Kinh Nikāya Giảng Giải - Soi Gương Rửa Mặt - Kinh Tổn Giảm 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
Soi Gương Rửa Mặt
Kinh Đoạn Giảm 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tổn giảm PAGEREF _Toc179572587 \h 1
II. Soi gương rửa mặt PAGEREF _Toc179572588 \h 5
I. Tổn giảm
Hôm nay chúng ta sẽ nghe bài kinh Tổn giảm nằm trong Tăng Chi Bộ, tập IV, bài kinh này nói về sự giáo huấn của tôn giả Xá-lợi-phất.
"Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỳ-kheo:
- Này chư Hiền Tỳ-kheo.
- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Có người bản tánh là tổn giảm, có người bản tánh là không tổn giảm, này chư Hiền, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến? Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là không tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
- Thưa Hiền giả, chúng tôi đi từ xa đến để được hiểu rõ ý nghĩa lời nói này từ Tôn giả Sàriputta. Lành thay, nếu ý nghĩa lời nói này được Tôn giả Sàriputta nói lên. Sau khi nghe Tôn giả Sàriputta, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này chư Hiền, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói:
- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
Ở đây, này chư Hiền, Tỳ-kheo không nghe pháp chưa được nghe, và pháp đã được nghe đi đến bị quên; các pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành, và không thức tri những pháp chưa được thức tri. Cho đến như vậy, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến. Nhưng này chư Hiền, cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là không tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
Ở đây, này chư Hiền, Tỳ-kheo nghe pháp chưa được nghe, và các thiện pháp được nghe không có quên đi. Và những pháp nào trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy được hiện hành, và thức tri những pháp chưa được thức tri. Cho đến như vậy, này chư Hiền, là người bản tánh không bị tổn giảm được Thế Tôn nói đến". (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V). Tổn Giảm)
Ở đây ngài giải thích cho chúng ta hai dạng người, người tổn giảm và người không tổn giảm. Tổn giảm là bớt đi, giảm xuống, hạ xuống chứ không tăng trưởng, lùi lại chứ không tiến lên. Người có tánh tổn giảm là người không nghe pháp chưa được nghe, không chịu siêng năng nghe pháp, nghe được một chút hay hiểu được một chút là hài lòng với cái nghe đó, như vậy thì không được gọi là bậc Đa văn Thánh đệ tử.
Đa văn là nghe nhiều, đằng này mình không chịu nghe những pháp mình chưa được nghe, cái này có rất nhiều vấn đề để chúng ta nhìn nhận trong sự học pháp và hành pháp của chúng ta. Một là mình không chịu nghe, không chịu đọc, mình không chịu hỏi, thứ hai là nghe một cách hời hợt, nghe như gió thổi mây bay, nghe từ tai này qua tai kia cho nên cái thứ hai ngài Xá-lợi-phất nói là pháp đã được nghe bị quên mất, như vậy là không thọ trì, thọ là thọ nhận, tiếp nhận, trì là giữ gìn. Ví dụ có người đưa cho mình một món đồ quý, sau khi mình nhận món đồ đó thì phải giữ kĩ nó hay nhận xong là quăng đi? Chỉ có tiếp nhận và giữ gìn thì mới gọi là thọ trì.
Đối với phương pháp nhận diện ngũ uẩn, mình nghe xong, học xong, một năm sau hỏi lại quên hết thì đó là mình không có thọ trì, như vậy mình sẽ lui sụp đối với pháp, tổn giảm pháp, suy giảm pháp, lùi lại đối với pháp chứ không có tiến lên. Vì thế cần nghe pháp chưa được nghe, thứ hai là nghe rồi phải nhớ, phải học thuộc lòng những điều quan trọng, ví dụ như kinh Tứ Niệm Xứ, phần niệm thân phải nhớ.
Trong phần niệm thân có sáu phương diện, gồm niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi. Cần phải ghi nhớ những pháp quan trọng để thực hành, phải nghe thường xuyên, ghi ra tập, tụng đọc liên tục và thực hành thì mới ghi nhớ được hết vì có khả năng mình chỉ nhớ vài pháp đầu thôi, còn những pháp cuối không nhớ cho nên sau khi nghe thì phải nghi nhớ.
Tiếp theo ngài Xá-lợi-phất nói các "pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành", nghĩa là lúc đầu nghe thì có cảm xúc trào dâng, rung cảm, chấn động thân tâm, một thời gian sau nghe lại thì trơ ra không cảm xúc. Khi học về quán bất tịnh, về Thân Hành Niệm, về ba mươi hai thể trược thì mình chấn động, mình kinh cảm, xúc động, mình thấy đúng sự thật thân này nhơ nhớp, bất tịnh nhưng một thời gian sau cái pháp đó bị mất, không được thực tập, không được hành trì, không hiện hữu trong tâm mình nữa nên mình lui sụp đối với pháp hoặc là nghe phần quán thọ trên thọ thì thích thú, hoan hỉ, tỏa sáng trí tuệ, thấy đúng là trong cảm thọ có tham, sân, si trú ẩn nhưng vài ba tháng sau không quán chiếu cảm thọ nữa, để cho trôi lui, mất pháp luôn, để trở lại bình thường, không nhận diện các cảm thọ thì đó là sự thối lui, là bản tánh tổn giảm, không phát triển, không tăng trưởng đối với pháp.
