Thứ Tự Tu Tập 13
Thứ Tự Tu Tập 13
Thích Minh Thành
Ngày 06 tháng 12 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đoạn trừ năm triền cái PAGEREF _Toc126482411 \h 1
II. Tầng thiền PAGEREF _Toc126482412 \h 7
III. Đường đến Niết Bàn PAGEREF _Toc126482413 \h 9
IV. Năm báu vật hy hữu ở đời PAGEREF _Toc126482414 \h 18
I. Đoạn trừ năm triền cái
Để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận năm thứ che đậy tâm, làm yếu ớt trí tuệ, tác thành không mắt, tác thành vô trí làm cho thành mù lòa nên trong sự tu học của chúng ta mà không biết, không nhận diện, không nhiếp phục, chế ngự, năm triền cái thì mình không tu được gì hết. Vì tuần tự của nó là sau khi mình dẹp bỏ được, từ bỏ được năm triền cái thì bắt đầu mới đi vào bốn tầng thiền định. Đây là đạo lộ, nên đối với một người năm triền cái còn nguyên, không có một giây phút nào, thời gian nào, dù cho rất ngắn mà từ bỏ năm triền cái thì không thể đi vào trong các thiền chi, không thể nào đi vào trong sơ thiền được.
Nên tiếp theo là:
Sau khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt
Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Đây là chúng ta qua bốn tầng thiền định của bậc Thánh, gọi là Thánh chánh định. Đối với một người không thành tựu Chánh tri kiến, không thấy ngũ uẩn thì người đó tu bốn tầng thiền này vẫn có khả năng chứng đắc nhưng thiền đó gọi là phàm phu thiền. Còn đối với một người thành tựu Chánh kiến, thấy được ngũ uẩn thì tu bốn tầng thiền này trở thành Thánh chánh định. Đây là điểm khác mà chúng ta nên nắm thật vững điểm này, để tránh sau này tại sao mình không biết đó là Thánh chánh định.
Bốn tầng thiền này người không phải là Phật giáo cũng có thể tu chứng được, nhưng gọi là phàm phu thiền. Nhưng nếu là người thành tựu Chánh kiến, thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc mà người tu bốn tầng thiền này thì thiền này gọi là Thánh chánh định, thiền của bậc Thánh.
Một người thấy được ngũ uẩn mà tu tứ thiền thì thiền này gọi là Thánh chánh định, còn người không thấy ngũ uẩn thấy một cái tôi, cái ta, cái bản ngã, mà người đó tu bốn tầng thiền này thì dù có chứng đắc thì cũng là phàm phu thiền. Thiền này cũng đưa lên các cõi trời sắc và vô sắc, cõi trời dục, cõi trời sắc, cõi trời vô sắc, đưa đến cõi phi tưởng phi tưởng xứ nhưng vẫn là phàm phu thiền.
Chính vì vậy chỗ đặc thù, đặc biệt, khác biệt, bất cộng, không chung cùng với phàm phu là phương pháp nhận diện ngũ uẩn. Vì khi nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó không có một cái tôi, nó chỉ thấy sự hoạt động của năm nhóm, lúc nào mình không thấy ngũ uẩn thì lúc đó mình thấy có cái tôi, còn khi mình không thấy ngũ uẩn thì cái thấy đó là thấy của phàm, còn thấy ngũ uẩn thì cái thấy đó không phải là thấy của phàm.
Nên bất cứ lúc nào chúng ta cũng tập nhận diện ngũ uẩn, là gặp nhau để nhận diện ngũ uẩn làm bài tập với nhau, không phải đợi tới lúc Minh Thành mời thì các thầy cô mới nhận diện ngũ uẩn. Chúng ta tự tập nhận diện và chúng ta cùng với bạn chúng ta làm bài tập nhận diện ngũ uẩn, nhất là những lúc mình tham muốn, những lúc mình tức giận, những lúc mình hơn thua bản ngã thì mình phải nhận diện ngũ uẩn càng kĩ hơn.
Những lúc mình khó chịu, dễ chịu, mình phải nhận diện ngũ uẩn, xem lúc đó sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình diễn biến như thế nào. Mình để ý thật kĩ, năm triền cái khi nó xuất hiện thì mình sẽ thấy được mà, dục, tham, sân xuất hiện là mình biết không? Biết thì sau đó làm gì? Mình có nhiếp phục, chế ngự được không? Mình có trải tâm từ được không? Đó mới là điều quan trọng, biết không chưa đủ, như giờ mình biết cách làm giàu nhưng mình vẫn nghèo, hay mình dạy người ta làm giàu mà mình nghèo rớt mồng tơi, rơi củ chuối, tiền khô cháy túi mà lại dạy người ta làm giàu? Nên biết thôi là chưa đủ.
Vậy nên trong Chứng Đạo Ca có câu: “Giác tức liễu bất thi công” là không đúng, giác tức liễu là biết là xong hết, không cần ra công gì cả. Lúc trước Minh Thành rất thích, rất mê, đọc thuộc lòng, nhưng giờ học cái này nhìn lại thì thấy sai. Mình phải đi theo Thánh đạo lộ, mình ăn to, nói lớn, toàn bắn đại bác trên trời nên tham, sân, hôn trầm khởi lên mình phải biết.
Nãy giờ Minh Thành nhìn xuống thấy có hai, ba vị ngáp, nhưng nếu nhận diện được ngũ uẩn thì sẽ không ngáp như vậy. Một người ho hay ngáp, hoặc có sự khuấy động trong lớp học đều là vì không nhận diện được ngũ uẩn, không thấy được trạo cử. Mình sẽ hãm nó lại hết mức có thể, pháp hành phải như vậy, không phải nói là nói không, sinh hoạt thì không dính dáng gì.
Trong kinh tạng Nikāya, khi Đức Thế Tôn thuyết pháp, có một vị tỳ kheo nào ho thì người ngồi kế bên sẽ lấy tay vỗ người bên cạnh và nói: Này hiền giả, bậc Như Lai Chánh Đẳng Giác đang thuyết pháp, chớ có làm ồn. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, chúng hội hàng ngàn người mà người ngồi kế bên nghe được cả tiếng thở của người ngồi kế bên, trong kinh Nikāya diễn tả như vậy.
Nơi đó trang nghiêm, thanh tịnh đến vậy. Như vậy, các Ngài ấy tập trung tâm ý hết toàn tâm, toàn lực, dốc hết tất cả tấm lòng thì pháp mới thâm sâu, mới đi vào xương tủy được, mới chứng nhập được các Thánh trí tuệ. Còn mình giờ nghe lướt lướt rồi thì không biết đã nghe cái gì, nghe tới đâu vì tâm mình lơ mơ, hôn mê, tâm si mê, tâm bị năm triền cái bao phủ, che phủ bởi năm lớp màn. Ví dụ giờ mình ngồi mà thân mình dao động thì mình sẽ không tập trung được, tâm mình dao động, mình lo hóng bên ngoài thì cũng không tập trung được.
Nên nói chữ trạo cử, trạo hối thì nghe hơi khó hiểu nhưng ví dụ như vậy thì mình dễ hiểu hơn. Đó là dục, tham, sân, trạo hối, hôn trầm, hoài nghi, nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Tâm không chuyên nhất, bị phân tán.
Như Ngài A-nan-da nghe Phật thuyết pháp là không có năm triền cái, bất cứ lúc nào nghe cũng vậy nên Ngài nhớ hết, tâm như vậy là một tâm sạch, tâm trong, tâm sáng, tâm rỗng, một tâm thông suốt, chứa đựng được. Còn mình thì tâm bên trong đó chứa nhiều thứ, tâm không sạch, không trong, không sáng, không tỏ nên lúc nào cũng lờ mờ như gà mờ, giờ ngồi thiền còn mờ nhất. Giờ ngồi thiền là giờ để tỉnh thức nhưng giờ ngồi thiền lại là mờ nhất.
Tâm của chúng sanh là tâm hôn mê, mình đừng nghĩ là mình mở mắt, mình tính toán vậy là hôn mê hết. Trong Thánh trí nhìn vào là nó hôn mê hết. Nên cái này mình nhắc thật kĩ năm triền cái này rất quan trọng, như chúng ta học năm ngày mà chưa xong năm triền cái. Dù định chỉ nói về tổng cương lĩnh nhưng cuối cùng cũng phải đi chi tiết cho chúng ta. Vì mình không biết tên tuổi, mặt mũi, tính tình, bản chất của năm triền cái này thì mình không bao giờ nhiếp phục, chế ngự, diệt tận được. Nhưng nếu không chế ngự, diệt tận thì mình mãi mãi sống trong hôn mê, si mê, si ám.
Điều này rất sâu sắc, vi tế, tế nhị, nhỏ nhiễm, tinh vi. Nếu sự tu hành lướt lướt, phơn phớt là không bao giờ mình biết, đến chết cũng không biết. Nên có những người tu tự thân mình và những người chung quanh, mình nhìn xem có tật đó thì ba năm sau gặp lại cũng sẽ giống vậy. Bảy năm sau, mười năm sau mình gặp lại thì họ cũng giống vậy, không sửa được. Nhưng tu là sửa, mà không sửa được là không tu. Người lụp chụp, lăn xăn, thì mười năm sau gặp lại cũng lăn xăn, tới già thì họ cũng lăn xăn, lăn xăn là một trong năm triền cái - trạo cử.
Nên người tu phải điềm đạm, an tịnh, lắng dịu thì đó là mình diệt được lăn xăn. Đó không xa, là nhìn đi đứng, nói chuyện, xảy ra sự kiện này kia là thấy được ngay. Người đó có thành tựu được vấn đề là diệt trạo cử không. Thấy được ngay.
Khi nào diệt xong? Phải đưa ra mệnh đề, định đề, tiêu đề, tiêu chí, mục tiêu trong vòng sáu tháng, một tháng, ba tháng hay sáu tháng thì mình phải thành tựu cái gì? Và mình phải tập trung tất cả tâm ý của mình vào để đưa ra những phương pháp tác chiến, phương pháp chiến lược, đánh đổ nó. Tu là như vậy.
Ví dụ, khi mình nhìn lại nội tâm mình, dục tham này còn quá nhiều thì mình dồn hết tất cả, tập trung tâm lực để mình diệt nó, diệt những cái thô phù trước. Hoặc mình nhìn thấy mình còn quá nhiều tập khí nóng giận, hở là sân thì tập trung hết tất cả tâm ý, dùng đủ mọi cách để dập nó, diệt cho cái sân này lắng diệu xuống trước.
Sau đó mình thấy mình có hôn trầm, ngồi thiền là ngủ, vào học thì đơ đơ, ngơ ngơ, là mình dồn hết tất cả lực phải diệt con ma hôn trầm này cho nó chết, trong vòng ba tháng hoặc một tháng là chậm nhất, hay trong vòng một tuần lễ là phải có kết quả. Tu là phải như vậy, còn tu ba năm, bảy năm, mười năm vẫn như vậy là tu gì?
Ví dụ mình thấy người kinh doanh mà ba năm, năm năm cũng vậy, bảy năm thì sạt nghiệp thì làm sao gọi là người doanh nhân thành đạt? Mỗi ngày chúng ta phải thấy được cái lời, mỗi tuần, mỗi tháng chúng ta phải thấy được nó tăng thêm lên.
Mình tu cũng như vậy, nếu kêu trình pháp hay nói về vấn đề nào trong pháp thì chỉ ngồi cúi mặt, tránh né, né tránh, trốn, chui vào vỏ ốc để trốn. Đó là không nhiệt tình trong tu học, không nhiệt tâm tinh cần. Đó là từ trong kinh Tứ Niệm Xứ.
Nên năm triền cái này rất quan trọng, không diệt được năm triền cái thì làm sao đi vào nhị thiền, tam thiền, tứ thiền được? Nhưng tối thiểu là mình phải được vào sơ thiền thì mình mới nếm được hương vị vi diệu, thần diệu, pháp vị, hỷ lạc. Pháp vị thắng mọi vị, pháp thí thắng mọi thí, pháp hỷ thắng mọi hỷ. Ái diệt thắng mọi khổ.
