Giá Trị Lợi Ích Của Xấu Hổ Và Sợ Hãi - Tàm Quý - TÂM HIỀN - NGHIỆP THIỆN - HẠNH THÁNH 4
Giá Trị Lợi Ích Của Xấu Hổ Và Sợ Hãi
Tàm Quý
Thích Minh Thành
Ngày 02 tháng 01 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tàm Quý PAGEREF _Toc97041048 \h 1
II. Công năng của Tàm Quý PAGEREF _Toc97041049 \h 7
I. Tàm Quý
Kính bạch chư tôn đức, các bậc hiền trí, nam nữ Phật tử. Chúng ta đang tìm hiểu thực tập về tâm hiền và Thất Thánh Tài, bảy tài sản của bậc Thánh. Hôm nay chúng ta bước qua tàm và quý.
Danh từ tàm và quý là danh từ chúng ta rất quen thuộc, nhưng khi hiểu thì thường là chúng ta chỉ giải thích là xấu hổ nhưng chúng ta lại quên chữ quý là sợ hãi. Trước nay chúng ta học pháp tàm quý thì rất sơ sài, không đào sâu, như trong kinh tạng Nikaya, Đức Phật nhấn mạnh pháp này là tuyệt đối quan trọng. Minh Thành có chia sẻ bài nhục nhã sanh Thánh quả, quý vị hãy chịu khó nghe kĩ, vì hai pháp tàm quý này là căn bản, là nền tảng, gốc rễ, cốt lõi, để dẫn đến sự tẩy sạch, làm cho trong sạch, thanh tịnh thân tâm, các cấu nhiễm, rác bẩn và cấu uế trong tự thân tâm của chúng ta.
Nếu thiếu hai pháp xấu hổ và sợ hãi, đối với những pháp ác và bất thiện pháp thì không thể nào chúng ta có thể tăng thượng, làm sạch, làm trong, làm mới thân tâm của mình một cách trọn vẹn, chính vì vậy, tài sản của bậc Thánh có hai pháp này tức là xấu hổ và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp. Chúng ta nghe Đức Phật định nghĩa tàm lực như sau:
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tàm lực?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng hổ thẹn đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, hổ thẹn đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tàm lực.”
(Bài kinh Rộng rãi – Phẩm Sức mạnh hữu học – Chương Năm pháp
- Tăng Chi Bộ Kinh)
Xấu hổ vì mình có những điều ác, bất thiện như vậy. Đó là ý nghĩa của chữ tàm, tức là xấu hổ. Một người có tâm xấu hổ này thì người đó có được tài sản của bậc Thánh. Một người không có tâm xấu hổ khi làm chuyện sai quấy thì người đó không thể nào sửa đổi, thấy lỗi, giảm lỗi và đi đến chỗ hết lỗi. Nên sự xấu hổ, cắn rứt, hối hận, dày vò, ray rứt đó là một thiện pháp, khi mình có lỗi, khi mình làm điều sai, mình thấy có sự cắn rứt trong tâm, có sự dày vò trong tâm, đau khổ trong tâm, có sự bứt rứt, khó chịu, hổ thẹn, nhục nhã. Đó là thiện pháp, Thánh pháp là tài sản của Thánh nhân.
Nếu mình làm lỗi, làm xấu, làm sai, làm điều ác mà mình trơ trơ, mình thấy điều đó là tự nhiên, bình thường thì đây rất nguy hiểm. Như chúng ta thấy những người phạm lỗi lầm, thậm chí tuyên án tử hình mà còn cười được thì Đức Thế Tôn gọi đó là vô tàm vô quý, rất nguy hiểm, sẽ rơi vào địa ngục ngạ quỷ, súc sanh, nên người có xấu hổ, hổ thẹn, nhục nhã, có thấy ray rứt, bứt rứt, dày xéo lương tâm, có thấy khó chịu, thấy mình bị dày vò khi nói một lời nào đó và lời nói đó bất thiện. Hay thấy mình ray rứt, xấu hổ khi mình làm gì đó bất chánh, không đúng đắn, thậm chí trong suy nghĩ của mình mà suy nghĩ sân hận, tham dục, bản ngã.
Mình thấy nó sanh khởi lên và thấy mình thật thấp hèn, thật đáng khinh mình, thật đáng trách mình, thật xấu hổ cho mình “Tại sao mình tu lại suy nghĩ như vậy?” Điều đó có được trong tâm mình thì người đó đã có được tài sản của bậc Thánh. Chúng ta thấy tuyệt vời không?
Nên lâu nay chúng ta học tàm quý lướt qua vậy nhưng đây là một pháp tuyệt đối quan trọng, dẫn tới Thánh đạo, Thánh quả. Còn người đi đến tẩy sạch hết tất cả cấu uế, cấu nhiễm, rác bẩn, lậu hoặc trong thân tâm mình mà không có tàm quý thì không thể nào đi đến được, nhất định phải đi qua pháp này và pháp này càng viên mãn, sung mãn, càng tròn đầy ra sao thì người này càng mau đi tới chỗ thanh tịnh, trong sạch, hoàn thiện, cao thượng, thánh thiện chừng đó.
Vậy nên chúng ta đang học đây là những pháp thực tập, thực hành, chúng ta nhớ, ngoài việc chúng ta nghe, ghi chép lại thì về chúng ta nên thường đọc, tác ý và thường nhìn quanh ngó lại, thân tâm của mình. Mình nói một câu mà làm cho huynh đệ của mình đau lòng thì mình phải trách mình, dù cho mình nói câu đó là đúng nhưng mình làm cho người khác đau lòng là mình chưa khéo, mình chưa đủ tình thương, lòng thương. Mình cư xử và thấy rằng mình cư xử như vậy không phù hợp với người tu, không phù hợp với người cư sĩ, khi có những hành động, nếp sống như vậy thì mình thấy mình nhục nhã, xấu hổ. Đó là mình đang có được tài sản của bậc Thánh.
Khi có tâm, có ý nghĩ, cảm xúc, cảm thọ, tư tưởng đó là mình có được tài sản của Thánh nhân. Mình thừa kế, thừa tự được những của báu mà Đức Thế Tôn truyền trao lại cho mình. Còn khi mình có những ý nghĩ sai quấy, những lời nói thô ác, những hành động tội lỗi mà mình vẫn trơ trơ như không có chuyện gì thì đây là hiểm nguy, là tai họa.
Như khi Đức Thế Tôn ngồi xuống và lấy móng tay khơi một chút đất thì Ngài hỏi các Tỳ-kheo “Đất dính trong móng tay ta nhiều hay đất dính ở đại địa này nhiều?” thì các Tỳ-kheo nói “Bạch Thế Tôn, đất dính ở móng tay của Ngài rất ít so với đất của quả địa cầu này.”
Thế Tôn nói: “Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, người từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, nói dối, từ bỏ sử dụng những chất say sưa, nghiện ngập, để sau khi chết sanh lên cõi trời, cõi người ít giống như đất trong móng tay của Như Lai. Người lao vào trong sự sát sanh, tà hạnh trong các dục, trộm cắp, nói dối, say sưa, nghiện ngập thì sau khi chết sẽ rơi xuống địa ngục, các loài cô hồn, quỷ đói, rơi vào trong các dạng thức mang lông đội sừng của súc sanh, thú vật nhiều như đất ở địa cầu.”
Ví dụ này Đức Phật đã ví dụ rất nhiều trong mấy trăm bài kinh, Ngài thường lấy hình ảnh đất dính trong móng tay và đất dính ở đại địa. Cũng vậy, người có được sự xấu hổ khi làm sai quấy, làm hay nói nghĩ những điều ác mà người có được xấu hổ đó thì người đó ít như đất dính trên móng tay. Còn người không biết xấu hổ khi làm tội lỗi nhiều như đất của địa cầu.
Vậy nên người Phật tử nên nhớ, đây là pháp thứ nhất – xấu hổ.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là quý lực?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sợ hãi đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là quý lực.”
(Bài kinh Rộng rãi – Phẩm Sức mạnh hữu học – Chương Năm pháp
- Tăng Chi Bộ Kinh)
Vị đệ tử của bậc Thánh, con Phật chân chánh, khi thân làm một điều ác, miệng nói lời bất thiện và ý mình suy nghĩ sự hơn thua, bản ngã, tham, sân, si thì người Thánh đệ tử này sợ hãi, lo lắng, bất an, hối hận (trạo hối), xấu hổ. Đó gọi là tài sản của bậc Thánh, là sự biết sợ, biết lo, có những tâm lo sợ đối với những ác, bất thiện pháp, có tâm ý bất an, lo lắng, lo sợ, sợ hãi về những ý nghĩ bất thiện, lời nói bất thiện và những hành động ác, bất thiện.
Vị này trong lòng có cảm giác sợ hãi, lo lắng, bất an, mỗi khi làm gì sai quấy, không đúng lời Phật dạy, không đúng pháp. Như vậy, người Phật tử này được gọi là người có được tài sản của Thánh nhân.
Trước nay chúng ta ít có để ý đến việc này, mình chỉ nghĩ lo sợ là xấu nhưng không, lo sợ này là thiện pháp, Thánh pháp, không phải tu là không còn biết lo hay biết sợ nữa. Biết lo, biết sợ những điều ác, bất thiện pháp thì đây là thừa hưởng được tài sản của Thánh nhân, thừa tự được gia tài của Thế Tôn, của Như Lai.