Nếu không ghi nhớ thì làm sao thực hành? Nếu không thực hành thì làm sao thể nhập, làm sao chứng nhập? Làm sao chứng ngộ được những điều chưa chứng ngộ, làm sao chứng đạt được những điều chưa chứng đạt, làm sao chứng đắc được những điều chưa chứng đắc? Như vậy gọi là tổn giảm, lui sụp, yếu kém, không phát triển, không tiến lên, những cảm xúc hiền thiện, trí tuệ, những cảm xúc chấn động, kinh cảm đều mất hết.
Ngày đầu tiên mình cạo tóc vô cùng linh thiêng, xúc cảm nhưng bây giờ cạo tóc thì ra sao? Có nhớ đọc bài kệ không, có quán niệm không? Có suy niệm rằng khi cạo tóc phải tác ý như thế nào không hay vừa cạo vừa nói chuyện, vừa cạo vừa nghĩ lung tung chuyện này chuyện kia trong tâm phóng dật? Lúc đầu mình thọ đại giới được đắp y Tỳ-kheo lên vô cùng màu nhiệm, linh thiêng nhưng năm bảy năm sau khi đắp y thì thấy sao? Còn cảm xúc như lúc ban đầu không? Có còn sự chánh niệm và tỉnh giác khi mang Tăng-già-lê đó không? Có thấy mình đang mặc tấm y là ruộng phước vô thượng ở trên đời không? Có nhớ rằng đó là vô thượng phước điền y không?
Nếu không nhớ gì cả thì đó là sự thối lui, có bản tánh tổn giảm. Ngày đầu tiên vô trường ngồi học được giáo thọ sư lên giảng pháp thì trạng thái tâm mình như thế nào? Sự cung kính, khát ngưỡng pháp của mình ra sao? Thái độ học tập của mình lúc đó và bây giờ có khác khau không? Phải triển tra lại những cảm xúc hiền thiện đó, sự khát ngưỡng đó, cần cầu đó, những cảm xúc thanh cao, trang nghiêm đó có còn giữ được không, phải xem lại trong những sinh hoạt thường nhật của mình nếu không những cái đó sẽ mất hết.
Khi mới vô tu được ngồi thiền có thấy quý báu không? Có thấy giờ đó là thiêng liêng, thánh thiện không? Bây giờ lên ngồi thiền, tụng kinh cảm xúc như thế nào? Pháp hành về tâm từ, tâm bi hay chánh niệm tỉnh giác trú xả, bậc Đa văn Thánh đệ tử khi có cảm thọ khổ là biết có cảm thọ khổ, khi có cảm thọ vui biết rõ có cảm thọ vui, khi có cảm thọ không khổ không vui thì biết rõ có cảm thọ không khổ không vui, chánh niệm tỉnh giác trú trong trạng thái xả tâm. Đó là pháp hành quan trọng nhưng mình có nhớ có thuộc không, có thực hành không?
"Không thức tri những pháp chưa được thức tri" nghĩ là không nhận biết những pháp không được nhận biết, không biết thêm những cái mới, không thành tựu những trí tuệ thâm sâu, cao thượng hơn nữa, việc tu học bị đứng lại một chỗ. Biết tới đó rồi tự mãn, cho rằng cho tới đó là giỏi rồi, không thể thành tựu thêm những cái thấy biết cao thượng của bậc Thánh, không nhìn ra được sự sanh khởi của ngũ uẩn, sự vận hành của ngũ uẩn, sự sanh diệt của ngũ uẩn, không phát hiện ra được sự sanh khởi, sự vận hành và sự xâm chiếm, áp đảo của các cảm thọ.
Mình không biết những tư duy, tư tưởng, những lậu hoặc, những cảm giác thúc giục bên trong, không thấy không biết những cảm giác yêu thích bên trong, không thấy không biết những cảm giác sân hận, tức giận, ta đây, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, tật đố, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, không thấy tâm lậu hoặc, những sự cấu uế tâm thì làm sao đi đến tổng vệ sinh tẩy sạch và diệt tận nó được. Cho nên phải luôn quay lại soi rọi nội tâm bất cứ mọi lúc mọi nơi, soi rọi trong từng ý nghĩa, cảm thọ, hành động, hình bóng trong tâm, soi chiếu nó bằng con mắt trí tuệ Thánh trí ngũ uẩn.
Chúng ta tu học rất dễ rơi vào trạng thái tự cho mình là đủ, thấy đủ rồi nên không muốn tu học thêm nữa, trong sự tu học đó không có sự khát ngưỡng, cần cầu. Nhiệt tâm là một tâm nóng bỏng, rực cháy, một tâm có ước muốn sắc bén, nếu không có những điều này thì mình sẽ đứng lại đối với các thiện pháp, không thể tiến thêm được nữa và rơi vào bản tánh tổn giảm. Ngược lại là nghe pháp chưa được nghe, những lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya phải nghe tới nghe lui, thậm chí là nghe rồi cũng phải nghe lại nhiều lần, nghe cho đến khi thuộc lòng như khi tụng chú Đại Bi, chú Vãng Sanh, nghe kinh Nikāya phải thuộc lòng đến như vậy. Sau khi nghe rồi phải ghi nhớ, không bị quên mất, những cảm thọ, cảm xúc, những sự chấn động và đương nhiên là không phải chấn động liên tục được nhưng mình phải giữ được những cảm xúc hiền thiện, trí tuệ, duy trì cảm thọ đó.