Nếu mình không nếm được hương vị của sơ thiền thì mình không tu tiến được. Còn muốn nếm vị sơ thiền thì phải diệt được năm triền cái, phải từ bỏ được nó, ít nhất là trong một giai đoạn nào đó.
Lúc nào mà chúng ta ngồi hay đi một mình mà chúng ta không thấy trong mình không có tham gì hết, dễ chịu quá “Sao mình không giận ai? Thấy dễ chịu quá!” Trong người mình không có hôn trầm, lăn xăn, mình ngồi yên lặng hay là mình đứng đi nhẹ nhàng, thanh tịnh. Trong người không có hoài nghi, nghi ngờ gì của pháp, thấy ngũ uẩn rõ ràng, không nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự, tâm mình nhẹ, thân mình yên, giống như bông gòn, đám mây mà trong lòng mình rất vui, bình an lạ kỳ và nó vui sướng, hạnh phúc.
Mình tác ý là tâm mình giờ không dục, không ái, không tham gì, mình thấy vui sướng, hạnh phúc. Đó là trạng thái ban đầu của sơ thiền, nên đây nói là ly dục, ly bất thiện pháp. Tâm lúc đó không ham sắc, thanh, hương, vị, xúc, là năm dục trưởng dưỡng, năm thứ nuôi lớn tâm ham muốn của con người. Lúc đó tâm không hướng tới sắc đẹp, âm thanh, mùi, vị, sự tiếp xúc mà nó vui sướng, hạnh phúc, nó không nghĩ đến điều bất thiện, điều ác, nó nhẹ nhàng, thảnh thơi, bình an, hạnh phúc, vui sướng. Mình trú trong trạng thái đó và biết mình đang có tâm như vậy, mình vui sướng, hạnh phúc, thậm chí nó kéo dài một tiếng, ba tiếng, năm tiếng, bảy tiếng, một ngày, ba ngày, bảy ngày mình đều trú trong trạng thái đó.
Mình không bị lệ thuộc bởi bất cứ đối tượng ham muốn nào bên ngoài. Mình có thể đóng cửa ở một mình ba ngày, bảy ngày, mười ngày, bảy tuần, mình vẫn an lạc, hạnh phúc, mình không thấy thiếu thốn, tìm kiếm gì hết, tự trong mình có pháp lạc, pháp hỷ, thiền viện. Trong một bài kinh Đức Phật nói các vị vua nếu bây giờ cho ngồi một ngày mà không tiếp xúc, bất động thì có vui hay không? Các nhà vua trả lời là không chịu được, thì Thế Tôn nói ta có thể ngồi bất động, an lạc, hạnh phúc, chẳng những một ngày, hai ngày, ba ngày, năm ngày, bảy ngày, không cần làm gì, không có ai động thân tâm, ở trong trạng thái hỷ lạc từ sơ thiền cho đến nhị, tam, tứ thiền.
Mình phải tập, khi tu mình phải tập đóng cửa lại ở một mình, cắt giảm duyên xúc, không phải lúc nào cũng phải nhìn, phải ngó, phải nghe, cắt cả điện thoại, tắt điện thoại thử xem sao. Tâm mình bị buộc, kiết sử trong điện thoại, điện thoại không trói buộc mình, mình cũng không trói buộc điện thoại, ở giữa có dục tham thì dục tham đó trói buộc.
Trâu trắng không cột trâu đen, trâu đen không cột trâu trắng mà ở giữa có một ách, ách đó cột hai con trâu lại, mắc lại với nhau. Ách đó chính là dục tham. Bên trong này thúc giục là xem thử có ai điện không, nãy giờ học, vừa ra chơi là móc ra ngay, xem thử có ai nhắn tin gì không, không thấy ai nhắn gì, cả ngày nay không thấy ai nhắn gì…
Hay là tâm kiếm chuyện, trong chỗ vô sự thì nó sanh sự, muốn kiếm chuyện, sau đó người ta nhắn nhiều thì bực bội tại sao điện hoài, ngủ không được nên bực mình, sân lên. Bao nhiêu là trạng thái của tâm, mình không cần thì mình cứ úp xuống, hoặc cho nó về chế độ rung hoặc tắt nguồn, để chế độ máy bay cho nó lên trời luôn. Tập sống đơn độc, độc lập, không lệ thuộc, phải cắt giảm duyên xúc, tập sống một mình thì mình mới có thể đứng vững trên đôi chân của mình.
Sau này nếu chết thì chết mấy mình? Lúc mình sanh ra thì sanh mấy mình? Sanh ra một mình và chết đi cũng một mình thì tại sao khi sống một mình lại sợ? Phải tập sống một mình. Đức Phật rất tán thán sống một mình, độc cư và Ngài kể hành trạng độc cư của Ngài, không ai có thể thực hành tối thượng. Ngày xưa, trong giai đoạn Ngài tu khổ hạnh độc cư, Ngài ở ngọn núi này mà Ngài thấy được bóng người ở ngọn núi kia, Ngài chạy, không cho tiếp xúc.
II. Tầng thiền
Mình phải đọc nhiều trong kinh Nikāya để mình mới thấy được sự tu của Đức Phật.
Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Đó là sự tác ý để hạnh phúc an lạc, vị này không tác ý nữa, làm cho tâm lắng dịu xuống. Trong tâm lắng dịu thanh tịnh, yên định đó có một sự hỷ lạc, vui nhè nhẹ. Bên trong là một tâm thuần nhất, gọi là nội tỉnh nhất tâm, một tâm yên tịnh thuần nhất, nó vui nhẹ, là nhị thiền.
Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Ý nói, bỏ cả vui nhẹ đó. Giai đoạn đầu của thiền thứ nhất là nó vui cái vui thô, nó vui cả thân tâm, mình cảm thọ được trên thân và trong tâm. Vui thứ hai là vui nhẹ ở trong cảm thọ. Tới trạng thái thiền thứ ba là xả vui nhẹ trong tâm đó.
Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Bỏ những cảm thọ khổ, vui, không mừng hay lo, tâm hoàn toàn thanh tịnh, xả niệm thanh tịnh. Đây là thiền thứ tư. Nhưng đối với chúng ta hiện nay thì cần là cần thiền thứ nhất. Có những vị vào thiền thứ nhất thôi nhưng cũng chứng tới Thánh quả A-la-hán, đủ sức để phá các lậu hoặc, còn những tầng thiền càng sâu chừng nào thì càng tốt chừng đó.
Nhưng tu gọi là thiền quán trong tạng kinh Nikāya là không phải ai cũng nhất định chứng tứ thiền. Có những vị không chứng tứ thiền mà dùng tuệ quán vẫn có thể đoạn tận các lậu hoặc. Nhưng nếu được các tầng thiền hỗ trợ với tuệ thì sức mạnh rất lớn.
Thời đại bây giờ chúng ta thấy tu thiền rất khó đúng không? Mình ngồi đó có xe cộ ồn ào, bên ngoài ồn, thân mình cũng dao động, tâm mình cũng không an tịnh. Nên để tu các tầng thiền là cả một công phu mà Đức Phật đã nói trong kinh Trung Bộ âm thanh là gai nhọn của thiền định. Người muốn tu thiền mà chỗ ồn ào là tu không được, nên muốn tu thiền thì phải tìm chỗ yên tịnh, xa vắng, gọi là viễn ly xứ.
Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Đức Thế Tôn nói những bậc hữu học và vô học, hữu học là còn học còn tu, là còn cần phải học thêm, cần phải tu thêm nữa, còn các lậu hoặc, phiền não.
Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Ý nói, đối với những Tỳ-kheo là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
Đức Phật kết thúc tất cả bậc thang, đạo lộ, cả quá trình tu học từ trước đến nay thì Đức Phật tóm lại là đối với những vị Tỳ-kheo mà còn cần phải tu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu, vô thượng, an tịnh các triền ách thì đó là sự giảng giải của ta như vậy đối với những vị ấy.
III. Đường đến Niết Bàn
Chúng ta điểm lại đầu tiên Đức Thế Tôn dạy cho chúng ta cái gì?
Hãy giữ giới hạnh, hãy hộ trì các căn, hãy tiết độ trong ăn uống, hãy chú tâm cảnh giác, hãy thành tựu Chánh niệm tỉnh giác, hãy lựa một chỗ vắng để đoạn trừ năm triền cái. Sau khi đoạn trừ năm triền cái thì chứng nhập bốn tầng thiền Thánh chánh định. Đó là đạo lộ của những bậc Tỳ-kheo còn phải tu học. Còn đối với những Tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán thì các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, Chánh trí giải thoát. Những pháp ấy đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
Chúng ta có một hiểu lầm rất nguy hiểm về chữ A-la-hán này. Bậc A-la-hán là một vị tu hành cứu cánh cùng cực. Chữ Bồ Tát là chỉ cho một chúng sanh đang còn mò mẫm, quờ quạng trong bóng đêm để đi tìm đạo lộ của Chánh đẳng chánh giác. Ví dụ như Bồ Tát Tất-đạt-đa khi Ngài còn là thái tử thì lúc đó gọi là Bồ Tát, lúc đó Ngài không biết tu ra sao, là người chưa thấy được đạo lộ thành Phật thì đó gọi là Bồ Tát.
Nên chỗ này cần nghiên cứu rất kỹ, Bồ Tát là vị chưa tìm được đạo lộ giác ngộ, còn đang đi tìm thì gọi là Bồ Tát. Như trong Nikāya, Đức Phật từng nói khi ta còn là Bồ Tát, ta chưa chứng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ta suy nghĩ như sau. Có rất nhiều bản kinh trong Tương Ưng Bộ Kinh, mình đọc ở trong đó rồi mình sẽ thấy.
Ngài đang mò mẫm, quờ quạng, đi tìm con đường, đến khi Ngài tìm thấy được con đường của Bát Chánh Đạo thì Ngài ví dụ trong bài kinh Thành ấp, Ngài ví dụ như người đi lạc trong rừng, họ phát giác, phát hiện ra có một tòa lâu đài cổ bị bỏ phế trong đó. Khi Ngài đi theo lối mòn cũ thì Ngài mới phát giác, phát hiện ra cả một thành trì cổ xưa rất đẹp, vĩ đại. Một thành trì cổ kính, cổ xưa, vĩ đại mã bỏ bên, bị lãng quên, nên người này mới trở về báo với nhà vua phát hiện ra như vậy, nhà vua cho người tới đó dọn dẹp đồ ra, khai thông đường lối, đạo lộ ra thì mọi người mới biết là thành trì cổ xưa.
Đức Phật ví dụ Ngài cũng giống vậy là: ta đi theo con đường cũ, đạo lộ cũ mà thuở xưa các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã đi qua, ta đi theo con đường ấy, ta phát giác, phát hiện ra được đạo lộ của bậc Thánh. Khi Ngài phát giác, phát hiện đạo lộ đó thì Ngài diệt tận tất cả các lậu hoặc, Ngài chứng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, từ lúc đó Ngài không còn tên là Bồ Tát nữa, mà gọi là phật, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Ý nói Bồ Tát là người chưa biết đường tu một cách chính xác, mà đang còn tìm kiếm trên hành trình tìm kiếm. Còn khi đã phát giác phát hiện ra rồi, thành tựu rồi thì thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, là Phật. Nên bây giờ người ta hiểu lầm chữ Bồ Tát này rất nhiều, nếu mình tu hạnh Bồ Tát tức là mình tu trong mò mẫm. Vì Bồ Tát chưa biết được đạo lộ thành Phật, đang đi tìm. Khi Ngài thấy được đạo lộ và đi theo đó, chứng đắc thì Ngài tuyên bố là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thành Phật.
Như vậy, Đức Thế Tôn phân biệt cho mình thấy thế nào là bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thế nào là một Tỳ-kheo giải thoát. Điều này phải đọc kĩ trong kinh Nikāya mới biết. Nên bây giờ mình muốn tu Bồ Tát đạo là mình muốn tu lúc mò mẫm không biết đường đi.