Còn nếu không biết lo sợ, làm sai, làm quấy, làm tội lỗi và không lo, không sợ, vẫn trơ trơ, bình thường thì đây rất nguy hiểm. Trong kinh Tăng Chi Bộ Kinh tập một, kinh Hai loại tội, hai pháp che chở cho cuộc đời:
“Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là pháp đen. Thế nào là hai?
Không tàm
Và không quý.
Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đen.
8. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai?
Tàm
Và quý.
Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp trắng.
9. Hai pháp trắng này, này các Tỷ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai?
Tàm
Và quý.”
Đây là hai pháp trắng bạch, trắng tinh, hai pháp lành, hai pháp thiện, hai pháp cao quý. Còn mình làm, mình nói, nghĩ những điều xấu ác, bất thiện mà mình không biết sợ hãi, lo hay xấu hổ thì đây là hai pháp đen tối, tội lỗi.
“Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ, hay là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ, hay là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của thầy, hay đây là vợ của các vị tôn trưởng”
(Bài kinh Hai loại tội – Phẩm Hình phạt – Chương Hai pháp
– Tăng Chi Bộ Kinh)
Giải thích ra theo nghĩa thường là: nếu không có sự xấu hổ và sợ hãi thì thế gian này không phân biệt được người hay thú vật, không còn phân biệt được là mẹ, là con, là dì, mợ hay là thím và thế gian sẽ rơi vào sự hỗn độn ở trong tà hạnh của các dục, trở thành cuộc sống bầy đàn, loạn luân, không còn trật tự của luân lý, đạo đức. Nếu hai pháp xấu hổ và sợ hãi này sụp đổ, không còn tồn tại trên thế giới này nữa, thì thế giới sẽ rơi vào sự hỗn loạn, các trật tự của luân lý, đạo đức và xã hội sẽ bị sụp đổ.
Và ngày hôm nay, sau hai ngàn sáu trăm năm, những điều trên đang bắt đầu biểu hiện. Bao nhiêu những dòng nước mắt đau khổ giữa cảnh chia ly của vợ chồng, con cái, cha mẹ, của anh em thân tộc. Vì sự mất đi hai pháp tàm quý này, tức là mất đi sự xấu hổ và sợ hãi. Chính sự xấu hổ và sợ hãi này “che chở cho thế giới”, bảo bọc cho thế gian và làm cho bình ổn trật tự luân lý, đạo đức của xã hội, chính là sự xấu hổ và sợ hãi.
Giữa vợ chồng, cha con, chị dâu, con dâu, em dâu, giữa những mối quan hệ trong xã hội, bạn bè, anh em thì làm sao phân biệt được với nhau? Đó là do có ranh giới, luân lý, nề nếp, gia phong, chuẩn mực thì mới ổn định trật tự của hành tinh, của loài người. Nhưng thế giới ngày nay lại có những trường hợp như vậy, nếu phát triển nhiều hơn thì càng mau đi tới sự sụp đổ, hỗn loạn, con người sẽ rất đau khổ.
Đó là hiểm họa, tai họa, tai nạn, nguy nan, là sự chia rẽ, tan nát và đổ vỡ của sự không biết xấu hổ và sợ hãi. Đây là pháp mà chúng ta phải chiêm nghiệm thật sâu sắc, đem lại lợi ích, hạnh phúc lâu dài cho chúng ta ở hiện tại và nhiều đời sau nữa.
Giống như có người cầm con dao lên cắt cổ gà mà cắt không được, nghe tiếng kêu đau xót của nó bi thống, bi ai thì người ta không nỡ cắt. Nhưng cũng có những người mài cựa thật sắc đeo vô cho con gà để rồi chứng kiến cảnh nó đá nhau đổ máu cho đến chết thì người này lại reo hò, vỗ tay, cũng cùng là con người.
Đó là sự có thấy sợ hãi và không có biết sợ hãi, nên Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, xa xa thật xa, xa vô cùng xa là bờ biển bên này và bờ biển bên kia. Này các Tỳ-kheo, xa xa thật xa, rất xa là mặt đất và bầu trời. Cũng vậy, xa xa rất là xa là tâm của thiện nhân và tâm của người ác.”
Tâm của người biết xấu hổ sợ hãi và người không biết xấu hổ sợ hãi xa nhau như vậy, giữa cái ác và cái thiện, giữa cái lành và cái dữ, giữa cái tội và cái phước xa như vậy. Tuy là một ý niệm giống như lật úp bàn tay, nếu như nó xa như trời với đất. Nên sự tu của chúng ta là ở chỗ bàn tay này, suy nghĩ trước và suy nghĩ sau chúng ta có kiểm soát được hay không, có nhận diện được hành uẩn của mình không hay ý hành của mình không? Có chiếu soi được những cảm thọ của mình không? Cảm xúc, cảm giác của mình có nhiếp phục và làm chủ được hay không hay mình sống theo cảm xúc, cảm tính, cảm giác, cảm thọ? Hay là mình nhận diện, soi xét, nhiếp phục, chế ngự và diệt tận các cảm thọ xấu, ác và bất thiện pháp, tội lỗi?
Sự tu hay không tu khác nhau ở chỗ đó, có thấy rõ được những suy nghĩ của mình không? Suy nghĩ ác, bất thiện pháp đó mình có mạnh mẽ lên để nhận diện ra, nhìn thấy nó, chế ngự, nhiếp phục, diệt tận và tẩy sạch nó? Đó là công phu của người thiện, thiện nhân, trí nhân, Thánh đệ tử.
Như vậy, hai pháp này che chở cho thế giới, nếu không có sự xấu hổ và sợ hãi này thì không phân biệt được vợ của thầy, chị dâu, em chồng…Lẫn lộn, rối loạn, bầy đàn, như Thế Tôn nói là “Thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, gà, vịt, heo, chó.” Nên chúng ta thấy ngày nào năm giới còn được người ta tôn kính, tôn trọng, còn được người ta giữ gìn thì ngày đó thế giới còn được an bình, xã hội còn được ổn định.
Mình nhìn trên mặt báo thấy những tin tức như vậy thì đều là các tội lỗi, do không có thực tập năm giới, không có thực tập sự tàm quý để đi đến tai nạn cho người, tai nạn cho mình, làm khổ mình, làm khổ người, hành hạ mình, hành hạ người, hành tội mình, hành tội người. Không chỉ bản thân người đó đi vào tù chung thân hay hai ba mươi năm mà cha mẹ, vợ, em, con của người đó cũng như vậy. Không chỉ người bị tù chung thân chịu mà người bị giết và cả gia đình của người đó bị liên lụy rất nhiều.
Mình tưởng, nghĩ là người đó bị phán án rồi là xong nhưng cả gia đình, dòng họ và cả gia đình của bên bị hại. Chúng ta thấy khi lái xe mình có sự lo lắng thì mình sẽ cẩn trọng, cẩn thận thì mình sẽ ít gây ra tai nạn giao thông, còn nếu mình không sợ, không cẩn trọng, lo lắng, cứ chạy nhanh, ỷ mình là xe lớn cứ chạy đi rồi bất thình lình xảy ra tai nạn thì không phải chỉ người lái ẩu đó mà người nằm dưới bánh xe đó và cả gia đình của họ cũng đau khổ.
II. Công năng của Tàm Quý
Nên chúng ta thấy hai pháp này là cứu thế, che chở cho thế giới. Mình chiêm nghiệm sẽ thấy nó rất tuyệt vời, bảo tồn, bảo an, bảo hiểm cho mình trong mọi phương diện của đời sống. Khi mình biết được xấu hổ, sợ hãi thì mình nói ra lời thì mình cũng không dám nói, những lời ác, những lời làm cho người ta phải nhức nhối, đau khổ, buồn phiền. Khi mình có sự xấu hổ, sợ hãi thì khi suy nghĩ mình cũng không dám suy nghĩ xấu về người khác nhiều, vì mình thấy đó là suy nghĩ ác bất thiện pháp, chúng ta thấy nó bảo vệ, che chở cho mình không?
Đức Phật nói chúng là hai pháp che chở cho đời. Đức Thế Tôn tôn kính, tôn thời hai pháp này như trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, bài kinh Xấu hổ, Đức Thế Tôn đã kể lại cho các thầy Tỳ-kheo nghe:
“1. - Đêm này, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên, Thiên nhân ấy thưa với Ta: "Có bảy pháp này, bạch Thế Tôn không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy?
Tôn kính bậc Đạo Sư,
tôn kính Pháp;
tôn kính Tăng,
tôn kính học pháp;
tôn kính định;
tôn kính xấu hổ,
tôn kính sợ hãi.
Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ- kheo đến thối đọa". Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ
Kính trọng bậc Đạo Sư,
Kính trọng Pháp và Tăng,
Kính trọng định, nhiệt tâm,
Chí thành kính học pháp,
Đầy đủ tàm và quý,
Tùy thuận và tôn kính,
Không thể bị đọa lạc,
Vị ấy gần Niết-bàn.”
(Bài kinh Xấu hổ - Phẩm Chư thiên – Chương Bảy pháp – Tăng Chi Bộ Kinh)
Như vậy, trong hai bài kinh này chúng ta muốn nói hai pháp: tôn kính xấu hổ và tôn kính sợ hãi. Khi nãy là nói về che chở cho thế giới, công năng và tác dụng của tàm quý, công năng của biết xấu hổ và công năng của tâm biết sợ hãi đối với ác bất thiện pháp thì công năng nó là bảo bọc, che chở, giữ gìn và bảo vệ mình. Bảo an, bảo hiểm, bảo toàn cho mình, bảo hộ, bảo vệ mình, không bị rơi xuống vực sâu, không bị lún trong đầm lầy, không bị hỏa hoạn của cơn sân hận đốt thiêu, không bị cái tôi, cái ta, cái bản ngã làm gãy đổ, tan nát gia đình, tình nghĩa, bạn bè, thầy trò, vợ chồng, anh em.