Khi quán bất tịnh thì mình thấy gớm ghê thân mình và thân mọi người, mình lưu giữ và duy trì cảm thọ đó lâu dài, thường khơi gợi, tác ý về trí tuệ bất tịnh một cách dài lâu, nếu thấy yếu ớt thì tác ý trở lại, quán chiếu, nghe pháp trở lại. Cứ làm như vậy liên tục, hết nghe pháp, tác ý đến quán chiếu, tưới tẩm những cảm thọ đó, không để mất những cảm thọ, cảm giác đó. Có như vậy thì từ từ mới thể nhập, mới chứng nhập, mới thực chứng, ngược lại chỉ mới có được chút cảm giác rồi bỏ lơ, vài tháng sau là mất hết, trở lại bình thường. Phải mong muốn được học thêm những pháp trước nay mình chưa biết, chưa thấy, chưa hiểu, đó là bốn pháp để xác định người tổn giảm hay không tổn giảm, người lùi lại hay người tiến lên.
II. Soi gương rửa mặt
"Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: 'Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta'. Như vậy, này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập". (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V). Tổn Giảm)
Ta sẽ thiện xảo nghĩa là ta sẽ khéo léo, hành tướng là sự vận hành của ngũ uẩn, những tướng trạng của ngũ uẩn.
"Và này chư Hiền, thế nào là Tỳ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?
Ví như, này chư Hiền, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt của mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong, nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp người ấy hoan hỉ thỏa mãn: 'Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch!'. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỳ-kheo có quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp:
'Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với tâm không sân? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên đã từ bỏ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với không trạo cử? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta có được nội tâm pháp hỷ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta đã được nội tâm an chỉ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta đã có được tối thắng tuệ pháp quán? Không biết trong ta có pháp này hay không có?'
Này chư Hiền, nếu vị Tỳ-kheo trong khi quán sát, không thấy có trong tự ngã tất cả thiện pháp này, thời Tỳ-kheo ấy cần phải quyết định ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dũng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này.
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp và không thấy có một số thiện pháp, thời này chư Hiền, đối với các thiện pháp nào vị ấy thấy có trong tự ngã, vị ấy an trú trong các thiện pháp ấy. Ðối với các thiện pháp nào, vị ấy không thấy có trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo, trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp, thời an trú trong các thiện pháp ấy. Còn đối với các thiện pháp vị ấy không thấy trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được các thiện pháp ấy.
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo trong khi quán sát, thấy tất cả pháp này đều có trong tự ngã, thời này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy sau khi an trú trong tất cả thiện pháp này, cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V). Tổn Giảm)
Trong bài này ngài Xá-lợi-phất dạy cách khéo léo trong hành tướng tâm của chính mình, tức là khéo léo quán tâm, khéo léo nhìn thấy sự vận hành hoạt động nội tâm, nơi tự thân chính mình. Ngài ví dụ giống như người thanh niên hay thiếu nữ thích cái đẹp, nhìn gương mặt của mình trong gương, nếu thấy mặt dính bụi hay dơ thì người này lập tức chùi rửa, nếu không thấy dơ bẩn thì người này sẽ vui thích vì mình sạch sẽ, mặt mình đẹp sạch, không nổi mụn.
Hằng ngày mình có soi gương thấy mặt mình không? Mình xem mặt mình mà mình không xem bản chất gương mặt của mình. Mình phải "bản lai diện mục", từ này nhà thiền dùng khác còn ở đây dùng khác, nghĩa là bộ mặt thật của mình, mình chỉ thấy gương mặt da thịt này thôi chứ không thấy được bộ mặt thật của nội tâm mình cho nên khổ đau liên miên.
Mình lo chau chuốt gương mặt giả, mặt ở bên ngoài, mình không thấy được bộ mặt thật sự nội tâm cho nên ngài Xá-lợi-phất dạy mình chăm sóc bộ mặt nội tâm thật sự của chúng ta. Thiện xảo nghĩa là khéo léo quán sát những sự vận hành của những cảm giác, nghĩ tưởng, suy nghĩ, nhận thức bên trong, đó là thiện xảo trong hành tướng tâm của mình.
Từ đầu năm đến giờ con đã chia sẻ những phương pháp nhận diện ngũ uẩn này, đó là sự khéo léo thiện xảo nhìn ra được những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức nội tâm của mình. Tất cả pháp hành kinh Nikāya là đều là cái đó, phải thường soi gương tức là nhìn lại nội tâm, nhìn nội tâm để thấy chỗ nào dơ thì chùi, chỗ nào bẩn thì rửa, chỗ nào cấu nhiễm thì tẩy sạch, nhà sạch thì đẹp, hoan hỉ.
