Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 6 - Sự Vận Hành Của Tham Ái

2026-03-03 00:52:31
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 6

Sự Vận Hành Của Tham Ái

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nghiệp cõi giới PAGEREF _Toc141968082 \h 1

II. Chín pháp lấy ái làm cội gốc PAGEREF _Toc141968083 \h 4

III. Tầm quan trọng của giới PAGEREF _Toc141968084 \h 10

IV. Lưới tham ái PAGEREF _Toc141968085 \h 11

I. Nghiệp cõi giới

Khi chúng ta thực hành được ba pháp thì công năng, tác dụng của nó rất lớn. Bình thường mình ngồi thiền, nhắm mắt lại, thở vô thở ra một hồi là mình lọt vô trạng thái của hôn trầm, tưởng. Tâm của mình ở trong một hơi thở như vậy thì rất là nhỏ hẹp, ở trong sự lờ mờ, lờ đờ. Khi mình thực hành ba pháp là tầm nhìn của mình mở rộng hết mức ra luôn nên cái pháp của mình nó lớn lắm. Mà cái chỗ đặc biệt là nó thấy hết tất cả mà không trụ vào một điểm.

Cái đó thực tập không phải dễ, thấy nói vậy chứ thực tập không phải dễ. Hễ mình trụ vô một điểm nào là lúc sau mình tưởng ra đủ thứ, vì vậy phải mở rộng tầm nhìn hết mức mà không trụ một điểm. Mình thực tập được thì cái nhãn thức của mình rất rộng lớn và được tinh minh. Đó là mới nói phía ngoài, sau đó hơi thở của mình nó động chuyển là mình không có cảm nhận trong cái hơi thở không mà mình cảm nhận luôn cái thân của mình ở ba chỗ lồng ngực, chóp mũi và bụng.

Chứ không phải chỉ có niệm phồng xẹp, phồng xẹp một hồi nó xẹp luôn. Mà mình thấy rõ luôn ba điểm, nó đang vận chuyển, vận hành, biến dịch ở trong cơ thể của mình. Hơi thở của mình nó kết hợp luôn cái động chuyển của thân và lúc đó cái trí của mình nhìn thấy được nó vô ra như vậy. Rồi bắt đầu từ chỗ ba điểm đó mình mở cái cảm giác của mình ra từ đầu từ mặt, từ vai, từ tai, từ cánh tay rồi từ bàn tay, lòng bàn tay, rồi toàn thân của mình, rồi mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân.

Như vậy mình cảm nhận hết tất cả toàn thể cảm giác trong cơ thể của mình, cái pháp tu này rất là sâu sắc và lớn mạnh. Cho nên ba pháp này không phải là đơn giản. Đây là từ trong mười sáu hơi thở của tạng kinh Nikāya. Thành ra các huynh đệ phải cố gắng thực tập ba pháp này. Khi mình thực tập như vậy mình cảm giác được cảm giác toàn thân, như vậy là định tâm ở trên thân. Lúc đó cái tâm của mình nó sẽ định lại ở ngay nơi thân, tại vì tất cả cảm giác ở trong cơ thể mình đều nhận biết được hết. Bình thường mình không có cảm giác toàn thân, mình toàn nhìn ra ngoài, phóng ra ngoài, hướng ngoại. Cảm giác toàn thân là cái cánh cửa để mình bước vào tất cả pháp hành của Phật giáo.

Vì vậy ba pháp này phải thực tập bất cứ mọi lúc mọi nơi khi nào nhớ. Không phải đợi tới lúc ngồi thiền, không đợi tới lúc vô lớp thầy kêu mới thực hành mà trong mọi lúc mình đi đứng, làm việc đều thực tập rõ biết trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân và nội tâm của mình tỉnh giác để mình thấy được cái sáng tỏ trước mặt, mình thấy được cái động chuyển của hơi thở, rồi mình cảm nhận được cảm giác của toàn thân thì cái này đem lại lợi lạc lớn, lợi ích lớn, đem lại an ổn lớn, đem lại cho mình hạnh phúc, sự an lạc lâu dài.

Đó là bảo hộ thân tâm của mình, chính là định tâm ở trên thân. Phải nắm thật vững ba pháp này và phải thực tập suốt cuộc đời của mình. Trong những lúc mình thực tập thường, hay lúc nó nổi giận lên, khởi lên cái tham thì mình trú vô ba pháp này, lúc đó mình có lá bùa hộ mệnh, mình có chỗ trú rất vững chắc. Còn nếu mình để cái tâm mình mông lung, nó kéo lại là mình đi liền vì tâm mình không có an trú, không có niệm. Thành ra phải đọc kỹ bài kinh Thân Hành Niệm 100 lần.

 “Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

Hữu, hữu, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được xem là có hữu?

Này Ananda, nếu không có hành động (nghiệp) và sự chín muồi của dục giới thời dục hữu có thể trình bày được không?

Thưa không, bạch Thế Tôn.

Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới thấp kém. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt.”