Đó là vì mình có sự xấu hổ, nhìn lại mình “Suy nghĩ như vậy là không được! Suy nghĩ này là cái tôi, cái ta, cái bản ngã này là không được, phải tu tâm hiền! Phải tu tâm thật là hiền!”
“Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.”
Khi mình thấy ý niệm dữ thì mình nói nó ngay, còn khi mình dữ thì mình soi lại gương, nhìn mặt rất xấu, xấu hết chỗ nói, xấu không muốn nhìn “Mặt tôi hung dữ này!” Như vậy là mình xấu hổ, không dám xem gương, mặt vừa sân si, bản ngã thì quay vào rồi gục mặt vào vách tường.
Vậy nên công năng, tác dụng của xấu hổ, sợ hãi đó là bao bọc, chở che, bảo vệ, bảo an, bảo toàn, bảo hiểm. Đó là bảo hiểm tâm linh của mình, vì mình chỉ biết bảo hiểm ý tế, bảo hiểm xã hội còn đây là bảo hiểm tâm linh của mình là trong đó, biết sợ hãi, tội lỗi, biết xấu hổ khi sai quấy, đó chính là bảo hiểm tâm linh, bảo hiểm thân tâm, bảo an, bảo toàn, bảo vệ, bảo đảm.
Ví dụ như mình có tiền bảo hiểm rất lớn, là bảo hiểm vượt trội, mắc nhất thế giới, nhưng mình chạy xe lại phóng ẩu, đụng ai mình cũng gây gổ, cũng đánh nhau, thì nó có bảo hiểm nhất thế giới không? Đó là ai hưởng tiền chứ mình không hưởng hay mình kiếm chuyện, tới đánh người ta nữa thì đã xong, bảo hiểm cũng không đưa tiền. Bảo hiểm, bảo an, bảo toàn thật sự, chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ, bảo vệ, thu nhiếp sáu căn của mình và sự biết lo lắng, sợ hãi, xấu hổ những điều xấu ác. Mình muốn vậy thì mình phải có tâm tôn kính hai pháp này, mỗi ngày mình lạy trước bàn Phật và lạy tâm xấu hổ của mình, nhắc cảm thọ và tâm mình: “Đừng quên nha! Đừng quên xấu hổ khi sai quấy, phải nhớ nha.” Tôn kính tâm đó và lạy xuống, mỗi khi làm sai quấy, mỗi ngày phải nhắc một chút “Phải biết sợ, biết lo nha!”
Vì nhiều khi mình sống thoải mái theo cái tham, theo ý muốn của mình, theo cái ta, cái tôi của mình mà mình không để ý người khác, mình không có nhìn sâu sắc thì có khi tai họa đến bất thình lình. Thì có nhiều người tự hỏi là “Sao tai họa đến với tôi?” Đó là do mình vô minh, không thấy không biết các sanh quả hệ, duyên sanh pháp, duyên khởi của nó, mình chỉ sống ích kỉ, chỉ biết mình mà không biết đến người khác. Một khi mình gây ra gì cho người khác đau khổ, thì cảm thọ, hành động đó họ sẽ chất chứa trong lòng.
Đúng nhân, đúng duyên thì họ sẽ trả đũa lại mình, nên nghiệp ác chờ thời để ra tay, giờ nó nằm yên đó khi nhân quả chưa đến, khi đúng cơ duyên, thời cơ chín mùi rồi thì nó tấn công, trả đũa lại mình thẳng tay. Nên tốt nhất là đừng gây xấu, gây ác với ai, tốt nhất là đừng làm ai khổ, đừng làm ai thù hận với ai, đừng gieo vào những ý nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác với bất cứ một ai, phải tôn kính thiện pháp này.
Một công năng, tác dụng, sự thực tập Đức Phật đã dạy mình là phải y chỉ tàm quý. Mình phải đi tìm ông thầy y chỉ, người xuất gia và người cư sĩ hay tìm một vị thầy để nương tựa thì điều đó cần nhưng còn một vị thầy sâu sắc hơn nữa chính là vị thầy cho mình nương tựa. Tâm hổ thẹn, sợ hãi trong lòng mình là vị thầy cho mình nương tựa và y chỉ. Vì có những lúc không có thầy ở kế bên mà mình không biết xấu hổ, sợ hãi thì mình vẫn phạm sai lầm như thường.
Ý nói y chỉ là nằm trong nội tâm mình, Đức Thế Tôn dạy trong kinh Nikaya,
1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Đầy đủ y chỉ, đầy đủ y chỉ, bạch Thế Tôn, được nói lên như vậy. Bạch Thế Tôn cho đến như thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ y chỉ?
2. - Nếu Tỷ-kheo y chỉ lòng tin, đoạn tận bất thiện tu tập thiện, như vậy, với vị ấy, bất thiện được đoạn tận.
Nếu Tỷ-kheo y chỉ tàm (xấu hổ) ...
Nếu Tỷ-kheo y chỉ sợ hãi...
Nếu Tỷ-kheo y chỉ tinh tấn...
Nếu Tỷ-kheo y chỉ trí tuệ, đoạn tận bất thiện, tu tập thiện, như vậy với vị ấy, bất thiện được đoạn tận. Như vậy Tỷ-kheo ấy đã đoạn tận, đã khéo đoạn tận bất thiện, khi bất thiện ấy được thấy với Thánh trí tuệ và được đoạn tận.”
(Bài kinh Y chỉ - Phẩm Chánh Giác – Chương Chín pháp – Tăng Chi Bộ Kinh)
Thứ hai, Đức Phật có dạy mình phải nhìn pháp đồng ý này như thế nào, là Đức Phật dạy mình phải nương tựa pháp này mà tu, lấy đây làm chỗ dựa tinh thần, thầy nội tâm. Phải biết nương tựa, y chỉ vào sự xấu hổ và sợ hãi.
Vậy nên hôm nay chúng ta nói các phương diện, khía cạnh, công năng và lợi ích, tác dụng và cách nhìn, vận dụng tu tập như thế nào của hai chữ tàm quý này. Và chính Đức Thế Tôn, kim khẩu của Ngài, Thánh ngôn của Ngài tuyên thuyết trong kinh tạng Nikaya. Đừng bao giờ quên nhục nhã sanh Thánh quả, xấu hổ đưa đến trong sạch, sợ hãi đưa mình đến sự an toàn, sự bảo an, bảo vệ, bảo hộ.
Đây là điều đặc biệt, vì người đại trí, có trí tuệ thì mình nhìn người đó như là nhút nhát lắm, vì cái gì người này cũng lo, nhìn. Còn người ngu là không biết sợ gì, như điếc không sợ súng, như súng bắn sát bên nhưng vẫn đi thẳng đến vì bị điếc, không nghe gì. Hay như người mù không sợ vực thẳm, vực thẳm ở trước mắt mà vẫn tiến tới vì mù. Nhưng đối với người có mắt sáng thì có lao tới vực thẳm không? Họ hoảng sợ, tránh hay lùi lại ngay và nếu nghe tiếng súng thì phải tránh ngay.
Vậy nên người không biết thì thấy người trí này sao lại lo xa, nên nhiều khi có đệ tử giỏi hơn thầy như thầy nói thì nói “Thầy lo chi vậy thầy. Thầy yên tâm đi, để con lo.” Nhưng nhiều khi mình thấy thì rất thương.
“Nhân vô viễn lự, tắt hữu cần hưu.”
Đây là câu nói của Khổng Tử, Thánh của thế gian. Ý nói: người không có sự lo lắng xa thì sẽ không có sự buồn gần. Người không lo xa sẽ có buồn gần, bậc trí là nhìn gì cũng sâu sắc, thấu đáo, tận tường trong mọi sự nhỏ nhiệm, người ta để tâm vào đó, soi rọi đến tận cùng. Còn người không có trí tuệ thì vẫn tiến tới, điếc không sợ súng, trước mặt là vực thẳm thì cứ tới vì không thấy đường, cứ lao tới, nào tới, tiến tới và sau đó rơi xuống.
Qua đó, chúng ta thấy được bài kinh rất đặc biệt, ví dụ trên để minh họa cho bài kinh Vô minh trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 5:
“- Này các Tỷ-kheo, khởi điểm đầu tiên của vô minh không thể nêu rõ để có thể nói: "Trước điểm này, vô minh không có, rồi sau mới có." Như vậy, này các Tỷ-kheo, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rõ: "Do duyên này, vô minh (có mặt)"
(Bài kinh Vô minh – Phẩm Song đôi - Chương Tám pháp – Tăng Chi Bộ kinh)
Như vậy vô tàm vô quý là từ vô minh sanh ra. Sở dĩ người không biết xấu hổ, không biết sợ hãi, lo lắng là vì người này không thấy, như mình đã ví dụ: mù không thấy vực thẳm, điếc thì súng nổ ầm ầm không nghe. Như đoạn Đức Phật đã nói “Này các Tỳ-kheo, khi nào vô minh dẫn đầu thì đưa đến sự thành tựu các pháp ác, bất thiền” Một con người không thấy, không biết, không nhìn thấy trước mắt là vực sâu, hố thẳm, khi nào vô minh dẫn đầu thì sẽ đi đến những pháp ác, bất thiện, tội lỗi thì không biết xấu hổ, sợ hãi và sẽ nối tiếp theo sau.
Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỳ-kheo, tà kiến sanh, với kẻ không thấy không biết, thì cái nhìn sẽ lệch lạc, sai lầm, thì dẫn đến suy nghĩ sai, nói là lời sai, hành động sai. Những sự mưu sinh, lầm lạc, sai lầm, siêng năng sai, nhớ nghĩ sai thì cuối cùng tập trung tâm ý cũng sai lầm.
Một khi vô minh dẫn dắt thì nghĩ ác, nói ác, làm ác vì không thấy không biết. Và khi nghĩ ác, nói ác, làm ác rồi thì tiếp theo là không xấu hổ, không sợ hãi. Và một khi không xấu hổ, không sợ hãi với ác bất thiện pháp thì bát tà đạo sanh khởi, thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, siêng sai, quán xét sai, tập trung tâm ý sai chỗ. Thay vì chỗ cần tập trung tâm ý thì không tập trung, còn chỗ đáng tập trung lại tập trung. Chỗ đáng nghĩ thì không suy nghĩ, còn chỗ không đáng nghĩ thì lại suy nghĩ.
Suy nghĩ để tha thứ, để yêu thương, để chia sẻ thì không suy nghĩ mà lại suy nghĩ sân hận, bực bội, khó chịu, đó tà tư duy, suy nghĩ sai. Cần phải nói lời tha thứ, lời san sẻ, sớt chia với huynh đệ của mình, đang ốm yếu, bệnh hoạn, khó chịu mà mình lại nói lời không trí tuệ, không tình thương làm người khác phiền não, thoái thất, làm người ta có khi về nhà không muốn tu nữa. Vì lúc đó mình không có trí tuệ, mình không hiểu người sư đệ của mình, đang mệt mỏi, bệnh hoạn, tâm đang yếu mà mình nói cho một câu thì người đó nửa đêm xách đãi xuống núi.
Đúng là mình không phải đuổi sư đệ mình đi về nhà hoàn tục nhưng mình là người vô minh gián tiếp, là giọt nước sau cùng để ly đó tràn, thấy như một lời nói bình thường nhưng vì vô minh dẫn dắt nên xảy ra một kết quả lớn lao. Thì trong chùa, ngoài đời cũng giống nhau, người chồng đi làm, lo lắng, gánh vác nhiều thứ, trường cột gia đình, mệt mỏi, căng thẳng nhiều việc nhưng vừa bước vào cửa thì người vợ cự cãi “Tiền đâu không thấy đem về vậy? Đi với ai? Tối ngày đi rồi ăn chơi?” Vậy rồi vợ chồng có chuyện, chỉ một câu nói đó thôi, đó là tà ngữ. Tại sao có lời nói sai đó? Hành động sai đó? Là vì không thấy không biết không hiểu người chồng của mình.
Vậy nên Bát chánh đạo tràn ngập khắp đời sống của mình chứ không chỉ ở trong chùa thôi, đó là nhìn sai. Vậy nên, trong bài kinh này chúng ta nhìn thấy được: sở dĩ đưa đến đau khổ cho mình, sở dĩ mình không biết lo lắng, sợ hãi, hổ thẹn là vì vô minh dẫn dắt, vô minh dẫn đầu, dẫn đạo, dẫn lối.
Hôm nay chúng ta đã thấy được giá trị, lợi ích, ý nghĩa, công năng, tác dụng, mục đích của hai pháp tàm quý này. Chúng ta cảm thấy tuyệt vời không? Mục đích của tàm quý là gì? Mục đích của xấu hổ, sợ hãi là gì?
“Tỳ-kheo đoạn tận bất thiện tu tập thiện.”
Chúng ta nhớ trong kinh Nikaya nói nhiều như vậy mà gom lại chỉ bốn chữ: thiện và bất thiện pháp. Nhưng để hiểu được bốn chữ này thì chúng ta phải đọc hết cả tạng kinh và chúng ta tu suốt cuộc đời, nên chữ thiện và bất thiện hay chữ thiện và ác trong kinh Niyaka đó không phải là chữ thiện ác đơn sơ ở đời. Chữ thiện này rất thâm sâu, là chí thiện, Thánh thiện, chữ thiện này là cứu cánh của bậc Thánh. Bất thiện là cái ác.
Như vậy, mục đích của sự thực hành tâm hổ thẹn và sợ hãi này là gì? Là đoạn tận bất thiện, tu tập thiện, viên mãn thiện.
Ví dụ như trường hợp gặp đồ người ta lại lấy, hay gặp là bỏ túi, đi ngang thấy cây ớt, cây cà của người ta lại lén hái bỏ túi. Thấy là nhỏ nhặt nhưng điều này không tàm quý, không hổ thẹn, sợ hãi, sẽ làm quen dần, ngày sau sẽ lấy đồ lớn hơn, quan trọng hơn.
Đó là nuôi lớn bất thiện pháp, ác pháp. Thậm chí giờ chỉ che mặt lại, xách búa, xách đồ rồi vào đập tiệm vàng rồi vào tù, nếu mình không tu hai pháp này thì ác và bất thiện sẽ tăng trưởng và phát triển, còn nếu tu hai pháp này thì ác và bất thiện sẽ nhiếp phục và chế ngự, giảm thiểu và đi đến đoạn tận. Nói dối cũng vậy, nói dối quen rồi, gặp gì cũng nói dối, hay nhậu quen rồi nên ngày nào cũng nhậu, rồi nó phá hết nội tạng bên trong, làm sinh bệnh ung thư gan…
Mình thấy đó là sợ tội, biết đó là lỗi lầm mình lo, sợ, tránh né thì ác pháp giảm xuống, thiện pháp tăng lên. Đến khi mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận hoàn toàn ác pháp, để mình viên mãn hoàn toàn thiện pháp và đi đến chỗ Thánh thiện là thiện của bậc Thánh, chí thiện là thiện tột cùng, cứu cánh thiện là thiện rốt ráo, viên mãn, trọn vẹn thì đó là sự tu của mình. Nên không phải sự tu của mình là gì cao siêu mà mình với không tới, mình tưởng tượng đâu ở trên trời, trên mây mà sau này mới biết kết quả.
Chính ngay trong ý nghĩ, cảm giác của mình, ngay trong lời nói, hành động của mình, có biết xấu hổ và sai quấy không? Có biết nhận lỗi, nghe lỗi, sửa lỗi, chỉnh lỗi không? Có biết sám hối không? Có biết cố gắng làm thanh tịnh, trong sạch tự thân tâm mình không? Đó là sự tu thiết thực, hiện tại, đến để thấy và có hiệu quả tức thời, không trải qua thời gian. Có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu, nhận thức.
Như vậy, sự tu này, chúng ta đang nói về tâm hiền, đang nói về nghiệp thiện, rồi bắt đầu bước qua hàng Thánh, Thánh đạo, những bước đầu của Thánh hành. Chúng ta thấy tất cả đều nằm trong hai chữ thiện và bất thiện, chúng ta luôn luôn xoay trở lại để soi chiếu cảm thọ của mình, soi chiếu những suy nghĩ của mình, soi chiếu những tư tưởng, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, cảm giác, soi chiếu, soi xét nó. Phải biết huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục tâm, cải tạo tâm, hoàn thiện tâm, làm tài xế của tâm mình, làm kỹ sư kiến trúc của nội tâm mình, làm bác sĩ điều trị cho những chứng ung bướu, ung hạch, ung nhọt, ung thư trong tâm mình, phải mổ xẻ ra, cái nào cần thiết là phải cắt bỏ để chúng ta trở thành một con người khỏe mạnh, trở thành người tài xế điêu luyện, hướng dẫn tâm linh, đi đến cảnh giới an vui, an lạc.
Như vậy, quyền làm chủ là ở trong tay chúng ta, thiện hay bất thiện, vui hay khổ, thanh tịn hay ô nhiễm là do tự chúng ta.
Như vậy hôm nay chúng ta đã học được các điều: Thứ nhất là theo lời Đức Phật định nghĩa hai chữ tàm và quý, xấu hổ và sợ hãi. Thứ hai chúng ta biết được hai pháp này là pháp che chở cho thế giới ổn định luân lý, đạo đức, trật tự của thế gian. Mà chúng ta thấy được hai pháp này, là sự bảo an, bảo toàn, bảo hộ, bảo hiểm, bảo vệ, cho chúng sanh, cho hữu tình. Chính vì vậy, chúng ta phải tôn kính hai pháp này, tôn trọng, thường nhắc, thường tác ý, thường tưới tẩm tăng trưởng hai pháp xấu hổ và sợ hãi này.
Sau đó chúng ta nương tựa, y chỉ vào đó để tu, mục đích của hai pháp này là đoạn tận bất thiện, tu tập thiện pháp. Chúng ta cũng biết rằng trong đời sống tu học phải luôn luôn chánh niệm và tỉnh giác, chánh kiến, nhìn thấy sâu sắc những gì là ác, là thiện, đừng để cho tâm mờ tối của vô minh dẫn dắt, một khi bị dẫn dắt thì sẽ đưa mình vào chỗ đau khổ, vô tàm vô quý, thì cuộc đời mình sẽ sầu bi, ưu não tiếp tục trong vòng tái sanh, sống chết, luân hồi triền miên, bất tận ở những đời sau, không phải trong đời này.