Tâm của mình là tâm rất dơ, nhìn bề ngoài rất hiền nhưng khi đụng chuyện mới biết mặt, rực lửa vì chất cháy còn nằm bên trong, nhiên liệu vẫn còn tồn kho, tích lũy trong đó, được cất giữ trong đó chưa được dọn sạch, chỉ có các bậc Thánh mới dọn sạch sẽ được kho tâm của chính bản thân họ, còn chúng ta chưa đủ trí tuệ sâu sắc để nhìn hết những xó kẹt, tất cả những phương diện, khía cạnh, những tầng lớp bên trong của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Tâm chúng ta bận hướng ngoại, nhìn ra bên ngoài, nhìn cảnh vật, nhìn đồ vật, nhìn người này người kia, không có nhiều thời gian để nhìn lại mình, cứ nghĩ là bản thân thông minh nhưng thật ra là vô minh cho nên ngài Xá-lợi-phất dạy mình cách soi gương rửa mặt, đây là pháp soi gương rửa mặt.
Trong kinh tạng Nikāya hơn 80% là pháp quán để nhìn ngó, quán sát, theo dõi tâm của mình, phòng hộ, bảo vệ, chế ngự tâm của mình, không để cho nó tự tung tự tác, đó là một sức mạnh vô biên ở bên trong. Lúc mình ngồi thiền hoặc ở yên một mình thì hãy đặt câu hỏi không biết ngày hôm nay ta có sống trong cái tham nhiều, đòi hỏi, tầm cầu nhiều không hay là hôm nay ta sống trong cái không tham, ly tham, rời tham, lìa tham.
Đó là chúng ta đang soi gương, hằng ngày chúng ta có đặt câu hỏi tự vấn không, "bạch Thế Tôn ngày hôm nay con thấy con có tham nhiều quá, con xin sám hối", "con thấy con tham ăn, con thấy con tham cảnh đẹp, con thấy con tham ngủ", "con thấy con tham nói chuyện", "con thấy con tham thể hiện, nói một hồi là bản ngã". Tu hay như vậy đó, kinh Nikāya dạy mình soi gương rửa mặt, không biết trong ta có sống nhiều với tâm nóng giận hay lìa xa cảm thọ sân hận, ly sân nhiều hay sống với tức giận nhiều.
Chúng ta phải tự vấn, tự kiểm điểm, kiểm tra hằng ngày trong đầu hôm, giữa đêm hay cuối đêm, rà soát, hồi tưởng, quán chiếu lại trong một ngày. Ví dụ mình mới tức giận với sư tỉ, sư muội rồi mình vào ngồi thiền la rầy tâm mình "cái tâm ngu mê này tối ngày cứ giận hoài", "tâm si mê, vô minh, hơn thua gặp chuyện gì cũng xen vào", chúng ta phải la rầy cái tâm hướng ngoại, chuyện của người ta kệ người ta, mình chỉ lo tu thôi, lo soi gương rửa mặt mình thôi, đừng nhìn người ta cho nên pháp soi gương này rất quan trọng. Phải soi gương chính mình để vạch tội mình ra, kể tội mình ra thì mới phá được bản ngã, còn tu mà cứ bảo vệ cái tôi, không dám nhận lỗi thì làm sao sửa lỗi, làm sao sạch lỗi, làm sao hết lỗi. Ai chỉ lỗi là sân hận lên hoặc là đổ thừa người này người kia, do cái này cái kia.
Mình phải xem lại bản thân có sống nhiều với tâm hôn trầm thụy miên không, có phải ta sống nhiều với tâm lờ đờ, vất vơ vất vưởng, mặt mũi ủ dột, ngáo ngơ, lờ mờ hay là mình sống rời xa cảm thọ đó, sống trong chánh niệm tỉnh giác. Đó là chúng ta đang quán chiếu năm triền cái, tiếp theo là phải quán chiếu về trạo cử, sự dao động, lăng xăng, chuông báo hết giờ chưa reng đã nhấp nhổm, trong tâm có sự thúc giục.
Khi tiếng chuông reng lên mà vẫn ngồi yên lặng, vị giáo thọ bước ra rồi mình mới đi về, đó là đức hạnh, là công phu nhiếp phục và chế ngự các cảm thọ thúc giục bên trong, đó là oai nghi, tế hạnh của người xuất gia, những cái nhỏ đó sẽ làm thành ra đại hạnh, đại đức, tức là công đức vĩ đại thì gọi là đại đức nhưng cái danh này có thật không hay chỉ nói tên suông thôi, có thật sự là đại đức không. Chúng ta phải biết tích lũy từ những công phu nhỏ để trở thành cái đức lớn thì mới gọi là đại đức.
Thế nào là công đức vĩ đại? Đó là nhận diện được những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm là thiện hay bất thiện rồi nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, tẩy sạch, từ những công phu nhỏ nhiệm đó là trở thành đức lớn của người xuất gia. Cuối cùng là nghi ngờ, nghi ngờ về ngũ uẩn, không biết trước kia mình là ai, bây giờ mình thế nào và sau này mình ra sao, cái đó là nghi triền cái. Trước kia mình là ngũ uẩn, bây giờ mình đang là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cũng là ngũ uẩn và sau này cũng tiếp tục thân ngũ uẩn, không có cái tôi ta nào trong đây, chỉ là pháp duyên sanh vô thường, khổ, vô ngã, sự vận hành của năm uẩn thôi. Phải thấy biết một cách xác quyết tuyệt đối, phá vỡ tất cả những nghi ngờ, do dự, phân vân về năm uẩn và thành tựu chánh tri kiến.
