Thứ Tự Tu Tập 3 - Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tự Tu Tập 3
Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chú tâm tỉnh giác PAGEREF _Toc183017118 \h 1
II. Chánh niệm tỉnh giác PAGEREF _Toc183017119 \h 6
I. Chú tâm tỉnh giác
Hôm nay chúng ta tiếp tục bài kinh Mục Liên Toán Số - Ganaka Moggallàna nằm trong Trung Bộ Kinh, tập III. Bài kinh này là một trong những bài kinh nói lên trình tự tu học của một người xuất gia nên nó rất quan trọng, chúng ta sẽ học thật kĩ bài kinh này, trong đây là pháp học và pháp hành, đó là trình tự tu học của một người xuất gia, đạo lộ tu học của một người khất sĩ, thứ tự hành trì trong đời sống phạm hạnh, tất cả đều được Đức Thế Tôn nói rõ trong bài kinh này.
Phần trước chúng ta đã tìm hiểu về giữ giới hạnh, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống.
"Này Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: 'Hãy đến Tỳ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp'". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Bốn chữ "chú tâm cảnh giác" là một pháp hành, chú là chuyên chú, để tâm vào, tập trung tâm ý vào, cảnh giác là canh chừng, đề phòng, cẩn thận, tỉnh táo, tỉnh giác, cảnh tỉnh, ở ngoài đời dùng từ cảnh giới, xem chừng, dòm chừng. Canh chừng cái gì? Trong khi đi tới đi lui, trong khi đi kinh hành hay trong khi đang ngồi, gột sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp. Thế nào là chướng ngại pháp? Chính là năm triền cái, cái là che đậy tâm mình, chúng ta có câu:
Công danh cái thế màn sương sớm,
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài
Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật,
Công lao uổng phí một đời ai.
(Thiền sư Minh Chánh, Triều nhà Nguyễn, thế kỷ XIX)
"Công danh cái thế" tức là công danh vượt hơn tất cả người đời, chẳng qua là màn sương sớm thôi. "Phú quý kinh nhân giấc mộng dài", giàu sang nghe tới người ta phải giật mình, phải hoảng hốt, nhưng cũng là một giấc mộng dài thôi. Trở lại vấn đề triền nghĩa là trói cột, còn sử mới là sai khiến, còn cái là che đậy, năm pháp này trói buộc tâm. Trong kinh nói rằng trong khi đi, trong khi nói, trong khi nằm, đầu hôm, giữa đêm và cuối đêm thức dậy, bất cứ khi nào mình thấy trong tâm có các pháp chướng ngại thì mình phải gột sạch tâm trí khỏi các pháp chướng ngại đó.
Những gì làm chướng ngại cho tâm thì đều là cái pháp ngăn cản mình tiến đạo, ví dụ đang ngồi thiền tự nhiên thấy buồn hoặc cảm thấy chán, đó là chướng ngại cho sự tu tập của mình, đang học kinh mà cảm thấy mệt mỏi, thấy ngán quá thì đó là chướng ngại pháp, mình phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, mình diệt cái buồn, diệt cái chán đó, mình đuổi cảm thọ đó ra khỏi thân tâm mình.
Ví dụ mình đang làm việc mà thấy người đó có hành động cử chỉ gì đó là mình không làm nữa "để cô đó làm đi, tôi không làm nữa", đó cũng là chướng ngại pháp trên con đường gieo trồng phước đức, vì thế mình phải diệt cái tâm ngăn trở đường tiến đạo của mình trong hai phương diện phước và huệ, bất cứ cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư nào sanh khởi lên mà ngăn trở sự tu học, sự tiến bộ, sự tinh tấn thì mình phải gột sạch tâm trí khỏi chướng ngại pháp cho nên chữ "chướng ngại pháp" ở đây mang nghĩa rất rộng, tùy vào lúc đó có pháp gì sanh khởi ra mình phải thấy biết.
Hoặc đang học mà xin về sớm vì trời mưa hoặc trời nắng quá, mệt mỏi thì đó cũng là chướng ngại pháp mà mình không nhận ra, mình không diệt cảm thọ, suy nghĩ, tư tưởng đó mà mình còn phát ra khẩu hành, làm ra thân hành là mình nhập cuộc chung với nó, nhận giặc làm con, nối giáo cho giặc. Chúng ta phải nhìn thấy được bất cứ cái gì ngăn trở sự tu học của mình, làm cho mình không tiến đạo, không tăng thượng, không hướng thượng, không tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh thì đó là chướng ngại pháp, mình phải lập tức gột rửa, tẩy sạch những thứ đó.
Qua đây chúng ta mới thấy rằng Đức Phật dạy rất kĩ, ngay khi mình đang đi, mình đang ngồi, thậm chí là ngay lúc nằm cũng được Đức Phật dạy rất kĩ "nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, hánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại" chứ không phải nằm theo kiểu đam mê, thích thú, khoan khoái trong cảm thọ ngủ đó, có lúc Đức Phật dạy quán ánh sáng, còn ở đây ngài dạy hướng tâm đến lúc mình thức dậy trở lại. Tuy mình nằm nghỉ nhưng không đam mê, không thích thú, không khoan khoái, không tham ái, không bị trói cột trong cảm giác ngủ nghỉ đó, không bị cảm giác đó nhận chìm mình. Tu phải vi tế, nhỏ nhiệm từng chút một như vậy mới trở thành bậc Thánh Tăng A-la-hán, mới thành bậc lậu tận, mới có ra các bậc hiền Thánh, Thánh chúng.
