thật là nhiều đối với nhận thức, rõ biết thì vị ấy sẽ thấu suốt tận cùng sắc, thấu suốt tận cùng các cảm thọ, vị ấy sẽ thấu suốt tận cùng các tưởng, những hình bóng trong tâm. Ai chán lìa nhiều đối với năm uẩn thì sẽ thấu suốt tận cùng đối với tất cả những cái suy nghĩ của hành, ai sống chán lìa thiệt nhiều đối với ngũ uẩn thì vị ấy sẽ thấu suốt tận cùng đối với thức, liễu tri thức.

"Ai sống nhiều yếm ly đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... ai sống nhiều yếm ly đối với thức, vị ấy liễu tri sắc... liễu tri thọ... liễu tri tưởng... liễu tri các hành... liễu tri thức. Do liễu tri sắc... thọ... tưởng... các hành... do liễu tri thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng VII. Tùy Pháp)

Chữ liễu tri là biết rốt ráo, trọn vẹn, tận cùng về sắc; thọ; tưởng; hành; thức, khi vị ấy biết tận cùng về ngũ uẩn, sống chán lìa trong ngũ uẩn thì vị ấy sẽ biết được rốt ráo về ngũ uẩn và khi vị ấy biết được rốt ráo, tận cùng ngũ uẩn thì vị ấy sẽ được thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Vị ấy sẽ giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi hành, giải thoát khỏi thức, vị ấy sẽ thoát ra khỏi sanh, già, chết, buồn đau, khổ sầu, sầu, bi, khổ, ưu, não, vị ấy sẽ được thoát ra. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi khổ đau.

II. Quán vô thường

"-- Ðối với vị Tỳ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô thường trong sắc... Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng VII. Tùy Pháp)

Hồi nãy là nhàm chán, sống nhiều với sự chán lìa đối với ngũ uẩn, bây giờ là sống nhiều với sự quán về vô thường. Sống nhiều là thường nhớ, thường nghĩ, thường cảm thọ, sống nhiều, thường nghĩ nhớ sự vô thường trong các sắc, sự biến đổi trong các cảm thọ, sự sanh diệt trong các hình bóng của tưởng trong tâm, sự đổi thay, dịch chuyển trong các hành, những suy nghĩ, sống nhiều, quán nhìn thấy sự vô thường, sự sanh diệt ở trong các thức. Ở trên là sống nhiều với sự yểm ly, chán lìa, dưới này là sống nhiều với sự quán về vô thường. Quán tức là nhớ nghĩ, nhớ biết, nhớ tưởng, nhớ tư niệm, nhớ tư sát, nhớ quán sát, thấy cái gì cái cũng nghĩ là vô thường, tuy thấy vậy, người ta khen, người ta thích thú, người ta khoan khái thì mình cũng dạ vâng nhưng mà trong bụng mình "Đó cái đồ vô thường "và cái đó phải âm thầm trong trí quán của mình không có quên.

Các thầy mấy hôm nay đi nhìn các tượng Phật đẹp, được Phật tử đưa đi ngắm thì các thầy có nhớ vô thường, vô ngã trong khi nhìn không? Đó là sự thiện xảo, khéo léo của mình, tuy cái duyên bên ngoài nó vậy nhưng cái trí bên trong, vẫn nói chuyện, vẫn làm việc, nhưng mà cái tuệ về vô thường, về vô ngã, sự biến hoại của sắc pháp ở bên trong không có được lưu mờ, không có được lãng quên. Như vậy mới gọi là cái vị hành pháp, tùy pháp. Các cô nhìn vườn hoa thấy cảm thọ ra sao? Khi ra nhìn vườn hoa mà chính tay mình trồng, mình tưới mỗi ngày, bây giờ nó nở lên đẹp như vậy lúc đó thấy sao? Pháp còn có mặt không? Tuệ quán của mình còn có mặt không? Khi mình ra chợ tết, chợ xuân tết đầy hoa như vậy mình có thấy cái tính chất là điêu tàn, tan rã không hay là lo nhìn cái bông này đẹp hơn, cái bông kia mắt tiền hơn, cái này tốt hơn cái kia, cái này to hơn đó.