./.
Soi Gương Rửa Mặt
Kinh Đoạn Giảm 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tổn giảm PAGEREF _Toc179572587 \h 1
II. Soi gương rửa mặt PAGEREF _Toc179572588 \h 5
I. Tổn giảm
Hôm nay chúng ta sẽ nghe bài kinh Tổn giảm nằm trong Tăng Chi Bộ, tập IV, bài kinh này nói về sự giáo huấn của tôn giả Xá-lợi-phất.
"Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỳ-kheo:
- Này chư Hiền Tỳ-kheo.
- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Có người bản tánh là tổn giảm, có người bản tánh là không tổn giảm, này chư Hiền, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến? Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là không tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
- Thưa Hiền giả, chúng tôi đi từ xa đến để được hiểu rõ ý nghĩa lời nói này từ Tôn giả Sàriputta. Lành thay, nếu ý nghĩa lời nói này được Tôn giả Sàriputta nói lên. Sau khi nghe Tôn giả Sàriputta, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này chư Hiền, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói:
- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
Ở đây, này chư Hiền, Tỳ-kheo không nghe pháp chưa được nghe, và pháp đã được nghe đi đến bị quên; các pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành, và không thức tri những pháp chưa được thức tri. Cho đến như vậy, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến. Nhưng này chư Hiền, cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là không tổn giảm được Thế Tôn nói đến?
Ở đây, này chư Hiền, Tỳ-kheo nghe pháp chưa được nghe, và các thiện pháp được nghe không có quên đi. Và những pháp nào trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy được hiện hành, và thức tri những pháp chưa được thức tri. Cho đến như vậy, này chư Hiền, là người bản tánh không bị tổn giảm được Thế Tôn nói đến". (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V). Tổn Giảm)
Ở đây ngài giải thích cho chúng ta hai dạng người, người tổn giảm và người không tổn giảm. Tổn giảm là bớt đi, giảm xuống, hạ xuống chứ không tăng trưởng, lùi lại chứ không tiến lên. Người có tánh tổn giảm là người không nghe pháp chưa được nghe, không chịu siêng năng nghe pháp, nghe được một chút hay hiểu được một chút là hài lòng với cái nghe đó, như vậy thì không được gọi là bậc Đa văn Thánh đệ tử.
Đa văn là nghe nhiều, đằng này mình không chịu nghe những pháp mình chưa được nghe, cái này có rất nhiều vấn đề để chúng ta nhìn nhận trong sự học pháp và hành pháp của chúng ta. Một là mình không chịu nghe, không chịu đọc, mình không chịu hỏi, thứ hai là nghe một cách hời hợt, nghe như gió thổi mây bay, nghe từ tai này qua tai kia cho nên cái thứ hai ngài Xá-lợi-phất nói là pháp đã được nghe bị quên mất, như vậy là không thọ trì, thọ là thọ nhận, tiếp nhận, trì là giữ gìn. Ví dụ có người đưa cho mình một món đồ quý, sau khi mình nhận món đồ đó thì phải giữ kĩ nó hay nhận xong là quăng đi? Chỉ có tiếp nhận và giữ gìn thì mới gọi là thọ trì.
Đối với phương pháp nhận diện ngũ uẩn, mình nghe xong, học xong, một năm sau hỏi lại quên hết thì đó là mình không có thọ trì, như vậy mình sẽ lui sụp đối với pháp, tổn giảm pháp, suy giảm pháp, lùi lại đối với pháp chứ không có tiến lên. Vì thế cần nghe pháp chưa được nghe, thứ hai là nghe rồi phải nhớ, phải học thuộc lòng những điều quan trọng, ví dụ như kinh Tứ Niệm Xứ, phần niệm thân phải nhớ.
Trong phần niệm thân có sáu phương diện, gồm niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi. Cần phải ghi nhớ những pháp quan trọng để thực hành, phải nghe thường xuyên, ghi ra tập, tụng đọc liên tục và thực hành thì mới ghi nhớ được hết vì có khả năng mình chỉ nhớ vài pháp đầu thôi, còn những pháp cuối không nhớ cho nên sau khi nghe thì phải nghi nhớ.
Tiếp theo ngài Xá-lợi-phất nói các "pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành", nghĩa là lúc đầu nghe thì có cảm xúc trào dâng, rung cảm, chấn động thân tâm, một thời gian sau nghe lại thì trơ ra không cảm xúc. Khi học về quán bất tịnh, về Thân Hành Niệm, về ba mươi hai thể trược thì mình chấn động, mình kinh cảm, xúc động, mình thấy đúng sự thật thân này nhơ nhớp, bất tịnh nhưng một thời gian sau cái pháp đó bị mất, không được thực tập, không được hành trì, không hiện hữu trong tâm mình nữa nên mình lui sụp đối với pháp hoặc là nghe phần quán thọ trên thọ thì thích thú, hoan hỉ, tỏa sáng trí tuệ, thấy đúng là trong cảm thọ có tham, sân, si trú ẩn nhưng vài ba tháng sau không quán chiếu cảm thọ nữa, để cho trôi lui, mất pháp luôn, để trở lại bình thường, không nhận diện các cảm thọ thì đó là sự thối lui, là bản tánh tổn giảm, không phát triển, không tăng trưởng đối với pháp.