(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 76. Hiện Hữu)

Chỗ này mình thấy Đức Phật dạy như thế nào? Nếu không có nghiệp, không có sự chín mùi của dục giới, thì dục hữu không thể có được. Đức Phật lấy ví dụ: Nghiệp là thửa ruộng, thức là hạt giống, ái là sự nhuận ước. Mấy cái này là sâu sắc lắm. Nghiệp là thửa ruộng, giống như mảnh đất. Thức là hạt giống, gieo hột giống vô mảnh đất, thửa ruộng. Rồi có đất, có ruộng, có hột giống mà không có nước thì sao mà nó nẩy mầm được, thì sao nó tăng trưởng phát triển được?

Cho nên ái là nước, để cho nó thấm ướt thì mới nảy mầm. Giống như nhà nông làm ruộng, phải có mảnh ruộng, có hột giống, lúa giống, sau đó cho nước vô, phải thấm ướt mới nảy mầm lên được. Nghiệp là thói quen, là hành động. Ý nghĩa sâu xa Đức Phật định nghĩa là gì? Suy tư là nghiệp, đó là cái nghĩa sâu sắc.

Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư tức là nghiệp.

Các huynh đệ lên Linhquyphapan.vn tìm xem Từ đâu mà có ra nghiệp 1, 2. Trong đó nói luôn quy trình vận hành tại sao mà có ra nghiệp. Vì thế từ suy tư phát ra lời nói, phát ra hành động. Cho nên Này các Tỳ-kheo, Ta nói suy tư là nghiệp, sau khi suy tư tạo ra ý nghiệp, khẩu nghiệp, thân nghiệp, ý hành, thân hành, khẩu hành thì chữ hành, chữ hữu, chữ nghiệp là một. Suy tư là bắt đầu nói, nói bắt đầu làm.

Tâm thức của mình nó an trú trong cái vô minh và cái tham ái đó nên thức được an lập trong giới thấp kém. Bị vô mình che lấp, bị ái trói buộc cho nên thức nó an lập trong cõi giới thấp kém. Ái cứ làm cho nước chảy vô hoài, nó thấm nhuần hoài như vậy thì làm sao nó không nảy mầm, tăng trưởng, pháp triển được? Nếu bây giờ có hột giống, không có đất, không có mảnh ruộng thì hột giống không phát triển.

Nếu hạt giống ở ngoài nhiệt độ 40C – 50C thì hột giống đó không phát triển, sanh trưởng phát triển được. Như vậy sở dĩ cái thức mà nó an lập được là từ cái nghiệp, cái ái, nhưng căn bản là mình cũng bị vô minh và tham ái che lấp, trói buộc. Hai cái này là cái quan trọng nhất, hai đối thủ, cái kẻ thù lớn nhất của mình là vô minh và tham ái.

“Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới bậc trung. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt.

Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới bậc thù thắng. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt.”

Giới là lãnh vực, là cõi giới. Ví dụ nó an lập trong ngạ quỷ, súc sanh là thấp rồi, trong loài người là vừa vừa. An lập trong loài người nhưng người cỡ nào? Người thường thường hay người trí huệ, phước đức hay dạng chư thiên. Thì đó là cái giới vực, cái cõi giới của cái thức này an lập ở trong đó.

II. Chín pháp lấy ái làm cội gốc

“Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín pháp lấy ái làm cội gốc. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là chín pháp lấy ái làm cội gốc?

Do duyên ái nên cầu tìm; do duyên cầu tìm nên có được; do duyên có được nên có quyết định; do duyên quyết định nên có dục tham; do duyên dục tham nên đắm trước; do duyên đắm trước nên có chấp trước; do duyên chấp trước nên có xan tham; do duyên xan tham nên có thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ, rất nhiều các ác, bất thiện pháp khởi lên.

Này các Tỳ-kheo, đây là chín pháp lấy ái làm cội gốc.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IX. Chín Pháp, III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình, III (23). Ái)

Đây là cội gốc của sự tranh đấu khởi lên ái. Tại sao mình tìm cầu? Vì ưa thích cho nên mới tìm cầu. Tất cả những cái tìm cầu là do mình ưa thích cho nên mới đi tìm kiếm. Bây giờ mình đi tu rồi tìm kiếm cái gì? Chỗ này là sâu sắc, tế nhị. Mình tự hỏi tâm mình nó đi tìm kiếm cái gì? Cái hướng đi tìm cầu là mình biết động cơ nó từ đâu, trong chùa đọc kinh nghe pháp tự nhiên nghe buồn buồn, muốn xách xe đi, hỏi đi kiếm gì thì bảo không biết, chạy đi ra ngoài cho thoải mái.

Phải nhìn ra được đó là dục ái. Ngồi thiền đọc kinh không chịu, lấy điện thoại ra tìm tin nhắn lúc trước để đọc lại, tin nhắn nào quan trọng chụp lại, lâu lâu mở ra đọc. Có thời gian rảnh không chịu ngồi thiền, không chịu đọc kinh mà mở điện thoại ra tìm danh bạ, tìm không được là khổ. Mà tìm được là quyết định là phải làm cái đó. Cái tâm nó rất ghê gớm. Do quyết định nên có dục tham, có tham muốn.