Vì không thể có cùng một lúc có hai bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện nên có chỗ họ làm hai vị Phật ngồi chung với nhau là không đúng.
Trong kinh nói: trong một thời điểm, trong một thế giới, không thể có bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện. Trong một thời điểm, trong một thế giới chỉ có thể có một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện. Trong một thời điểm, trong một thế giới không thể có hai vị chuyển luân vương trong cùng một thời điểm mà xuất hiện. Một nữ nhân không thể trở thành bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác, không có một nữ nhân nào thành một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Một nữ nhân không thể trở thành một vị vua trời Đế Thích, một nữ nhân không thể trở thành một ma vương, một nữ nhân không thể trở thành phạm thiên. Đây là trong kinh Đế Thích sở vấn của Trường Bộ Kinh, bài 21.
Nên Đức Phật phân biệt một Tỳ-kheo giải thoát.
Tỳ-kheo là bậc A-la-hán các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ kiết sử, chánh trí giải thoát. Nên một người đi theo đúng đạo lộ của Đức Phật và đoạn tận hết tham, sân, si, lậu hoặc thì người đó tâm như Đức Phật, nhưng công đức không bằng vì Ngài là người đầu tiên tìm ra con đường đó. Nên người này đi theo con đường đó và thành kết quả giống y như Phật. Nên Đức Phật phân biệt giữa một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và một vị Tỳ-kheo giải thoát, tức là A-la-hán thôi. Sau này mình phát triển tư tưởng Bồ Tát vào đó, vì mình chỉ muốn mình thành Chánh Đẳng Chánh Giác thôi. Nhưng điều này rất nguy hiểm, nếu mình muốn như vậy là mình muốn làm Phật, mà không thể nào tự mình suy nghĩ ra được một pháp tu cho riêng mình, trong khi pháp tu Đức Phật chứng ngộ đây là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ.
Còn mình muốn tu thành Phật là mình muốn làm ra một con đường mới? Nên những điều này rất thâm sâu, nên mình tu là mình chỉ thành A-la-hán, tâm của mình thanh tịnh ngang với Phật nhưng công đức không bằng, vì Ngài là người đầu tiên phát giác, phát hiện ra, Ngài chỉ cho mình đi theo con đường đó, nếu đi đúng thì tâm mình thanh tịnh giống Ngài nhưng Ngài là bậc tối tôn tối thượng, vì từ Ngài mới đến các bậc đệ tử sau này. Không thể nói là “Bao giờ tu bằng Phật thì mới vừa lòng con!” Đó là ngã mạn.
Mình không thể ngồi ngang với Phật. Sau này Trung Hoa có phát triển siêu Phật diệt tổ thiền là hơn cả Phật, đạp đỉnh Tỳ-lô 47:14 bước bước hành, là đạp trên đỉnh đầu Phật, trên tỳ-lô gió na đi. Mà nói như vậy mà người ta lại thích, mà đây là những tư tưởng rất nguy hiểm, phát huy bản ngã.
Nên một vị Tỳ-kheo giải thoát là Thánh đệ tử, là đệ tử của Phật, đoạn tận tham, sân, si, diệt tận vô minh, bản ngã, thành tựu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tâm thanh tịnh ngang Phật nhưng vẫn là Thánh đệ tử. Nhờ ai mà người đó đạt được? Là nhờ Đức Phật. Mình không thể đòi ngang Phật mới được? Đó là đại ngã mạn. Cho đến khi nào giáo pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni diệt hết, không còn danh từ gì, Phật Pháp Tăng không còn thì tự có người mò mẫm, đi tìm kiếm rồi phát giác, phát hiện ra được Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo thì người đó thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, người đó mới là Phật.
Tự người đó tìm tòi đạo lộ khi mà pháp này đã bị diệt không còn gì, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo không còn, danh từ Phật Pháp Tăng không còn thì tự người đó tìm ra đạo lộ thì người đó chứng ngộ, người đó là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong một thời điểm khác, khi pháp này diệt hết thì người đó sẽ tu từ đầu trở lại, gọi là tu Bồ Tát đạo, là họ sẽ mò mẫm trong đêm dài rồi họ phát giác phát hiện, họ tìm ra đạo lộ để họ chứng ngộ, các vị đó gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Khi nào pháp này không còn, không còn ai biết Phật Thích Ca Mâu Ni là ai. Tức Bồ Tát là người mò mẫm trong bóng đêm, chưa thấy được đạo lộ. Và khi tìm được đạo lộ và chứng ngộ nó thì thành Phật.
Những người được Đức Phật hướng dẫn, dạy dỗ mà cũng thành công trong sự tu học đó thì trở thành Thánh đệ tử bậc A-la-hán, lậu tận, sạch hết tất cả cấu nhiễm, phiền não. Còn đối với những vị Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn.
Ý nói, các lậu hoặc đã hết, tu hành được thành tựu viên mãn, Đức Phật không nói là tu để trở thành Bồ Tát. Không có chỗ nào nói như vậy, những tư tưởng sau này mình đã chế ra.
Các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Chúng ta thấy đây là đã xong việc, đó là một vị tu hành cứu cánh cùng cực, cứu cánh phạm hạnh, là một vị A-la-hán, là một vị Thánh đệ tử.
Vị này giải thoát là do bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hướng dẫn, dạy dỗ, vị này làm đúng theo cách thức đó, con đường đó, đạo lộ đó, vị này thành tựu thì gọi là vị Thánh đệ tử, Thánh chúng, là bậc A-la-hán lậu tận và sự giáo hóa của các vị ngày xưa không phải như mình, mà là “Tôi dự định là chuyến này tôi sẽ làm mấy trăm ngàn người, tôi sẽ cho bao nhiêu người quy y, tổ chức lễ…”
Không phải như vậy, đây là tự giác những người đó cảm nhận rồi họ quỳ xuống, họ lạy, khóc, cầu xin quy y, trở về nương tựa Phật Pháp Tăng thì ngay tại đó họ thành quy y.
Hoặc một người kia ngỗ nghịch, phá hoại thì họ gặp Đức Phật thì họ đã hồi đầu thị ngạn, họ nghe pháp, giác ngộ và đi xuất gia, họ tu đúng thì giác ngộ thành Chánh quả.
Không giống như mình là có một chương trình, là dự án, dự định, dự toán, kế hoạch, các Ngài không có như vậy, các Ngài sẽ tùy duyên thuận pháp để hóa độ chúng sanh, còn các Ngài là không có dự định là phải làm cái này, cái này, xây bao nhiêu ngôi chùa là không có. Nếu có dự định dự toán thì đó là dục, là tham.
Tiếp theo,
Những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
– Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Samôn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Ý hỏi Ngài dạy như vậy, đầy đủ như vậy, thứ lớp, tuần tự, rõ ràng như vậy thì tất cả đệ tử của Ngài đều được chứng ngộ hết hay là có một số người không chứng ngộ?
– Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.
– Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?
– Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá)?
– Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.
– Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rajagaha". Ông nói với người ấy như sau: "Được, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu". Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Ý nói, có một người đến hỏi ông ấy thì vì ông ấy rành đường nên chỉ đường, dù cho người ấy được chỉ đường rõ ràng như vậy nhưng lại lấy con đường sai lạc đi về hướng tây.
Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi". Rồi Ông nói với người ấy như sau: "Được, này Bạn, đây là đường đi đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu". Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến Rajagaha một cách an toàn.
– Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rajagaha một cách an toàn?
– Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
– Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà- la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Tại sao có Niết-bàn? Tại sao có con đường đi đến Niết-bàn? Tại sao có Đức Phật là người chỉ đường, bậc đạo sư mà lại có người đi đến Niết-bàn, có người lại không đến?
Tại sao có thành Vương Xá? Tại sao có con đường đi đến thành Vương Xá? Tại sao có người rành đường, chỉ đường đi đến thành Vương Xá mà tại sao lại có người đi lạc và có người đi đến nơi đến chốn?
Ở đây, này Bà- la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Còn người đi là người được chỉ, nếu họ đi cẩn thận, kĩ lưỡng thì họ sẽ đi đến nơi đến chốn. Còn nếu họ cẩu thả, không siêng năng, không để tâm để ý thì họ đi lạc, đi sai, đi lầm. Cũng vậy, nên mới có Bát Chánh Đạo, Bát Tà Đạo. Bát Tà Đạo là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà mạng, tà nghiệp, tà tinh tấn, tà định. Tức là Đức Phật chỉ đường này, mình lại đi đường khác.
Ðường này đến thế gian.
Ðường kia đến Niết bàn.
Tỳ kheo, đệ tử Phật,
Phải ý thức rõ ràng
(Kinh Pháp Cú)
Ý nói mình đi lạc vì tâm vô minh, tham ái dẫn mình đi lạc, còn Đức Phật chỉ mình không lạc. Chính vì tâm vô minh, tham ái đó làm cho móp mép sự thật, chân lí nên từ Chánh pháp biến ra thành tượng pháp, mới đi đến mạt pháp. Thời đại của chúng ta là thời đại cuối của tượng pháp, tượng là mường tượng, gần giống với Chánh pháp nhưng không phải là Chánh pháp, chỉ giống nhưng không phải.
Như làm bông giả thì giống nhưng không phải, có sắc mà không có hương. Làm các bánh vẽ có ăn được không? Dù vẽ rất đẹp nhưng cầm lấy thì không phải, chỉ là bánh vẽ, không cầm ăn được. Tượng pháp là vậy, là nhìn thấy rất rõ nhưng không có thật. Không diệt được vô minh, tham, sân, si, bản ngã.
Nên điều này chúng ta cần để ý kĩ, từ cái nhìn sai của mình, mình không nhìn thấy ngũ uẩn là vô ngã, mà mình nhìn thấy được một cái tôi, cái ta là mình phải thành đạt, thành công, mình phải hơn người ta, mình phải phấn đấu lên. “Con phải phấn đấu lên thôi người ta cười. Ráng nha.
Từ lúc vào chùa đã được dạy như vậy, dạy để hơn thua, dạy để chấp ngã, mình hấp thụ giáo dục như vậy là tà kiến, làm sao Chánh tư duy sanh khởi được? Nên tà tư duy sanh khởi, suy nghĩ sai “Mình ráng học để hơn chị ở kế bên. Mình phải hơn chị ấy, chùa này mình phải đứng nhất chứ không thể đứng nhì được.
Từ lúc đầu tiêng đi vào đầu mình đã là tà kiến, suy nghĩ sai, tà tư duy thì làm sao mình nói ra đúng được hay chánh ngữ được? Mình làm sao làm đúng, sống sao sống đúng được? Rồi mình siêng năng toàn là tà tinh tấn, siêng để khuếch trương bản ngã, bành trướng cái tôi, để chiếm hữu những cái thuộc về ngã sở. Như vậy là tà tinh tấn, siêng sai, thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, quán sai, định sai. Cuối cùng là có suy nghĩ ly tham, ly sân không? Có suy nghĩ để thấy được cõi đời này là khổ không để nhàm chán từ bỏ?
Đó là tà tư duy, nghĩ sai, siêng sai. Đó là Bát Tà Đạo, vì mình sống trong đó, nếu mình sống trong Bát Chánh Đạo thì giờ có thể đã là Thánh quả thứ ba, thứ tư. Nên chỉnh từ chỗ thấy đúng đầu tiên.
Như vậy, có con đường đi đến Niết-bàn, cũng có Niết-bàn, bậc đạo sư chỉ đường chính xác cũng có mặt nhưng người đi sai, không đến được Niết-bàn. Là vì vô minh, tham ái, vì tâm không sáng, cùng với sự ham thích đối với ngũ uẩn thì tự động chế biến ra được nhiều cái, nó sáng tác ra rất nhiều cái nên chúng ta thấy ra được nhiều tông phái không?
Như giờ có các ông nhỏ giờ ra làm tổ, tự tôn mình lên làm tổ, tổ sân, nếu đụng vào thì sân rầm rầm.
