Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

12. Huấn Luyện 5 Uẩn

2026-03-03 00:56:05
HUẤN LUYỆN NĂM UẨN

ĐĐ.Thích Minh Thành giảng

Cảm giác, cảm thọ trong sự tu tập của chúng ta là rất quan trọng. Nói trong sự tu tập nghĩa là phải luôn luôn quay lại nhìn, kiểm tra, dò xét thân thể, cảm giác và những nghĩ tưởng. Đặc biệt là nhìn lại cảm thọ, cảm xúc để mình huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ cảm giác của mình. Nhiều khi mình nghĩ là mình nhịn người kia, cái đó chỉ là cái ngọn, mình dạy dỗ được cảm xúc thì mình không cần nhịn, không cần nhẫn phía bên ngoài mà là mình đã giáo dục cảm thọ bên trong. Một khi mình thường trực theo dõi cảm thọ, cẩn thận đối với cảm thọ thì sự tu tập của mình được tân tiến.

Minh Thành thấy trong lúc các huynh đệ ngồi thiền tối nay thì bị hôn trầm tấn công, nếu mình tu mà không vượt qua được cái này thì sự tu của mình sẽ không đi tới đâu, không được thành tựu gì hết cho nên chiều nay chúng ta sẽ nghe bài thức ăn của năm truyền cái và những lời dạy của Đức Phật về năm truyền cái. Mình phải tìm mọi cách chiến đấu để vượt qua được trạo cử, hôn trầm, đây là những cái thô nhất của thiền tập rồi mình mới diệt được hoài nghi, dục tham và sân. Hoài nghi; dục tham; sân; hôn trầm và trạo cử là năm sự che đậy của tâm, phải đánh đuổi và diệt tận nó, mình muốn ngồi thiền mà không bị hôn trầm thì mình phải khai triển thiền quán. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ là sự chứng ngộ A-la-hán thời Đức Phật, gần 80% là các ngài khai triển thiền quán mà diệt tận được dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Cho nên mình tu mà vào mình ngồi trơ trơ là mình ngồi trong hố đen, trong bóng đêm, như vậy thì làm sao mình đi đến thành tựu thể nhập thánh trí. Nếu bị hôn trầm thì phải quán cực kì mạnh, quán cho thâm sâu, phát huy tuệ lực cho bung vỡ ra, quán cho cái thọ cảm thấy run sợ, nếu mạnh hơn nữa thì sẽ vào các tầng thánh quả, thể nhập chánh tri kiến, vì cái thấy biết cho đến tột cùng như quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi cho nó bung luôn tham sân si và diệt tận bản ngã, đó là phép quán nổi trội. Trong kinh Nikāya, trong Tứ Niệm Xứ và trong Trưởng Lão Tăng Kệ đều sử dụng phép quán này, người tu ngày nay cho dù có ở trong chùa suốt đời cũng không được vài lần ngồi quán thành ra làm sao thành tựu được trí huệ ly tham, nhàm chán và từ bỏ, cái dục quậy mình mệt mỏi thì làm sao tâm mình yên để vào định. Vì vậy thiền quán là cực kì quan trọng, không nhất thiết phải có định mới quán, cứ thực tập thiền quán để trước hết phá được hôn trầm và trạo cử rồi phá tiếp dục tầm, sân tầm, hại tầm và những suy nghĩ bực tức, những suy nghĩ hại người khác. Tầm nghĩa là suy tầm. Mình ly được ba cái: ly dục tầm, ly sân tầm và ly hại tầm thì mình đã vào được chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo. Vì thế mình phải làm cho cảm xúc của mình thật mạnh mẽ trong sự tu tập, hành trì và quán chiếu, phải luôn luôn nuôi dưỡng cảm giác lắng dịu và an tịnh, nếu mình thấy cảm xúc của mình bị dao động thì mình nói chuyện với cảm thọ "hãy an tịnh và lắng dịu", hít vào mình nói "lắng dịu", thở ra mình nói "an tịnh", tức là mình đang dạy cho cảm thọ của mình như mình đang dạy một người, nếu cảm thọ của mình bắt đầu lăng xăng thì hãy nói "chậm chậm lại, đây là sự trói cột, trạo cử, hãy bình lặng lại".