Đây là cái rất vi tế mà phải thiền quán mới thấy được. Phải nhìn lại nội tâm thường trực mới thấy được. Đây là Chánh Biến Tri nói chứ không phải người thường, đây là quy trình vận hành của tâm, một khi quyết định rồi là có dục tham trong đó. Do duyên dục tham nên đắm trước, mê đắm trong đó, dính mắc ở trong đó, chấp trước, nắm chặt vô luôn. Nắm chặt vô rồi là xan tham, không muốn chia cho ai hết, "của riêng tôi thôi, món đồ đó là của riêng tôi", "con người đó là của riêng tôi không ai được đụng vô".

Bây giờ nói mình tu, nhiều khi nó đau lòng lắm. Bây giờ mình tu thì sư phụ là sư phụ chứ sao lại là "sư phụ của tôi". Có sư muội nào vô xuất gia sư phụ thương nhiều một cái là "nó vô nó cướp sư phụ của tôi", "nhỏ này nó vô nó cướp sư phụ của mình".

Cho nên cái ái nó vi tế lắm, khi nó chấp trước là nó xan tham, mà đã xan tham rồi là nó giữ gìn, đã giữ rồi mà ai đụng vô là chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, gây gổ, kháng cự trở lại, thậm chí nói những lời ly gián, nói dối. Rất nhiều những cái ác pháp, bất thiện pháp khởi lên. Tuổi trẻ lớn lên, tự nhiên muốn đi tìm những người bạn. Thấy ai cũng có bạn hết mà mình không có bạn nên buồn, vậy là đi tìm. Bạn bè cũng vậy bạn, khác giới cũng vậy, tình bạn hay tình cảm cũng vậy.

Vậy từ đâu nó muốn đi tìm? Chính là cái ái bên trong thúc đẩy đi tìm, rồi khi gặp được người này vừa ý là quyết định chọn. Chọn rồi thì cái dục tham khởi lên. Ham muốn được ở gần, ham muốn được tiếp xúc, ham muốn được nói chuyện chung, ham muốn được ăn cơm chung, được đi chơi chung, được ở chung. Nói gọn là cái ham muốn sanh, dục tham sanh. Ham muốn có nó được rồi là nó đắm trước, nó dính mắc vô đó. Dính mắc vô đó mà không được là nó bệnh. Không có gặp là bệnh.

Ham muốn xong rồi đắm trước, đắm trước xong rồi chấp trước, chấp trước xong rồi tới mức độ là chết, nằm đó bệnh. Không phải bên Tăng không đâu, bên Ni cũng vậy. Bên Ni biết bao nhiêu là những người thâm cung bí sử. Quan trọng mình có thấy được cái ái của mình nó vận hành hay không? Xấu đau xấu đớn vậy mà cũng có người. Xấu bằng cái chỗ không còn chỗ nào để xấu nữa, vậy mà cũng có người nhìn ra được chỗ đẹp nó mới lạ.

Có nghiệp với nhau, đồng nghiệp nên nhìn ra cái đẹp. Con chó này nhìn con chó kia đẹp, con mèo này nhìn con mèo kia thấy đẹp, đến con chuột này nhìn con chuột kia cũng đẹp, "chuột hoa hậu đó". Nó cũng phân biệt đẹp xấu đó. Vì cái ái bên trong, sự tìm cầu có được rồi quyết định dục tham đắm trước, chấp trước. Cái chấp trước đó buông ra không được, một khi nó chấp trước vô rồi không có buông được, thậm chí đi đến chết và gần như chết luôn. Có rất nhiều chuyện tình bi đát, bao nhiêu cuộc tự vẫn.

Trong chùa Bửu Liên, có hai chỗ thờ hai hũ cốt là anh chàng với cô nàng này mới có 19-20 tuổi, con nhà giàu, học đại học. Cha mẹ không đồng ý, vậy là 2 đứa buộc dây nhảy xuống sông rồi chết. Bà mẹ đó giàu có lắm, đi đến chùa khóc nức nở xót xa đứa con gái.

Cho nên là đắm trước, chấp trước vô rồi không gỡ ra được. Cái tư tưởng bên trong, cái thọ; tưởng; hành; thức tối ngày nó vận hành có bao nhiêu đó, không có cái khác vô được. Cái thọ của nó là cái thọ của ái, cái tưởng của nó có hình bóng của ái, cái hành nó suy nghĩ bao nhiêu đó, nó không suy nghĩ cái khác, cái thức nó chỉ biết bao nhiêu đó thôi. Vó vòng vòng bao nhiêu đó mà không được là nó tưởng tượng ra rồi nó đi đến chỗ chết, không thoát ra được.