Bài kinh thứ hai thì Đức Phật dạy đối với vị thực hành pháp và tùy pháp thì vị ấy sống tùy quán vô thường ở trong sắc. Lúc nào cũng nhìn theo cái chiều hướng của vô thường, cũng nghe theo cái chiều hướng của vô thường, cũng cảm nhận theo cái chiều hướng vô thường, thức tri theo cái chiều hướng vô thường đó cho nên vị đó là sao thấu suốt được bản chất thật sự của sắc. Bây giờ cái vô thường mà người ta giải ra là "cảm ơn vô thường, nhờ vô thường mà đóa hoa nở đẹp" là cái đó không có đúng lời Đức Phật, hiểu như vậy là không có ổn. Đức Phật dạy vô thường để cho mình nhàm chán cái tham muốn mà mình đi lấy cái vô thường đó để phát huy cái tham đắm, dính mắt. Đây là cái chỗ sâu sắc để chúng ta biết, trong một cái bài kinh Đức Phật dạy thế nào là vị pháp sư, thế nào là vị giảng pháp cho người ta thì Đức Phật dạy cái vị đó phải giảng nhàm chán về sắc, về thọ, về tưởng, hành, thức thì cái đó gọi là pháp sư, nếu mình nói để cho người ta ưa thích, tham đắm sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì không phải là pháp sư của Đức Phật, không có được Đức Phật ấn chứng, phải là người nói về vô thường, khổ não, vô ngã để đưa đến sự nhàm chán đối với năm uẩn thì Đức Phật ấn chứng vị đó là pháp sư, là giảng sư, là thầy.

"Nhân duyên ở Sàvatthi...

Sau khi ngồi xuống, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- 'Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp', bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, được gọi là vị thuyết pháp?

-- Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

Nếu Tỳ-kheo đối với thọ... Nếu Tỳ-kheo đối với tưởng... Nếu Tỳ-kheo đối với các hành...

Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, III. Vị Thuyết Pháp)

Mình nói một hồi mà làm cho người ta yêu thích, khoan khoái trong ngũ uẩn thì cái đó là bất ổn, nếu nói cho người ta ưa thích, khoan khoái ở trong thiện pháp, ở trong cái thánh pháp thì được, mình nói mà người ta mê cái cảnh đẹp, mê cái sắc uẩn này thì cái đó không có đúng theo thánh đạo của Đức Phật.

III. Quán khổ

"Nhân duyên ở Sàvatthi...

-- Ðối với vị Tỳ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán khổ trong sắc... Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng VII. Tùy Pháp)

Vị ấy sống luôn luôn thấy cái gì, nghe cái gì, ngửi, nếm, tiếp xúc, suy nghĩ, nhận thức cái gì cũng thấy cái khổ nằm trong đó, đó gọi là vị tùy pháp, hành pháp mà Đức Phật ấn chứng. Chúng ta hiểu được chỗ này không ạ? Mọi lúc mọi nơi thấy được cái khổ ở trong sắc, sống tùy quán khổ ở trong sắc, câu này nghe nổi da gà hết, chấn động hết, dù cho sắc đó là sắc đẹp hay sắc xấu, trong hay là sắc ngoài, gần hay là xa, cái sắc vi tế hay là cái sắc thô phù, cái sắc cao cấp hay là cái sắc hạ đẳng, thắng liệt, xa gần, trong ngoài, quá khứ, hiện tại hay là vị lai, tất cả các sắc đó vị ái sống tùy quán khổ trong sắc. Bây giờ mình nói cái hết sức đơn giản là mình quá ưa là thích đối với tượng Phật đó, lỡ như người ta khiên cái tượng Phật bị rớt xuống gãy cái lỗ mũi mình khổ không? Mình sân si không? Đó là khổ ở trong sắc, tượng Phật cũng là sắc, nếu như mình có tùy quán khổ ở trong sắc thì lỡ bể, có gãy giò, sứt lỗ tai hay gãy lỗ mũi thì mình cũng biết cái sắc này vô thường nên sửa lại thôi. Còn nếu mà mình không có tùy quán vô thường ở trong sắc, khổ ở trong sắc, không tùy quán cái sự nhàm chán, chán lìa với sắc thì một cái ví dụ nhỏ vậy thôi mình có đau khổ, có sân hận không? Có tức giận không? Đó là mình nói tượng Phật, chưa có nói mấy món đồ quý cho nên lời dạy của Đức Phật mỗi ngày phải tác ý, chúng ta phải ngồi đây, phải ngồi cái chỗ này để tác ý, để tư duy, để nhắc nhở mình mỗi ngày đừng có quên.