Thực tập mười sáu hơi thở mọi lúc mọi nơi chứ không phải đợi tới lúc lên bồ đoàn trong thiền đường mới thực tập, hít vào làm thân mình được an tịnh, thở ra làm cho tâm được lắng dịu, nếu có những cảm xúc bực bội, khó chịu, nhìn ngó người khác thì mình dạy cảm xúc đó "mình là người tốt, những cảm giác này không phải của người tốt", "Đức Thế Tôn là bậc an tịnh và thuyết giảng để đưa tất cả chúng sanh đến bến bờ an tịnh, mình phải đi theo con đường an tịnh này", ngay lúc đó mình huấn luyện cảm giác đó từ từ là tự động nó sẽ lắng động lại, mình cứ dạy dỗ hoài thì từ từ nó sẽ thuần phục và khi nó thuần phục thì mình sẽ thấy kì diệu, sáu căn của mình an nhiên, đến và đi vắng lặng, dù cho có chuyện gì đi nữa, chuyện lớn lao có đến nhưng mình đã quen thực tập, dạy dỗ cảm thọ của mình thì mình cũng thực tập được sự yên tịnh, không bị dao động mạnh.

Phải để ý huấn luyện cảm xúc, huấn luyện những cái tưởng, những suy nghĩ trong nội tâm của mình, phải đưa nó về những suy nghĩ của hiền thiện, đưa nó về những cái tưởng của hiền thiện và đưa nó về những cảm xúc của hiền thiện. Cái hiền thiện này là của bậc thánh, một khi đã nhìn ra được năm uẩn, thấy được tính chất vô thường để mình ly tham cộng thêm mình tu tập thêm tâm hiền, tâm từ, tâm bi thì sự hiền thiện này là của bậc thánh, thành ra trước mắt mình phải huấn luyện được lời nói hiền thiện, ngôn ngữ hiền thiện và hành vi hiền thiện. Muốn như vậy thì những suy nghĩ bên trong phải hiền thiện, mà muốn suy nghĩ hiền thiện thì mình phải dạy dỗ nó chứ không phải tự động mà có. Dạy dỗ sắc thân này hiền hòa, từ ái, nhỏ nhẹ, trên gương mặt tỏ ra sự bi mẫn. Dạy dỗ cảm giác hiền hòa này, cảm giác của một tình thương, một sự thấu hiểu rộng lớn. Dạy dỗ cái tưởng, những hình bóng trong nội tâm là một hình bóng của sự tốt lành, của bậc hiền thánh, của những bậc A-la-hán, những bậc đạo hạnh, đánh đuổi những cái tưởng về dục ái sân, ngã mạn, về ác và bất thiện ra khỏi nội tâm, không cho nó tồn tại, không để cho nó xâm nhập và tiếp diễn và càng không nuôi lớn nó trong nội tâm, hãy để nó khởi lên những hình bóng của bậc đức độ, cao thượng. Đức Thế Tôn nói này các Tỳ-kheo, phải từ nơi cao thượng mới có thể đạt tới cao thượng, không thể từ cái hạ liệt, thấp hèn mà đạt tới cái cao thượng. Mình phải huấn luyện, dạy dỗ những suy nghĩ, không phải dừng lại không suy nghĩ, cái đó như lấy đá đè cỏ, phải chuyển đổi tánh tình, hướng cho nó nghĩ những cái thiện, tốt lành, công đức, từ bi hỷ xả vô lượng. Cái thức cũng vậy, hãy tìm những cái nhận thức về chánh pháp, về trí huệ, một khi nổi lên những tư tưởng, cảm xúc bất thiện, xấu ác thì mình hãy nói "mình là người tốt, mình là người tu, không để cho suy nghĩ này tiếp diễn, không để cho những hình bóng này tiếp nối trong nội tâm của mình, không để cho cảm giác này ngự trị trong người mình". Khi mình đọc lên hai chữ "người tu" thì phải có cảm xúc dào dạt, từ đầu tới chân phải có cảm xúc thiêng liêng, tôn kính thì lúc đó hình ảnh của Đức Thế Tôn hiện ra, hình ảnh của ngài Xá-lợi-phất, ngài Ma-ha-ca-diếp, Tôn giả A-nan và hình ảnh các bậc thánh hiện ra trong tâm mình. Người tu là phải như vậy, không chất chứa những tu tưởng dục sân hại, những tư tưởng tật đố, tranh đấu, cao thấp, đúng sai, mình chất chứa những tư tưởng đó giống như sét ăn sắt, từ sắt sanh ra sét rồi sét hủy hoại thanh sắt. Đối với một người chất chứa