Nếu không ghi nhớ thì làm sao thực hành? Nếu không thực hành thì làm sao thể nhập, làm sao chứng nhập? Làm sao chứng ngộ được những điều chưa chứng ngộ, làm sao chứng đạt được những điều chưa chứng đạt, làm sao chứng đắc được những điều chưa chứng đắc? Như vậy gọi là tổn giảm, lui sụp, yếu kém, không phát triển, không tiến lên, những cảm xúc hiền thiện, trí tuệ, những cảm xúc chấn động, kinh cảm đều mất hết.
Ngày đầu tiên mình cạo tóc vô cùng linh thiêng, xúc cảm nhưng bây giờ cạo tóc thì ra sao? Có nhớ đọc bài kệ không, có quán niệm không? Có suy niệm rằng khi cạo tóc phải tác ý như thế nào không hay vừa cạo vừa nói chuyện, vừa cạo vừa nghĩ lung tung chuyện này chuyện kia trong tâm phóng dật? Lúc đầu mình thọ đại giới được đắp y Tỳ-kheo lên vô cùng màu nhiệm, linh thiêng nhưng năm bảy năm sau khi đắp y thì thấy sao? Còn cảm xúc như lúc ban đầu không? Có còn sự chánh niệm và tỉnh giác khi mang Tăng-già-lê đó không? Có thấy mình đang mặc tấm y là ruộng phước vô thượng ở trên đời không? Có nhớ rằng đó là vô thượng phước điền y không?
Nếu không nhớ gì cả thì đó là sự thối lui, có bản tánh tổn giảm. Ngày đầu tiên vô trường ngồi học được giáo thọ sư lên giảng pháp thì trạng thái tâm mình như thế nào? Sự cung kính, khát ngưỡng pháp của mình ra sao? Thái độ học tập của mình lúc đó và bây giờ có khác khau không? Phải triển tra lại những cảm xúc hiền thiện đó, sự khát ngưỡng đó, cần cầu đó, những cảm xúc thanh cao, trang nghiêm đó có còn giữ được không, phải xem lại trong những sinh hoạt thường nhật của mình nếu không những cái đó sẽ mất hết.
Khi mới vô tu được ngồi thiền có thấy quý báu không? Có thấy giờ đó là thiêng liêng, thánh thiện không? Bây giờ lên ngồi thiền, tụng kinh cảm xúc như thế nào? Pháp hành về tâm từ, tâm bi hay chánh niệm tỉnh giác trú xả, bậc Đa văn Thánh đệ tử khi có cảm thọ khổ là biết có cảm thọ khổ, khi có cảm thọ vui biết rõ có cảm thọ vui, khi có cảm thọ không khổ không vui thì biết rõ có cảm thọ không khổ không vui, chánh niệm tỉnh giác trú trong trạng thái xả tâm. Đó là pháp hành quan trọng nhưng mình có nhớ có thuộc không, có thực hành không?
"Không thức tri những pháp chưa được thức tri" nghĩ là không nhận biết những pháp không được nhận biết, không biết thêm những cái mới, không thành tựu những trí tuệ thâm sâu, cao thượng hơn nữa, việc tu học bị đứng lại một chỗ. Biết tới đó rồi tự mãn, cho rằng cho tới đó là giỏi rồi, không thể thành tựu thêm những cái thấy biết cao thượng của bậc Thánh, không nhìn ra được sự sanh khởi của ngũ uẩn, sự vận hành của ngũ uẩn, sự sanh diệt của ngũ uẩn, không phát hiện ra được sự sanh khởi, sự vận hành và sự xâm chiếm, áp đảo của các cảm thọ.
Mình không biết những tư duy, tư tưởng, những lậu hoặc, những cảm giác thúc giục bên trong, không thấy không biết những cảm giác yêu thích bên trong, không thấy không biết những cảm giác sân hận, tức giận, ta đây, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, tật đố, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, không thấy tâm lậu hoặc, những sự cấu uế tâm thì làm sao đi đến tổng vệ sinh tẩy sạch và diệt tận nó được. Cho nên phải luôn quay lại soi rọi nội tâm bất cứ mọi lúc mọi nơi, soi rọi trong từng ý nghĩa, cảm thọ, hành động, hình bóng trong tâm, soi chiếu nó bằng con mắt trí tuệ Thánh trí ngũ uẩn.
Chúng ta tu học rất dễ rơi vào trạng thái tự cho mình là đủ, thấy đủ rồi nên không muốn tu học thêm nữa, trong sự tu học đó không có sự khát ngưỡng, cần cầu. Nhiệt tâm là một tâm nóng bỏng, rực cháy, một tâm có ước muốn sắc bén, nếu không có những điều này thì mình sẽ đứng lại đối với các thiện pháp, không thể tiến thêm được nữa và rơi vào bản tánh tổn giảm. Ngược lại là nghe pháp chưa được nghe, những lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya phải nghe tới nghe lui, thậm chí là nghe rồi cũng phải nghe lại nhiều lần, nghe cho đến khi thuộc lòng như khi tụng chú Đại Bi, chú Vãng Sanh, nghe kinh Nikāya phải thuộc lòng đến như vậy. Sau khi nghe rồi phải ghi nhớ, không bị quên mất, những cảm thọ, cảm xúc, những sự chấn động và đương nhiên là không phải chấn động liên tục được nhưng mình phải giữ được những cảm xúc hiền thiện, trí tuệ, duy trì cảm thọ đó.