Cho nên cái Năm Uẩn nó vận hành khiếp lắm! Mình thấy được Năm Uẩn đó là trí huệ đặc biệt, còn không là mình vô cái trận bát quái trong đó, ngũ hành trận, bát tà đạo. Phải dùng Bát Chánh Đạo mình trị ngũ hành trận. Ngũ dục thì mình dùng ngũ chảo thần công, tức là trí Ngũ Uẩn mình trị nó. Mình phải thấy được còn bằng không là mình chết. Cho nên Như Lai đè Tôn Ngộ Không, ngũ hành là Năm Uẩn đó. Nó không có ra khỏi Năm Uẩn đó, nó bị đè ở trong Năm Uẩn đó 500 năm, 5000 năm, năm triệu năm.

Ở trong Năm Uẩn đó hết, không có đi ra được. Khi đã dính mắc, chấp trước vô thì có xan tham, nó chấp trước, nó bám chặt vô rồi thì "đây là chồng tôi, vợ tôi", "là người yêu của tôi". Trong kinh Đức Phật ví dụ rất đặc biệt, ví dụ thẳng luôn không có lòng vòng gì hết. Nếu như người này là vợ mình, người yêu thương của mình, người con gái đó hay là người con trai đó mà mình nhìn thấy người đó đang âu yếm với một người khác. Lúc đó mình cảm thấy ra sao? Mình đau khổ, trái tim tan nát, vỡ ra hết. Nhiều khi tức trào máu, nó sôi lên. Mấy trận đánh ghen là hậu quả của sân hận, đó là chấp trước, xan tham, , chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh,...

Chấp trước xong rồi nó xan tham. Xan là keo kiệt, không muốn chia cho ai hết, "người này là duy nhất của tôi. Không ai được đụng vô hết, con nhỏ nào đụng vô là biết tay tôi", chỉ cần cười một cái thôi là "Ai cho anh cười với nó?", nhìn kĩ người con gái khác cũng không được chứ đừng nói chi nới chuyện vui vẻ.

Còn vô tình bắt gặp một cái là ăn không ngon, ngủ không yên. Nên Đức Phật nói muốn giải thoát thì phải ly tham, ly dục, ly ái. Nó buộc vô cái tâm thì làm sao mình đi tới chỗ an định được? Không bao giờ an định được, mà mình thì muốn giải thoát. Mình đi vô con đường đó thì làm sao mình giải thoát? Miệng thì nói "Con muốn giải thoát sanh tử luân hồi" nhưng mà ái thì mình nuôi dưỡng nó, làm nó tăng trưởng, phát triển quảng đại lớn mạnh trong nội tâm của mình.

Như vậy là hoàn toàn trái ngược. Nên phải từ bỏ nó, chấm dứt, đoạn tận, tẩy sạch nó. Chặt nó như chặt cây sala không cho mọc lên nữa, không cho tái sanh. Chỗ đó mới tới chỗ giải thoát. Ngồi thiền quán rồi tự hỏi mình thật sự đã muốn tới chỗ giải thoát hay chưa? Mình khổ thì mình vô đó là khổ. Mình muốn an lạc giải thoát thì mình phải đi ra, phải xuất ly để thấy được sự nguy hại của tham ái, phải thấy được sự xuất ly ra khỏi tham ái.

Vị ngọt của nó không là bao nhiêu hết mà nguy hại của nó thì vô cùng vô tận. Bây giờ giữ gìn bảo vệ là cầm gậy, cầm kiếm, cầm súng, đấu tranh, cãi lộn, đánh ghen với nhau, nói chuyện ly gián. Lại người này nói người kia, lại người kia nói người này, nói dối rồi làm ra bao nhiêu những cái ác pháp, bất thiện pháp khởi lên. Thậm chí nó đưa đến đọa ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh luôn. Sự sân hận nó lên là xuất phát từ ái cho nên ái là cội gốc của sự tranh đấu. Cái bản chất khổ của cái ái này nó ghê gớm lắm!

Người đó còn trẻ 15 -17 tuổi, chưa có nếm vị ngọt của ái dục thì người này khao khát. Người này hy vọng, người này mong chờ, người này ước mơ, người này tưởng tượng, đi tìm kiếm thì người này khổ không? Còn khi người này nếm được vị ngọt của ái dục rồi thì hết khổ luôn không? Nếm một cái có thỏa mãn luôn không? Qua cơn thỏa mãn rồi nó đòi kiếm nữa, nó khao khát nữa. Qua cái đó rồi nó kiếm nữa.

Nó cứ kiếm hoài như vậy đó thì giả sử như thỏa mãn thì mình có vợ đẹp hay chồng đẹp thì như vậy là xong rồi, làm gì có vụ mà vợ bé? Không phải một bà, những ông vua ngày xưa là cả trăm, cả ngàn cung phi mỹ nữ mà còn chưa đủ, lai rai tỉnh này tỉnh kia con rớt tùm lum, chỗ nào cũng để lại giống. Nếu mất cái dục ái đó thì khổ không? Càng khổ hơn, cho nên ba thời đều khổ. Chưa được là khổ theo kiểu chưa được. Được rồi nó đòi hỏi, muốn thêm. Nó muốn mới lạ, nó muốn nhiều hơn nữa.