Ví dụ thủ môn chụp banh không cẩn thận để banh lọt lưới thì có khi chết người vì cá độ bóng đá, làm tán gia bại sản, nợ nần chồng chất, giảng pháp không có bao nhiêu người đi nghe mà đi xem đá banh là mấy chục ngàn người. Đó là thủ môn, bây giờ là bảo vệ, người giữ xe mà nếu người này lơ là thì hậu quả rất nhiều, bị trộm cắp, bị cháy nổ, bị khủng bố bom đạn,…. Như vậy khi nói đến chú tâm cảnh giác phải nhớ đến hình ảnh của người bảo vệ, giữ cửa, giữ xe, thủ môn, người tu chúng ta là một người gác cổng, là người giữ cửa, là người bảo vệ tâm mình đừng để chướng ngại pháp xâm nhập, xâm chiếm, áp đảo, đừng để nó cướp bóc, lấy hết Thánh sản của chúng ta.
Chúng ta phải là một người giàu có tỷ phú trong Phật giáo chứ đừng làm kẻ cùng khốn trong đạo Phật, cùng khốn là không tín, không giới, không tàm, không quý, không văn, không thí, không tuệ, những pháp này không tăng thượng được, không thể lớn mạnh, đó là người nghèo khổ, cùng khốn. Như vậy một người xuất gia, người tu hay ngay cả một người cư sĩ tại gia nếu không khéo làm một người thủ môn, người gác cổng, người bảo vệ thì chúng ta trở nên trắng tay, cả cái nhà không còn gì có giá trị.
Hằng ngày chúng ta có canh chừng tâm mình không? Có đề phòng tâm mình không? Có trông coi tâm mình không? Tâm mình chính là thọ; tưởng; hành; thức, nếu không nắm rõ sự sanh khởi, vận hành, cơ cấu hoạt động của thân tâm, không nhận diện được ngũ uẩn thì mình không thể tu được. Một người luôn canh phòng, đề phòng là một người luôn nhìn lại thọ; tưởng; hành; thức, đơn giản hơn nữa là nhìn lại thọ; tưởng; hành, nhìn lại cảm giác lúc đó là dễ chịu, khó chịu hay không dễ chịu không khó chịu, nhìn lại suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, nhìn lại hình bóng này là lành hay dữ, đó gọi là canh chừng tâm, quán chiếu tâm, quán sát tâm, để ý tâm, dò xét tâm, soi rọi tâm. Chữ "thường chiếu" nghĩa là thường soi rọi lại những cảm giác, hình bóng và suy nghĩ trong tâm, nói đầy đủ sẽ có cả nhận thức, soi rọi cả cái biết của mình. Nếu mình không rõ tâm mình thì mình nhìn lại chỉ biết một cách mù mờ, biết lơ mơ chứ mình không thấy được thọ; tưởng; hành; thức.
Ví dụ vừa bước ra cửa là nhìn thấy một bóng hồng đi ngang qua mắt mình thì mình phải xem lại cảm giác lúc đó có ái không, có dục không, có tham muốn không, sau đó nhìn lại hình bóng đó còn ám ảnh trong tâm không, kiểm tra xem đang có suy nghĩ gì, như vậy gọi là quán tâm, chiếu tâm, soi tâm. Sau khi mình nhìn thấy bóng hồng này ám ảnh trong tâm, có cảm giác dễ chịu, lưu luyến, thích thú, có suy nghĩ muốn gặp lại thì mình phải lập tức gột sạch tất cả những cái này ra khỏi tâm tư, tâm trí của mình.
Còn bây giờ mình vừa chạy xe ra thì có người kia chạy cắt ngang đầu xe mình, họ có lỗi mà còn trừng trợn mình nữa "mày chạy kiểu gì thế" thì phải xem lúc đó trong mình đang có cảm giác khó chịu, trong khó chịu có sân, sau khi mình đi về rồi hình bóng người đó vẫn còn hiện lại trong tâm, mình có suy nghĩ khó chịu. Ở đây mình thấy được khi nãy là tham ái, bi giờ là sân hận thì mình phải gột sạch nó, đó gọi là quán tâm, chiếu tâm, soi tâm, rọi tâm, rửa tâm, tẩy tâm, tu tâm nhưng nếu mình không biết tâm là gì thì làm sao tu được? Thật là khổ mà!
Nếu mình chỉ nhìn một cách sơ sài, lơ tơ mơ, nhìn phất phơ ngoài da thì mình chỉ thấy những cái thô phù, còn những cái vi tế mình không thể thấy được, lúc đó mình không biết thọ; tưởng; hành; thức, mình không biết duyên sanh pháp lúc đó vận hành ra sao. Mình phải thuộc lòng định nghĩa ngũ uẩn, thuộc lòng duyên sanh pháp thì mình mới quán chiếu được, nếu không là mình không biết gì để quán cả, mình phải biết được cái tâm, phải biết được thọ, biết được tưởng, phải biết được hành, biết được thức và phải biết được hiện giờ nó đang trong tình trạng như thế nào, cảm giác này đang là cái nào trong ba trạng thái, trong ba trạng thái đó có gì trong đó. Nếu không biết tâm là gì thì làm sao mình tu tâm, chỉnh tâm, sửa tâm, làm sao mình gột tâm, tẩy tâm, làm sao làm cho tâm mình sạch được? Làm sao mình có thể nhiếp phục, chế ngự, làm chủ được tâm, làm sao mình đi đến chỗ tâm bất động giải thoát nếu mình không biết nó là gì? Lấy chủ đề tu tâm này làm pháp học, pháp tu, làm chủ đề chia sẻ.
Lúc nào mình cũng phải nhìn lại lúc đó cảm giác ra sao, có thích thú, đam mê, khoan khoái không, nếu có là ái. Cảm giác lúc đó có thúc giục không thì đó là dục. Cảm giác lúc đó có muốn thêm nữa không, đó là tham. Chúng ta phải phân biệt được dục, tham, ái, còn nếu lúc đó mình nhập cuộc vào chung, tôi muốn ăn, tôi muốn đi chơi, tôi muốn làm cái này cái nọ thì mình không còn biết đó là cảm thọ nữa, mình không tách mình ra khỏi cảm thọ thì làm sao quán thọ trên các thọ được.