Khi quán bất tịnh thì mình thấy gớm ghê thân mình và thân mọi người, mình lưu giữ và duy trì cảm thọ đó lâu dài, thường khơi gợi, tác ý về trí tuệ bất tịnh một cách dài lâu, nếu thấy yếu ớt thì tác ý trở lại, quán chiếu, nghe pháp trở lại. Cứ làm như vậy liên tục, hết nghe pháp, tác ý đến quán chiếu, tưới tẩm những cảm thọ đó, không để mất những cảm thọ, cảm giác đó. Có như vậy thì từ từ mới thể nhập, mới chứng nhập, mới thực chứng, ngược lại chỉ mới có được chút cảm giác rồi bỏ lơ, vài tháng sau là mất hết, trở lại bình thường. Phải mong muốn được học thêm những pháp trước nay mình chưa biết, chưa thấy, chưa hiểu, đó là bốn pháp để xác định người tổn giảm hay không tổn giảm, người lùi lại hay người tiến lên.
II. Soi gương rửa mặt
"Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: 'Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta'. Như vậy, này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập". (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V). Tổn Giảm)
Ta sẽ thiện xảo nghĩa là ta sẽ khéo léo, hành tướng là sự vận hành của ngũ uẩn, những tướng trạng của ngũ uẩn.
"Và này chư Hiền, thế nào là Tỳ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?
Ví như, này chư Hiền, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt của mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong, nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp người ấy hoan hỉ thỏa mãn: 'Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch!'. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỳ-kheo có quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp:
'Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với tâm không sân? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên đã từ bỏ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với không trạo cử? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta có được nội tâm pháp hỷ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta đã được nội tâm an chỉ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta đã có được tối thắng tuệ pháp quán? Không biết trong ta có pháp này hay không có?'
Này chư Hiền, nếu vị Tỳ-kheo trong khi quán sát, không thấy có trong tự ngã tất cả thiện pháp này, thời Tỳ-kheo ấy cần phải quyết định ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dũng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này.
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp và không thấy có một số thiện pháp, thời này chư Hiền, đối với các thiện pháp nào vị ấy thấy có trong tự ngã, vị ấy an trú trong các thiện pháp ấy. Ðối với các thiện pháp nào, vị ấy không thấy có trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo, trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp, thời an trú trong các thiện pháp ấy. Còn đối với các thiện pháp vị ấy không thấy trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được các thiện pháp ấy.
Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo trong khi quán sát, thấy tất cả pháp này đều có trong tự ngã, thời này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy sau khi an trú trong tất cả thiện pháp này, cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V). Tổn Giảm)
Trong bài này ngài Xá-lợi-phất dạy cách khéo léo trong hành tướng tâm của chính mình, tức là khéo léo quán tâm, khéo léo nhìn thấy sự vận hành hoạt động nội tâm, nơi tự thân chính mình. Ngài ví dụ giống như người thanh niên hay thiếu nữ thích cái đẹp, nhìn gương mặt của mình trong gương, nếu thấy mặt dính bụi hay dơ thì người này lập tức chùi rửa, nếu không thấy dơ bẩn thì người này sẽ vui thích vì mình sạch sẽ, mặt mình đẹp sạch, không nổi mụn.
Hằng ngày mình có soi gương thấy mặt mình không? Mình xem mặt mình mà mình không xem bản chất gương mặt của mình. Mình phải "bản lai diện mục", từ này nhà thiền dùng khác còn ở đây dùng khác, nghĩa là bộ mặt thật của mình, mình chỉ thấy gương mặt da thịt này thôi chứ không thấy được bộ mặt thật của nội tâm mình cho nên khổ đau liên miên.
Mình lo chau chuốt gương mặt giả, mặt ở bên ngoài, mình không thấy được bộ mặt thật sự nội tâm cho nên ngài Xá-lợi-phất dạy mình chăm sóc bộ mặt nội tâm thật sự của chúng ta. Thiện xảo nghĩa là khéo léo quán sát những sự vận hành của những cảm giác, nghĩ tưởng, suy nghĩ, nhận thức bên trong, đó là thiện xảo trong hành tướng tâm của mình.
Từ đầu năm đến giờ con đã chia sẻ những phương pháp nhận diện ngũ uẩn này, đó là sự khéo léo thiện xảo nhìn ra được những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức nội tâm của mình. Tất cả pháp hành kinh Nikāya là đều là cái đó, phải thường soi gương tức là nhìn lại nội tâm, nhìn nội tâm để thấy chỗ nào dơ thì chùi, chỗ nào bẩn thì rửa, chỗ nào cấu nhiễm thì tẩy sạch, nhà sạch thì đẹp, hoan hỉ.