Lần sau chúng ta sẽ đi vào tài sản cuối cùng là Thánh trí tuệ, trí huệ của bậc Thánh.
64-78: Phật tử trình pháp.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.
Tàm Quý
Thích Minh Thành
Ngày 02 tháng 01 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tàm Quý PAGEREF _Toc97041048 \h 1
II. Công năng của Tàm Quý PAGEREF _Toc97041049 \h 7
I. Tàm Quý
Kính bạch chư tôn đức, các bậc hiền trí, nam nữ Phật tử. Chúng ta đang tìm hiểu thực tập về tâm hiền và Thất Thánh Tài, bảy tài sản của bậc Thánh. Hôm nay chúng ta bước qua tàm và quý.
Danh từ tàm và quý là danh từ chúng ta rất quen thuộc, nhưng khi hiểu thì thường là chúng ta chỉ giải thích là xấu hổ nhưng chúng ta lại quên chữ quý là sợ hãi. Trước nay chúng ta học pháp tàm quý thì rất sơ sài, không đào sâu, như trong kinh tạng Nikaya, Đức Phật nhấn mạnh pháp này là tuyệt đối quan trọng. Minh Thành có chia sẻ bài nhục nhã sanh Thánh quả, quý vị hãy chịu khó nghe kĩ, vì hai pháp tàm quý này là căn bản, là nền tảng, gốc rễ, cốt lõi, để dẫn đến sự tẩy sạch, làm cho trong sạch, thanh tịnh thân tâm, các cấu nhiễm, rác bẩn và cấu uế trong tự thân tâm của chúng ta.
Nếu thiếu hai pháp xấu hổ và sợ hãi, đối với những pháp ác và bất thiện pháp thì không thể nào chúng ta có thể tăng thượng, làm sạch, làm trong, làm mới thân tâm của mình một cách trọn vẹn, chính vì vậy, tài sản của bậc Thánh có hai pháp này tức là xấu hổ và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp. Chúng ta nghe Đức Phật định nghĩa tàm lực như sau:
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tàm lực?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng hổ thẹn đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, hổ thẹn đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tàm lực.”
(Bài kinh Rộng rãi – Phẩm Sức mạnh hữu học – Chương Năm pháp
- Tăng Chi Bộ Kinh)
Xấu hổ vì mình có những điều ác, bất thiện như vậy. Đó là ý nghĩa của chữ tàm, tức là xấu hổ. Một người có tâm xấu hổ này thì người đó có được tài sản của bậc Thánh. Một người không có tâm xấu hổ khi làm chuyện sai quấy thì người đó không thể nào sửa đổi, thấy lỗi, giảm lỗi và đi đến chỗ hết lỗi. Nên sự xấu hổ, cắn rứt, hối hận, dày vò, ray rứt đó là một thiện pháp, khi mình có lỗi, khi mình làm điều sai, mình thấy có sự cắn rứt trong tâm, có sự dày vò trong tâm, đau khổ trong tâm, có sự bứt rứt, khó chịu, hổ thẹn, nhục nhã. Đó là thiện pháp, Thánh pháp là tài sản của Thánh nhân.
Nếu mình làm lỗi, làm xấu, làm sai, làm điều ác mà mình trơ trơ, mình thấy điều đó là tự nhiên, bình thường thì đây rất nguy hiểm. Như chúng ta thấy những người phạm lỗi lầm, thậm chí tuyên án tử hình mà còn cười được thì Đức Thế Tôn gọi đó là vô tàm vô quý, rất nguy hiểm, sẽ rơi vào địa ngục ngạ quỷ, súc sanh, nên người có xấu hổ, hổ thẹn, nhục nhã, có thấy ray rứt, bứt rứt, dày xéo lương tâm, có thấy khó chịu, thấy mình bị dày vò khi nói một lời nào đó và lời nói đó bất thiện. Hay thấy mình ray rứt, xấu hổ khi mình làm gì đó bất chánh, không đúng đắn, thậm chí trong suy nghĩ của mình mà suy nghĩ sân hận, tham dục, bản ngã.
Mình thấy nó sanh khởi lên và thấy mình thật thấp hèn, thật đáng khinh mình, thật đáng trách mình, thật xấu hổ cho mình “Tại sao mình tu lại suy nghĩ như vậy?” Điều đó có được trong tâm mình thì người đó đã có được tài sản của bậc Thánh. Chúng ta thấy tuyệt vời không?
Nên lâu nay chúng ta học tàm quý lướt qua vậy nhưng đây là một pháp tuyệt đối quan trọng, dẫn tới Thánh đạo, Thánh quả. Còn người đi đến tẩy sạch hết tất cả cấu uế, cấu nhiễm, rác bẩn, lậu hoặc trong thân tâm mình mà không có tàm quý thì không thể nào đi đến được, nhất định phải đi qua pháp này và pháp này càng viên mãn, sung mãn, càng tròn đầy ra sao thì người này càng mau đi tới chỗ thanh tịnh, trong sạch, hoàn thiện, cao thượng, thánh thiện chừng đó.
Vậy nên chúng ta đang học đây là những pháp thực tập, thực hành, chúng ta nhớ, ngoài việc chúng ta nghe, ghi chép lại thì về chúng ta nên thường đọc, tác ý và thường nhìn quanh ngó lại, thân tâm của mình. Mình nói một câu mà làm cho huynh đệ của mình đau lòng thì mình phải trách mình, dù cho mình nói câu đó là đúng nhưng mình làm cho người khác đau lòng là mình chưa khéo, mình chưa đủ tình thương, lòng thương. Mình cư xử và thấy rằng mình cư xử như vậy không phù hợp với người tu, không phù hợp với người cư sĩ, khi có những hành động, nếp sống như vậy thì mình thấy mình nhục nhã, xấu hổ. Đó là mình đang có được tài sản của bậc Thánh.
Khi có tâm, có ý nghĩ, cảm xúc, cảm thọ, tư tưởng đó là mình có được tài sản của Thánh nhân. Mình thừa kế, thừa tự được những của báu mà Đức Thế Tôn truyền trao lại cho mình. Còn khi mình có những ý nghĩ sai quấy, những lời nói thô ác, những hành động tội lỗi mà mình vẫn trơ trơ như không có chuyện gì thì đây là hiểm nguy, là tai họa.
Như khi Đức Thế Tôn ngồi xuống và lấy móng tay khơi một chút đất thì Ngài hỏi các Tỳ-kheo “Đất dính trong móng tay ta nhiều hay đất dính ở đại địa này nhiều?” thì các Tỳ-kheo nói “Bạch Thế Tôn, đất dính ở móng tay của Ngài rất ít so với đất của quả địa cầu này.”
Thế Tôn nói: “Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, người từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, nói dối, từ bỏ sử dụng những chất say sưa, nghiện ngập, để sau khi chết sanh lên cõi trời, cõi người ít giống như đất trong móng tay của Như Lai. Người lao vào trong sự sát sanh, tà hạnh trong các dục, trộm cắp, nói dối, say sưa, nghiện ngập thì sau khi chết sẽ rơi xuống địa ngục, các loài cô hồn, quỷ đói, rơi vào trong các dạng thức mang lông đội sừng của súc sanh, thú vật nhiều như đất ở địa cầu.”
Ví dụ này Đức Phật đã ví dụ rất nhiều trong mấy trăm bài kinh, Ngài thường lấy hình ảnh đất dính trong móng tay và đất dính ở đại địa. Cũng vậy, người có được sự xấu hổ khi làm sai quấy, làm hay nói nghĩ những điều ác mà người có được xấu hổ đó thì người đó ít như đất dính trên móng tay. Còn người không biết xấu hổ khi làm tội lỗi nhiều như đất của địa cầu.
Vậy nên người Phật tử nên nhớ, đây là pháp thứ nhất – xấu hổ.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là quý lực?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sợ hãi đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là quý lực.”
(Bài kinh Rộng rãi – Phẩm Sức mạnh hữu học – Chương Năm pháp
- Tăng Chi Bộ Kinh)
Vị đệ tử của bậc Thánh, con Phật chân chánh, khi thân làm một điều ác, miệng nói lời bất thiện và ý mình suy nghĩ sự hơn thua, bản ngã, tham, sân, si thì người Thánh đệ tử này sợ hãi, lo lắng, bất an, hối hận (trạo hối), xấu hổ. Đó gọi là tài sản của bậc Thánh, là sự biết sợ, biết lo, có những tâm lo sợ đối với những ác, bất thiện pháp, có tâm ý bất an, lo lắng, lo sợ, sợ hãi về những ý nghĩ bất thiện, lời nói bất thiện và những hành động ác, bất thiện.
Vị này trong lòng có cảm giác sợ hãi, lo lắng, bất an, mỗi khi làm gì sai quấy, không đúng lời Phật dạy, không đúng pháp. Như vậy, người Phật tử này được gọi là người có được tài sản của Thánh nhân.
Trước nay chúng ta ít có để ý đến việc này, mình chỉ nghĩ lo sợ là xấu nhưng không, lo sợ này là thiện pháp, Thánh pháp, không phải tu là không còn biết lo hay biết sợ nữa. Biết lo, biết sợ những điều ác, bất thiện pháp thì đây là thừa hưởng được tài sản của Thánh nhân, thừa tự được gia tài của Thế Tôn, của Như Lai.
Còn nếu không biết lo sợ, làm sai, làm quấy, làm tội lỗi và không lo, không sợ, vẫn trơ trơ, bình thường thì đây rất nguy hiểm. Trong kinh Tăng Chi Bộ Kinh tập một, kinh Hai loại tội, hai pháp che chở cho cuộc đời:
“Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là pháp đen. Thế nào là hai?