Mình có việc phải ra Hà Nội, vừa bước xuống xe là một cảnh đẹp tuyệt vời thì lúc đó phải xem lại cảm thọ như thế nào, đằng này thấy cảnh đẹp là hồ hởi chụp hình để khoe lên mạng xã hội, giống như Tôn Ngộ Không bay tới đó rồi tè lên cột đá ghi lại "Tề Thiên Đại Thánh đáo thử nhất du" nhưng không ngờ đó lại là bàn tay Như Lai Phật tổ, năm ngón tay đó là sắc; thanh; hương; vị; xúc, năm ngón tay đó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức cho nên Tôn Ngộ Không có bay cỡ nào đi nữa cũng không ra khỏi ngũ dục, ngũ uẩn, chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử mới có thể nhiếp phục, chế ngự, từ bỏ, xuất ly, thoát ly khỏi là sắc; thanh; hương; vị; xúc và sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Hằng ngày mình có hướng tâm ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức không hay chúng ta khoan khoái trong này, chúng ta hoan hỉ, yêu thích trong đó, sung sướng, tham ái trong đó? Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử là bậc luôn quán chiếu về sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thấy được tính chất vô thường, khổ đau, bất an, tan hoại, vô ngã, trống rỗng của sắc; thọ; tưởng; hành; thức để nhàm chán, ly tham, chấm dứt, thoát ra, vô văn phàm phu là khoái trong này, chìm trong này, chết trong này.
Tu tâm là nhìn lại cảm giác của mình trong mọi lúc mọi nơi, nhìn lại cái tưởng và suy nghĩ, hình bóng của mình trong mọi lúc mọi nói, kiểm tra trong cảm giác, nghĩ tưởng này là thiện hay bất thiện, có dục ái, tham, sân, bản ngã không, có hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ không, từ đó mình tẩy sạch, nhiếp phục các rác cấu uế, uế nhiễm đó. Bài học gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp rất quan trọng trong pháp hành của chúng ta, đừng nói gì ra đường mà ngay khi đắp y ngồi trên chánh điện, thấy đứng hoặc ngồi trang nghiêm mà có khi trong tâm lại sanh khởi ra tham, sân, si trong đó. Ngay lúc đó phải thấy tâm mình vận hành như thế nào thì mình tẩy sạch ngay chỗ đó.
Mình ở chùa 8 năm đã quen đứng chỗ này rồi, thế mà có cô vừa vào đã đứng ngay chỗ mình làm mình phải xuống đứng cuối cùng, thế là trong bụng khó chịu "người mới mà dám chiếm chỗ mình", mình phải nhìn thấy được cảm giác đó, hình bóng, suy nghĩ trong tâm rồi nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch thì cái đó gọi là tu tâm ngay tại chỗ đứng trên chánh điện, nếu không mình cứ đứng đó bực bội, khó chịu, sân si, không tập trung tụng kinh được, trong tâm cứ phựt lên, "chờ tụng kinh xong là biết tay mình", đó là các pháp ô uế, uế nhiễm vận hành mà mình không thấy nên mình không gột sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, mình không làm người canh cổng, gác cửa, mình không làm người bảo vệ, mình không làm người canh chừng, quán sát thân tâm của mình, không như lý giác sát nghĩa là không tỉnh giác quán sát. Làm bảo vệ mà ngồi ngủ gục thì mất xe hết, cũng vậy với thiện pháp, mình đánh mất hết vì mình không chú tâm cảnh giác.
II. Chánh niệm tỉnh giác
"Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỳ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: 'Hãy đến Tỳ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác'". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Càng ngày mức độ càng sâu sắc, càng ngày càng đi vào trong, càng ngày càng thâm thúy, thâm sâu. Mỗi một chữ trong đoạn kinh này đều là pháp hành vậy mà mình cứ đi đâu để tìm pháp hành, mình không biết tu sao trong khi ở đây chính là pháp hành, mình chỉ muốn ngồi im rồi bừng lên chứng ngộ còn tu từng chút một thì không chịu. Mình không biết sự tu là thiết thực, hiện tại trong sinh hoạt, trong mỗi oai nghi, cử chỉ của mình.
Thế nào là chánh niệm tỉnh giác?
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt ... rõ biết khi các tưởng ... rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (XI). Tôn Giả Nanda)
Kinh Nikāya đặc biệt ở chỗ nhất quán toàn bộ lời dạy của Đức Phật, không phải mình muốn nói sao là nói, đó là Đức Phật định nghĩa chánh niệm tỉnh giác. Như vậy chánh niệm tỉnh giác là rõ biết lúc đó có cảm giác gì khởi lên, rõ biết cảm giác lúc đó nó an trú như thế nào, nó có mặt như thế nào, rõ biết khi các cảm giác đó chấm dứt, mình phải rõ biết trong cả 3 giai đoạn sanh – trụ – diệt, cảm giác gì khi nó sanh lên mình phải biết, cảm giác gì khi nó tồn tại mình phải biết và khi cảm giác đó chấm dứt mình phải biết nhưng không phải chỉ biết không mà sau khi biết thì phải xử lý nó. Nếu có ăn trộm vào nhà thì mình la lên hay biết rồi ngồi đó "tôi biết ăn trộm vô nhà" là xong, ngược lại mình phải có cách báo động, gây tiếng động để trộm biết có người trong nhà để nó sợ, bỏ chạy chứ không dám lấy đồ.