Đó là tâm tham, sân, si, bản ngã của con người làm cho đi lạc, rơi vào Bát Tà Đạo, không đi theo Bát Chánh Đạo nên không đến được Niết-bàn. Niết-bàn là sự dập tắt tham, sân, si, nhưng giờ xuất phát điểm bằng tâm tham nên làm sao nó đi đến chỗ ly tham? Những suy nghĩ của nó đều là tham, những cảm giác kiếm tham, những tư tưởng, hình bóng trong nhận thức đều tham thì làm sao đi đến chỗ đoạn tận tham, nhiếp phục tham, diệt tận, tẩy sạch tham?
Đó là đạo lộ của Đức Phật, từ chỗ chân chánh, nguyên chất, sáng rực, sáng chói, chói sáng, rõ nhưng giờ bị mờ, dần dần đi đến chỗ bóng tối, cuối cùng dập tắt, mất, mạt pháp. Nhưng vô lượng, vô số, vô biên kiếp mới có một con người có đại ý chí, đại trượng phu, người này mới mò mẫm nhiều đời nhiều kiếp, vô số, vô lượng, vô biên kiếp tích tập phước báo, công đức, cho tới tận cùng người này mới tìm ra được Bát Chánh Đạo, cũng là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, không có gì khác, thì người này trở thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Người đó mới là tu hạnh Bồ Tát.
Bồ Tát là không biết đường đi, mò mẫm, đi tìm đạo lộ, còn mình là Đa văn Thánh đệ tử. Nên có nhiều bảng kinh rất xúc động, chúng ta đọc Nikāya mới thấy hay.
Có một Tỳ-kheo già, mắc bệnh nặng, rất tha thiết mong được gặp Đức Phật. Thế Tôn đi tới thì ông ấy chồm dậy, thì Đức Thế Tôn nói ông nằm yên đó đi, đừng nhóm dậy. Ông ấy nói: “Bạch Thế Tôn, con là ai mà con có thể nằm đó nghe lời Thánh chỉ.” Ông ấy lê người rồi quỳ ở dưới đất, dù đã sắp chết, nhưng vì các vị Tỳ-kheo tôn kính Thế Tôn tuyệt đối. Một người thành tựu Chánh tri kiến thì không thể có sự bất kính đối với Đức Phật, với pháp, với chúng tăng. Một người thành tựu Chánh tri kiến, là bậc Tu-đà-hoàn, thì tuyệt đối không bao giờ có một ý nghĩ chống đối một chút với Phật Pháp Tăng.
Vì làm gì có một người nào dám đưa ra pháp này, pháp kia, pháp nọ, rồi tự mình lập pháp tu, rồi mình muốn làm sếp? Không bao giờ có vậy. Trong khi đạo lộ của Thế Tôn còn đây.
Chúng ta thấy khi học về Thánh trí ngũ uẩn thì mình thấy rất rõ không? Khi thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức rồi, mình sẽ thấy được tham, sân, si, dục ái, bản ngã bên trong rồi mình tìm cách nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch nó, như vậy là xong.
Nó rõ ràng như vậy, không có gì nhiều, nên mới thành tựu được các bậc Thánh tăng rất nhiều, các bậc đắc đạo, chứng quả. Còn mình giờ nghe về vô lượng pháp môn, vô lượng thệ nguyện học, nghe là đã sợ, run dù nói gì cũng như đại bác.
Nên mình phải có một trí tuệ thâm sâu, quán sát, không phải nghe người ta sao rồi làm vậy, không phải nghe đâu làm đó, người ta sao mình vậy. Phải đi tìm đến cái căn nguyên, nguồn cội của pháp.
IV. Năm báu vật hy hữu ở đời
Nên sáng nay trong buổi đáp từ chay tăng ở chùa Bửu Liên, Minh Thành có nêu ra cho người trong gia đình biết được năm báu vật hy hữu, hiếm có, được xuất hiện ở đời. Đức Thế Tôn nói trong Tăng Chi Bộ kinh là có năm báu vật hy hữu, hiếm có, khó gặp khi mà nó xuất hiện ở đời:
Và thế nào là năm?
- Sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khó tìm được ở đời.
- Hạng người có thể thuyết giảng Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
- Người hiểu được lời thuyết giảng về Pháp là Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
- Người đem thực hành các pháp và tùy pháp được hiểu từ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
- Người biết ơn, và nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu này, này các Licchavì, khó tìm được ở đời.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Phẩm… Chương Năm Pháp – Bài kinh Tại Đền Sàrandada)
Đó là năm báu vật hy hữu, hiếm có, khó gặp xuất hiện ở đời. Thứ nhất là Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thứ hai là người hiểu được đúng Chánh pháp của Đức Phật, thứ ba là người tuyên thuyết được đúng Chánh pháp là báu vật hy hữu, hiếm có ở đời, thứ tư là người thực hành được đúng Chánh pháp đó, thứ năm là người biết ơn, nhớ ơn.
Nên người biết ơn, nhớ ơn rất quý, mình thấy vậy nhưng đa số chúng ta đều ở trong vô ơn, đã quên hết. Lúc đến nhờ người ta cho mượn tiền thì mặt tươi rói, nói ngọt ngào, nhưng đến khi mượn xong thì đòi hoài không trả, tắt điện thoại, không bắt máy.
Tương tự, là người ta làm cho mình thì mình quên hết, mà mình làm cho người ta một chút thì mình lại nhớ hoài. Vậy nên mình không phải là báu vật là vì vậy.
Còn bậc chân nhân thì đặc tính của người này là luôn luôn nhớ ơn và biết ơn đối với người có ơn. Nên trên cổng trời của chùa, vừa từ dưới đi lên đang thở hổn hển rồi bước lên mấy chục bậc thang, gần trăm bậc, ngẩng lên có thể hết hồn với câu đề ở chân núi của cổng trời: “Người thật sự là Người, là người sống biết ơn và nhớ ơn đối với những người có ơn.” Đó là câu để ở chân của cổng trời. Con người thật sự là người sống biết ơn và nhớ ơn đối với những người có ơn. Mình giờ thi ơn bố đức nhưng mình gặp người thi ơn thì mình cũng né ra sợ hãi.
Sau khi nghe, nhìn vào bên trong, soi xét hết cả quá trình rồi mới trả lời. Không nên hỏi nhưng trả lời ngay, đó là cạn cợt, không thâm sâu, phải quán chiếu trước khi trả lời. Mình trả lời vội vàng thì sau này có thể hối hận. Khi muốn trả lời một cái gì thì lắng dịu, nhìn vào bên trong, quán xét cả một quá trình, không vội thì chưa trả lời cũng được, từ từ rồi sau đó trả lời.
Trả lời liền ngay lập tức là vội vàng, hấp tấp, gấp rút, chưa suy xét cẩn thận, có thể hối hận cả đời. Tại sao người ta nói câu: Cứu vật vât trả ơn, cứu nhân nhân trả oán. Nếu không có thì làm sao người ta nói?
Không phải là tuyệt đối nhưng Đức Thế Tôn từng nói Ngài lấy tay khơi một chút đất lên dính trong móng tay của Ngài, so với đất đại địa của địa cầu này thì đất nào nhiều hơn? Bạch Thế Tôn, đất trong móng tay của Ngài rất ít, không thể nào so sánh với đất của cả địa cầu này. Này các Tỳ-kheo cũng vậy, rất nhiều là những kẻ sống không biết ơn, nhớ ơn, như đất cả địa cầu. Còn người sống biết ơn, nhớ ơn thì ít như là đất trong móng tay của ta. Đó là không phải Đức Phật làm gì, không dư thừa, không phải tự nhiên Ngài nói vậy. Phần lớn, đại đa số chúng sanh là không biết ơn, nhớ ơn.
Ví dụ, người mẹ chia cho ba, bốn người con miếng đất, người con trai được miếng đất ở mặt tiền, ba người con gái được miếng không phải là mặt tiền, trong hẻm. Những người con gái rủ rê, đồng lòng đốt nhà, đốt mẹ của họ. Đó là tâm gì? Có biết ơn không? Nhưng đó là được cho đất, không phải là bị chửi mắng.
Đó là tâm vô ơn, nhưng phân bì vì cho người con trai miếng đất ở mặt tiền nhiều tiền, còn cho tôi ở trong hẻm cho ít tiền. Đó là tâm địa ngục, ngạ quỷ, chúng sanh. Vậy nên một người muốn trở thành một người ở đời sau thì người này phải đầy đủ chất liệu biết ơn và nhớ ơn. Đức Phật vẫn chưa nói đền đơn. Đó là đặc tính của bậc Chân nhân.
Nhiều khi mình nói thì mình lấy đại bác ra bắn, bầu trời nổ tung, nhưng tu trong kinh Nikāya nói rất thực tế, rõ ràng. Nhưng toàn là những bước căn bản. Mình kiểm tra lại thử tâm biết ơn, nhớ ơn thì có đầy đủ không? Nếu còn đầy đủ thì đời sau mình còn làm người, nếu không đầy đủ thì đời sau không làm người nữa mà là làm con, không làm người hoặc chưa chắc làm con được, con là còn trong súc xanh.
Vậy mình nghĩ những người giết mẹ, đốt mẹ như vậy. Hai người con gái đã chết, người mẹ phải thay da. Người thì người ta không dám chiếu cho mình xem, nó bị lở loét, sưng lên cả một người như vậy, giờ phải lấy da mới thay vào. Đó là vì lòng tham.
Nên ngày nào Minh Thành giảng pháp cũng nói: “Cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát”. Tất cả những nỗi khổ trên đời này là dục tham. Có một lần Minh Thành đi chúc tết một vị đứng đầu một huyện, vị này nói “Thưa thầy con không có nghiên cứu Phật pháp gì nhiều, con cũng không biết nhiều nhưng thưa thiệt với thầy theo con nhìn thấy là tất cả những cái khổ trên đời từ một chữ, là chữ tham.” “Thưa thầy, Phật pháp con nghiên cứu không nhiều, nhưng con sống tới nay là năm mươi năm, con nhìn hết những chuyện xảy ra xưa nay, cổ kim, hiện tại thì tất cả những nỗi khổ trên đời từ một chữ thôi, tham.”
Chữ tham ở đây là nhìn từ góc độ bình thường, còn chữ tham trong ly tham, trong Thánh trí ngũ uẩn là rất thâm sâu, ở trong suy nghĩ, mình chưa nói ra miệng là mình thấy được suy nghĩ tham không? Mình suy nghĩ nhưng chưa nói ra cho người ta biết thì mình có biết lúc đó mình có suy nghĩ tham không? Đó mới là Thánh trí ly tham.
Còn người thế gian biết là khi nó thể hiện ra ngôn ngữ, hành động, còn trong ý thì người ta không biết. Ví dụ mình đi ngang mình nhìn thấy cái bình này đẹp thì suy nghĩ “Ước gì mình đem cái bình này về chắc để trong phòng mình đẹp lắm.” Mình không nói ra thì người khác không biết nhưng mình biết không? Mình biết là suy nghĩ này tham, cần phải từ bỏ, “Tại sao tu mà còn quyết định ăn trộm, ăn cắp?” Mình tác ý như vậy, mình diệt suy nghĩ này, đó là ly tham tối thượng.
Mỗi ngày Minh Thành chia sẻ pháp trên Linh Quy đều niệm Phật Pháp Tăng giới, trong phần niệm Pháp là “Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát.” Nhắc nhở cho mình, cho mọi người và nhắc nhở cho tổng cương lĩnh toàn bộ Thánh điển của Đức Phật là ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nếu bỏ chữ ly thì thành tà, không còn chánh nữa. Nên nếu mình tu không khéo thì người khác có thể nói mình, nên điều này cần phải được hướng dẫn tu học khi mới còn tập sự xuất gia, sau khi xuất gia thì phải học điều này, trong giai đoạn làm Sa-di thì phải đào tạo nhuần nhuyễn điều này, tân Tỳ-kheo năm năm phải tu tập bốn giai đoạn tập sự xuất gia. Mới xuất gia, Sa-di, tân Tỳ-kheo là phải học cho nhuần nhuyễn, đào tạo hàng chục năm.
Nên suy nghĩ về hai chữ ly tham, xem mình có ly tham chưa? Ly được bao nhiêu?