những tư tưởng ác, xấu, những cảm xúc xấu, những hình bóng xấu ác thì người đó tự mình hủy hoại chính mình giống như từ thanh sắt sanh ra sét rồi sét quay trở lại ăn mòn sắt, đó là những ác ma. Những cái dục, bản ngã sanh khởi lên, những sự hôn trầm, lười biếng, yếu hèn… mình phải xem những cái này là ác ma, là thú vật, mình dùng những từ thật mạnh của tuệ lực, của như lý tác ý đánh vào cho tan rã thì lập tức những thứ xấu ác đó sẽ biến mất. Mình phải thật thiện xảo trong nội tâm của mình, mình hãy là một người thầy huấn luyện sắc, thọ, tưởng, hành, thức "Ta đã bị các ngươi chinh phục từ bao đời nay. Bị sắc này chinh phục, ta đã bị những cảm giác này chinh phục, ta đã bị những nghĩ tưởng, nhận thức này chinh phục. Bây giờ ta không thể để cho các ngươi chinh phục ta nữa, ta phải vùng lên làm chủ, chinh phục lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức". Tiếp theo mình phải thanh lọc, gội rửa và chuyển hóa tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức trong nội tâm. Khi mình thực tập thiền quán sâu sắc, thường trực nhìn lại năm uẩn thì mình sẽ phát hiện ra những điều rất ngỡ ngàng, khủng khiếp, mình sẽ phát hiện ra trạng thái của dục lậu là như thế nào, tất cả đời sống của chúng sanh đều nằm trong dòng chảy của dục, của ái, của tham, cho nên đây mới gọi là dục giới, tức là thế giới của dục. Khi mình thành tựu trí huệ năm uẩn, thường xuyên nhìn lại trong thọ, tưởng, hành thì mình mới phát hiện ra sự thật khủng khiếp, nó ngấm ngầm trong những lớp sâu thẳm bên dưới của các cảm thọ, của các tưởng, của các hành. Một sự thật là tất cả thế gian này đều nằm trong dòng xoáy của dục, của ái và của tham, con mắt cũng có dục và ái trong đó, lỗ mũi của mình cũng có dục ái trong đó, cọng tóc, lưỡi, môi, móng tay, móng chân, làn da… đầy rẫy cái ái trong đó. Nhìn thấy một sợi lông cũng có thể khởi dục. Khủng khiếp như vậy. Nghe một tiếng kế bên phòng cũng khởi được dục thì toàn thể thế giới này là đắm chìm trong cơn lốc của dục, đây chính là dục lậu. Từ tâm mê nên gọi là lậu hoặc, hoặc chính là mê hoặc, một cái tâm ngu ngốc, mù mờ, tối như đêm 30 nên không thấy được năm uẩn, chính từ tâm mê này mà có ra sự ngấm ngầm hoạt động thâm sâu phía dưới. Nếu mình không gặp cái pháp Chánh Đẳng Chánh Giác thì mình không thể nào thấy được những cái lớp ghê gớm ở phía dưới. Ghê gớm là cái dục lậu này, đây chỉ mới nói dục lậu chứ hữu lậu và vô minh lậu chưa nói đến. Cái dục này giống như con dã thú, con quái thú làm cho tất cả chúng sanh phải khao khát, khát ái, nó làm cho mình không yên, phải chạy đôn chạy đáo tìm kiếm mãi mãi cho đến chết cũng không dừng lại. Khủng khiếp là cái dục này, nó là đại ma đầu trong nội tâm của mình. Nó là ma vương điều khiển toàn bộ năm thủ uẩn này, nó thúc đẩy làm cho mình khốn khổ, làm cho cả thế gian này điên đảo, nghiêng ngã. Nếu chúng ta không gặp chánh pháp là khốn đốn với nó, là chạy đi tìm, là lăng xăng đi kiếm, là cuồng loạn trong dục, thống khổ trong dục. Thật sự là thống khổ! Đây chính là khổ thánh đế, nó chi phối toàn bộ tất cả từ trong cái ăn, cái mặc, cái ngủ cho đến cái nói, cười…nhất cử nhất động của mình đều bị nó chi phối. Nếu mình dùng pháp nhãn để soi, dùng con mắt trí huệ nhìn sâu vào thì sẽ thấy nó trà trộn, lẫn lộn, mai phục trong đó chứ mình đừng nghĩ mình tu rồi mình không có dục tham sân si, đó là cái trí của vô văn phàm phu.