Tiếp theo những hình bóng trong tâm gọi là tưởng, khi nó sanh khởi trong tâm mình phải biết, khi những hình bóng có mặt trong tâm mình phải biết và khi những hình bóng đó chấm dứt, tan biến mình cũng phải biết, như vậy gọi là chánh niệm tỉnh giác. Tỉnh giác là khi ngồi trước cửa có khách vào thì mình biết có khách vào, khách đang ở trong thì mình biết có khách đang ở trong, khách đi ra khỏi cửa mình biết khách đi ra, đó là người giữ cửa tỉnh táo, còn làm người giữ cửa mà người ta vào cũng không biết, người ta vào lấy đồ cũng không biết, người ta đi ra cũng không biết thì ông đó đang ngủ mê, đang hôn mê, ngủ gục. Tỉnh giác là ngược lại với hôn mê, với si mê, vô minh, hôn ám, ngu si.
Tầm là sự hướng tâm cũng là hành nhưng vi tế hơn hành, tầm là sự tầm cầu, mình ngồi học mà cứ nhìn lên đồng hồ thì cái tâm hướng về chỗ đó thì gọi là tầm, cho nên học cái này tất cả pháp đều sáng rực lên, qua không mắt mình được. Tâm mình hướng về chỗ đó, tầm cầu cái đó, ví dụ một người háo sắc thì tầm sắc, gặp sắc là nhìn, đó gọi là mê sắc, ham sắc, tìm sắc, cầu sắc, tầm sắc, còn người tầm thanh là nghe tiếng nhạc ở đâu là ngóng tai lên nghe, tâm mình hướng về chỗ nào thì chỗ đấy gọi là tầm, nếu là người tầm ăn thì tâm hướng về đồ ăn . Khi trong tâm mình có sự hướng tâm về chỗ nào đó thì mình phải biết tâm mình hướng về pháp, tầm cầu pháp hay tâm mình đang hướng ngoại, tầm cầu bên ngoài hay tâm mình tầm hương, thích ngửi mùi hoặc là tầm vị, tầm xúc. Trong kinh hay dùng từ dục tầm, sân tầm, hại tầm, đây là ba sự hướng tâm bất thiện.
Dục tầm là sự tầm cầu về dục, sân tầm là tâm mình hướng về tức giận, sân hận, trong phim kiếm hiệp thường nói chuyện thù oán, báo thù, dạy những sân hận, hận thù, là đó là ác bất thiện pháp, hại tầm là đi theo sân, nghĩa là giận rồi muốn người ta bị cái này bị cái kia như câu "hạnh tai lạc họa yểm tha năng", vui sướng trên sự đau khổ của người khác, chèn ép, đè ép những người có tài năng, không để họ phát huy tài năng. Người nào mình ghét mà bị cái gì là mình có suy nghĩ "cho vừa, đáng đời", đó chính là tâm ác, bất thiện pháp, là tà tư duy, ác pháp. Như vậy khi có sự hướng tâm về dục là mình thấy được ngay, hiện tại trong tâm mình đang có những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ về dục là mình biết được là đang có dục, đang có ái thì cái dục này là cấu nhiễm, cấu uế, là bẩn thỉu, bất tịnh rồi mình tác ý, quán chiếu đánh tan những cảm giác, suy nghĩ đó thì cái dục tầm đó chánh dứt, đó gọi là chánh niệm tỉnh giác.
Pháp hành rất rõ ràng, bây giờ chỉ cần thực hành là đi đến chỗ ái tận, diệt tận tất cả những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ theo chiều vô minh, tham ái, khát ái, chấp thủ. Đó là ý nghĩa của chữ tầm, mình phải xem tâm mình hướng về chỗ nào nhiều, Đức Phật dạy mình đặt tâm đúng hướng, điều này rất quan trọng, đừng để tâm đặt sai hướng. Những cây cỏ lau sậy rất bén, nếu mình cầm ngược chiều sẽ bị xước chảy máu tay, cũng vậy khi đặt tâm sai hướng thì mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não, không bao giờ đi đến an tịnh, lắng dịu, giải thoát.
"-Ví như, này các Tỳ-kheo, sợi râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch bị đặt sai hướng, khi tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm đổ máu; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì sợi râu bị đặt sai hướng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với tâm bị đặt sai hướng, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể chứng đạt Niết-bàn; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì tâm bị đặt sai hướng" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, V. Phẩm Ðặt Hướng và Trong Sáng, Tâm Ðặt Sai Hướng v.v...)
Một khi đã đặt tâm sai hướng thì đời tu của mình mãi mãi không đi đến mục đích cứu cánh của người xuất gia, ví dụ muốn đến chùa Hòa Khánh thì phải đi hướng đó nhưng mình lại đi ngược lại thì đi mãi cũng không đến chỗ mình muốn đến cho nên phải đặt tâm đúng hướng, đi đúng đường. Từ cái thấy đúng mới giúp cho mình thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, làm đúng, quán đúng và định đúng, đó là tám cái đúng của bậc Thánh, phải làm sao được cái thấy đúng thì tâm mình mới hướng đến chiều hướng đúng, còn khi tâm đã nhìn sai thì sự tầm cầu của mình sẽ sai vì thế chúng ta có bài kinh Thánh cầu, nghĩa là sự tầm cầu của bậc Thánh. Trong bài kinh này Thế Tôn nói cho mình biết ngài tầm cầu đạo như thế nào và kết quả ra sao, đó là sự tầm cầu Thánh thiện. "Khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác", thậm chí cả đại tiểu tiện mà Đức Phật cũng nhắc nhở phải tỉnh giác, không ai ngoài ngài có thể dạy mình một cách đầy đủ, vi tế, nhỏ nhiệm, khít khao, viên mãn tất cả mọi khía cạnh, góc độ trong đời sống. Nếu không khéo sẽ sanh dục, sanh ái, sanh tham khi đại tiểu tiện, còn nếu tỉnh giác thì mình sẽ thấy được sự bất tịnh rỉ chảy trong ung nhọt chín lỗ, nếu không chánh niệm tỉnh giác khi tắm giặt, đại tiểu tiện thì dục, tham, ái sẽ sanh khởi, còn nếu có chánh niệm tỉnh giác thì chân trí, Thánh trí, tuệ giác sẽ sanh khởi trong lúc đó.