Phải thường nhớ những thứ này là những thứ đáng nhàm, đáng chán, đáng xa, đáng lìa, những thứ này là những thứ vô thường, biến hoại, bại hoại, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, nhắc hoài vậy đó. Những thứ này là những thứ khổ đau, những thứ khổ sầu, những thứ khổ não, không có gì đáng, không có một cái vui thật sự ở trong sắc. Giả sử có căn nhà mới, ngon lành, vừa ý nhất thì mình về ở vui được mấy ngày? Mình dọn vô ở rồi mình vui được mấy ngày? Sư cô Liên trụ có cái thất mới, cái nhà mới dọn vô ở vô được mấy ngày? Thích được mấy ngày? Chỉ có chút xíu à, lúc nào nghĩ tới thì lúc đó vui vui chút là xong, một cái nhà nó bự ba ngàn mét vuông, tối ngày quét, với lao, với dọn, đi cắt cỏ để cho nó đẹp, để người ta lại khen, nó đẹp để cho mình thấy cái cảm xúc mình thích, rồi mình ở đợ cho cái nhà đó, nô lệ cho cái nhà đó, làm tôi đòi, phục dịch cho cái căn nhà đó.

Có những cái trường hợp rất là nhiều ở nước ngoài mà bây giờ trong nước mình cũng bắt đầu có, mua cái nhà to lớn, sang trọng rồi mỗi ngày phải đi cày từ sáng tới tối về để trả tiền mua nhà, có khi làm hai ba chục năm, có khi suốt đời. Mấy người làm thuê thì ăn đồ trong tủ lạnh rồi nằm lên sofa, họ hưởng thụ, còn mấy người chủ thì đi ra cày để về trả tiền nhà. Nhưng nói vậy người làm công khổ lắm, mình nói một cái phương diện nhỏ thôi chứ không phải làm công là sướng đâu, sướng rồi đi làm ở đợ, sướng rồi đi làm thuê, đi làm mướn cho ta, không phải như vậy, mình thấy một cái vòng luẩn quẩn vậy đó. Cho nên sống tùy quán khổ ở trong sắc, tùy quán khổ trong thọ, tùy quán là luôn luôn nhìn thấy cái khía cạnh khổ đau, luôn luôn nhìn thấy cái khía cạnh khổ trong những cảm giác, luôn luôn nhìn thấy cái khía cạnh khổ trong những cái tài sản, vật chất, hình hài này, luôn luôn nhìn thấy cái bản chất khổ ở trong hình bóng, nội tâm, luôn luôn nhìn thấy cái bản chất khổ trong những dòng suy nghĩ, luôn luôn nhìn thấy cái bản chất khổ trong những nhận thức, rõ biết của mình. Đó gọi là tùy pháp, hành pháp, tuyệt vời không?