Khi mình nói thì phải xem cái gì điều khiển lời nó, phải chịu khó nhìn lại cảm thọ khi nói, xem trong đó có bản ngã không? Có muốn thể hiện mình không? Có thúc giục không. Nhìn lại rồi mình sẽ thấy một sự thật phũ phàng, mình tưởng đâu là mình hưởng thụ nhưng thực chất mình đang cung phụng cho dục, ái, tham và mình còn chạy mãi cho đến khi nào mình mở được con mắt trí huệ để thấy được thật chất sắc này là khổ, cảm thọ này là khổ, các hình bóng tưởng tượng trong nội tâm là khổ, những suy nghĩ lầm thầm luyên thuyên trong đầu là khổ, những sự rõ biết nhận thức này là khổ. Cho đến khi nào mình nhìn thấu được bản chất của năm uẩn này là vô thường, sắc thọ tưởng hành thức là vô thường, vô ngã, cho đến khi nào mình nhìn thấy năm uẩn này là hố than hừng, là kẻ sát nhân giết người thì tới khi đó dục, tham và ái bắt đầu mới bắt đầu dừng lại.

Các hữu lậu dao động, bắt đầu ưa thích thể hiện mình, tìm những đời sống vô thường, khổ não thì mới bắt đầu dừng lại và vô minh lậu được phá vỡ, từ đó các ánh sáng Chánh Đẳng Chánh Giác mới rực sáng trong nội tâm, tới lúc đó mình mới cảm nhận được niềm tịch tịnh an lạc, vô thượng thanh lương. Bình an lắm! Tịnh lạc lắm! Đại an ổn là cánh cửa bất tử này, tối thượng thanh lương là con đường Tứ Niệm Xứ này. Độc đạo là con đường của Bát Chánh đạo, là con đường của sự nhìn thấy được bản chất thân thể này, của đời sống này, luôn luôn nhìn thấy bản chất của cảm giác dục tham ái, khốn khổ và hoạn nạn này, hãy nhìn thấu xuống bản chất của nó. Kì diệu là con đường nhìn lại nội tậm, tất cả những cái gì được sanh khởi, được biến đổi, được chấm dứt thì mình đều thấy, đều biết và mình sẽ làm cho nó không còn hiện hữu nữa. Mình sẽ cầm súng đứng lên, làm người chiến sĩ mạnh mẽ trong Phật giáo. Đây là chánh đạo, là con đường của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi, Thế Tôn Thích-ca của chúng ta đã đi và các bậc Chánh Đẳng Giác sau này sẽ đi, đây là truyền thống của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác, không còn con đường nào khác, đây là con đường tối thượng của Niết-bàn, con đường mà luôn quay trở lại nhìn thấy tất cả những cái pháp đang diễn ra trong nội tâm của mình. Đó chính là quán thân thọ tâm pháp, là nhìn lại thân mình, nhìn lại cảm giác, nhìn lại nội tâm mình và nhìn lại những cái gì đang diễn ra trong nội tâm mình cũng chính là Tứ Niệm Xứ, là chánh tri kiến. Chánh tư duy là những suy nghĩ thiện sẽ phá vỡ những suy nghĩ bất thiện. Chánh ngữ là sanh khởi ra những lời nói tốt lành. Chánh nghiệp là thể hiện những hành động chân chánh. Chánh mạng là sống theo giới luật, không làm những việc mê tín. Chánh niệm, chánh tinh tấn là siêng năng trong việc quay trở lại nhìn các cảm thọ, quán chiếu trong Tứ Niệm Xứ. Như vậy là đưa đến một nội tâm hoàn toàn tịch tịnh là thánh chánh định, thánh chánh định là một nội tâm nhìn rõ và biết rõ tất cả bản chất vô thường, khổ vô ngã, tan hoại, cái bản chất gian trá, mưu mô của ngũ uẩn này, nhìn thấy được bản chất rồi là mình nhàm chán, không còn ham muốn và ly tham, từ bỏ nó. Đây là đời sống cuối cùng, đó là sự xuất ly ra khỏi năm uẩn, là con đường mà các bậc thánh đã đi, đang đi và chúng ta sẽ đi. Là làm cho mình phát sanh ra cảm giác vui sướng, đầy hân hoan, sung sướng. Còn ai bằng ta, trong kiếp người mong manh này mà mình tìm gặp được con đường độc nhất đưa chúng sanh đến chỗ thanh tịnh, vượt khỏi sầu ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn, còn gì bằng điều này nữa. Đây là hạnh phúc tối thượng của tam giới, hạnh phúc này tràn ngập toàn thân, từ đỉnh đầu đến gót chân, hạnh phúc này dào dạt, lan tỏa, hãy để cho niềm hỷ lạc này tràn ngập khắp đại chúng, tràn khắp không gian của ngọn núi này. Hãy để cho niềm hỷ lạc này bao trùm hết trời đất rồi niềm hỷ lạc này sẽ lan tỏa đến những người thân, những người xa lạ. Hãy để cho niềm hỷ lạc này lan tỏa đến những người khốn cùng, khổ đau. Hãy để cho niềm hỷ lạc thấm đượm những người thù hận với mình và hãy để cho niềm hỷ lạc này lan tỏa ra khắp chúng sanh trong ba đường khổ. Hãy trải tâm hoan hỷ, vui vẻ này về trước mặt, trải rộng khắp không gian cho đến cùng tận hư không, trải tâm hỷ này rộng ra sau lưng, trải ra mênh mông khắp đông, tây, nam bắc, trên dưới, mở tâm hỷ, tâm vui này cho tràn ngập ra cùng khắp mười phương giới, hư không giới, vô biên vô tận pháp giới. Mời đại chúng mỉm cười nhẹ để trải hỷ vô lượng tâm.

Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.