Thích Minh Thành
Ngày 06 tháng 12 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đoạn trừ năm triền cái PAGEREF _Toc126482411 \h 1
II. Tầng thiền PAGEREF _Toc126482412 \h 7
III. Đường đến Niết Bàn PAGEREF _Toc126482413 \h 9
IV. Năm báu vật hy hữu ở đời PAGEREF _Toc126482414 \h 18
I. Đoạn trừ năm triền cái
Để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận năm thứ che đậy tâm, làm yếu ớt trí tuệ, tác thành không mắt, tác thành vô trí làm cho thành mù lòa nên trong sự tu học của chúng ta mà không biết, không nhận diện, không nhiếp phục, chế ngự, năm triền cái thì mình không tu được gì hết. Vì tuần tự của nó là sau khi mình dẹp bỏ được, từ bỏ được năm triền cái thì bắt đầu mới đi vào bốn tầng thiền định. Đây là đạo lộ, nên đối với một người năm triền cái còn nguyên, không có một giây phút nào, thời gian nào, dù cho rất ngắn mà từ bỏ năm triền cái thì không thể đi vào trong các thiền chi, không thể nào đi vào trong sơ thiền được.
Nên tiếp theo là:
Sau khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt
Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Đây là chúng ta qua bốn tầng thiền định của bậc Thánh, gọi là Thánh chánh định. Đối với một người không thành tựu Chánh tri kiến, không thấy ngũ uẩn thì người đó tu bốn tầng thiền này vẫn có khả năng chứng đắc nhưng thiền đó gọi là phàm phu thiền. Còn đối với một người thành tựu Chánh kiến, thấy được ngũ uẩn thì tu bốn tầng thiền này trở thành Thánh chánh định. Đây là điểm khác mà chúng ta nên nắm thật vững điểm này, để tránh sau này tại sao mình không biết đó là Thánh chánh định.
Bốn tầng thiền này người không phải là Phật giáo cũng có thể tu chứng được, nhưng gọi là phàm phu thiền. Nhưng nếu là người thành tựu Chánh kiến, thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc mà người tu bốn tầng thiền này thì thiền này gọi là Thánh chánh định, thiền của bậc Thánh.
Một người thấy được ngũ uẩn mà tu tứ thiền thì thiền này gọi là Thánh chánh định, còn người không thấy ngũ uẩn thấy một cái tôi, cái ta, cái bản ngã, mà người đó tu bốn tầng thiền này thì dù có chứng đắc thì cũng là phàm phu thiền. Thiền này cũng đưa lên các cõi trời sắc và vô sắc, cõi trời dục, cõi trời sắc, cõi trời vô sắc, đưa đến cõi phi tưởng phi tưởng xứ nhưng vẫn là phàm phu thiền.
Chính vì vậy chỗ đặc thù, đặc biệt, khác biệt, bất cộng, không chung cùng với phàm phu là phương pháp nhận diện ngũ uẩn. Vì khi nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó không có một cái tôi, nó chỉ thấy sự hoạt động của năm nhóm, lúc nào mình không thấy ngũ uẩn thì lúc đó mình thấy có cái tôi, còn khi mình không thấy ngũ uẩn thì cái thấy đó là thấy của phàm, còn thấy ngũ uẩn thì cái thấy đó không phải là thấy của phàm.
Nên bất cứ lúc nào chúng ta cũng tập nhận diện ngũ uẩn, là gặp nhau để nhận diện ngũ uẩn làm bài tập với nhau, không phải đợi tới lúc Minh Thành mời thì các thầy cô mới nhận diện ngũ uẩn. Chúng ta tự tập nhận diện và chúng ta cùng với bạn chúng ta làm bài tập nhận diện ngũ uẩn, nhất là những lúc mình tham muốn, những lúc mình tức giận, những lúc mình hơn thua bản ngã thì mình phải nhận diện ngũ uẩn càng kĩ hơn.
Những lúc mình khó chịu, dễ chịu, mình phải nhận diện ngũ uẩn, xem lúc đó sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình diễn biến như thế nào. Mình để ý thật kĩ, năm triền cái khi nó xuất hiện thì mình sẽ thấy được mà, dục, tham, sân xuất hiện là mình biết không? Biết thì sau đó làm gì? Mình có nhiếp phục, chế ngự được không? Mình có trải tâm từ được không? Đó mới là điều quan trọng, biết không chưa đủ, như giờ mình biết cách làm giàu nhưng mình vẫn nghèo, hay mình dạy người ta làm giàu mà mình nghèo rớt mồng tơi, rơi củ chuối, tiền khô cháy túi mà lại dạy người ta làm giàu? Nên biết thôi là chưa đủ.
Vậy nên trong Chứng Đạo Ca có câu: “Giác tức liễu bất thi công” là không đúng, giác tức liễu là biết là xong hết, không cần ra công gì cả. Lúc trước Minh Thành rất thích, rất mê, đọc thuộc lòng, nhưng giờ học cái này nhìn lại thì thấy sai. Mình phải đi theo Thánh đạo lộ, mình ăn to, nói lớn, toàn bắn đại bác trên trời nên tham, sân, hôn trầm khởi lên mình phải biết.
Nãy giờ Minh Thành nhìn xuống thấy có hai, ba vị ngáp, nhưng nếu nhận diện được ngũ uẩn thì sẽ không ngáp như vậy. Một người ho hay ngáp, hoặc có sự khuấy động trong lớp học đều là vì không nhận diện được ngũ uẩn, không thấy được trạo cử. Mình sẽ hãm nó lại hết mức có thể, pháp hành phải như vậy, không phải nói là nói không, sinh hoạt thì không dính dáng gì.
Trong kinh tạng Nikāya, khi Đức Thế Tôn thuyết pháp, có một vị tỳ kheo nào ho thì người ngồi kế bên sẽ lấy tay vỗ người bên cạnh và nói: Này hiền giả, bậc Như Lai Chánh Đẳng Giác đang thuyết pháp, chớ có làm ồn. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, chúng hội hàng ngàn người mà người ngồi kế bên nghe được cả tiếng thở của người ngồi kế bên, trong kinh Nikāya diễn tả như vậy.
Nơi đó trang nghiêm, thanh tịnh đến vậy. Như vậy, các Ngài ấy tập trung tâm ý hết toàn tâm, toàn lực, dốc hết tất cả tấm lòng thì pháp mới thâm sâu, mới đi vào xương tủy được, mới chứng nhập được các Thánh trí tuệ. Còn mình giờ nghe lướt lướt rồi thì không biết đã nghe cái gì, nghe tới đâu vì tâm mình lơ mơ, hôn mê, tâm si mê, tâm bị năm triền cái bao phủ, che phủ bởi năm lớp màn. Ví dụ giờ mình ngồi mà thân mình dao động thì mình sẽ không tập trung được, tâm mình dao động, mình lo hóng bên ngoài thì cũng không tập trung được.
Nên nói chữ trạo cử, trạo hối thì nghe hơi khó hiểu nhưng ví dụ như vậy thì mình dễ hiểu hơn. Đó là dục, tham, sân, trạo hối, hôn trầm, hoài nghi, nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Tâm không chuyên nhất, bị phân tán.
Như Ngài A-nan-da nghe Phật thuyết pháp là không có năm triền cái, bất cứ lúc nào nghe cũng vậy nên Ngài nhớ hết, tâm như vậy là một tâm sạch, tâm trong, tâm sáng, tâm rỗng, một tâm thông suốt, chứa đựng được. Còn mình thì tâm bên trong đó chứa nhiều thứ, tâm không sạch, không trong, không sáng, không tỏ nên lúc nào cũng lờ mờ như gà mờ, giờ ngồi thiền còn mờ nhất. Giờ ngồi thiền là giờ để tỉnh thức nhưng giờ ngồi thiền lại là mờ nhất.
Tâm của chúng sanh là tâm hôn mê, mình đừng nghĩ là mình mở mắt, mình tính toán vậy là hôn mê hết. Trong Thánh trí nhìn vào là nó hôn mê hết. Nên cái này mình nhắc thật kĩ năm triền cái này rất quan trọng, như chúng ta học năm ngày mà chưa xong năm triền cái. Dù định chỉ nói về tổng cương lĩnh nhưng cuối cùng cũng phải đi chi tiết cho chúng ta. Vì mình không biết tên tuổi, mặt mũi, tính tình, bản chất của năm triền cái này thì mình không bao giờ nhiếp phục, chế ngự, diệt tận được. Nhưng nếu không chế ngự, diệt tận thì mình mãi mãi sống trong hôn mê, si mê, si ám.
Điều này rất sâu sắc, vi tế, tế nhị, nhỏ nhiễm, tinh vi. Nếu sự tu hành lướt lướt, phơn phớt là không bao giờ mình biết, đến chết cũng không biết. Nên có những người tu tự thân mình và những người chung quanh, mình nhìn xem có tật đó thì ba năm sau gặp lại cũng sẽ giống vậy. Bảy năm sau, mười năm sau mình gặp lại thì họ cũng giống vậy, không sửa được. Nhưng tu là sửa, mà không sửa được là không tu. Người lụp chụp, lăn xăn, thì mười năm sau gặp lại cũng lăn xăn, tới già thì họ cũng lăn xăn, lăn xăn là một trong năm triền cái - trạo cử.
Nên người tu phải điềm đạm, an tịnh, lắng dịu thì đó là mình diệt được lăn xăn. Đó không xa, là nhìn đi đứng, nói chuyện, xảy ra sự kiện này kia là thấy được ngay. Người đó có thành tựu được vấn đề là diệt trạo cử không. Thấy được ngay.
Khi nào diệt xong? Phải đưa ra mệnh đề, định đề, tiêu đề, tiêu chí, mục tiêu trong vòng sáu tháng, một tháng, ba tháng hay sáu tháng thì mình phải thành tựu cái gì? Và mình phải tập trung tất cả tâm ý của mình vào để đưa ra những phương pháp tác chiến, phương pháp chiến lược, đánh đổ nó. Tu là như vậy.
Ví dụ, khi mình nhìn lại nội tâm mình, dục tham này còn quá nhiều thì mình dồn hết tất cả, tập trung tâm lực để mình diệt nó, diệt những cái thô phù trước. Hoặc mình nhìn thấy mình còn quá nhiều tập khí nóng giận, hở là sân thì tập trung hết tất cả tâm ý, dùng đủ mọi cách để dập nó, diệt cho cái sân này lắng diệu xuống trước.
Sau đó mình thấy mình có hôn trầm, ngồi thiền là ngủ, vào học thì đơ đơ, ngơ ngơ, là mình dồn hết tất cả lực phải diệt con ma hôn trầm này cho nó chết, trong vòng ba tháng hoặc một tháng là chậm nhất, hay trong vòng một tuần lễ là phải có kết quả. Tu là phải như vậy, còn tu ba năm, bảy năm, mười năm vẫn như vậy là tu gì?
Ví dụ mình thấy người kinh doanh mà ba năm, năm năm cũng vậy, bảy năm thì sạt nghiệp thì làm sao gọi là người doanh nhân thành đạt? Mỗi ngày chúng ta phải thấy được cái lời, mỗi tuần, mỗi tháng chúng ta phải thấy được nó tăng thêm lên.
Mình tu cũng như vậy, nếu kêu trình pháp hay nói về vấn đề nào trong pháp thì chỉ ngồi cúi mặt, tránh né, né tránh, trốn, chui vào vỏ ốc để trốn. Đó là không nhiệt tình trong tu học, không nhiệt tâm tinh cần. Đó là từ trong kinh Tứ Niệm Xứ.
Nên năm triền cái này rất quan trọng, không diệt được năm triền cái thì làm sao đi vào nhị thiền, tam thiền, tứ thiền được? Nhưng tối thiểu là mình phải được vào sơ thiền thì mình mới nếm được hương vị vi diệu, thần diệu, pháp vị, hỷ lạc. Pháp vị thắng mọi vị, pháp thí thắng mọi thí, pháp hỷ thắng mọi hỷ. Ái diệt thắng mọi khổ.