Chúng ta thấy dịch tiếng việt dễ hiểu không? Mình nói "sống tùy quán khổ trong sắc" hơi khó hiểu phải không? Luôn luôn nhìn thấy cái bản chất khổ trong tài sản, vật chất, tiền của, hình hài này, phải thấy được cái bản chất đó, cái tính chất đó, cái bản tánh đó, đừng có quên dù cho cái cảm thọ vui sướng. Phải thấy cái cảm thọ này có bản chất khổ trong đó, đang vui thì phải nhìn thấy "Coi chừng cái vui này ẩn nấp gai nhọn ở bên trong, kiếm bén ở bên trong, cái dao mác ở bên trong". Cho nên ngoài đời người ta vẽ tấm hình tay này bắt tay, ngoài này cầm cái dao để sau lưng, cái tay bên đây bắt, còn tay kia cầm dao để sau lưng, đó thật sự là pháp, đó là cái bản chất của ngũ uẩn. Phải sống tùy quán khổ trong ngũ uẩn, sống tùy quán vô thường trong ngũ uẩn, sống tùy quán sự yểm ly, chán lìa trong ngũ uẩn. Phải nhớ, nhớ, nhớ và nhớ, đừng có quên vì quên không được, cái người hay quên là tu cái này không thành công. Phải tác ý hoài, nhắc hoài như vậy đừng có quên. Chúng ta thấy nếu không quan trọng thì sao Đức Phật nói bốn cái bài kinh cùng một tựa.

IV. Quán vô ngã

"Nhân duyên ở Sàvatthi...

-- Ðối với vị Tỳ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong sắc... trong thọ... trong tưởng... trong các hành. Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong thức...

Ai sống tùy quán vô ngã trong sắc, trong thọ, trong tưởng, trong các hành, trong thức; vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức. Do vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức; vị ấy giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng VII. Tùy Pháp)

Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong ngũ uẩn cho nên vị ấy thấu suốt một cách trọn vẹn về sắc; thọ; tưởng; hành; thức rồi vị ấy luôn luôn nhìn cái bản chất trống rỗng ở trong hình hài, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức. Phải luôn luôn nhìn cái tính chất trống rỗng, trống không, trống trơn, cái tính chất không có cái lõi cứng chắc ở bên trong hình hài, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này cho nên vị ấy thấu suốt nó một cách trọn vẹn, gọi là vị ấy liễu tri sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Vị ấy luôn luôn nhìn cái tính chất trống rỗng, trống không, trống trơn, rỗng không của đồ đạc, cảnh vật, thân xác, vị ấy thường nhìn cái tính chất, bản chất trống rỗng, trống không của những cảm xúc, cảm giác, cảm thọ, vị ấy thường xuyên chăm chú, quán sát, như lý giác sát, chăm chăm theo dõi, để ý, nhìn sâu vào các dòng tư tưởng, vị ấy thấy cái bản tính của các nhận thức là trống rỗng, trống không, vị ấy nhìn thấy trống rỗng, trống không, trống trơn và do vị ấy nhìn như vậy cho nên vị ấy thấu suốt được sự thật tột cùng, trọn vẹn, tất cả gốc độ, khía cạnh của thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức này.

Do vị ấy biết một cách rốt ráo về năm uẩn này cho nên vị đó thoát ra khỏi ngũ uẩn, vị ấy thoát khỏi sự sanh ra, có mặt trong năm uẩn, vị ấy thoát khỏi sự già nua ở trong năm uẩn ấy, vị ấy thoát khỏi sự chết chóc, tử vong trong nước mắt, trong buồn đau ở trong năm uẩn, vị ấy thoát khỏi những khổ sầu, lo lắng, bất an ở trong năm uẩn. Ta nói vị ấy thoát khỏi tất cả khổ đau.

Nó sâu xa làm sao, tuyệt diệu làm sao, nó chân thật làm sao, tối thượng làm sao, vô thượng pháp luật được trình bày, được hiển lộ, hiển thị, tuyên thuyết, minh thị, chỉ rõ cho chúng ta để thoát khỏi một cái đời sống đầy hoạn nạn, đau khổ, bất an, tai nạn, đầy rẫy những sự khốn nạn, khổ đau, sợ hãi trong cái thế giới vô minh và khát ái, đầy tham, sân, si và bản ngã này. Thật sự là không có lối thoát, nếu chúng ta không được nghe những lời dạy như vậy chúng ta sẽ bế tắt, chúng ta sẽ đi đế chỗ cùng quẩn, bức bách, Thế Tôn nói rằng thế giới này bị rối rắm, rối ren giống như một tổ kén, luẩn quẩn trong đó không biết trường ra.

"Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử" (Trường Bộ Kinh, 15. Kinh Ðại duyên)

Cho nên những lời này toàn là những lời để chúng ta thiền quán, toàn là những câu định lý, khẩu quyết, bí kiếp, mật mã tối thượng, thánh tuệ, thánh trí, thánh pháp. Đây là Tương Ưng Uẩn, có bốn bài kinh tùy pháp, những từ này là những cái mật khẩu, mật mã, khẩu quyết, định lý, những cái đề mục mà chúng ta tu suốt cuộc đời, chúng ta thiền quán, chúng ta chiêm nghiệm, chúng ta nghiền ngẫm, chúng ta gặm nhấm, chúng ta suy tư, chúng ta trăn trở, thao thức, ray rứt, ôm ấp, nhìn ngó, soi xét. Ai sống nhiều với sự chán lìa đối với sắc, đối với thân xác này, ai sống nhiều với sự chán ngán rời xa đối với thân xác này, ai sống nhiều với sự chá ngán lìa xa đối với các cảm giác này, ai sống nhiều với sự chán ngán, lìa xa đối với những hình bóng trong tâm này, ai chán lìa đối với những dòng suy nghĩ này, ai sống nhiều với sự chán lìa đối với những dòng suy nghĩ, đối với những nhận thức này thì người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn, tột cùng tất cả các phương diện, khía cạnh của thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức ngũ uẩn này. Người nào sống chán lìa với năm uẩn người đó sẽ thấu suốt năm uẩn, người nào thấu suốt năm uẩn người đó sẽ thoát ra khỏi năm uẩn, người nào thoát ra khỏi năm uẩn người đó sẽ giải thoát tất cả khổ đau.

Phải sống tùy quán vô thường ở trong sắc, phải sống tùy quán khổ ở trong sắc, phải sống luôn luôn nhìn thấy cái bản chất đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, bất thình lình đổi thay. Phải thấy được cái tính chất bất thình lình đột ngột biến đổi ở trong sắc, bất thình lình đột ngột biến đổi trong cảm giác, bất thình lình đột ngột biến đổi trong hình bóng nội tâm, trong nghĩ tưởng, suy tư, bất thình lình đột ngột biến đổi trong nhận thức, hãy sống nhìn thấy được cái khía cạnh đó, cái tính chất đó, cái bản chất đó, cái bản tính đó. Người nào thấy như vậy, sống như vậy, nhớ như vậy, quán như vậy người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn thân tâm của mình, người nào thấu suốt trọn vẹn thân tâm của mình người đó sẽ thoát khỏi thân tâm, thoát khỏi sự ràng buộc trong thân tâm, và người nào thoát khỏi sự ràng buộc trong thân tâm thì người đó thoát khỏi tất cả khổ đau.

Hãy sống tùy quán khổ ở trong sắc, hãy sống luôn luôn nhớ sự khổ đau trong thân xác này, luôn luôn nhớ, đừng quên, luôn luôn nhớ sự khổ đau trong cái thấy này, cái nghe này, cái ngửi nếm này, luôn luôn nhớ sự khổ đau trong cái nhận thức này, rõ biết này. Ai sống như vậy người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn thân tâm, thấu suốt trọn vẹn thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, ai thấu suốt trọn vẹn thân tâm ngũ uẩn này người đó sẽ ra khỏi tất cả khổ đau trong ngũ uẩn.