Không tàm
Và không quý.
Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đen.
8. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai?
Tàm
Và quý.
Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp trắng.
9. Hai pháp trắng này, này các Tỷ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai?
Tàm
Và quý.”
Đây là hai pháp trắng bạch, trắng tinh, hai pháp lành, hai pháp thiện, hai pháp cao quý. Còn mình làm, mình nói, nghĩ những điều xấu ác, bất thiện mà mình không biết sợ hãi, lo hay xấu hổ thì đây là hai pháp đen tối, tội lỗi.
“Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ, hay là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ, hay là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của thầy, hay đây là vợ của các vị tôn trưởng”
(Bài kinh Hai loại tội – Phẩm Hình phạt – Chương Hai pháp
– Tăng Chi Bộ Kinh)
Giải thích ra theo nghĩa thường là: nếu không có sự xấu hổ và sợ hãi thì thế gian này không phân biệt được người hay thú vật, không còn phân biệt được là mẹ, là con, là dì, mợ hay là thím và thế gian sẽ rơi vào sự hỗn độn ở trong tà hạnh của các dục, trở thành cuộc sống bầy đàn, loạn luân, không còn trật tự của luân lý, đạo đức. Nếu hai pháp xấu hổ và sợ hãi này sụp đổ, không còn tồn tại trên thế giới này nữa, thì thế giới sẽ rơi vào sự hỗn loạn, các trật tự của luân lý, đạo đức và xã hội sẽ bị sụp đổ.
Và ngày hôm nay, sau hai ngàn sáu trăm năm, những điều trên đang bắt đầu biểu hiện. Bao nhiêu những dòng nước mắt đau khổ giữa cảnh chia ly của vợ chồng, con cái, cha mẹ, của anh em thân tộc. Vì sự mất đi hai pháp tàm quý này, tức là mất đi sự xấu hổ và sợ hãi. Chính sự xấu hổ và sợ hãi này “che chở cho thế giới”, bảo bọc cho thế gian và làm cho bình ổn trật tự luân lý, đạo đức của xã hội, chính là sự xấu hổ và sợ hãi.
Giữa vợ chồng, cha con, chị dâu, con dâu, em dâu, giữa những mối quan hệ trong xã hội, bạn bè, anh em thì làm sao phân biệt được với nhau? Đó là do có ranh giới, luân lý, nề nếp, gia phong, chuẩn mực thì mới ổn định trật tự của hành tinh, của loài người. Nhưng thế giới ngày nay lại có những trường hợp như vậy, nếu phát triển nhiều hơn thì càng mau đi tới sự sụp đổ, hỗn loạn, con người sẽ rất đau khổ.
Đó là hiểm họa, tai họa, tai nạn, nguy nan, là sự chia rẽ, tan nát và đổ vỡ của sự không biết xấu hổ và sợ hãi. Đây là pháp mà chúng ta phải chiêm nghiệm thật sâu sắc, đem lại lợi ích, hạnh phúc lâu dài cho chúng ta ở hiện tại và nhiều đời sau nữa.
Giống như có người cầm con dao lên cắt cổ gà mà cắt không được, nghe tiếng kêu đau xót của nó bi thống, bi ai thì người ta không nỡ cắt. Nhưng cũng có những người mài cựa thật sắc đeo vô cho con gà để rồi chứng kiến cảnh nó đá nhau đổ máu cho đến chết thì người này lại reo hò, vỗ tay, cũng cùng là con người.
Đó là sự có thấy sợ hãi và không có biết sợ hãi, nên Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, xa xa thật xa, xa vô cùng xa là bờ biển bên này và bờ biển bên kia. Này các Tỳ-kheo, xa xa thật xa, rất xa là mặt đất và bầu trời. Cũng vậy, xa xa rất là xa là tâm của thiện nhân và tâm của người ác.”
Tâm của người biết xấu hổ sợ hãi và người không biết xấu hổ sợ hãi xa nhau như vậy, giữa cái ác và cái thiện, giữa cái lành và cái dữ, giữa cái tội và cái phước xa như vậy. Tuy là một ý niệm giống như lật úp bàn tay, nếu như nó xa như trời với đất. Nên sự tu của chúng ta là ở chỗ bàn tay này, suy nghĩ trước và suy nghĩ sau chúng ta có kiểm soát được hay không, có nhận diện được hành uẩn của mình không hay ý hành của mình không? Có chiếu soi được những cảm thọ của mình không? Cảm xúc, cảm giác của mình có nhiếp phục và làm chủ được hay không hay mình sống theo cảm xúc, cảm tính, cảm giác, cảm thọ? Hay là mình nhận diện, soi xét, nhiếp phục, chế ngự và diệt tận các cảm thọ xấu, ác và bất thiện pháp, tội lỗi?
Sự tu hay không tu khác nhau ở chỗ đó, có thấy rõ được những suy nghĩ của mình không? Suy nghĩ ác, bất thiện pháp đó mình có mạnh mẽ lên để nhận diện ra, nhìn thấy nó, chế ngự, nhiếp phục, diệt tận và tẩy sạch nó? Đó là công phu của người thiện, thiện nhân, trí nhân, Thánh đệ tử.
Như vậy, hai pháp này che chở cho thế giới, nếu không có sự xấu hổ và sợ hãi này thì không phân biệt được vợ của thầy, chị dâu, em chồng…Lẫn lộn, rối loạn, bầy đàn, như Thế Tôn nói là “Thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, gà, vịt, heo, chó.” Nên chúng ta thấy ngày nào năm giới còn được người ta tôn kính, tôn trọng, còn được người ta giữ gìn thì ngày đó thế giới còn được an bình, xã hội còn được ổn định.
Mình nhìn trên mặt báo thấy những tin tức như vậy thì đều là các tội lỗi, do không có thực tập năm giới, không có thực tập sự tàm quý để đi đến tai nạn cho người, tai nạn cho mình, làm khổ mình, làm khổ người, hành hạ mình, hành hạ người, hành tội mình, hành tội người. Không chỉ bản thân người đó đi vào tù chung thân hay hai ba mươi năm mà cha mẹ, vợ, em, con của người đó cũng như vậy. Không chỉ người bị tù chung thân chịu mà người bị giết và cả gia đình của người đó bị liên lụy rất nhiều.
Mình tưởng, nghĩ là người đó bị phán án rồi là xong nhưng cả gia đình, dòng họ và cả gia đình của bên bị hại. Chúng ta thấy khi lái xe mình có sự lo lắng thì mình sẽ cẩn trọng, cẩn thận thì mình sẽ ít gây ra tai nạn giao thông, còn nếu mình không sợ, không cẩn trọng, lo lắng, cứ chạy nhanh, ỷ mình là xe lớn cứ chạy đi rồi bất thình lình xảy ra tai nạn thì không phải chỉ người lái ẩu đó mà người nằm dưới bánh xe đó và cả gia đình của họ cũng đau khổ.
II. Công năng của Tàm Quý
Nên chúng ta thấy hai pháp này là cứu thế, che chở cho thế giới. Mình chiêm nghiệm sẽ thấy nó rất tuyệt vời, bảo tồn, bảo an, bảo hiểm cho mình trong mọi phương diện của đời sống. Khi mình biết được xấu hổ, sợ hãi thì mình nói ra lời thì mình cũng không dám nói, những lời ác, những lời làm cho người ta phải nhức nhối, đau khổ, buồn phiền. Khi mình có sự xấu hổ, sợ hãi thì khi suy nghĩ mình cũng không dám suy nghĩ xấu về người khác nhiều, vì mình thấy đó là suy nghĩ ác bất thiện pháp, chúng ta thấy nó bảo vệ, che chở cho mình không?
Đức Phật nói chúng là hai pháp che chở cho đời. Đức Thế Tôn tôn kính, tôn thời hai pháp này như trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, bài kinh Xấu hổ, Đức Thế Tôn đã kể lại cho các thầy Tỳ-kheo nghe:
“1. - Đêm này, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên, Thiên nhân ấy thưa với Ta: "Có bảy pháp này, bạch Thế Tôn không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy?
Tôn kính bậc Đạo Sư,
tôn kính Pháp;
tôn kính Tăng,
tôn kính học pháp;
tôn kính định;
tôn kính xấu hổ,
tôn kính sợ hãi.
Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ- kheo đến thối đọa". Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ
Kính trọng bậc Đạo Sư,
Kính trọng Pháp và Tăng,
Kính trọng định, nhiệt tâm,
Chí thành kính học pháp,
Đầy đủ tàm và quý,
Tùy thuận và tôn kính,
Không thể bị đọa lạc,
Vị ấy gần Niết-bàn.”
(Bài kinh Xấu hổ - Phẩm Chư thiên – Chương Bảy pháp – Tăng Chi Bộ Kinh)
Như vậy, trong hai bài kinh này chúng ta muốn nói hai pháp: tôn kính xấu hổ và tôn kính sợ hãi. Khi nãy là nói về che chở cho thế giới, công năng và tác dụng của tàm quý, công năng của biết xấu hổ và công năng của tâm biết sợ hãi đối với ác bất thiện pháp thì công năng nó là bảo bọc, che chở, giữ gìn và bảo vệ mình. Bảo an, bảo hiểm, bảo toàn cho mình, bảo hộ, bảo vệ mình, không bị rơi xuống vực sâu, không bị lún trong đầm lầy, không bị hỏa hoạn của cơn sân hận đốt thiêu, không bị cái tôi, cái ta, cái bản ngã làm gãy đổ, tan nát gia đình, tình nghĩa, bạn bè, thầy trò, vợ chồng, anh em.