Nếu mình không nếm được hương vị của sơ thiền thì mình không tu tiến được. Còn muốn nếm vị sơ thiền thì phải diệt được năm triền cái, phải từ bỏ được nó, ít nhất là trong một giai đoạn nào đó.
Lúc nào mà chúng ta ngồi hay đi một mình mà chúng ta không thấy trong mình không có tham gì hết, dễ chịu quá “Sao mình không giận ai? Thấy dễ chịu quá!” Trong người mình không có hôn trầm, lăn xăn, mình ngồi yên lặng hay là mình đứng đi nhẹ nhàng, thanh tịnh. Trong người không có hoài nghi, nghi ngờ gì của pháp, thấy ngũ uẩn rõ ràng, không nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự, tâm mình nhẹ, thân mình yên, giống như bông gòn, đám mây mà trong lòng mình rất vui, bình an lạ kỳ và nó vui sướng, hạnh phúc.
Mình tác ý là tâm mình giờ không dục, không ái, không tham gì, mình thấy vui sướng, hạnh phúc. Đó là trạng thái ban đầu của sơ thiền, nên đây nói là ly dục, ly bất thiện pháp. Tâm lúc đó không ham sắc, thanh, hương, vị, xúc, là năm dục trưởng dưỡng, năm thứ nuôi lớn tâm ham muốn của con người. Lúc đó tâm không hướng tới sắc đẹp, âm thanh, mùi, vị, sự tiếp xúc mà nó vui sướng, hạnh phúc, nó không nghĩ đến điều bất thiện, điều ác, nó nhẹ nhàng, thảnh thơi, bình an, hạnh phúc, vui sướng. Mình trú trong trạng thái đó và biết mình đang có tâm như vậy, mình vui sướng, hạnh phúc, thậm chí nó kéo dài một tiếng, ba tiếng, năm tiếng, bảy tiếng, một ngày, ba ngày, bảy ngày mình đều trú trong trạng thái đó.
Mình không bị lệ thuộc bởi bất cứ đối tượng ham muốn nào bên ngoài. Mình có thể đóng cửa ở một mình ba ngày, bảy ngày, mười ngày, bảy tuần, mình vẫn an lạc, hạnh phúc, mình không thấy thiếu thốn, tìm kiếm gì hết, tự trong mình có pháp lạc, pháp hỷ, thiền viện. Trong một bài kinh Đức Phật nói các vị vua nếu bây giờ cho ngồi một ngày mà không tiếp xúc, bất động thì có vui hay không? Các nhà vua trả lời là không chịu được, thì Thế Tôn nói ta có thể ngồi bất động, an lạc, hạnh phúc, chẳng những một ngày, hai ngày, ba ngày, năm ngày, bảy ngày, không cần làm gì, không có ai động thân tâm, ở trong trạng thái hỷ lạc từ sơ thiền cho đến nhị, tam, tứ thiền.
Mình phải tập, khi tu mình phải tập đóng cửa lại ở một mình, cắt giảm duyên xúc, không phải lúc nào cũng phải nhìn, phải ngó, phải nghe, cắt cả điện thoại, tắt điện thoại thử xem sao. Tâm mình bị buộc, kiết sử trong điện thoại, điện thoại không trói buộc mình, mình cũng không trói buộc điện thoại, ở giữa có dục tham thì dục tham đó trói buộc.
Trâu trắng không cột trâu đen, trâu đen không cột trâu trắng mà ở giữa có một ách, ách đó cột hai con trâu lại, mắc lại với nhau. Ách đó chính là dục tham. Bên trong này thúc giục là xem thử có ai điện không, nãy giờ học, vừa ra chơi là móc ra ngay, xem thử có ai nhắn tin gì không, không thấy ai nhắn gì, cả ngày nay không thấy ai nhắn gì…
Hay là tâm kiếm chuyện, trong chỗ vô sự thì nó sanh sự, muốn kiếm chuyện, sau đó người ta nhắn nhiều thì bực bội tại sao điện hoài, ngủ không được nên bực mình, sân lên. Bao nhiêu là trạng thái của tâm, mình không cần thì mình cứ úp xuống, hoặc cho nó về chế độ rung hoặc tắt nguồn, để chế độ máy bay cho nó lên trời luôn. Tập sống đơn độc, độc lập, không lệ thuộc, phải cắt giảm duyên xúc, tập sống một mình thì mình mới có thể đứng vững trên đôi chân của mình.
Sau này nếu chết thì chết mấy mình? Lúc mình sanh ra thì sanh mấy mình? Sanh ra một mình và chết đi cũng một mình thì tại sao khi sống một mình lại sợ? Phải tập sống một mình. Đức Phật rất tán thán sống một mình, độc cư và Ngài kể hành trạng độc cư của Ngài, không ai có thể thực hành tối thượng. Ngày xưa, trong giai đoạn Ngài tu khổ hạnh độc cư, Ngài ở ngọn núi này mà Ngài thấy được bóng người ở ngọn núi kia, Ngài chạy, không cho tiếp xúc.
II. Tầng thiền
Mình phải đọc nhiều trong kinh Nikāya để mình mới thấy được sự tu của Đức Phật.
Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Đó là sự tác ý để hạnh phúc an lạc, vị này không tác ý nữa, làm cho tâm lắng dịu xuống. Trong tâm lắng dịu thanh tịnh, yên định đó có một sự hỷ lạc, vui nhè nhẹ. Bên trong là một tâm thuần nhất, gọi là nội tỉnh nhất tâm, một tâm yên tịnh thuần nhất, nó vui nhẹ, là nhị thiền.
Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Ý nói, bỏ cả vui nhẹ đó. Giai đoạn đầu của thiền thứ nhất là nó vui cái vui thô, nó vui cả thân tâm, mình cảm thọ được trên thân và trong tâm. Vui thứ hai là vui nhẹ ở trong cảm thọ. Tới trạng thái thiền thứ ba là xả vui nhẹ trong tâm đó.
Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Bỏ những cảm thọ khổ, vui, không mừng hay lo, tâm hoàn toàn thanh tịnh, xả niệm thanh tịnh. Đây là thiền thứ tư. Nhưng đối với chúng ta hiện nay thì cần là cần thiền thứ nhất. Có những vị vào thiền thứ nhất thôi nhưng cũng chứng tới Thánh quả A-la-hán, đủ sức để phá các lậu hoặc, còn những tầng thiền càng sâu chừng nào thì càng tốt chừng đó.
Nhưng tu gọi là thiền quán trong tạng kinh Nikāya là không phải ai cũng nhất định chứng tứ thiền. Có những vị không chứng tứ thiền mà dùng tuệ quán vẫn có thể đoạn tận các lậu hoặc. Nhưng nếu được các tầng thiền hỗ trợ với tuệ thì sức mạnh rất lớn.
Thời đại bây giờ chúng ta thấy tu thiền rất khó đúng không? Mình ngồi đó có xe cộ ồn ào, bên ngoài ồn, thân mình cũng dao động, tâm mình cũng không an tịnh. Nên để tu các tầng thiền là cả một công phu mà Đức Phật đã nói trong kinh Trung Bộ âm thanh là gai nhọn của thiền định. Người muốn tu thiền mà chỗ ồn ào là tu không được, nên muốn tu thiền thì phải tìm chỗ yên tịnh, xa vắng, gọi là viễn ly xứ.
Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Đức Thế Tôn nói những bậc hữu học và vô học, hữu học là còn học còn tu, là còn cần phải học thêm, cần phải tu thêm nữa, còn các lậu hoặc, phiền não.
Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Ý nói, đối với những Tỳ-kheo là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
Đức Phật kết thúc tất cả bậc thang, đạo lộ, cả quá trình tu học từ trước đến nay thì Đức Phật tóm lại là đối với những vị Tỳ-kheo mà còn cần phải tu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu, vô thượng, an tịnh các triền ách thì đó là sự giảng giải của ta như vậy đối với những vị ấy.
III. Đường đến Niết Bàn
Chúng ta điểm lại đầu tiên Đức Thế Tôn dạy cho chúng ta cái gì?
Hãy giữ giới hạnh, hãy hộ trì các căn, hãy tiết độ trong ăn uống, hãy chú tâm cảnh giác, hãy thành tựu Chánh niệm tỉnh giác, hãy lựa một chỗ vắng để đoạn trừ năm triền cái. Sau khi đoạn trừ năm triền cái thì chứng nhập bốn tầng thiền Thánh chánh định. Đó là đạo lộ của những bậc Tỳ-kheo còn phải tu học. Còn đối với những Tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán thì các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, Chánh trí giải thoát. Những pháp ấy đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
Chúng ta có một hiểu lầm rất nguy hiểm về chữ A-la-hán này. Bậc A-la-hán là một vị tu hành cứu cánh cùng cực. Chữ Bồ Tát là chỉ cho một chúng sanh đang còn mò mẫm, quờ quạng trong bóng đêm để đi tìm đạo lộ của Chánh đẳng chánh giác. Ví dụ như Bồ Tát Tất-đạt-đa khi Ngài còn là thái tử thì lúc đó gọi là Bồ Tát, lúc đó Ngài không biết tu ra sao, là người chưa thấy được đạo lộ thành Phật thì đó gọi là Bồ Tát.
Nên chỗ này cần nghiên cứu rất kỹ, Bồ Tát là vị chưa tìm được đạo lộ giác ngộ, còn đang đi tìm thì gọi là Bồ Tát. Như trong Nikāya, Đức Phật từng nói khi ta còn là Bồ Tát, ta chưa chứng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ta suy nghĩ như sau. Có rất nhiều bản kinh trong Tương Ưng Bộ Kinh, mình đọc ở trong đó rồi mình sẽ thấy.
Ngài đang mò mẫm, quờ quạng, đi tìm con đường, đến khi Ngài tìm thấy được con đường của Bát Chánh Đạo thì Ngài ví dụ trong bài kinh Thành ấp, Ngài ví dụ như người đi lạc trong rừng, họ phát giác, phát hiện ra có một tòa lâu đài cổ bị bỏ phế trong đó. Khi Ngài đi theo lối mòn cũ thì Ngài mới phát giác, phát hiện ra cả một thành trì cổ xưa rất đẹp, vĩ đại. Một thành trì cổ kính, cổ xưa, vĩ đại mã bỏ bên, bị lãng quên, nên người này mới trở về báo với nhà vua phát hiện ra như vậy, nhà vua cho người tới đó dọn dẹp đồ ra, khai thông đường lối, đạo lộ ra thì mọi người mới biết là thành trì cổ xưa.
Đức Phật ví dụ Ngài cũng giống vậy là: ta đi theo con đường cũ, đạo lộ cũ mà thuở xưa các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã đi qua, ta đi theo con đường ấy, ta phát giác, phát hiện ra được đạo lộ của bậc Thánh. Khi Ngài phát giác, phát hiện đạo lộ đó thì Ngài diệt tận tất cả các lậu hoặc, Ngài chứng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, từ lúc đó Ngài không còn tên là Bồ Tát nữa, mà gọi là phật, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Ý nói Bồ Tát là người chưa biết đường tu một cách chính xác, mà đang còn tìm kiếm trên hành trình tìm kiếm. Còn khi đã phát giác phát hiện ra rồi, thành tựu rồi thì thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, là Phật. Nên bây giờ người ta hiểu lầm chữ Bồ Tát này rất nhiều, nếu mình tu hạnh Bồ Tát tức là mình tu trong mò mẫm. Vì Bồ Tát chưa biết được đạo lộ thành Phật, đang đi tìm. Khi Ngài thấy được đạo lộ và đi theo đó, chứng đắc thì Ngài tuyên bố là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thành Phật.
Như vậy, Đức Thế Tôn phân biệt cho mình thấy thế nào là bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thế nào là một Tỳ-kheo giải thoát. Điều này phải đọc kĩ trong kinh Nikāya mới biết. Nên bây giờ mình muốn tu Bồ Tát đạo là mình muốn tu lúc mò mẫm không biết đường đi.
Vì không thể có cùng một lúc có hai bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện nên có chỗ họ làm hai vị Phật ngồi chung với nhau là không đúng.