Chính vì cái dục này nó không thỏa mãn. Cho nên tại sao như là bản chất của dục là Đức Thế Tôn nói vị ngọt của nó đến thế thôi, bản tánh của nó như thế, bản chất là như thế không thể vượt hơn cái bản tánh đó nữa, cho nên nó muốn thêm là dùng xì ke ma túy, thuốc lắc, cỏ Mỹ đủ thứ nên phát triển thêm cảm giác đó nữa, càng phát triển thêm, càng tăng trưởng thì càng thiếu thốn, càng không thỏa mãn, càng đi tới chỗ khổ đau, điên loạn ở trong dục. Mất đi càng khổ, chưa được thì khổ theo chưa được.

Có rồi khổ theo có rồi. Mất đi càng khổ. Bản chất thật sự của dục ái là không bao giờ thỏa mãn, bản chất đó nó làm cho mình khổ. Bản chất dục ái trong nội tâm mình không bao giờ thấy thỏa mãn. Mình ăn cơm ăn một lần có no luôn không? Bây giờ mình đi hết tất cả các quán ngon quanh thành phố này là không còn thèm muốn gì nữa không? Hay là muốn đi qua Thái Lan, Đài Loan để ăn? Đi hết cả thế giới này liệu có hết thèm không? Bản chất của dục ái là không thỏa mãn.

Chính cái không thỏa mãn đó là làm cho nó đi tìm kiếm hoài, nó khao khát hoài, nó mong muốn thêm hoài, và như thế nó đau khổ từ trong cái bản chất của nó. Chỗ này là sâu xa. Bây giờ mình thấy những người có vợ có con đàng hoàng, thành danh, thành đạt đủ thứ hết nhưng khi họ ngồi một mình lại thấy trống trống vắng, cô đơn. Không ai hiểu được mình, cô đơn, trống vắng, cứ thiếu thiếu mà không biết thiếu cái gì. Đó là ái, là dục. Mà khoảng trống đó không bao giờ lấp đầy được hết vì bản chất của ái dục là không thỏa mãn, còn đi theo nó là còn khổ hoài.

Có những vụ án mình thấy khủng khiếp! Cậu thanh niên 22 tuổi hãm hiếp bà cụ một 100 tuổi. Khủng khiếp như vậy! Ông già trên 80 tuổi hãm hiếp đứa bé 7-8 tuổi. Những cái đó là tự trong cái dục, cái ái đó. Cô dâu 62 mà chú rể 26. Chỉ mới 13-14 tuổi đã mấy đứa con rồi. Đó là sự thật.

III. Tầm quan trọng của giới

Như vậy nó đi vô cái vòng bất tận, không có lối thoát ra được. Cái tâm mình cứ nghĩ "Mình chưa biết, thử để cho biết" thì chết với cái biết này, nó giống như xì ke vậy. Thử rồi là nó đắm chước ở trong đó, xan tham vô là không thoát ra được. Cho nên giới luật bảo vệ mình rất là quan trọng, cực kỳ quan trọng, vì vậy mình phải giữ vô thượng thánh giới, vô thượng định uẩn, vô thượng tuệ uẩn, thánh uẩn.

Mình không giữ giới là không thể nào cái tâm mình yên được hết. Mình ngồi đó mà thọ; tưởng; hành; thức hiện lên liên tục. Cái thức của mình cứ lẩn quẩn ở trong đó không đi ra được thì làm sao mình vô sơ thiền, ly dục được? Nên phải ly dục, giữ giới mới định mới vô được sơ thiền, lúc đó cái tuệ quán mới phát triển hết mức thì mới đốt được dục lậu, hủ lậu và vô minh lậu, từ đó mới đi lên thánh đạo, thánh quả được. Thành ra những cái giới luật quyết định rất là quan trọng.

Mình không giữ giới là cái tâm mình không có định được. Sự quán chiếu của mình không đủ sức để nó công phá được cái dục ái, cái tham ái cho nên là phải giữ gìn giới luật. Mà nếu mình có lỡ sai phạm một chút là phải dập đầu xuống sám hối một cách tha thiết chân thành. Mình phải nỗ lực, phải từ bỏ, mình tu tập hết mức thì có khả năng đi vào thánh đạo, thánh quả.

Còn nếu mình vứt bỏ chính mình, mình không nỗ lực phấn đấu lên, không có nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, không có sự nỗ lực tinh tấn lên, mình buông thả cho bản thân rơi tự do là uổng phí một đời tu. Lúc đó Minh Thành đi Hoằng Pháp ở Mỹ. Máy bay rơi tự do 40 – 50m. cô tiếp viên hàng không bưng đồ bị văng hết, té xuống, lúc đó Minh Thành thở vô thở ra "thôi xong rồi". Sao tự nhiên nó ngưng lại giờ mới ngồi đây chứ thôi rồi.