./.
Tự Tu Tập 3
Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chú tâm tỉnh giác PAGEREF _Toc183017118 \h 1
II. Chánh niệm tỉnh giác PAGEREF _Toc183017119 \h 6
I. Chú tâm tỉnh giác
Hôm nay chúng ta tiếp tục bài kinh Mục Liên Toán Số - Ganaka Moggallàna nằm trong Trung Bộ Kinh, tập III. Bài kinh này là một trong những bài kinh nói lên trình tự tu học của một người xuất gia nên nó rất quan trọng, chúng ta sẽ học thật kĩ bài kinh này, trong đây là pháp học và pháp hành, đó là trình tự tu học của một người xuất gia, đạo lộ tu học của một người khất sĩ, thứ tự hành trì trong đời sống phạm hạnh, tất cả đều được Đức Thế Tôn nói rõ trong bài kinh này.
Phần trước chúng ta đã tìm hiểu về giữ giới hạnh, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống.
"Này Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: 'Hãy đến Tỳ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp'". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Bốn chữ "chú tâm cảnh giác" là một pháp hành, chú là chuyên chú, để tâm vào, tập trung tâm ý vào, cảnh giác là canh chừng, đề phòng, cẩn thận, tỉnh táo, tỉnh giác, cảnh tỉnh, ở ngoài đời dùng từ cảnh giới, xem chừng, dòm chừng. Canh chừng cái gì? Trong khi đi tới đi lui, trong khi đi kinh hành hay trong khi đang ngồi, gột sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp. Thế nào là chướng ngại pháp? Chính là năm triền cái, cái là che đậy tâm mình, chúng ta có câu:
Công danh cái thế màn sương sớm,
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài
Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật,
Công lao uổng phí một đời ai.
(Thiền sư Minh Chánh, Triều nhà Nguyễn, thế kỷ XIX)
"Công danh cái thế" tức là công danh vượt hơn tất cả người đời, chẳng qua là màn sương sớm thôi. "Phú quý kinh nhân giấc mộng dài", giàu sang nghe tới người ta phải giật mình, phải hoảng hốt, nhưng cũng là một giấc mộng dài thôi. Trở lại vấn đề triền nghĩa là trói cột, còn sử mới là sai khiến, còn cái là che đậy, năm pháp này trói buộc tâm. Trong kinh nói rằng trong khi đi, trong khi nói, trong khi nằm, đầu hôm, giữa đêm và cuối đêm thức dậy, bất cứ khi nào mình thấy trong tâm có các pháp chướng ngại thì mình phải gột sạch tâm trí khỏi các pháp chướng ngại đó.
Những gì làm chướng ngại cho tâm thì đều là cái pháp ngăn cản mình tiến đạo, ví dụ đang ngồi thiền tự nhiên thấy buồn hoặc cảm thấy chán, đó là chướng ngại cho sự tu tập của mình, đang học kinh mà cảm thấy mệt mỏi, thấy ngán quá thì đó là chướng ngại pháp, mình phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, mình diệt cái buồn, diệt cái chán đó, mình đuổi cảm thọ đó ra khỏi thân tâm mình.
Ví dụ mình đang làm việc mà thấy người đó có hành động cử chỉ gì đó là mình không làm nữa "để cô đó làm đi, tôi không làm nữa", đó cũng là chướng ngại pháp trên con đường gieo trồng phước đức, vì thế mình phải diệt cái tâm ngăn trở đường tiến đạo của mình trong hai phương diện phước và huệ, bất cứ cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư nào sanh khởi lên mà ngăn trở sự tu học, sự tiến bộ, sự tinh tấn thì mình phải gột sạch tâm trí khỏi chướng ngại pháp cho nên chữ "chướng ngại pháp" ở đây mang nghĩa rất rộng, tùy vào lúc đó có pháp gì sanh khởi ra mình phải thấy biết.
Hoặc đang học mà xin về sớm vì trời mưa hoặc trời nắng quá, mệt mỏi thì đó cũng là chướng ngại pháp mà mình không nhận ra, mình không diệt cảm thọ, suy nghĩ, tư tưởng đó mà mình còn phát ra khẩu hành, làm ra thân hành là mình nhập cuộc chung với nó, nhận giặc làm con, nối giáo cho giặc. Chúng ta phải nhìn thấy được bất cứ cái gì ngăn trở sự tu học của mình, làm cho mình không tiến đạo, không tăng thượng, không hướng thượng, không tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh thì đó là chướng ngại pháp, mình phải lập tức gột rửa, tẩy sạch những thứ đó.
Qua đây chúng ta mới thấy rằng Đức Phật dạy rất kĩ, ngay khi mình đang đi, mình đang ngồi, thậm chí là ngay lúc nằm cũng được Đức Phật dạy rất kĩ "nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, hánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại" chứ không phải nằm theo kiểu đam mê, thích thú, khoan khoái trong cảm thọ ngủ đó, có lúc Đức Phật dạy quán ánh sáng, còn ở đây ngài dạy hướng tâm đến lúc mình thức dậy trở lại. Tuy mình nằm nghỉ nhưng không đam mê, không thích thú, không khoan khoái, không tham ái, không bị trói cột trong cảm giác ngủ nghỉ đó, không bị cảm giác đó nhận chìm mình. Tu phải vi tế, nhỏ nhiệm từng chút một như vậy mới trở thành bậc Thánh Tăng A-la-hán, mới thành bậc lậu tận, mới có ra các bậc hiền Thánh, Thánh chúng.