Trong kinh nói: trong một thời điểm, trong một thế giới, không thể có bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện. Trong một thời điểm, trong một thế giới chỉ có thể có một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện. Trong một thời điểm, trong một thế giới không thể có hai vị chuyển luân vương trong cùng một thời điểm mà xuất hiện. Một nữ nhân không thể trở thành bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác, không có một nữ nhân nào thành một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Một nữ nhân không thể trở thành một vị vua trời Đế Thích, một nữ nhân không thể trở thành một ma vương, một nữ nhân không thể trở thành phạm thiên. Đây là trong kinh Đế Thích sở vấn của Trường Bộ Kinh, bài 21.
Nên Đức Phật phân biệt một Tỳ-kheo giải thoát.
Tỳ-kheo là bậc A-la-hán các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ kiết sử, chánh trí giải thoát. Nên một người đi theo đúng đạo lộ của Đức Phật và đoạn tận hết tham, sân, si, lậu hoặc thì người đó tâm như Đức Phật, nhưng công đức không bằng vì Ngài là người đầu tiên tìm ra con đường đó. Nên người này đi theo con đường đó và thành kết quả giống y như Phật. Nên Đức Phật phân biệt giữa một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và một vị Tỳ-kheo giải thoát, tức là A-la-hán thôi. Sau này mình phát triển tư tưởng Bồ Tát vào đó, vì mình chỉ muốn mình thành Chánh Đẳng Chánh Giác thôi. Nhưng điều này rất nguy hiểm, nếu mình muốn như vậy là mình muốn làm Phật, mà không thể nào tự mình suy nghĩ ra được một pháp tu cho riêng mình, trong khi pháp tu Đức Phật chứng ngộ đây là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ.
Còn mình muốn tu thành Phật là mình muốn làm ra một con đường mới? Nên những điều này rất thâm sâu, nên mình tu là mình chỉ thành A-la-hán, tâm của mình thanh tịnh ngang với Phật nhưng công đức không bằng, vì Ngài là người đầu tiên phát giác, phát hiện ra, Ngài chỉ cho mình đi theo con đường đó, nếu đi đúng thì tâm mình thanh tịnh giống Ngài nhưng Ngài là bậc tối tôn tối thượng, vì từ Ngài mới đến các bậc đệ tử sau này. Không thể nói là “Bao giờ tu bằng Phật thì mới vừa lòng con!” Đó là ngã mạn.
Mình không thể ngồi ngang với Phật. Sau này Trung Hoa có phát triển siêu Phật diệt tổ thiền là hơn cả Phật, đạp đỉnh Tỳ-lô 47:14 bước bước hành, là đạp trên đỉnh đầu Phật, trên tỳ-lô gió na đi. Mà nói như vậy mà người ta lại thích, mà đây là những tư tưởng rất nguy hiểm, phát huy bản ngã.
Nên một vị Tỳ-kheo giải thoát là Thánh đệ tử, là đệ tử của Phật, đoạn tận tham, sân, si, diệt tận vô minh, bản ngã, thành tựu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tâm thanh tịnh ngang Phật nhưng vẫn là Thánh đệ tử. Nhờ ai mà người đó đạt được? Là nhờ Đức Phật. Mình không thể đòi ngang Phật mới được? Đó là đại ngã mạn. Cho đến khi nào giáo pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni diệt hết, không còn danh từ gì, Phật Pháp Tăng không còn thì tự có người mò mẫm, đi tìm kiếm rồi phát giác, phát hiện ra được Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo thì người đó thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, người đó mới là Phật.
Tự người đó tìm tòi đạo lộ khi mà pháp này đã bị diệt không còn gì, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo không còn, danh từ Phật Pháp Tăng không còn thì tự người đó tìm ra đạo lộ thì người đó chứng ngộ, người đó là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong một thời điểm khác, khi pháp này diệt hết thì người đó sẽ tu từ đầu trở lại, gọi là tu Bồ Tát đạo, là họ sẽ mò mẫm trong đêm dài rồi họ phát giác phát hiện, họ tìm ra đạo lộ để họ chứng ngộ, các vị đó gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Khi nào pháp này không còn, không còn ai biết Phật Thích Ca Mâu Ni là ai. Tức Bồ Tát là người mò mẫm trong bóng đêm, chưa thấy được đạo lộ. Và khi tìm được đạo lộ và chứng ngộ nó thì thành Phật.
Những người được Đức Phật hướng dẫn, dạy dỗ mà cũng thành công trong sự tu học đó thì trở thành Thánh đệ tử bậc A-la-hán, lậu tận, sạch hết tất cả cấu nhiễm, phiền não. Còn đối với những vị Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn.
Ý nói, các lậu hoặc đã hết, tu hành được thành tựu viên mãn, Đức Phật không nói là tu để trở thành Bồ Tát. Không có chỗ nào nói như vậy, những tư tưởng sau này mình đã chế ra.
Các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Chúng ta thấy đây là đã xong việc, đó là một vị tu hành cứu cánh cùng cực, cứu cánh phạm hạnh, là một vị A-la-hán, là một vị Thánh đệ tử.
Vị này giải thoát là do bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hướng dẫn, dạy dỗ, vị này làm đúng theo cách thức đó, con đường đó, đạo lộ đó, vị này thành tựu thì gọi là vị Thánh đệ tử, Thánh chúng, là bậc A-la-hán lậu tận và sự giáo hóa của các vị ngày xưa không phải như mình, mà là “Tôi dự định là chuyến này tôi sẽ làm mấy trăm ngàn người, tôi sẽ cho bao nhiêu người quy y, tổ chức lễ…”
Không phải như vậy, đây là tự giác những người đó cảm nhận rồi họ quỳ xuống, họ lạy, khóc, cầu xin quy y, trở về nương tựa Phật Pháp Tăng thì ngay tại đó họ thành quy y.
Hoặc một người kia ngỗ nghịch, phá hoại thì họ gặp Đức Phật thì họ đã hồi đầu thị ngạn, họ nghe pháp, giác ngộ và đi xuất gia, họ tu đúng thì giác ngộ thành Chánh quả.
Không giống như mình là có một chương trình, là dự án, dự định, dự toán, kế hoạch, các Ngài không có như vậy, các Ngài sẽ tùy duyên thuận pháp để hóa độ chúng sanh, còn các Ngài là không có dự định là phải làm cái này, cái này, xây bao nhiêu ngôi chùa là không có. Nếu có dự định dự toán thì đó là dục, là tham.
Tiếp theo,
Những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
– Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Samôn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Ý hỏi Ngài dạy như vậy, đầy đủ như vậy, thứ lớp, tuần tự, rõ ràng như vậy thì tất cả đệ tử của Ngài đều được chứng ngộ hết hay là có một số người không chứng ngộ?
– Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.
– Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?
– Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá)?
– Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.
– Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rajagaha". Ông nói với người ấy như sau: "Được, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu". Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Ý nói, có một người đến hỏi ông ấy thì vì ông ấy rành đường nên chỉ đường, dù cho người ấy được chỉ đường rõ ràng như vậy nhưng lại lấy con đường sai lạc đi về hướng tây.
Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi". Rồi Ông nói với người ấy như sau: "Được, này Bạn, đây là đường đi đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu". Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến Rajagaha một cách an toàn.
– Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rajagaha một cách an toàn?
– Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
– Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà- la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Tại sao có Niết-bàn? Tại sao có con đường đi đến Niết-bàn? Tại sao có Đức Phật là người chỉ đường, bậc đạo sư mà lại có người đi đến Niết-bàn, có người lại không đến?
Tại sao có thành Vương Xá? Tại sao có con đường đi đến thành Vương Xá? Tại sao có người rành đường, chỉ đường đi đến thành Vương Xá mà tại sao lại có người đi lạc và có người đi đến nơi đến chốn?
Ở đây, này Bà- la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
(Trung Bộ Kinh - Kinh Ganaka Moggallana)
Còn người đi là người được chỉ, nếu họ đi cẩn thận, kĩ lưỡng thì họ sẽ đi đến nơi đến chốn. Còn nếu họ cẩu thả, không siêng năng, không để tâm để ý thì họ đi lạc, đi sai, đi lầm. Cũng vậy, nên mới có Bát Chánh Đạo, Bát Tà Đạo. Bát Tà Đạo là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà mạng, tà nghiệp, tà tinh tấn, tà định. Tức là Đức Phật chỉ đường này, mình lại đi đường khác.
Ðường này đến thế gian.
Ðường kia đến Niết bàn.
Tỳ kheo, đệ tử Phật,
Phải ý thức rõ ràng
(Kinh Pháp Cú)
Ý nói mình đi lạc vì tâm vô minh, tham ái dẫn mình đi lạc, còn Đức Phật chỉ mình không lạc. Chính vì tâm vô minh, tham ái đó làm cho móp mép sự thật, chân lí nên từ Chánh pháp biến ra thành tượng pháp, mới đi đến mạt pháp. Thời đại của chúng ta là thời đại cuối của tượng pháp, tượng là mường tượng, gần giống với Chánh pháp nhưng không phải là Chánh pháp, chỉ giống nhưng không phải.
Như làm bông giả thì giống nhưng không phải, có sắc mà không có hương. Làm các bánh vẽ có ăn được không? Dù vẽ rất đẹp nhưng cầm lấy thì không phải, chỉ là bánh vẽ, không cầm ăn được. Tượng pháp là vậy, là nhìn thấy rất rõ nhưng không có thật. Không diệt được vô minh, tham, sân, si, bản ngã.
Nên điều này chúng ta cần để ý kĩ, từ cái nhìn sai của mình, mình không nhìn thấy ngũ uẩn là vô ngã, mà mình nhìn thấy được một cái tôi, cái ta là mình phải thành đạt, thành công, mình phải hơn người ta, mình phải phấn đấu lên. “Con phải phấn đấu lên thôi người ta cười. Ráng nha.
Từ lúc vào chùa đã được dạy như vậy, dạy để hơn thua, dạy để chấp ngã, mình hấp thụ giáo dục như vậy là tà kiến, làm sao Chánh tư duy sanh khởi được? Nên tà tư duy sanh khởi, suy nghĩ sai “Mình ráng học để hơn chị ở kế bên. Mình phải hơn chị ấy, chùa này mình phải đứng nhất chứ không thể đứng nhì được.
Từ lúc đầu tiêng đi vào đầu mình đã là tà kiến, suy nghĩ sai, tà tư duy thì làm sao mình nói ra đúng được hay chánh ngữ được? Mình làm sao làm đúng, sống sao sống đúng được? Rồi mình siêng năng toàn là tà tinh tấn, siêng để khuếch trương bản ngã, bành trướng cái tôi, để chiếm hữu những cái thuộc về ngã sở. Như vậy là tà tinh tấn, siêng sai, thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, quán sai, định sai. Cuối cùng là có suy nghĩ ly tham, ly sân không? Có suy nghĩ để thấy được cõi đời này là khổ không để nhàm chán từ bỏ?
Đó là tà tư duy, nghĩ sai, siêng sai. Đó là Bát Tà Đạo, vì mình sống trong đó, nếu mình sống trong Bát Chánh Đạo thì giờ có thể đã là Thánh quả thứ ba, thứ tư. Nên chỉnh từ chỗ thấy đúng đầu tiên.
Như vậy, có con đường đi đến Niết-bàn, cũng có Niết-bàn, bậc đạo sư chỉ đường chính xác cũng có mặt nhưng người đi sai, không đến được Niết-bàn. Là vì vô minh, tham ái, vì tâm không sáng, cùng với sự ham thích đối với ngũ uẩn thì tự động chế biến ra được nhiều cái, nó sáng tác ra rất nhiều cái nên chúng ta thấy ra được nhiều tông phái không?
Như giờ có các ông nhỏ giờ ra làm tổ, tự tôn mình lên làm tổ, tổ sân, nếu đụng vào thì sân rầm rầm.