Thành ra đừng để nó rơi tự do, không được vứt bỏ chính mình, vấp ngã thì đứng dậy đi tiếp, ngã nữa cũng đứng dậy đi tiếp, cứ như vậy thì mình càng có nhiều kinh nghiệm để không té ngã nữa. Mình phải tiến về phía trước hoài, chết cũng tiến chứ không chịu lùi, không muốn dừng lại, không chịu thua mà phải thắng. Mình nghĩ "thôi yếu đuối lắm, chịu không nổi đâu, buông tay". Đó là mình đã vứt bỏ chính mình.

IV. Lưới tham ái

“Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Thầy về ái, lưới triền khiến cho lưu chuyển được rộng ra, bám dính vào; chính do ái ấy, thế giới này bị hoại vong, trói buộc, rối loạn như một cuộn chỉ, rối ren như một ổ kén, quyện lại như cỏ mujia và lau sậy babbaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử. Hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, IX (199) Ái)

Cái lưới triền trùm hết trong cái lưới của tham ái. Ác ma quăng lưới tham ái ra, trùm hết chúng sanh trong đó, rồi mọi người bám dính vô, thế giới này bị hoại vong. Tại sao ái mà thế giới này lại hoại vong? Tình yêu mới làm đẹp thêm thế giới chứ sao ái lại hoại vong? Ông này mê mở rộng đất đai của ông. Ông vua này mê khoáng sản, mê tài sản đất nước của người ta, mê cảnh đẹp thiên nhiên của người ta nên muốn chiếm.

Như vậy thế giới bị hoại vong, con người bị hoại vong vì đi xâm chiếm là giết người, chính từ chỗ tham, ham muốn và yêu thích. Đã xảy ra bao nhiêu chuyện, báo đăng mà thấy sợ, ví dụ như bạn gái của người này đi chung với người kia, người này nổi lên sự sân hận là đánh người kia, thậm chí xảy ra án mạng.

Vậy là ái này bị trói buộc, bị rối loạn, bị rối ren. Cái tâm yêu thương mờ mịt trong si ái thì lúc đó trí tuệ không được bình tĩnh, không còn sáng suốt, nó chỉ bị cái đó nó che mờ hết. Tình bạn cũng vậy, thậm chí là tình cô chú bác, bà con cô bác, anh chị em đồng nghiệp... thậm chí vô tu mà không khéo thì sư bá, sư thúc, sư tỷ, sư muội, sư phụ tùm lum lên hết. Mình không khéo cái ái này cũng trá hình vô thì nó trói buộc, mà mình thì rất dễ bị trói buộc.

Nhiều khi lại kêu "Chú ơi, dạo này chú khỏe không chú?", nó ngọt ngào là coi chừng. Rồi vào tu thì gọi sư tỷ, sư muội hay gì đó cho dễ, tự nhiên kêu chị em ngọt lắm, vài bữa giận thì gọi bằng gì? Mình phải thấy rõ được điều này, ngôn từ là một phần thôi nhưng cái sâu sắc trong nội tâm mình phải thấy.

Đức Phật dạy giao tiếp với người nào, sử dụng món đồ nào, ở một ngôi đạo tràng nào mà có thiện pháp sanh thì nơi đó tốt. Còn giao tiếp với người nào bất thiện pháp sanh là không được giao tiếp. Sử dụng món đồ nào mà bất thiện pháp nó sanh là không sử dụng món đồ đó. Những cái này rất sâu sắc, mọi người phải để ý. Giao tiếp với người nào cái ái nó tăng trưởng là mình phải tìm cách từ bỏ, không có giao tiếp nữa, đấy là bất thiện pháp, ác pháp nó tăng trưởng.

Sử dụng món đồ nào mà mình thấy cái ái tăng trưởng, phát triển, nó yêu thích thì mình đem món đồ đó đi tặng, lựa món đò nào yêu thích nhất đem tặng. Tập từ từ là đời sống mình nó thoải mái lắm, nó đơn giản thanh cao, không có chất chứa đồ gì quý báu, quý giá hết. Mình có làm gì cho Tam bảo thì đừng để tâm buộc vô. Cái này rất khó, chẳng thà mình không có chứ có làm mà nói "cái tâm tôi không bị không dính vô" là phải kiểm tra lại, nói cái miệng vậy thôi. Cái ái này nó làm cho hoại vong, nó làm cho bại hoại, làm cho trói buộc, làm cho rối loạn hết, không thể nào ra khỏi chốn khổ hết, con đường ác và sự đọa lạc sanh tử không thể nào ra khỏi hết.

“Này các Tỳ-kheo, có mười tám ái hành này, liên hệ đến nội tâm, có mười tám ái hành này liên hệ với ngoại cảnh.

Thế nào là mười tám ái hành liên hệ đến nội tâm?