Ví dụ thủ môn chụp banh không cẩn thận để banh lọt lưới thì có khi chết người vì cá độ bóng đá, làm tán gia bại sản, nợ nần chồng chất, giảng pháp không có bao nhiêu người đi nghe mà đi xem đá banh là mấy chục ngàn người. Đó là thủ môn, bây giờ là bảo vệ, người giữ xe mà nếu người này lơ là thì hậu quả rất nhiều, bị trộm cắp, bị cháy nổ, bị khủng bố bom đạn,…. Như vậy khi nói đến chú tâm cảnh giác phải nhớ đến hình ảnh của người bảo vệ, giữ cửa, giữ xe, thủ môn, người tu chúng ta là một người gác cổng, là người giữ cửa, là người bảo vệ tâm mình đừng để chướng ngại pháp xâm nhập, xâm chiếm, áp đảo, đừng để nó cướp bóc, lấy hết Thánh sản của chúng ta.
Chúng ta phải là một người giàu có tỷ phú trong Phật giáo chứ đừng làm kẻ cùng khốn trong đạo Phật, cùng khốn là không tín, không giới, không tàm, không quý, không văn, không thí, không tuệ, những pháp này không tăng thượng được, không thể lớn mạnh, đó là người nghèo khổ, cùng khốn. Như vậy một người xuất gia, người tu hay ngay cả một người cư sĩ tại gia nếu không khéo làm một người thủ môn, người gác cổng, người bảo vệ thì chúng ta trở nên trắng tay, cả cái nhà không còn gì có giá trị.
Hằng ngày chúng ta có canh chừng tâm mình không? Có đề phòng tâm mình không? Có trông coi tâm mình không? Tâm mình chính là thọ; tưởng; hành; thức, nếu không nắm rõ sự sanh khởi, vận hành, cơ cấu hoạt động của thân tâm, không nhận diện được ngũ uẩn thì mình không thể tu được. Một người luôn canh phòng, đề phòng là một người luôn nhìn lại thọ; tưởng; hành; thức, đơn giản hơn nữa là nhìn lại thọ; tưởng; hành, nhìn lại cảm giác lúc đó là dễ chịu, khó chịu hay không dễ chịu không khó chịu, nhìn lại suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, nhìn lại hình bóng này là lành hay dữ, đó gọi là canh chừng tâm, quán chiếu tâm, quán sát tâm, để ý tâm, dò xét tâm, soi rọi tâm. Chữ "thường chiếu" nghĩa là thường soi rọi lại những cảm giác, hình bóng và suy nghĩ trong tâm, nói đầy đủ sẽ có cả nhận thức, soi rọi cả cái biết của mình. Nếu mình không rõ tâm mình thì mình nhìn lại chỉ biết một cách mù mờ, biết lơ mơ chứ mình không thấy được thọ; tưởng; hành; thức.
Ví dụ vừa bước ra cửa là nhìn thấy một bóng hồng đi ngang qua mắt mình thì mình phải xem lại cảm giác lúc đó có ái không, có dục không, có tham muốn không, sau đó nhìn lại hình bóng đó còn ám ảnh trong tâm không, kiểm tra xem đang có suy nghĩ gì, như vậy gọi là quán tâm, chiếu tâm, soi tâm. Sau khi mình nhìn thấy bóng hồng này ám ảnh trong tâm, có cảm giác dễ chịu, lưu luyến, thích thú, có suy nghĩ muốn gặp lại thì mình phải lập tức gột sạch tất cả những cái này ra khỏi tâm tư, tâm trí của mình.
Còn bây giờ mình vừa chạy xe ra thì có người kia chạy cắt ngang đầu xe mình, họ có lỗi mà còn trừng trợn mình nữa "mày chạy kiểu gì thế" thì phải xem lúc đó trong mình đang có cảm giác khó chịu, trong khó chịu có sân, sau khi mình đi về rồi hình bóng người đó vẫn còn hiện lại trong tâm, mình có suy nghĩ khó chịu. Ở đây mình thấy được khi nãy là tham ái, bi giờ là sân hận thì mình phải gột sạch nó, đó gọi là quán tâm, chiếu tâm, soi tâm, rọi tâm, rửa tâm, tẩy tâm, tu tâm nhưng nếu mình không biết tâm là gì thì làm sao tu được? Thật là khổ mà!
Nếu mình chỉ nhìn một cách sơ sài, lơ tơ mơ, nhìn phất phơ ngoài da thì mình chỉ thấy những cái thô phù, còn những cái vi tế mình không thể thấy được, lúc đó mình không biết thọ; tưởng; hành; thức, mình không biết duyên sanh pháp lúc đó vận hành ra sao. Mình phải thuộc lòng định nghĩa ngũ uẩn, thuộc lòng duyên sanh pháp thì mình mới quán chiếu được, nếu không là mình không biết gì để quán cả, mình phải biết được cái tâm, phải biết được thọ, biết được tưởng, phải biết được hành, biết được thức và phải biết được hiện giờ nó đang trong tình trạng như thế nào, cảm giác này đang là cái nào trong ba trạng thái, trong ba trạng thái đó có gì trong đó. Nếu không biết tâm là gì thì làm sao mình tu tâm, chỉnh tâm, sửa tâm, làm sao mình gột tâm, tẩy tâm, làm sao làm cho tâm mình sạch được? Làm sao mình có thể nhiếp phục, chế ngự, làm chủ được tâm, làm sao mình đi đến chỗ tâm bất động giải thoát nếu mình không biết nó là gì? Lấy chủ đề tu tâm này làm pháp học, pháp tu, làm chủ đề chia sẻ.
Lúc nào mình cũng phải nhìn lại lúc đó cảm giác ra sao, có thích thú, đam mê, khoan khoái không, nếu có là ái. Cảm giác lúc đó có thúc giục không thì đó là dục. Cảm giác lúc đó có muốn thêm nữa không, đó là tham. Chúng ta phải phân biệt được dục, tham, ái, còn nếu lúc đó mình nhập cuộc vào chung, tôi muốn ăn, tôi muốn đi chơi, tôi muốn làm cái này cái nọ thì mình không còn biết đó là cảm thọ nữa, mình không tách mình ra khỏi cảm thọ thì làm sao quán thọ trên các thọ được.