Đó là vì mình có sự xấu hổ, nhìn lại mình “Suy nghĩ như vậy là không được! Suy nghĩ này là cái tôi, cái ta, cái bản ngã này là không được, phải tu tâm hiền! Phải tu tâm thật là hiền!”
“Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.”
Khi mình thấy ý niệm dữ thì mình nói nó ngay, còn khi mình dữ thì mình soi lại gương, nhìn mặt rất xấu, xấu hết chỗ nói, xấu không muốn nhìn “Mặt tôi hung dữ này!” Như vậy là mình xấu hổ, không dám xem gương, mặt vừa sân si, bản ngã thì quay vào rồi gục mặt vào vách tường.
Vậy nên công năng, tác dụng của xấu hổ, sợ hãi đó là bao bọc, chở che, bảo vệ, bảo an, bảo toàn, bảo hiểm. Đó là bảo hiểm tâm linh của mình, vì mình chỉ biết bảo hiểm ý tế, bảo hiểm xã hội còn đây là bảo hiểm tâm linh của mình là trong đó, biết sợ hãi, tội lỗi, biết xấu hổ khi sai quấy, đó chính là bảo hiểm tâm linh, bảo hiểm thân tâm, bảo an, bảo toàn, bảo vệ, bảo đảm.
Ví dụ như mình có tiền bảo hiểm rất lớn, là bảo hiểm vượt trội, mắc nhất thế giới, nhưng mình chạy xe lại phóng ẩu, đụng ai mình cũng gây gổ, cũng đánh nhau, thì nó có bảo hiểm nhất thế giới không? Đó là ai hưởng tiền chứ mình không hưởng hay mình kiếm chuyện, tới đánh người ta nữa thì đã xong, bảo hiểm cũng không đưa tiền. Bảo hiểm, bảo an, bảo toàn thật sự, chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ, bảo vệ, thu nhiếp sáu căn của mình và sự biết lo lắng, sợ hãi, xấu hổ những điều xấu ác. Mình muốn vậy thì mình phải có tâm tôn kính hai pháp này, mỗi ngày mình lạy trước bàn Phật và lạy tâm xấu hổ của mình, nhắc cảm thọ và tâm mình: “Đừng quên nha! Đừng quên xấu hổ khi sai quấy, phải nhớ nha.” Tôn kính tâm đó và lạy xuống, mỗi khi làm sai quấy, mỗi ngày phải nhắc một chút “Phải biết sợ, biết lo nha!”
Vì nhiều khi mình sống thoải mái theo cái tham, theo ý muốn của mình, theo cái ta, cái tôi của mình mà mình không để ý người khác, mình không có nhìn sâu sắc thì có khi tai họa đến bất thình lình. Thì có nhiều người tự hỏi là “Sao tai họa đến với tôi?” Đó là do mình vô minh, không thấy không biết các sanh quả hệ, duyên sanh pháp, duyên khởi của nó, mình chỉ sống ích kỉ, chỉ biết mình mà không biết đến người khác. Một khi mình gây ra gì cho người khác đau khổ, thì cảm thọ, hành động đó họ sẽ chất chứa trong lòng.
Đúng nhân, đúng duyên thì họ sẽ trả đũa lại mình, nên nghiệp ác chờ thời để ra tay, giờ nó nằm yên đó khi nhân quả chưa đến, khi đúng cơ duyên, thời cơ chín mùi rồi thì nó tấn công, trả đũa lại mình thẳng tay. Nên tốt nhất là đừng gây xấu, gây ác với ai, tốt nhất là đừng làm ai khổ, đừng làm ai thù hận với ai, đừng gieo vào những ý nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác với bất cứ một ai, phải tôn kính thiện pháp này.
Một công năng, tác dụng, sự thực tập Đức Phật đã dạy mình là phải y chỉ tàm quý. Mình phải đi tìm ông thầy y chỉ, người xuất gia và người cư sĩ hay tìm một vị thầy để nương tựa thì điều đó cần nhưng còn một vị thầy sâu sắc hơn nữa chính là vị thầy cho mình nương tựa. Tâm hổ thẹn, sợ hãi trong lòng mình là vị thầy cho mình nương tựa và y chỉ. Vì có những lúc không có thầy ở kế bên mà mình không biết xấu hổ, sợ hãi thì mình vẫn phạm sai lầm như thường.
Ý nói y chỉ là nằm trong nội tâm mình, Đức Thế Tôn dạy trong kinh Nikaya,
1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Đầy đủ y chỉ, đầy đủ y chỉ, bạch Thế Tôn, được nói lên như vậy. Bạch Thế Tôn cho đến như thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ y chỉ?
2. - Nếu Tỷ-kheo y chỉ lòng tin, đoạn tận bất thiện tu tập thiện, như vậy, với vị ấy, bất thiện được đoạn tận.
Nếu Tỷ-kheo y chỉ tàm (xấu hổ) ...
Nếu Tỷ-kheo y chỉ sợ hãi...
Nếu Tỷ-kheo y chỉ tinh tấn...
Nếu Tỷ-kheo y chỉ trí tuệ, đoạn tận bất thiện, tu tập thiện, như vậy với vị ấy, bất thiện được đoạn tận. Như vậy Tỷ-kheo ấy đã đoạn tận, đã khéo đoạn tận bất thiện, khi bất thiện ấy được thấy với Thánh trí tuệ và được đoạn tận.”
(Bài kinh Y chỉ - Phẩm Chánh Giác – Chương Chín pháp – Tăng Chi Bộ Kinh)
Thứ hai, Đức Phật có dạy mình phải nhìn pháp đồng ý này như thế nào, là Đức Phật dạy mình phải nương tựa pháp này mà tu, lấy đây làm chỗ dựa tinh thần, thầy nội tâm. Phải biết nương tựa, y chỉ vào sự xấu hổ và sợ hãi.
Vậy nên hôm nay chúng ta nói các phương diện, khía cạnh, công năng và lợi ích, tác dụng và cách nhìn, vận dụng tu tập như thế nào của hai chữ tàm quý này. Và chính Đức Thế Tôn, kim khẩu của Ngài, Thánh ngôn của Ngài tuyên thuyết trong kinh tạng Nikaya. Đừng bao giờ quên nhục nhã sanh Thánh quả, xấu hổ đưa đến trong sạch, sợ hãi đưa mình đến sự an toàn, sự bảo an, bảo vệ, bảo hộ.
Đây là điều đặc biệt, vì người đại trí, có trí tuệ thì mình nhìn người đó như là nhút nhát lắm, vì cái gì người này cũng lo, nhìn. Còn người ngu là không biết sợ gì, như điếc không sợ súng, như súng bắn sát bên nhưng vẫn đi thẳng đến vì bị điếc, không nghe gì. Hay như người mù không sợ vực thẳm, vực thẳm ở trước mắt mà vẫn tiến tới vì mù. Nhưng đối với người có mắt sáng thì có lao tới vực thẳm không? Họ hoảng sợ, tránh hay lùi lại ngay và nếu nghe tiếng súng thì phải tránh ngay.
Vậy nên người không biết thì thấy người trí này sao lại lo xa, nên nhiều khi có đệ tử giỏi hơn thầy như thầy nói thì nói “Thầy lo chi vậy thầy. Thầy yên tâm đi, để con lo.” Nhưng nhiều khi mình thấy thì rất thương.
“Nhân vô viễn lự, tắt hữu cần hưu.”
Đây là câu nói của Khổng Tử, Thánh của thế gian. Ý nói: người không có sự lo lắng xa thì sẽ không có sự buồn gần. Người không lo xa sẽ có buồn gần, bậc trí là nhìn gì cũng sâu sắc, thấu đáo, tận tường trong mọi sự nhỏ nhiệm, người ta để tâm vào đó, soi rọi đến tận cùng. Còn người không có trí tuệ thì vẫn tiến tới, điếc không sợ súng, trước mặt là vực thẳm thì cứ tới vì không thấy đường, cứ lao tới, nào tới, tiến tới và sau đó rơi xuống.
Qua đó, chúng ta thấy được bài kinh rất đặc biệt, ví dụ trên để minh họa cho bài kinh Vô minh trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 5:
“- Này các Tỷ-kheo, khởi điểm đầu tiên của vô minh không thể nêu rõ để có thể nói: "Trước điểm này, vô minh không có, rồi sau mới có." Như vậy, này các Tỷ-kheo, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rõ: "Do duyên này, vô minh (có mặt)"
(Bài kinh Vô minh – Phẩm Song đôi - Chương Tám pháp – Tăng Chi Bộ kinh)
Như vậy vô tàm vô quý là từ vô minh sanh ra. Sở dĩ người không biết xấu hổ, không biết sợ hãi, lo lắng là vì người này không thấy, như mình đã ví dụ: mù không thấy vực thẳm, điếc thì súng nổ ầm ầm không nghe. Như đoạn Đức Phật đã nói “Này các Tỳ-kheo, khi nào vô minh dẫn đầu thì đưa đến sự thành tựu các pháp ác, bất thiền” Một con người không thấy, không biết, không nhìn thấy trước mắt là vực sâu, hố thẳm, khi nào vô minh dẫn đầu thì sẽ đi đến những pháp ác, bất thiện, tội lỗi thì không biết xấu hổ, sợ hãi và sẽ nối tiếp theo sau.
Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỳ-kheo, tà kiến sanh, với kẻ không thấy không biết, thì cái nhìn sẽ lệch lạc, sai lầm, thì dẫn đến suy nghĩ sai, nói là lời sai, hành động sai. Những sự mưu sinh, lầm lạc, sai lầm, siêng năng sai, nhớ nghĩ sai thì cuối cùng tập trung tâm ý cũng sai lầm.
Một khi vô minh dẫn dắt thì nghĩ ác, nói ác, làm ác vì không thấy không biết. Và khi nghĩ ác, nói ác, làm ác rồi thì tiếp theo là không xấu hổ, không sợ hãi. Và một khi không xấu hổ, không sợ hãi với ác bất thiện pháp thì bát tà đạo sanh khởi, thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, siêng sai, quán xét sai, tập trung tâm ý sai chỗ. Thay vì chỗ cần tập trung tâm ý thì không tập trung, còn chỗ đáng tập trung lại tập trung. Chỗ đáng nghĩ thì không suy nghĩ, còn chỗ không đáng nghĩ thì lại suy nghĩ.
Suy nghĩ để tha thứ, để yêu thương, để chia sẻ thì không suy nghĩ mà lại suy nghĩ sân hận, bực bội, khó chịu, đó tà tư duy, suy nghĩ sai. Cần phải nói lời tha thứ, lời san sẻ, sớt chia với huynh đệ của mình, đang ốm yếu, bệnh hoạn, khó chịu mà mình lại nói lời không trí tuệ, không tình thương làm người khác phiền não, thoái thất, làm người ta có khi về nhà không muốn tu nữa. Vì lúc đó mình không có trí tuệ, mình không hiểu người sư đệ của mình, đang mệt mỏi, bệnh hoạn, tâm đang yếu mà mình nói cho một câu thì người đó nửa đêm xách đãi xuống núi.
Đúng là mình không phải đuổi sư đệ mình đi về nhà hoàn tục nhưng mình là người vô minh gián tiếp, là giọt nước sau cùng để ly đó tràn, thấy như một lời nói bình thường nhưng vì vô minh dẫn dắt nên xảy ra một kết quả lớn lao. Thì trong chùa, ngoài đời cũng giống nhau, người chồng đi làm, lo lắng, gánh vác nhiều thứ, trường cột gia đình, mệt mỏi, căng thẳng nhiều việc nhưng vừa bước vào cửa thì người vợ cự cãi “Tiền đâu không thấy đem về vậy? Đi với ai? Tối ngày đi rồi ăn chơi?” Vậy rồi vợ chồng có chuyện, chỉ một câu nói đó thôi, đó là tà ngữ. Tại sao có lời nói sai đó? Hành động sai đó? Là vì không thấy không biết không hiểu người chồng của mình.
Vậy nên Bát chánh đạo tràn ngập khắp đời sống của mình chứ không chỉ ở trong chùa thôi, đó là nhìn sai. Vậy nên, trong bài kinh này chúng ta nhìn thấy được: sở dĩ đưa đến đau khổ cho mình, sở dĩ mình không biết lo lắng, sợ hãi, hổ thẹn là vì vô minh dẫn dắt, vô minh dẫn đầu, dẫn đạo, dẫn lối.
Hôm nay chúng ta đã thấy được giá trị, lợi ích, ý nghĩa, công năng, tác dụng, mục đích của hai pháp tàm quý này. Chúng ta cảm thấy tuyệt vời không? Mục đích của tàm quý là gì? Mục đích của xấu hổ, sợ hãi là gì?
“Tỳ-kheo đoạn tận bất thiện tu tập thiện.”
Chúng ta nhớ trong kinh Nikaya nói nhiều như vậy mà gom lại chỉ bốn chữ: thiện và bất thiện pháp. Nhưng để hiểu được bốn chữ này thì chúng ta phải đọc hết cả tạng kinh và chúng ta tu suốt cuộc đời, nên chữ thiện và bất thiện hay chữ thiện và ác trong kinh Niyaka đó không phải là chữ thiện ác đơn sơ ở đời. Chữ thiện này rất thâm sâu, là chí thiện, Thánh thiện, chữ thiện này là cứu cánh của bậc Thánh. Bất thiện là cái ác.
Như vậy, mục đích của sự thực hành tâm hổ thẹn và sợ hãi này là gì? Là đoạn tận bất thiện, tu tập thiện, viên mãn thiện.
Ví dụ như trường hợp gặp đồ người ta lại lấy, hay gặp là bỏ túi, đi ngang thấy cây ớt, cây cà của người ta lại lén hái bỏ túi. Thấy là nhỏ nhặt nhưng điều này không tàm quý, không hổ thẹn, sợ hãi, sẽ làm quen dần, ngày sau sẽ lấy đồ lớn hơn, quan trọng hơn.
Đó là nuôi lớn bất thiện pháp, ác pháp. Thậm chí giờ chỉ che mặt lại, xách búa, xách đồ rồi vào đập tiệm vàng rồi vào tù, nếu mình không tu hai pháp này thì ác và bất thiện sẽ tăng trưởng và phát triển, còn nếu tu hai pháp này thì ác và bất thiện sẽ nhiếp phục và chế ngự, giảm thiểu và đi đến đoạn tận. Nói dối cũng vậy, nói dối quen rồi, gặp gì cũng nói dối, hay nhậu quen rồi nên ngày nào cũng nhậu, rồi nó phá hết nội tạng bên trong, làm sinh bệnh ung thư gan…
Mình thấy đó là sợ tội, biết đó là lỗi lầm mình lo, sợ, tránh né thì ác pháp giảm xuống, thiện pháp tăng lên. Đến khi mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận hoàn toàn ác pháp, để mình viên mãn hoàn toàn thiện pháp và đi đến chỗ Thánh thiện là thiện của bậc Thánh, chí thiện là thiện tột cùng, cứu cánh thiện là thiện rốt ráo, viên mãn, trọn vẹn thì đó là sự tu của mình. Nên không phải sự tu của mình là gì cao siêu mà mình với không tới, mình tưởng tượng đâu ở trên trời, trên mây mà sau này mới biết kết quả.
Chính ngay trong ý nghĩ, cảm giác của mình, ngay trong lời nói, hành động của mình, có biết xấu hổ và sai quấy không? Có biết nhận lỗi, nghe lỗi, sửa lỗi, chỉnh lỗi không? Có biết sám hối không? Có biết cố gắng làm thanh tịnh, trong sạch tự thân tâm mình không? Đó là sự tu thiết thực, hiện tại, đến để thấy và có hiệu quả tức thời, không trải qua thời gian. Có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu, nhận thức.
Như vậy, sự tu này, chúng ta đang nói về tâm hiền, đang nói về nghiệp thiện, rồi bắt đầu bước qua hàng Thánh, Thánh đạo, những bước đầu của Thánh hành. Chúng ta thấy tất cả đều nằm trong hai chữ thiện và bất thiện, chúng ta luôn luôn xoay trở lại để soi chiếu cảm thọ của mình, soi chiếu những suy nghĩ của mình, soi chiếu những tư tưởng, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, cảm giác, soi chiếu, soi xét nó. Phải biết huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục tâm, cải tạo tâm, hoàn thiện tâm, làm tài xế của tâm mình, làm kỹ sư kiến trúc của nội tâm mình, làm bác sĩ điều trị cho những chứng ung bướu, ung hạch, ung nhọt, ung thư trong tâm mình, phải mổ xẻ ra, cái nào cần thiết là phải cắt bỏ để chúng ta trở thành một con người khỏe mạnh, trở thành người tài xế điêu luyện, hướng dẫn tâm linh, đi đến cảnh giới an vui, an lạc.
Như vậy, quyền làm chủ là ở trong tay chúng ta, thiện hay bất thiện, vui hay khổ, thanh tịn hay ô nhiễm là do tự chúng ta.
Như vậy hôm nay chúng ta đã học được các điều: Thứ nhất là theo lời Đức Phật định nghĩa hai chữ tàm và quý, xấu hổ và sợ hãi. Thứ hai chúng ta biết được hai pháp này là pháp che chở cho thế giới ổn định luân lý, đạo đức, trật tự của thế gian. Mà chúng ta thấy được hai pháp này, là sự bảo an, bảo toàn, bảo hộ, bảo hiểm, bảo vệ, cho chúng sanh, cho hữu tình. Chính vì vậy, chúng ta phải tôn kính hai pháp này, tôn trọng, thường nhắc, thường tác ý, thường tưới tẩm tăng trưởng hai pháp xấu hổ và sợ hãi này.
Sau đó chúng ta nương tựa, y chỉ vào đó để tu, mục đích của hai pháp này là đoạn tận bất thiện, tu tập thiện pháp. Chúng ta cũng biết rằng trong đời sống tu học phải luôn luôn chánh niệm và tỉnh giác, chánh kiến, nhìn thấy sâu sắc những gì là ác, là thiện, đừng để cho tâm mờ tối của vô minh dẫn dắt, một khi bị dẫn dắt thì sẽ đưa mình vào chỗ đau khổ, vô tàm vô quý, thì cuộc đời mình sẽ sầu bi, ưu não tiếp tục trong vòng tái sanh, sống chết, luân hồi triền miên, bất tận ở những đời sau, không phải trong đời này.
Lần sau chúng ta sẽ đi vào tài sản cuối cùng là Thánh trí tuệ, trí huệ của bậc Thánh.
64-78: Phật tử trình pháp.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.