Này các Tỳ-kheo, khi nào có ý nghĩ: "Ta có mặt", thời có những ý nghĩ: "Ta có mặt trong đời này"; "Ta có mặt như vậy"; "Ta có mặt khác như vậy"; "Ta không phải thường hằng"; "Ta là thường hằng"; "Ta phải có mặt hay không?"; "Ta phải có mặt trong đời này?"; "Ta phải có mặt như vậy"; "Ta phải có mặt khác như vậy"; "Mong rằng ta có mặt"; "Mong rằng ta có mặt trong đời này"; "Mong rằng ta có mặt như vậy!"; "Mong rằng ta có mặt khác như vậy!"; "Ta sẽ có mặt"; "Ta sẽ có mặt trong đời này"; "Ta sẽ có mặt như vậy"; "Ta sẽ có mặt khác như vậy". Có mười tám ái hành này liên hệ với nội tâm.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, IX (199) Ái)

Đây là lý do tại sao mình phải quán chiếu năm uẩn để thấy rằng không có tôi, không có cái của tôi. Mình nghĩ là mình có mặt, ta có mặt, mình có mặt thì có ý nghĩ ta có mặt ở trên đời này. Mười tám ái hành này nói gọn lại là ta có mặt ở trong cuộc đời này, ta có mặt như vậy và ta đừng có mặt giống như vậy.

Những câu kinh này khó hiểu như những câu thần chú nhưng ngày nào mình cũng có mặt trong đây, không có đi ra khỏi được, mỗi lần mình suy nghĩ là không có ra khỏi mười tám cái ái hành này liên hệ đến nội tâm. Ta có mặt trong đời này nên ta phải cố gắng học, ta phải có bằng cấp, ta phải trụ trì, ta phải làm giảng sư hay là kinh sư, pháp sư, hay thiền sư hay ta phải làm một cái gì đó. Ta có mặt như vậy nghĩa là mình thần tượng ai đó hoặc thần tượng một Ni sư, sư bà nào thì mình muốn mai đây mình trở thành giống người đó.

Và ta có mặt khác như vậy, ví dụ như "Thôi đừng có giống Minh Thành, tu gì mà khổ quá, cái ái nào cũng đoạn hết trơn. Riết không có hương vị gì hết trơn. Đừng giống ổng". Cái nào mình cũng muốn khác hết thì cái đó là ái đó. Mình đừng có như vậyn mình sẽ như khác, những cái này đều là ái. Đó là mười tám ái hành, tức là sự vận hành của tham ái trong nội tâm của mình. Tham ái xuất phát từ chỗ vô minh là tự ngã là có cái tôi. Ta không phải thường hằng hay là ta là thường hằng, tức là ta sẽ thay đổi đừng có giống như vậy nữa hoặc là ta sẽ như vậy hoài.

Mình muốn như vậy hoài thôi, "Con thưa thiệt với thầy con thích ngồi ghế nhà trường hoài thôi. Con không muốn làm cô giáo, thầy giáo, con muốn làm học sinh hoài vậy". Đây cũng là ái, "Con muốn làm chú tiểu hoài thôi. Lên làm trụ trì mệt lắm". Cái miệng nói vậy nhưng bữa nào cho lên chức sự cái là ăn mừng. Thành ra cái ái của mình nó biến tướng rất kinh khiếp. Mong rằng ta có mặt trong buổi lễ đó được kêu tên mình.

Mong rằng bữa tốt nghiệp đó mình được lãnh thưởng. Mong rằng khi họp chúng sư phụ sẽ nhắc đến tên ta lúc khen. Nó nằm trong này hết, nó lẩn quẩn ở trong đây. Vi tế lắm! Vi tế vô cùng! Ta sẽ có mặt, ta sẽ làm được cái gì đó. Ta sẽ có mặt như vậy. Hoặc là ta sẽ có mặt khác như vậy. Cái này mình có thể nói gọn cho dễ hiểu là hồi xưa quá khứ ta vậy, hiện tại ta như thế này, mai đây ta như vậy như vậy. Rồi mình không có như vậy. Có khi nghĩ ta sẽ như vậy rồi mà thôi đừng có như vậy. Ta sẽ như kia mà cuối cùng ta sẽ như vầy, hoặc là ta muốn hư vậy nhưng cuối cùng ta sẽ như kia. Mười tám ái hành liên hệ tới ngoại cảnh cũng giống vậy thôi.

“Thế nào là mười tám ái hành liên hệ đến ngoại cảnh?

Khi nào có tư tưởng: "Với cái này, Ta có mặt", thời có những tư tưởng như sau: "Với cái này, Ta có mặt trong đời này"; "Với cái này, Ta có mặt như vậy"; "Với cái này, Ta có mặt khác như vậy"; "Với cái này, Ta không phải thường hằng"; "Với cái này, Ta là thường hằng"; "Với cái này, Ta phải có mặt hay không?"; "Với cái này, Ta phải có mặt trong thế giới này?"; "Với cái này, Ta có mặt như vậy"; "Với cái này, Ta có mặt khác như vậy"; "Với cái này, mong rằng Ta có mặt"; "Với cái này, mong rằng Ta có mặt trong đời này"; "Với cái này, mong rằng ta có mặt như vậy!"; "Với cái này, mong rằng Ta có mặt khác như vậy!";" Với cái này, Ta sẽ có mặt"; "Với cái này, Ta sẽ có mặt trong đời này";" Với cái này, Ta sẽ có mặt như vậy";" Với cái này, Ta sẽ có mặt khác như vậy".