Mình có việc phải ra Hà Nội, vừa bước xuống xe là một cảnh đẹp tuyệt vời thì lúc đó phải xem lại cảm thọ như thế nào, đằng này thấy cảnh đẹp là hồ hởi chụp hình để khoe lên mạng xã hội, giống như Tôn Ngộ Không bay tới đó rồi tè lên cột đá ghi lại "Tề Thiên Đại Thánh đáo thử nhất du" nhưng không ngờ đó lại là bàn tay Như Lai Phật tổ, năm ngón tay đó là sắc; thanh; hương; vị; xúc, năm ngón tay đó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức cho nên Tôn Ngộ Không có bay cỡ nào đi nữa cũng không ra khỏi ngũ dục, ngũ uẩn, chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử mới có thể nhiếp phục, chế ngự, từ bỏ, xuất ly, thoát ly khỏi là sắc; thanh; hương; vị; xúc và sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Hằng ngày mình có hướng tâm ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức không hay chúng ta khoan khoái trong này, chúng ta hoan hỉ, yêu thích trong đó, sung sướng, tham ái trong đó? Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử là bậc luôn quán chiếu về sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thấy được tính chất vô thường, khổ đau, bất an, tan hoại, vô ngã, trống rỗng của sắc; thọ; tưởng; hành; thức để nhàm chán, ly tham, chấm dứt, thoát ra, vô văn phàm phu là khoái trong này, chìm trong này, chết trong này.
Tu tâm là nhìn lại cảm giác của mình trong mọi lúc mọi nơi, nhìn lại cái tưởng và suy nghĩ, hình bóng của mình trong mọi lúc mọi nói, kiểm tra trong cảm giác, nghĩ tưởng này là thiện hay bất thiện, có dục ái, tham, sân, bản ngã không, có hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ không, từ đó mình tẩy sạch, nhiếp phục các rác cấu uế, uế nhiễm đó. Bài học gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp rất quan trọng trong pháp hành của chúng ta, đừng nói gì ra đường mà ngay khi đắp y ngồi trên chánh điện, thấy đứng hoặc ngồi trang nghiêm mà có khi trong tâm lại sanh khởi ra tham, sân, si trong đó. Ngay lúc đó phải thấy tâm mình vận hành như thế nào thì mình tẩy sạch ngay chỗ đó.
Mình ở chùa 8 năm đã quen đứng chỗ này rồi, thế mà có cô vừa vào đã đứng ngay chỗ mình làm mình phải xuống đứng cuối cùng, thế là trong bụng khó chịu "người mới mà dám chiếm chỗ mình", mình phải nhìn thấy được cảm giác đó, hình bóng, suy nghĩ trong tâm rồi nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch thì cái đó gọi là tu tâm ngay tại chỗ đứng trên chánh điện, nếu không mình cứ đứng đó bực bội, khó chịu, sân si, không tập trung tụng kinh được, trong tâm cứ phựt lên, "chờ tụng kinh xong là biết tay mình", đó là các pháp ô uế, uế nhiễm vận hành mà mình không thấy nên mình không gột sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, mình không làm người canh cổng, gác cửa, mình không làm người bảo vệ, mình không làm người canh chừng, quán sát thân tâm của mình, không như lý giác sát nghĩa là không tỉnh giác quán sát. Làm bảo vệ mà ngồi ngủ gục thì mất xe hết, cũng vậy với thiện pháp, mình đánh mất hết vì mình không chú tâm cảnh giác.
II. Chánh niệm tỉnh giác
"Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỳ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: 'Hãy đến Tỳ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác'". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Càng ngày mức độ càng sâu sắc, càng ngày càng đi vào trong, càng ngày càng thâm thúy, thâm sâu. Mỗi một chữ trong đoạn kinh này đều là pháp hành vậy mà mình cứ đi đâu để tìm pháp hành, mình không biết tu sao trong khi ở đây chính là pháp hành, mình chỉ muốn ngồi im rồi bừng lên chứng ngộ còn tu từng chút một thì không chịu. Mình không biết sự tu là thiết thực, hiện tại trong sinh hoạt, trong mỗi oai nghi, cử chỉ của mình.
Thế nào là chánh niệm tỉnh giác?
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt ... rõ biết khi các tưởng ... rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (XI). Tôn Giả Nanda)
Kinh Nikāya đặc biệt ở chỗ nhất quán toàn bộ lời dạy của Đức Phật, không phải mình muốn nói sao là nói, đó là Đức Phật định nghĩa chánh niệm tỉnh giác. Như vậy chánh niệm tỉnh giác là rõ biết lúc đó có cảm giác gì khởi lên, rõ biết cảm giác lúc đó nó an trú như thế nào, nó có mặt như thế nào, rõ biết khi các cảm giác đó chấm dứt, mình phải rõ biết trong cả 3 giai đoạn sanh – trụ – diệt, cảm giác gì khi nó sanh lên mình phải biết, cảm giác gì khi nó tồn tại mình phải biết và khi cảm giác đó chấm dứt mình phải biết nhưng không phải chỉ biết không mà sau khi biết thì phải xử lý nó. Nếu có ăn trộm vào nhà thì mình la lên hay biết rồi ngồi đó "tôi biết ăn trộm vô nhà" là xong, ngược lại mình phải có cách báo động, gây tiếng động để trộm biết có người trong nhà để nó sợ, bỏ chạy chứ không dám lấy đồ.
Tiếp theo những hình bóng trong tâm gọi là tưởng, khi nó sanh khởi trong tâm mình phải biết, khi những hình bóng có mặt trong tâm mình phải biết và khi những hình bóng đó chấm dứt, tan biến mình cũng phải biết, như vậy gọi là chánh niệm tỉnh giác. Tỉnh giác là khi ngồi trước cửa có khách vào thì mình biết có khách vào, khách đang ở trong thì mình biết có khách đang ở trong, khách đi ra khỏi cửa mình biết khách đi ra, đó là người giữ cửa tỉnh táo, còn làm người giữ cửa mà người ta vào cũng không biết, người ta vào lấy đồ cũng không biết, người ta đi ra cũng không biết thì ông đó đang ngủ mê, đang hôn mê, ngủ gục. Tỉnh giác là ngược lại với hôn mê, với si mê, vô minh, hôn ám, ngu si.