Hãy sống tùy quán khổ trong các cảm thọ, hãy sống luôn luôn quán khổ trong những nghĩ tưởng, những suy nghĩ, những hình bóng trong tâm, hãy thấy tính chất khổ trong đó, hãy thấy tính chất khổ trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này, nhận thức này, hãy thấy được tính chất khổ trong đó gọi là tùy quán khổ trong ngũ uẩn. Nhớ đừng quên, nhớ mãi không quên ngũ uẩn này là khổ, nhớ mãi không quên ngũ uẩn này là vô thường, nhớ mãi không quên ngũ uẩn này là đáng nhàm, đáng chán, đáng từ, đáng bỏ, nhớ mãi không quên ngũ uẩn này trống rỗng, lấp ráp, kết hợp, trống không, vô ngã.

Nhớ mãi, nhớ mãi, nhớ mãi và nhớ mãi, đi, đứng, ngồi, nằm, lúc nào và ở đâu, lúc vui hay là buồn, lúc được hay là mất, lúc khổ hay là lạc, lúc khỏe hay là mạnh, lúc bình thường hay lúc biến động. Đừng bao giờ quên, không bao giờ quên sống chán nản, muốn lìa xa đối với ngũ uẩn, sống quán tính chất vô thường đối với ngũ uẩn, sống quán tính chất khổ đau đối với ngũ uẩn, sống quán tính chất trống không, trống rỗng, vô ngã đối với ngũ uẩn. Người nào sống được như vậy người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn thân tâm, người đó sẽ biết một cách tột cùng tất cả các khía cạnh của đời sống, người đó sẽ nhìn thấu hồng trần, nhìn ra được bản chất cuộc đời là trống rỗng, nhìn ra được bản chất cuộc đời là trống không. nhìn ra được bản chất cuộc đời là cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không.

Người nào đã nhìn thấy được như vậy thì người ấy sẽ thoát ra bào thai, thoát ra bệnh tật, già nua, chết chóc, thoát ra những tham muốn nóng giận, hơn thua, đấu đá, giành giựt của cuộc đời này. Người nào nhìn thấy như vậy người đó sẽ không còn bước đi những bước theo đương thời nữa, không còn cùng chung với phàm phu, không còn giành giật với ai, không còn tranh giành với ai, không có tranh đấu với ai, không còn hơn thua, thắng bại với ai, không còn so sánh, tính toán bằng, thua và hơn với ai nữa, không còn sầu, bi, khổ, ưu, não, không còn chung đường với thế giới này nữa. Người này sẽ thoát ra khỏi cuộc đời này, ra khỏi thế giới này, ra khỏi trái đất này, ra khỏi tam giới này, sẽ giải thoát tất cả khổ đau.

Hãy mạnh lên, mạnh mẽ lên, nỗ lực lên, mãnh lực lên, oai hùng lên, đại hùng đại lực lên, bước nhanh lên, bước mạnh lên, bước mau lên để đi ra khỏi cái đống lửa, ra khỏi cái biển lửa, ra khỏi cái địa cầu lửa, hành tinh lửa, trái đất lửa này, đầy những lửa dục vọng, sân hận, bản ngã này. Thoát ra, thoát ra mau, thoát ra mau, thoát ra khỏi thân già, bệnh, chết; thoát ra khỏi hơn thua, thắng bại; thoát ra khỏi giành giật, tranh đua; thoát ra khỏi sầu bi, ưu não; thoát ra khỏi nước mắt, máu hồng; thoát ra khỏi những sợi dây ái luyến; thoát ra khỏi những hệ lụy, tranh đua; thoát ra khỏi những yêu hận, oán thù, thoát ra khỏi những tật đố, ganh tỵ; thoát ra khỏi những được mất, thấp hèn; thoát ra khỏi những ích kỷ, mưu toan; thoát ra khỏi những tâm nhỏ mọn, hẹp hòi; thoát ra khỏi dòng luẩn quẩn tham sân; thoát ra, thoát ra, thoát ra và thoát ra bằng một tinh thần đại hùng, đại lực, đại dũng mãnh.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này.

Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần và dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài.

Mong tất cả có được trí tuệ thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.

./.