Có mười tám ái hành này liên hệ với ngoại cảnh.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, IX (199) Ái)

Ngoại cảnh cũng giống với nội tâm. Với cái này, tức là của ta. Hồi nãy là của ta, bây giờ là của ta. Ví dụ quá khứ gương mặt của ta đã là như vậy, bây giờ gương mặt của ta nó là như vậy, xấu hơn lúc trước. Bây giờ cố gắng làm sao cho nó tươi tắn, nó đẹp giống như lúc trước. Mai mốt mình sẽ trở lại đẹp như lúc trước. Hay gặp sư cô nào đó "ôi ước gì mình được như cô đó". Nó dính vô vậy hết. Nhìn thấy cái bạn đồng tu, huynh đệ chị em trong chùa nhưng cô kia học đại học, rồi học cao học, đi xe mặc đồ tốt, mọi cái Phật tử cung kính cúng dường là tủi thân "Mình cũng giống người ta, người ta cũng giống như mình. Mình tu trước người ta nữa mà tại sao không ai thèm dòm ngó mình. Cái xe ọp ẹp sửa hoài, tuần sửa hai lần".

Không có tiền sửa buồn, tủi cho cái thân này quá. Cài này cũng là ái hành. Cái xe của tôi không bằng cái xe của người kia. Mặt của tôi không bằng cái mặt của người kia. Cái da của tôi không có mịn như da của người kia. Cái ái nó khiếp lắm, chỉ cần nó manh nha chút xíu, nó rục rịch mà mình không thấy là nó xâm chiếm, nó chế ngự, nó làm rối ren, rối loạn hết. Thậm chí vô nguyên giờ ngồi thiền toàn là ái không, nghĩ cái này rồi nghĩ cái kia, lòng vòng cũng tôi của tôi không. Nói là thiền mà không có thiền gì hết là vậy đó. Nước vô là chìm nghỉm thuyền luôn.

Ngồi đó thiền nhưng một là vọng tưởng, nghĩ ngợi mông lung, nghĩ mình làm cái này cái kia, làm cái nọ, nửa tháng mới tới đám giỗ mà ngồi thiền tính món này, món nọ, tính qua tính lại. Giờ đó ngồi thiền hay giờ đó nấu bếp? Không sống với thực tại mà sống với ảo tưởng. Ảo tưởng "bữa nay mình nấu món này khen mình dữ à" rồi ngồi mỉm cười một mình. Toàn là thọ; tưởng; hành; thức không mà mình không thấy. Mà cái đó là ái trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Nó bám víu vô, nó chấp trước vô.

Ai mà làm gì tức là nghĩ ra đủ cách hết "Sao lúc đó mình không cự lại ta? Mình chửi lại cho biết mặt ta"? Đang ngồi thiền mà chửi. Ghê vậy đó! Cứ nghĩ là ngày mai lên gặp phải nói cái gì cho nó đã, nói câu gì cho nó đau đớn. Đó là tà tư duy, sân tư duy, hại tư duy. Tại lúc đó mình không phát hiện, mình không thấy được, mình không phát hiện ra được để mình chặn đứng nó, mình từ bỏ nó, quán chiếu tẩy sạch mà mình theo nó là thôi xong, là mình đang tà tư duy. Ai làm trái ý mình là ngồi yên trong phòng nghĩ đủ thứ, moi móc.

Một chuyện đó thôi mà bao nhiêu cái xấu từ 3 tháng trước mình moi hết ra để cộng chung tính sổ. Nó làm tổ kén rối ren lên. Ghê gớm như vậy đó. Tâm mình nó khiếp như vậy đó. Mà lúc đó mình không có phát hiện, không thấy không biết thì nó cuốn mình vô trong đó. Ngày mai mình biết cái đó là xấu là mình nghĩ trong tâm "Thôi nhá, nghĩ trong tâm thôi đừng nói ra. Mình nói trong miệng thôi mình nghĩ chứ đừng có nói. Nói không được đâu". Nhưng cuối cùng tức rồi cũng nói, nhiều khi nói hơn cái đó nữa là xong. Nên mình phải nghiên cứu kỹ mười tám ái hành.

“Mười tám ái hành này liên hệ đến nội tâm, và mười tám ái hành này liên hệ đến ngoại cảnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là ba mươi sáu ái hành. Ba mươi sáu ái hành quá khứ như vậy; ba mươi sáu ái hành vị lai như vậy; ba mươi sáu ái hành hiện tại như vậy. Như vậy là một trăm lẻ tám ái hành.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, IX (199) Ái)

Khủng khiếp! Một trăm lẻ tám ái hành là một trăm lẻ tám thứ mà ái nó vận hành trong nội tâm mình.

“Này các Tỳ-kheo, đây là ái này, lưới triền, khiến cho lưu chuyển, được trải rộng ra, bám dính vào; chính do ái ấy, thế giới này bị hoại vong, trói buộc, rối loạn như một cuộn chỉ, rối ren như một ổ kén, quyện lại như cỏ mujia và lau sậy babbaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, IX (199) Ái)

./.