Tầm là sự hướng tâm cũng là hành nhưng vi tế hơn hành, tầm là sự tầm cầu, mình ngồi học mà cứ nhìn lên đồng hồ thì cái tâm hướng về chỗ đó thì gọi là tầm, cho nên học cái này tất cả pháp đều sáng rực lên, qua không mắt mình được. Tâm mình hướng về chỗ đó, tầm cầu cái đó, ví dụ một người háo sắc thì tầm sắc, gặp sắc là nhìn, đó gọi là mê sắc, ham sắc, tìm sắc, cầu sắc, tầm sắc, còn người tầm thanh là nghe tiếng nhạc ở đâu là ngóng tai lên nghe, tâm mình hướng về chỗ nào thì chỗ đấy gọi là tầm, nếu là người tầm ăn thì tâm hướng về đồ ăn . Khi trong tâm mình có sự hướng tâm về chỗ nào đó thì mình phải biết tâm mình hướng về pháp, tầm cầu pháp hay tâm mình đang hướng ngoại, tầm cầu bên ngoài hay tâm mình tầm hương, thích ngửi mùi hoặc là tầm vị, tầm xúc. Trong kinh hay dùng từ dục tầm, sân tầm, hại tầm, đây là ba sự hướng tâm bất thiện.
Dục tầm là sự tầm cầu về dục, sân tầm là tâm mình hướng về tức giận, sân hận, trong phim kiếm hiệp thường nói chuyện thù oán, báo thù, dạy những sân hận, hận thù, là đó là ác bất thiện pháp, hại tầm là đi theo sân, nghĩa là giận rồi muốn người ta bị cái này bị cái kia như câu "hạnh tai lạc họa yểm tha năng", vui sướng trên sự đau khổ của người khác, chèn ép, đè ép những người có tài năng, không để họ phát huy tài năng. Người nào mình ghét mà bị cái gì là mình có suy nghĩ "cho vừa, đáng đời", đó chính là tâm ác, bất thiện pháp, là tà tư duy, ác pháp. Như vậy khi có sự hướng tâm về dục là mình thấy được ngay, hiện tại trong tâm mình đang có những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ về dục là mình biết được là đang có dục, đang có ái thì cái dục này là cấu nhiễm, cấu uế, là bẩn thỉu, bất tịnh rồi mình tác ý, quán chiếu đánh tan những cảm giác, suy nghĩ đó thì cái dục tầm đó chánh dứt, đó gọi là chánh niệm tỉnh giác.
Pháp hành rất rõ ràng, bây giờ chỉ cần thực hành là đi đến chỗ ái tận, diệt tận tất cả những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ theo chiều vô minh, tham ái, khát ái, chấp thủ. Đó là ý nghĩa của chữ tầm, mình phải xem tâm mình hướng về chỗ nào nhiều, Đức Phật dạy mình đặt tâm đúng hướng, điều này rất quan trọng, đừng để tâm đặt sai hướng. Những cây cỏ lau sậy rất bén, nếu mình cầm ngược chiều sẽ bị xước chảy máu tay, cũng vậy khi đặt tâm sai hướng thì mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não, không bao giờ đi đến an tịnh, lắng dịu, giải thoát.
"-Ví như, này các Tỳ-kheo, sợi râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch bị đặt sai hướng, khi tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm đổ máu; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì sợi râu bị đặt sai hướng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với tâm bị đặt sai hướng, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể chứng đạt Niết-bàn; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì tâm bị đặt sai hướng" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, V. Phẩm Ðặt Hướng và Trong Sáng, Tâm Ðặt Sai Hướng v.v...)
Một khi đã đặt tâm sai hướng thì đời tu của mình mãi mãi không đi đến mục đích cứu cánh của người xuất gia, ví dụ muốn đến chùa Hòa Khánh thì phải đi hướng đó nhưng mình lại đi ngược lại thì đi mãi cũng không đến chỗ mình muốn đến cho nên phải đặt tâm đúng hướng, đi đúng đường. Từ cái thấy đúng mới giúp cho mình thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, làm đúng, quán đúng và định đúng, đó là tám cái đúng của bậc Thánh, phải làm sao được cái thấy đúng thì tâm mình mới hướng đến chiều hướng đúng, còn khi tâm đã nhìn sai thì sự tầm cầu của mình sẽ sai vì thế chúng ta có bài kinh Thánh cầu, nghĩa là sự tầm cầu của bậc Thánh. Trong bài kinh này Thế Tôn nói cho mình biết ngài tầm cầu đạo như thế nào và kết quả ra sao, đó là sự tầm cầu Thánh thiện. "Khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác", thậm chí cả đại tiểu tiện mà Đức Phật cũng nhắc nhở phải tỉnh giác, không ai ngoài ngài có thể dạy mình một cách đầy đủ, vi tế, nhỏ nhiệm, khít khao, viên mãn tất cả mọi khía cạnh, góc độ trong đời sống. Nếu không khéo sẽ sanh dục, sanh ái, sanh tham khi đại tiểu tiện, còn nếu tỉnh giác thì mình sẽ thấy được sự bất tịnh rỉ chảy trong ung nhọt chín lỗ, nếu không chánh niệm tỉnh giác khi tắm giặt, đại tiểu tiện thì dục, tham, ái sẽ sanh khởi, còn nếu có chánh niệm tỉnh giác thì chân trí, Thánh trí, tuệ giác sẽ sanh khởi trong lúc đó.
./.