Tâm của mình là tâm rất dơ, nhìn bề ngoài rất hiền nhưng khi đụng chuyện mới biết mặt, rực lửa vì chất cháy còn nằm bên trong, nhiên liệu vẫn còn tồn kho, tích lũy trong đó, được cất giữ trong đó chưa được dọn sạch, chỉ có các bậc Thánh mới dọn sạch sẽ được kho tâm của chính bản thân họ, còn chúng ta chưa đủ trí tuệ sâu sắc để nhìn hết những xó kẹt, tất cả những phương diện, khía cạnh, những tầng lớp bên trong của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Tâm chúng ta bận hướng ngoại, nhìn ra bên ngoài, nhìn cảnh vật, nhìn đồ vật, nhìn người này người kia, không có nhiều thời gian để nhìn lại mình, cứ nghĩ là bản thân thông minh nhưng thật ra là vô minh cho nên ngài Xá-lợi-phất dạy mình cách soi gương rửa mặt, đây là pháp soi gương rửa mặt.
Trong kinh tạng Nikāya hơn 80% là pháp quán để nhìn ngó, quán sát, theo dõi tâm của mình, phòng hộ, bảo vệ, chế ngự tâm của mình, không để cho nó tự tung tự tác, đó là một sức mạnh vô biên ở bên trong. Lúc mình ngồi thiền hoặc ở yên một mình thì hãy đặt câu hỏi không biết ngày hôm nay ta có sống trong cái tham nhiều, đòi hỏi, tầm cầu nhiều không hay là hôm nay ta sống trong cái không tham, ly tham, rời tham, lìa tham.
Đó là chúng ta đang soi gương, hằng ngày chúng ta có đặt câu hỏi tự vấn không, "bạch Thế Tôn ngày hôm nay con thấy con có tham nhiều quá, con xin sám hối", "con thấy con tham ăn, con thấy con tham cảnh đẹp, con thấy con tham ngủ", "con thấy con tham nói chuyện", "con thấy con tham thể hiện, nói một hồi là bản ngã". Tu hay như vậy đó, kinh Nikāya dạy mình soi gương rửa mặt, không biết trong ta có sống nhiều với tâm nóng giận hay lìa xa cảm thọ sân hận, ly sân nhiều hay sống với tức giận nhiều.
Chúng ta phải tự vấn, tự kiểm điểm, kiểm tra hằng ngày trong đầu hôm, giữa đêm hay cuối đêm, rà soát, hồi tưởng, quán chiếu lại trong một ngày. Ví dụ mình mới tức giận với sư tỉ, sư muội rồi mình vào ngồi thiền la rầy tâm mình "cái tâm ngu mê này tối ngày cứ giận hoài", "tâm si mê, vô minh, hơn thua gặp chuyện gì cũng xen vào", chúng ta phải la rầy cái tâm hướng ngoại, chuyện của người ta kệ người ta, mình chỉ lo tu thôi, lo soi gương rửa mặt mình thôi, đừng nhìn người ta cho nên pháp soi gương này rất quan trọng. Phải soi gương chính mình để vạch tội mình ra, kể tội mình ra thì mới phá được bản ngã, còn tu mà cứ bảo vệ cái tôi, không dám nhận lỗi thì làm sao sửa lỗi, làm sao sạch lỗi, làm sao hết lỗi. Ai chỉ lỗi là sân hận lên hoặc là đổ thừa người này người kia, do cái này cái kia.
Mình phải xem lại bản thân có sống nhiều với tâm hôn trầm thụy miên không, có phải ta sống nhiều với tâm lờ đờ, vất vơ vất vưởng, mặt mũi ủ dột, ngáo ngơ, lờ mờ hay là mình sống rời xa cảm thọ đó, sống trong chánh niệm tỉnh giác. Đó là chúng ta đang quán chiếu năm triền cái, tiếp theo là phải quán chiếu về trạo cử, sự dao động, lăng xăng, chuông báo hết giờ chưa reng đã nhấp nhổm, trong tâm có sự thúc giục.
Khi tiếng chuông reng lên mà vẫn ngồi yên lặng, vị giáo thọ bước ra rồi mình mới đi về, đó là đức hạnh, là công phu nhiếp phục và chế ngự các cảm thọ thúc giục bên trong, đó là oai nghi, tế hạnh của người xuất gia, những cái nhỏ đó sẽ làm thành ra đại hạnh, đại đức, tức là công đức vĩ đại thì gọi là đại đức nhưng cái danh này có thật không hay chỉ nói tên suông thôi, có thật sự là đại đức không. Chúng ta phải biết tích lũy từ những công phu nhỏ để trở thành cái đức lớn thì mới gọi là đại đức.
Thế nào là công đức vĩ đại? Đó là nhận diện được những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm là thiện hay bất thiện rồi nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, tẩy sạch, từ những công phu nhỏ nhiệm đó là trở thành đức lớn của người xuất gia. Cuối cùng là nghi ngờ, nghi ngờ về ngũ uẩn, không biết trước kia mình là ai, bây giờ mình thế nào và sau này mình ra sao, cái đó là nghi triền cái. Trước kia mình là ngũ uẩn, bây giờ mình đang là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cũng là ngũ uẩn và sau này cũng tiếp tục thân ngũ uẩn, không có cái tôi ta nào trong đây, chỉ là pháp duyên sanh vô thường, khổ, vô ngã, sự vận hành của năm uẩn thôi. Phải thấy biết một cách xác quyết tuyệt đối, phá vỡ tất cả những nghi ngờ, do dự, phân vân về năm uẩn và thành tựu chánh tri kiến.
./.