Đó là tâm tham, sân, si, bản ngã của con người làm cho đi lạc, rơi vào Bát Tà Đạo, không đi theo Bát Chánh Đạo nên không đến được Niết-bàn. Niết-bàn là sự dập tắt tham, sân, si, nhưng giờ xuất phát điểm bằng tâm tham nên làm sao nó đi đến chỗ ly tham? Những suy nghĩ của nó đều là tham, những cảm giác kiếm tham, những tư tưởng, hình bóng trong nhận thức đều tham thì làm sao đi đến chỗ đoạn tận tham, nhiếp phục tham, diệt tận, tẩy sạch tham?
Đó là đạo lộ của Đức Phật, từ chỗ chân chánh, nguyên chất, sáng rực, sáng chói, chói sáng, rõ nhưng giờ bị mờ, dần dần đi đến chỗ bóng tối, cuối cùng dập tắt, mất, mạt pháp. Nhưng vô lượng, vô số, vô biên kiếp mới có một con người có đại ý chí, đại trượng phu, người này mới mò mẫm nhiều đời nhiều kiếp, vô số, vô lượng, vô biên kiếp tích tập phước báo, công đức, cho tới tận cùng người này mới tìm ra được Bát Chánh Đạo, cũng là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, không có gì khác, thì người này trở thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Người đó mới là tu hạnh Bồ Tát.
Bồ Tát là không biết đường đi, mò mẫm, đi tìm đạo lộ, còn mình là Đa văn Thánh đệ tử. Nên có nhiều bảng kinh rất xúc động, chúng ta đọc Nikāya mới thấy hay.
Có một Tỳ-kheo già, mắc bệnh nặng, rất tha thiết mong được gặp Đức Phật. Thế Tôn đi tới thì ông ấy chồm dậy, thì Đức Thế Tôn nói ông nằm yên đó đi, đừng nhóm dậy. Ông ấy nói: “Bạch Thế Tôn, con là ai mà con có thể nằm đó nghe lời Thánh chỉ.” Ông ấy lê người rồi quỳ ở dưới đất, dù đã sắp chết, nhưng vì các vị Tỳ-kheo tôn kính Thế Tôn tuyệt đối. Một người thành tựu Chánh tri kiến thì không thể có sự bất kính đối với Đức Phật, với pháp, với chúng tăng. Một người thành tựu Chánh tri kiến, là bậc Tu-đà-hoàn, thì tuyệt đối không bao giờ có một ý nghĩ chống đối một chút với Phật Pháp Tăng.
Vì làm gì có một người nào dám đưa ra pháp này, pháp kia, pháp nọ, rồi tự mình lập pháp tu, rồi mình muốn làm sếp? Không bao giờ có vậy. Trong khi đạo lộ của Thế Tôn còn đây.
Chúng ta thấy khi học về Thánh trí ngũ uẩn thì mình thấy rất rõ không? Khi thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức rồi, mình sẽ thấy được tham, sân, si, dục ái, bản ngã bên trong rồi mình tìm cách nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch nó, như vậy là xong.
Nó rõ ràng như vậy, không có gì nhiều, nên mới thành tựu được các bậc Thánh tăng rất nhiều, các bậc đắc đạo, chứng quả. Còn mình giờ nghe về vô lượng pháp môn, vô lượng thệ nguyện học, nghe là đã sợ, run dù nói gì cũng như đại bác.
Nên mình phải có một trí tuệ thâm sâu, quán sát, không phải nghe người ta sao rồi làm vậy, không phải nghe đâu làm đó, người ta sao mình vậy. Phải đi tìm đến cái căn nguyên, nguồn cội của pháp.
IV. Năm báu vật hy hữu ở đời
Nên sáng nay trong buổi đáp từ chay tăng ở chùa Bửu Liên, Minh Thành có nêu ra cho người trong gia đình biết được năm báu vật hy hữu, hiếm có, được xuất hiện ở đời. Đức Thế Tôn nói trong Tăng Chi Bộ kinh là có năm báu vật hy hữu, hiếm có, khó gặp khi mà nó xuất hiện ở đời:
Và thế nào là năm?
- Sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khó tìm được ở đời.
- Hạng người có thể thuyết giảng Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
- Người hiểu được lời thuyết giảng về Pháp là Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
- Người đem thực hành các pháp và tùy pháp được hiểu từ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
- Người biết ơn, và nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu này, này các Licchavì, khó tìm được ở đời.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Phẩm… Chương Năm Pháp – Bài kinh Tại Đền Sàrandada)
Đó là năm báu vật hy hữu, hiếm có, khó gặp xuất hiện ở đời. Thứ nhất là Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thứ hai là người hiểu được đúng Chánh pháp của Đức Phật, thứ ba là người tuyên thuyết được đúng Chánh pháp là báu vật hy hữu, hiếm có ở đời, thứ tư là người thực hành được đúng Chánh pháp đó, thứ năm là người biết ơn, nhớ ơn.
Nên người biết ơn, nhớ ơn rất quý, mình thấy vậy nhưng đa số chúng ta đều ở trong vô ơn, đã quên hết. Lúc đến nhờ người ta cho mượn tiền thì mặt tươi rói, nói ngọt ngào, nhưng đến khi mượn xong thì đòi hoài không trả, tắt điện thoại, không bắt máy.
Tương tự, là người ta làm cho mình thì mình quên hết, mà mình làm cho người ta một chút thì mình lại nhớ hoài. Vậy nên mình không phải là báu vật là vì vậy.
Còn bậc chân nhân thì đặc tính của người này là luôn luôn nhớ ơn và biết ơn đối với người có ơn. Nên trên cổng trời của chùa, vừa từ dưới đi lên đang thở hổn hển rồi bước lên mấy chục bậc thang, gần trăm bậc, ngẩng lên có thể hết hồn với câu đề ở chân núi của cổng trời: “Người thật sự là Người, là người sống biết ơn và nhớ ơn đối với những người có ơn.” Đó là câu để ở chân của cổng trời. Con người thật sự là người sống biết ơn và nhớ ơn đối với những người có ơn. Mình giờ thi ơn bố đức nhưng mình gặp người thi ơn thì mình cũng né ra sợ hãi.
Sau khi nghe, nhìn vào bên trong, soi xét hết cả quá trình rồi mới trả lời. Không nên hỏi nhưng trả lời ngay, đó là cạn cợt, không thâm sâu, phải quán chiếu trước khi trả lời. Mình trả lời vội vàng thì sau này có thể hối hận. Khi muốn trả lời một cái gì thì lắng dịu, nhìn vào bên trong, quán xét cả một quá trình, không vội thì chưa trả lời cũng được, từ từ rồi sau đó trả lời.
Trả lời liền ngay lập tức là vội vàng, hấp tấp, gấp rút, chưa suy xét cẩn thận, có thể hối hận cả đời. Tại sao người ta nói câu: Cứu vật vât trả ơn, cứu nhân nhân trả oán. Nếu không có thì làm sao người ta nói?
Không phải là tuyệt đối nhưng Đức Thế Tôn từng nói Ngài lấy tay khơi một chút đất lên dính trong móng tay của Ngài, so với đất đại địa của địa cầu này thì đất nào nhiều hơn? Bạch Thế Tôn, đất trong móng tay của Ngài rất ít, không thể nào so sánh với đất của cả địa cầu này. Này các Tỳ-kheo cũng vậy, rất nhiều là những kẻ sống không biết ơn, nhớ ơn, như đất cả địa cầu. Còn người sống biết ơn, nhớ ơn thì ít như là đất trong móng tay của ta. Đó là không phải Đức Phật làm gì, không dư thừa, không phải tự nhiên Ngài nói vậy. Phần lớn, đại đa số chúng sanh là không biết ơn, nhớ ơn.
Ví dụ, người mẹ chia cho ba, bốn người con miếng đất, người con trai được miếng đất ở mặt tiền, ba người con gái được miếng không phải là mặt tiền, trong hẻm. Những người con gái rủ rê, đồng lòng đốt nhà, đốt mẹ của họ. Đó là tâm gì? Có biết ơn không? Nhưng đó là được cho đất, không phải là bị chửi mắng.
Đó là tâm vô ơn, nhưng phân bì vì cho người con trai miếng đất ở mặt tiền nhiều tiền, còn cho tôi ở trong hẻm cho ít tiền. Đó là tâm địa ngục, ngạ quỷ, chúng sanh. Vậy nên một người muốn trở thành một người ở đời sau thì người này phải đầy đủ chất liệu biết ơn và nhớ ơn. Đức Phật vẫn chưa nói đền đơn. Đó là đặc tính của bậc Chân nhân.
Nhiều khi mình nói thì mình lấy đại bác ra bắn, bầu trời nổ tung, nhưng tu trong kinh Nikāya nói rất thực tế, rõ ràng. Nhưng toàn là những bước căn bản. Mình kiểm tra lại thử tâm biết ơn, nhớ ơn thì có đầy đủ không? Nếu còn đầy đủ thì đời sau mình còn làm người, nếu không đầy đủ thì đời sau không làm người nữa mà là làm con, không làm người hoặc chưa chắc làm con được, con là còn trong súc xanh.
Vậy mình nghĩ những người giết mẹ, đốt mẹ như vậy. Hai người con gái đã chết, người mẹ phải thay da. Người thì người ta không dám chiếu cho mình xem, nó bị lở loét, sưng lên cả một người như vậy, giờ phải lấy da mới thay vào. Đó là vì lòng tham.
Nên ngày nào Minh Thành giảng pháp cũng nói: “Cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát”. Tất cả những nỗi khổ trên đời này là dục tham. Có một lần Minh Thành đi chúc tết một vị đứng đầu một huyện, vị này nói “Thưa thầy con không có nghiên cứu Phật pháp gì nhiều, con cũng không biết nhiều nhưng thưa thiệt với thầy theo con nhìn thấy là tất cả những cái khổ trên đời từ một chữ, là chữ tham.” “Thưa thầy, Phật pháp con nghiên cứu không nhiều, nhưng con sống tới nay là năm mươi năm, con nhìn hết những chuyện xảy ra xưa nay, cổ kim, hiện tại thì tất cả những nỗi khổ trên đời từ một chữ thôi, tham.”
Chữ tham ở đây là nhìn từ góc độ bình thường, còn chữ tham trong ly tham, trong Thánh trí ngũ uẩn là rất thâm sâu, ở trong suy nghĩ, mình chưa nói ra miệng là mình thấy được suy nghĩ tham không? Mình suy nghĩ nhưng chưa nói ra cho người ta biết thì mình có biết lúc đó mình có suy nghĩ tham không? Đó mới là Thánh trí ly tham.
Còn người thế gian biết là khi nó thể hiện ra ngôn ngữ, hành động, còn trong ý thì người ta không biết. Ví dụ mình đi ngang mình nhìn thấy cái bình này đẹp thì suy nghĩ “Ước gì mình đem cái bình này về chắc để trong phòng mình đẹp lắm.” Mình không nói ra thì người khác không biết nhưng mình biết không? Mình biết là suy nghĩ này tham, cần phải từ bỏ, “Tại sao tu mà còn quyết định ăn trộm, ăn cắp?” Mình tác ý như vậy, mình diệt suy nghĩ này, đó là ly tham tối thượng.
Mỗi ngày Minh Thành chia sẻ pháp trên Linh Quy đều niệm Phật Pháp Tăng giới, trong phần niệm Pháp là “Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát.” Nhắc nhở cho mình, cho mọi người và nhắc nhở cho tổng cương lĩnh toàn bộ Thánh điển của Đức Phật là ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nếu bỏ chữ ly thì thành tà, không còn chánh nữa. Nên nếu mình tu không khéo thì người khác có thể nói mình, nên điều này cần phải được hướng dẫn tu học khi mới còn tập sự xuất gia, sau khi xuất gia thì phải học điều này, trong giai đoạn làm Sa-di thì phải đào tạo nhuần nhuyễn điều này, tân Tỳ-kheo năm năm phải tu tập bốn giai đoạn tập sự xuất gia. Mới xuất gia, Sa-di, tân Tỳ-kheo là phải học cho nhuần nhuyễn, đào tạo hàng chục năm.
Nên suy nghĩ về hai chữ ly tham, xem mình có ly tham chưa? Ly được bao nhiêu?